Đặc điểm của kinh tế tri thức

Một phần của tài liệu Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam (Trang 29 - 42)

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ TRI THỨC

1.3. Đặc điểm của kinh tế tri thức

Với một lịch sử hình thành hơn 200 năm và một quá trình phát triển mạnh mẽ gần 3 thập kỷ như vậy, nền kinh tế tri thức rõ ràng có những điểm khác hẳn so với những hình thái kinh tế trước đó. Bên cạnh đó, do mô hình nền kinh tế tri thức vẫn chưa thực sự hoàn thiện, mới chỉ xuất hiện ở rất ít quốc gia nên những đặc điểm của nó chắc chắn chưa phải là những đặc điểm đầy đủ. Tuy vậy, có thể thấy được những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, nền kinh tế tri thức coi tri thức là lực lượng sản xuất hàng đầu, là nhân tố quyết định sự phát triển.

Đây chính là đặc điểm lớn nhất chỉ ra sự khác biệt giữa nền kinh tế tri thức với nền kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp. Nếu như kinh tế nông

26

nghiệp coi đất đai, lao động… là nhân tố quyết định; kinh tế công nghiệp coi máy móc, nhà xưởng… là quan trọng nhất; thì ở kinh tế tri thức, nhân tố đó chính là tri thức hay trí tuệ của con người. Cũng giống như trong nền kinh tế công nghiệp vẫn còn duy trì yếu tố nông nghiệp nhưng nông nghiệp nhỏ bé, trong nền kinh tế tri thức, các ngành công nghiệp và nông nghiệp không bị mất đi mà chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong nền kinh tế và tỷ trọng này ngày càng nhỏ đi. Ngược lại với sự co lại của công nghiệp và nông nghiệp là quá trình phát triển và ngày càng lớn mạnh của các ngành tri thức. Theo tính toán của OECD, một nền kinh tế được gọi là kinh tế tri thức khi có tỷ trọng của các ngành tri thức chiếm trên 70% GDP của quốc gia đó. Không những thế, trong quá trình sản xuất, hàm lượng tri thức cũng phải đóng vai trò quyết định. Theo nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thì hàm lượng này phải chiếm ít nhất 65% giá thành sản xuất và 35% giá trị sản phẩm [48].

Một phần quan trọng của tri thức là sức sáng tạo của con người. Chính nhờ những sáng tạo như máy hơi nước, điện thoại, máy vi tính, Internet… mà nền sản xuất đã phát triển nhanh chưa từng thấy, kinh tế tăng trưởng với tốc độ đáng kể, mức sống của người dân được cải thiện và nâng cao… Các số liệu đã công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy thành tựu mà kinh tế công nghiệp và kinh tế nông nghiệp đạt được trong gần hai thiên niên kỷ. Vì vậy, bước vào nền kinh tế tri thức có nghĩa là các quốc gia trên thế giới đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, trong đó, thay vì cạnh tranh với nhau về tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân công rẻ,… các quốc gia cạnh tranh với nhau về sở hữu trí tuệ. Như vậy, nhân tố của cạnh tranh chính là con người và do con người tạo ra. Trong cuộc cạnh tranh này, lý thuyết “Lợi thế so sánh” của David Ricardo đã không còn được áp dụng. Các nhân tố vô hình (trí tuệ, công nghệ, sức sáng tạo…) đã thế chỗ cho các nhân tố hữu hình (đất đai, vốn tư bản, lao động…) vì phần đóng góp của đất đai, sức lao động thông thường là hết sức nhỏ bé khi so với phần của tri thức trong quá trình sản xuất.

27

Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên hay những lợi thế so sánh mà các quốc gia từng có thể đạt được lợi nhuận trong thương mại quốc tế được thay bằng trí tuệ. Ai chiếm hữu được nhiều tài sản trí tuệ hơn, người đó sẽ thắng. Nói như vậy không có nghĩa là nền kinh tế không cần đến vốn hay nhân lực nữa. Trái lại, các yếu tố này còn được đầu tư với số lượng đáng kể hơn, ví dụ: trang thiết bị, máy móc công nghệ cao cần đầu tư một lượng vốn rất lớn nếu muốn theo kịp sự phát triển của thời đại. Tuy nhiên, vốn vô hình như thông tin, tri thức, kỹ năng lao động, công nghệ còn có giá trị cao hơn nhiều lần, trở thành phần vốn cơ bản nhất, yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất.

Việc thay thế các lực lượng sản xuất truyền thống bằng tri thức, bằng trí tuệ đã làm thay đổi cách nhìn nhận của con người về “các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất”. Trước đây, các yếu tố sản xuất luôn ở trong tình trạng báo động vì bị khai thác cạn kiệt (đến tận đầu thế kỷ XIX, người ta vẫn tin rằng rằng là vô hạn, nhưng sang đến thế kỷ XX, tất cả các quốc gia trên thế giới đều biết rằng diện tích rừng đang bị thu hẹp theo cấp số nhân và với tốc độ như thế, sang đến giữa thế kỷ XXI, Trái đất sẽ không còn rừng). Ngược lại, tri thức là yếu tố sản xuất đầu tiên mà người sản xuất không phải lo lắng vì sự cạn kiệt của nó. Không những không bị mất giá trị sau mỗi lần sử dụng mà ngược lại, giá trị của nó còn tăng lên nhiều lần. Bằng công nghệ khai thác cấp cao, chỉ một lượng nhỏ tài nguyên được sử dụng nhưng lại tạo ra những sản phẩm có giá trị lớn. Ví dụ: năng lượng lấy từ hyđrô nặng trong 1 gallon nước tương đương với năng lượng lấy từ 300 lít xăng hoặc từ vài gram đá silic có thể tạo thành mạch tổ hợp IC trong máy tính có giá trị bằng cả tấn thép. Tất cả điều này đạt được nhờ các vật liệu thông minh và vốn kiến thức, trí tuệ để sáng chế ra chúng.

Những tác động rõ ràng của trí tuệ, của tri thức như vậy đã làm các quốc gia ý thức được sâu sắc giá trị của việc sở hữu trí tuệ. Nhật Bản là đất nước đi tiên phong trong lĩnh vực này qua chiến lược mua bản quyền các phát

28

minh, sáng chế của các nước trên thế giới, tạo điều kiện tối đa ứng dụng các phát minh đó vào thực tiễn trong giai đoạn “phát triển thần kỳ” và nhanh chóng bằng “con đường tắt” này vươn lên trở thành một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về sản xuất công nghiệp và công nghệ cao. Như vậy, tri thức đã trở thành đối tượng mua bán trên thị trường, trở thành hàng hoá trong nền kinh tế.

Trở thành hàng hoá trên thị trường nhưng “tầm vóc” của hàng hoá này khác hẳn với những hàng hóa vật chất thông thường. Trong nền kinh tế tri thức, tri thức vừa được sử dụng để quản lý, điều khiển, tham gia vào quá trình sản xuất như công cụ sản xuất vừa trực tiếp là thành tố trong sản phẩm như nguyên liệu sản xuất. Vì vậy, ngoài vai trò là hàng hoá, tri thức cũng là tư liệu sản xuất. Tri thức để xử lý tri thức, để tạo ra tri thức và để quản lý điều hành… Chưa có hàng hoá nào trong nền kinh tế lại có nhiều vai trò quyết định đến như vậy trong cả quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất cũng như trong phương thức sản xuất nói chung.

Với vị trí như vậy trong nền kinh tế tri thức, tri thức cũng đã tạo ra một hiện tượng chưa từng có từ trước đến nay, đó là sự thu hẹp khoảng cách giữa người trí thức và người công nhân. Kinh tế tri thức càng phát triển thì khoảng cách này càng bị thu hẹp. Hiện tượng này chứng minh điều C.Mác đã từng chỉ ra là khi hàm lượng cơ bắp trong sản phẩm do con người làm ra giảm đến mức cực nhỏ thì lúc đó sẽ xuất hiện giai cấp công nhân khoa học. Lực lượng công nhân lao động chân tay (hay còn gọi là công nhân cổ xanh) giảm đi (tính chung ở các nước phát triển lực lượng công nhân cổ xanh trong công nghiệp chỉ chiếm khoảng 20% lực lượng lao động) tương ứng với sự gia tăng mạnh mẽ của lực lượng công nhân khoa học hay công nhân trí thức hay công nhân cổ trắng. Ở Mỹ, 60% lực lượng công nhân là công nhân trí thức. Trong nhiều ngành hiện nay không còn phân biệt giữa người công nhân và nhà khoa học nữa. Những người làm việc trong các phòng thí nghiệm, trong các xưởng

29

phần mềm để tạo ra sản phẩm mới là các nhà khoa học nhưng cũng chính họ lại là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm như một người công nhân thực thụ. Trong nền kinh tế tri thức, vai trò của người công nhân trí thức là rất quan trọng; họ là lực lượng chủ yếu tạo ra của cải cho xã hội, tiêu biểu cho lực lượng sản xuất mới. Chính vì vậy, lực lượng công nhân trí thức hầu như không phải đối mặt với vấn đề thất nghiệp. Thậm chí, những ngành có hàm lượng tri thức cao như máy tính, viễn thông, thông tin… còn đang trong tình trạng khan hiếm lao động và có nhu cầu cao về nhập khẩu lao động từ nước ngoài.

Nói tóm lại, trong nền kinh tế tri thức, quyền sở hữu đối với tri thức trở thành quan trọng bậc nhất, hơn cả vốn, tài nguyên thiên nhiên và đất đai. Giá trị xã hội cũ lấy sản xuất sản phẩm vật chất làm chủ đạo đang dần được thay thế bởi giá trị mới lấy tri thức làm động lực và mục tiêu phát triển. Do đó, việc chiếm hữu và quản lý tri thức khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với việc sở hữu và quản lý các nguồn tài nguyên truyền thống. Quản lý tốt quyền sở hữư tài sản tri thức chính là tạo điều kiện, tạo tiền đề để kinh tế tri thức phát triển.

Thứ hai, xã hội trong nền kinh tế tri thức là xã hội học tập.

Nhận thức rõ vai trò và vị trí của tri thức trong nền kinh tế tri thức đã làm con người ý thức nghiêm túc hơn về vấn đề học tập. Sự bùng nổ thông tin, bùng nổ tri thức mới làm mỗi cá thể trong nền kinh tế phải liên tục đào tạo và tự đào tạo nếu không muốn bị tụt hậu so với thời đại. Mô hình giáo dục truyền thống: được đào tạo xong ở một cấp học nhất định (phổ thông, đại học, học nghề…) là có thể yên tâm làm việc giờ đây không còn phù hợp nữa. Phải xác định đúng bản chất của việc đào tạo trong trường lớp là chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản, nền tảng, còn khi làm việc phải tiếp tục đào tạo, vừa đào tạo vừa làm việc. Quá trình đào tạo này có thể không qua trường lớp mà chủ yếu do tự nghiên cứu, tự đào tạo. Trong thời đại kinh tế tri thức, quá trình

30

tự đào tạo gặp nhiều thuận lợi do thông tin trên mạng Internet luôn sẵn có và rất phong phú trên mọi lĩnh vực. Điều quan trọng là mỗi cá nhân phải xác định được tầm quan trọng của học tập và nâng cao trình độ. Trình độ chuyên môn phải theo kịp tốc độ phát triển của ngành thì mới có thể làm việc được.

Phát triển con người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội. Do đó, đầu tư cho giáo dục và khoa học chiếm tỷ lệ rất cao. Hiện nay, ở các quốc gia đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, kinh phí nghiên cứu khoa học chiếm khoảng trên 3% tổng giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân, kinh phí cho giáo dục chiếm khoảng 6 - 8% tổng giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân [53, tr.51]. Thế giới hiện nay đang có xu hướng đầu tư vô hình (đầu tư cho con người, giáo dục, khoa học, văn hoá, xã hội…) cao hơn đầu tư hữu hình (đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật…).

Thứ ba, nền kinh tế lấy thông tin và công nghệ thông tin làm chỗ dựa để phát triển.

Ngày nay, thông tin được đánh giá là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất, sở hữu thông tin là sở hữu một nguồn tài sản lớn.

Thực tế đã cho thấy, việc thu nhập thông tin nhanh hay chậm, chính xác hay không chính xác có thể mang lại cho doanh nghiệp hàng tỷ đồng và cũng có thể làm doanh nghiệp bị thua lỗ một khoản còn lớn hơn con số đó. Do đó, trong nền kinh tế tri thức còn xuất hiện một khía cạnh khác của cạnh tranh, đó là cạnh tranh với nhau về thông tin: ai có thông tin trước, người đó sẽ thắng.

Đây chính là nguyên nhân giải thích cho sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong kỷ nguyên này. Nó đã giúp cho mọi hoạt động trong xã hội, trong nền kinh tế được chất lượng hơn, hiệu quả hơn qua việc thâm nhập vào mọi lĩnh vực của cuộc sống và một xã hội càng có tốc độ xã hội hóa thông tin cao thì càng tiến gần hơn tới nền kinh tế tri thức. Chính vì vậy, công nghệ thông tin chiếm một tỷ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế. Theo số liệu của các nước trong EU thì các doanh nghiệp và người tiêu thụ của EU

31

trong năm 1997 đã chi tiêu cho các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin nhiều hơn cho các khu vực ô tô, sắt thép và hàng không cộng lại. Từ năm 1995 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP trong khu vực kinh tế thông tin này dao động trong khoảng 7,5 - 9%, trong khi tốc độ tăng trưởng GDP nói chung là 2 - 3%; tốc độ tăng việc làm của khu vực này trong năm 1996 và 1997 là 7% và 8,8% trong khi đối với toàn nền kinh tế nói chung là 0,5 và 0,6% [45].

Việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tin học, truyền thông ngày càng phổ biến.

Thế giới ngày nay cũng đang có xu hướng đầu tư vào phát triển hệ thống siêu xa lộ thông tin với các máy tính tí hon được cài ở khắp nơi, điều khiển mọi hoạt động trong nền kinh tế, từ đó đi tới một xã hội tự động hoá hoàn toàn, hầu như không cần tới công nhân sản xuất nữa. Xu hướng phát triển này đã kéo theo một hệ quả, đó là việc sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiên tiến nhất và tiêu biểu nhất cho kinh tế tri thức mà biểu tượng của nó chính là các khu công nghệ (technology park). Mỹ là chiếc nôi của kinh tế tri thức cho đến nay đã có hơn 300 khu công nghệ cao, Pháp có khoảng 35, Nhật có khoảng 32. Các khu công nghệ cao là cầu nối chủ yếu liên kết giữa khoa học và công nghệ tiên tiến với sản xuất, từ thử nghiệm đến triển khai đại trà. Khu công nghệ cao Sillicon của Mỹ đến nay thu hút hơn 7000 công ty kỹ thuật cao, tổng giá trị thị trường khoảng 450 tỷ USD, mức lương của những người làm việc ở đây cao gấp 5 lần mức lương bình quân ở Mỹ [46]. Hai thập niên gần đây, các khu công nghệ cao phát triển rất nhanh, trở thành những chiếc cầu nối giữa mô hình kinh tế hiện tại với nền kinh tế tri thức.

Thứ tư, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững, rất nhạy cảm và thân thiện với môi trường.

Trước hết, phải thấy ngay rằng yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ở nền kinh tế tri thức khác với yếu tố đầu vào ở các mô hình kinh tế khác. Nếu

32

như kinh tế nông nhiệp dựa vào đất đai, kinh tế công nghiệp dựa vào tài nguyên thiên nhiên thì kinh tế tri thức dựa vào chất xám của con người. Đất đai trồng mới sẽ bị bạc màu, đất cằn cỗi cho năng suất kém; tài nguyên thiên nhiên khai thác mới sẽ bị cạn kiệt; không có nguyên vật liệu đầu vào có thể làm phá sản cả một ngành sản xuất, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Kinh tế tri thức không phải đối mặt với những vấn đề như vậy. Trí tuệ hay chất xám của con người là nguồn tài nguyên vô tận. Giá trị của nó sau mỗi lần sử dụng không những không bị giảm đi mà trái lại còn tăng lên. Nền kinh tế phát triển dựa trên yếu tố này sẽ luôn ổn định và tăng trưởng với tốc độ nhanh mà không phải bận tâm về vấn đề cạn kiệt tài nguyên. Chính vì vậy, nền kinh tế phát triển dựa trên tri thức là một nền kinh tế phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, mục tiêu phát triển bền vững trong từng mô hình kinh tế khác nhau được nhìn nhận khác nhau. ở nền kinh tế công nghiệp, con người phải sử dụng nguyên vật liệu, nhà xưởng, máy móc để sản xuất, do đó, phải tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng vì thế mà nhìn chung vấn đề môi trường sinh thái ít được quan tâm. Nền kinh tế đó phát triển dựa trên nguyên tắc nguồn tài nguyên thiên nhiên là vô tận, không bao giờ cạn kiệt. Từ giữa thế kỷ XX, những báo động về môi trường sinh thái xuất hiện ngày càng nhiều nhưng hầu như không có biện pháp hữu hiệu nào được thực hiện. Vấn đề cơ bản là phương thức sản xuất. Chừng nào nền kinh tế còn coi việc cướp đoạt tài nguyên thiên nhiên làm mục đích thì khi đó môi trường sống của con người còn bị đe doạ. Kinh tế tri thức phát triển không dựa trên nền tảng như vậy. Ý thức được rõ mối quan hệ điều hoà giữa con người và thiên nhiên, phương châm phát triển của kinh tế tri thức là thông qua công nghệ cao, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên hiện có, đồng thời tập trung khai phá nguồn tài nguyên chưa được tận dụng hết để thay thế nguồn tài nguyên hiện đang bị cạn kiệt. Do đó, vấn đề cân bằng sinh thái hầu như được đảm bảo trong mô hình kinh tế mới này.

Một phần của tài liệu Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam (Trang 29 - 42)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(91 trang)