CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRƯỚC YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
2.1. Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam
2.1.1. Những thành tựu cơ bản của giáo dục đại học Việt Nam
Hơn 20 năm nước ta thực hiện công cuộc đổi mới một cách toàn diện, ngành giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng của nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng rất đáng được ghi nhận. Nền giáo dục đại học trong hơn hai mươi năm qua đã cung cấp cho đất nước một lực lượng lao động đông đảo gồm hàng triệu người lao động có trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cao,… Sản phẩm do nền giáo dục đại học Việt Nam tạo ra trong những năm gần đây ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng, bù đắp đáng kể sự thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng cao vốn khá trầm trọng của nước ta khi thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức. Xin nêu một số thành tựu nổi bật của giáo dục đại học Việt Nam trong những năm qua như sau:
Thứ nhất, về mặt tư tưởng, quan điểm, nền giáo dục đại học Việt Nam đã kế thừa và phát triển lên một tầm cao với tư tưởng coi trọng giáo dục.
Truyền thống coi trọng giáo dục trong thời kỳ đổi mới đất nước được đặt trong bối cảnh cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới đã đạt được những thành tựu kỳ diệu, được nhận thức sâu sắc hơn. Đó là quan điểm coi phát triển giáo dục đại học cũng như giáo dục nói chung chính là nhằm tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta xác định: “Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới” [14, tr.79]. Đặc biệt, với tư tưởng coi con người vừa là
39
mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, Đảng ta đã đưa ra một quan điểm vô cùng quan trọng, mang tầm chiến lược quốc gia dài hạn là “giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Quan điểm này chính là sự đúc kết từ thực tiễn Việt Nam và thế giới cũng như từ yêu cầu phát triển trong thời đại ngày nay của đất nước ta. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhận thức ngày càng sâu sắc rằng với một trình độ dân trí thấp, một nguồn nhân lực yếu kém cả về năng lực nắm bắt, vận dụng các tri thức khoa học - kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của thế giới lẫn về năng lực sáng tạo nội sinh từ đất nước, thì chẳng những không thể tiến nhanh, tiến kịp thời đại mà còn khó vượt qua ngưỡng đói nghèo, lạc hậu, kém phát triển. Chính nhờ sự đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy này mà quan điểm “giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu” trở thành quan điểm chỉ đạo sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo, bao gồm một hệ thống những quan điểm như: giáo dục - đào tạo là động lực phát triển kinh tế - xã hội; mục tiêu của giáo dục - đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển; mọi lực lượng xã hội đều được huy động đóng góp xây dựng sự nghiệp giáo dục - đào tạo (xã hội hóa giáo dục)…
Thứ hai, mục tiêu giáo dục - đào tạo trong đó có giáo dục đại học đã dần được điều chỉnh theo yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Trong mục tiêu giáo dục - đào tạo, mục tiêu tổng quát được Đại hội Đảng lần thứ IX xác định là: Giáo dục - đào tạo phải nhằm phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước phát triển kinh tế tri thức; còn mục tiêu về mặt xã hội là cả nước trở thành một xã hội học tập, học tập suốt đời. Mục tiêu cơ bản của giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng đã được xác định rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và lần thứ sáu khóa IX là: “nhằm xây dựng những con người và thế hệ tha thiết gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
40
hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiền năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời căn dặn của Bác Hồ” [19, tr.28]. Để đáp ứng mục tiêu đó, “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010” được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành theo quyết định 201/2002/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 nêu mục tiêu cụ thể cho giáo dục đại học Việt Nam là:
- Đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ cao cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong hội nhập quốc tế;
- Mở rộng giáo dục sau trung học, đa dạng hóa chương trình đào tạo, xây dựng hệ thống liên thông;
- Tăng cường cho sinh viên năng lực thích ứng với việc làm, năng lực tự tạo việc làm cho mình và người khác.
Thứ ba, trong tổ chức giáo dục đại học trong những năm gần đây chúng ta đã đa dạng hóa các loại hình trường đại học. Nếu như thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, ở miền Nam Việt Nam đã có tất cả các trường đại học công lập với các loại hình đa lĩnh vực (Viện đại học) và các trường đại học cộng đồng lẫn các trường đại học tư (Viện đại học Đà Lạt, Viện đại học Minh Đức,…), ở miền Bắc chỉ có các trường đại học công lập, thì năm 1988, Đại học dân lập Thăng Long được thí điểm thành lập ở Hà Nội, và 7 năm sau đã có gần 20 trường đại học và cao đẳng dân lập ra đời. Theo số liệu thống kê về giáo dục đại học Việt Nam năm học 2007 - 2008, cả nước ta có 369 trường đại học và cao đẳng thì số trường công lập là 305, số trường ngoài công lập là
41
64 [58]. Như vậy, mặc dù số trường công lập vẫn chiếm số đông, vẫn là chủ đạo, song các trường dân lập đã ngày càng được chú trọng, được phát triển, mở ra nhiều cơ hội cho đông đảo người dân Việt Nam được theo học ở bậc đại học và tiếp tục học ở các bậc cao hơn.
Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Hình 2.1.1: Số l-ợng các tr-ờng đại học, cao đẳng công lập, ngoài công lập qua các năm
153 178
191 202
214 230
277 322
369
131 156
168 179
187 201
243 275
305
22 22 23 23 27 29 34
47 64
0 50 100 150 200 250 300 350 400
1999-2000 2000-2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004 2004-2005 2005-2006 2006-2007 2007-2008
Sè tr-êng
Ngoài công lập Công lập Tr-êng
42
Bảng 2.1.1. Số lượng các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 1999- 2008
1999- 2000
2000- 2001
2001- 2002
2002- 2003
2003- 2004
2004- 2005
2005- 2006
2006- 2007
2007- 2008 TRƯỜNG 153 178 191 202 214 230 277 322 369 Cao đẳng 84 104 114 121 127 137 154 183 209
Công lập 79 99 108 115 119 130 145 166 185
Ngoài công lập 5 5 6 6 8 7 9 17 24
Đại học 69 74 77 81 87 93 123 139 160
Công lập 52 57 60 64 68 71 98 109 120
Ngoài công lập 17 17 17 17 19 22 25 30 40
Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đa dạng hóa các loại hình đào tạo đại học là một chủ trương đúng đắn, đã góp phần tăng nhanh số lượng sinh viên theo học các bậc học, cung cấp cho xã hội một lực lượng đông đảo đội ngũ trí thức có trình độ chuyên môn.
Trong 17 năm (1991-2008), số lượng sinh viên đại học, cao đẳng nước ta tăng khoảng 13 lần (từ khoảng 120.000 năm 1991 lên 1.603.484 năm 2007), đặc biệt những năm gần đây tốc độ tăng rất nhanh. Theo thống kê của Vụ Giáo dục đại học, tính đến tháng 8/2008, cả nước có 369 trường đại học, cao đẳng, trong đó có 160 trường đại học và 209 trường cao đẳng với quy mô hơn 1,6 triệu sinh viên, đạt 188 sinh viên/1 vạn dân [58].
Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo Hình 2.1.2. Số l-ợng sinh viên qua các năm
893754 918228
974119 1020667
1131030 1319754
1363167 1540201
1603484
0 200000 400000 600000 800000 1000000 1200000 1400000 1600000 1800000 99-00
00-01 01-02 02-03 03-04 04-05 05-06 06-07 07-08
Số sinh viên Sinh viên
43
Thứ tư, nội dung chương trình và hình thức đào tạo đại học có sự đổi mới. Bên cạnh những ngành, chuyên ngành đào tạo truyền thống, nhiều ngành, chuyên ngành đào tạo mới được hình thành để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và cách mạng khoa học - công nghệ. Từ đó, nhiều chương trình đào tạo mới, nhiều môn học mới được xây dựng và triển khai giảng dạy. Những ngành, chuyên ngành đào tạo và những môn học mới này chủ yếu được tiếp thu, tham khảo từ các nước phát triển.
Hình thức đào tạo mới theo học chế tín chỉ bắt đầu được áp dụng vào các trường đại học trong những năm gần đây. Đặc điểm của hệ thống tín chỉ là kiến thức được cấu trúc thành modul (học phần), quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy cho từng văn bằng, xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ tích lũy. Đây là một chương trình đào tạo mềm dẻo, cùng với các học phần bắt buộc còn có các học phần tự chọn, cho phép sinh viên dễ dàng điều chỉnh ngành nghề đào tạo. Quy trình đào tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học, đánh giá chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả, thuận lợi cho người học khi muốn chuyển đổi ngành học, trình độ đào tạo hoặc học liên thông lên cao hơn.
Có thể nói, giáo dục đại học trong những năm gần đây đã xuất hiện ngày càng nhiều những nhân tố mới tiến bộ, tích cực, biểu hiện trên nhiều phương diện từ cách thức tổ chức giáo dục, nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện giảng dạy và học tập đến đánh giá kết quả giảng dạy và học tập… Chất lượng giáo dục đại học được cải thiện; số sinh viên tốt nghiệp ra trường năng động, tự tin, thích ứng với công việc, sớm thành đạt ngày càng nhiều hơn.
Thứ năm, hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục đã được hình thành và đi vào hoạt động: thành lập cơ quan đảm bảo chất lượng cấp quốc gia (Cục
44
Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo);
xây dựng các quy định về kiểm định chất lượng các trường đại học; bước đầu thiết lập và tiếp tục hoàn thiện hệ thống dọc cho hoạt động đảm bảo chất lượng quốc gia (Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, các trung tâm đảm bảo chất lượng của hai Đại học Quốc gia và các đại học vùng, và bộ phận đảm bảo chất lượng của các trường); xây dựng và bắt đầu triển khai kế hoạch kiểm định chất lượng trường đại học cho toàn hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam đến năm 2010; tham gia vào các mạng lưới đảm bảo chất lượng khu vực và quốc tế: AUN (Mạng đại học Đông Nam Á), APQN (Mạng đảm bảo chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương) và INQAAHE (Hiệp hội các cơ quan đảm bảo chất lượng quốc tế).
Thứ sáu, Nhà nước tăng đầu tư cho giáo dục đại học. Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục nói chung, trong đó có giáo dục đại học, đã tăng từ 15% năm 2000 lên 16.5% năm 2005 với cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụ trọng tâm của ngành như đổi mới chương trình, bồi dưỡng giáo viên. Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ước tính chi 76.200 tỷ đồng cho giáo dục, chiếm 20% tổng chi Ngân sách Nhà nước. Tháng 12/2007, Dự án giáo dục đại học II đã ký thỏa thuận tài trợ hơn 70 triệu USD cho 14 trường đại học trọng điểm nhằm phát triển hạ tầng cơ sở, xây dựng các phòng thí nghiệm, các trung tâm nghiên cứu. Năm 2009, vốn trong nước đầu tư xây dựng cơ bản cho các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng là 648 tỷ đồng, tăng 12,7% so với năm 2008 [58]. Phần vốn này sẽ được ưu tiên cho dự án phát triển giáo dục kỹ thuật công nghệ, đào tạo nhân lực bậc cao tại 3 trường đại học kỹ thuật; tập trung xây dựng các phòng thí nghiệm, thực hành, nghiên cứu khoa học cho các chuyên ngành mũi nhọn.
45
Bảng 2.1.2. Chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục
Đơn vị tính: Tỉ đồng 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng số 15609 20624 22795 32730 41630 55300 66770 Chi cho xây dựng cơ bản 2360 3008 3200 4900 6623 9705 11530 Chi thường xuyên cho
giáo dục và đào tạo 10356 12649 16906 18625 27830 35007 45595 55240 Kinh phí CTMT* giáo
dục và đào tạo 600 600 710 970 1250 1770 2970 3380 Chia ra
Giáo dục phổ thông 415 495 725 925 1305 2328 2333
Dạy nghề 90 110 130 200 340 500 700
Trung học chuyên nghiệp 20 25 30 35 35 37 50
Đại học và cao đẳng 75 80 85 90 90 105 297
* Chương trình mục tiêu.
Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo