1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của ruồi đục quả phương đông bactrocera dorsalis hendel hại na tại chi lăng, lạng sơn năm 2016 2017

89 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 40,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KIM THỊ HIỀN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA RUỒI ĐỤC QUẢ PHƯƠNG ĐÔNG BACTROCERA DORSALIS HENDEL DIPTERA: TEPHRITIDAE HẠI NA TẠI CHI LĂN

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KIM THỊ HIỀN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA RUỒI ĐỤC QUẢ PHƯƠNG ĐÔNG BACTROCERA DORSALIS HENDEL (DIPTERA: TEPHRITIDAE) HẠI NA TẠI CHI LĂNG, LẠNG SƠN

NĂM 2016 - 2017

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Đức Tùng

2 PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017

Tác giả luận văn

Kim Thị Hiền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Đức Tùng, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo Viện Bảo vệ thực vật đã tạo điều kiện cho tôi được thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, các cán bộ làm việc tại Bộ môn Chẩn đoán giám định dịch hại và Thiên địch, Bộ môn Côn trùng – Viện Bảo vệ thực vật đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Tác giả luận văn

Kim Thị Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Tình hình sản xuất cây na trên thế giới và việt nam 4

2.3 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước về ruồi đục quả 5

2.3.1 Thành phần loài, sự phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả 5

2.3.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả 7

2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả 8

2.3.4 Biện pháp phòng chống ruồi đục quả 9

2.4 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 13

2.4.1 Thành phần loài, sự phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả 13

2.4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả 15

2.4.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả 17

2.4.4 Biện pháp phòng chống ruồi đục quả 19

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 21

Trang 5

3.1 Địa điểm nghiên cứu 21

3.2 Thời gian nghiên cứu 21

3.3 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 21

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 21

3.3.3 Dụng cụ nghiên cứu 21

3.4 Nội dung nghiên cứu 21

3.5 Phương pháp nghiên cứu 22

3.5.1 Thu thập, xác định thành phần loài và một số đặc điểm hình thái của các loài ruồi đục quả tại vùng trồng na huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn 22

3.5.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm gây hại và đặc điểm sinh học của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel trên cây na 23

3.5.3 Điều tra diễn biến mật độ loài ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel gây hại trên cây na dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (địa hình đất trồng na và tuổi cây na) 26

3.5.4 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel (sử dụng bẫy bả và biện pháp bao quả) 26

3.6 Công thức tính toán số liệu 27

Phần 4 Kết quả và thảo luận 29

4.1 Thành phần loài và một số đặc điểm hình thái chủ yếu của các loài ruồi đục quả tại vùng trồng na huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn 29

4.1.1 Thành phần loài ruồi đục quả tại vùng trồng na huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn năm 2016 – 2017 29

4.1.2 Một số đặc điểm hình thái chủ yếu nhận biết các loài ruồi đục quả tại vùng na huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn 31

4.2 Đặc điểm gây hại và đặc điểm sinh học của loài ruồi đục quả phương đông B dorsalis trên cây na 34

4.2.1 Đặc điểm gây hại của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis trên cây na 34

4.2.2 Đặc điểm sinh học của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis hại na năm 2016 -2017 38

4.3 Diễn biến mật độ loài ruồi đục quả phương đông Bactrocera dorsalis hendel gây hại trên cây na dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái 50

Trang 6

4.3.1 Diễn biến mật độ loài ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis gây hại trên na ở

thời kỳ kiến thiết cơ bản và thời kỳ kinh doanh 51

4.3.2 Diễn biến mật độ loài ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis gây hại trên na ở địa hình chân đồi, lưng đồi và đất bằng 52

4.4 Biện pháp phòng trừ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis hendel 54

4.4.1 Nghiên cứu phòng trừ ruồi đục quả bằng sử dụng bẫy bả 54

4.4.2 Nghiên cứu phòng trừ ruồi đục quả bằng biện pháp bao quả 55

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Kiến nghị 59

Tài liệu tham khảo 60

Phụ lục 67

Trang 7

CuE

KTCB

ME

Cue eugenol Kiến thiết cơ bản Methyl eugenol

TKKD Thời kỳ kinh doanh

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Thành phần loài ruồi đục quả vào bẫy tại vùng trồng na huyện Chi Lăng,

tỉnh Lạng Sơn năm 2016-2017 29 Bảng 4.2 Diễn biến số lượng các loài ruồi đục quả vào bẫy ME thu tại vườn na Chi

Lăng, Lạng Sơn năm 2016 30 Bảng 4.3 Đặc điểm hình thái chủ yếu nhận biết các loài ruồi đục quả tại vùng na

huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn 32 Bảng 4.4 Tỷ lệ gây hại của ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis hại na tại

Chi Lăng, Lạng Sơn năm 2016 37 Bảng 4.5 Thời gian phát dục các pha của ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis hại

na 44 Bảng 4.6 Tỷ lệ sống sót qua các tuổi, pha của ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis

hại na 45 Bảng 4.7 Thời gian sống của trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera

dorsalis hại na 47 Bảng 4.8 Thời gian đẻ trứng và sức đẻ trứng của trưởng thành ruồi đục quả Phương

Đông B.dorsalis hại na 47 Bảng 4.9 Tỷ lệ nở của trứng ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis hại na 49 Bảng 4.10 Mật độ giòi loài ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis gây hại trên na tại

Chi Lăng, Lạng Sơn năm 2016 50 Bảng 4.11 Tỷ lệ hại và mật độ giòi của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis khi sử

dụng phương pháp bẫy bả tại Chi Lăng, Lạng Sơn năm 2016 55 Bảng 4.12 Kết quả phòng chống ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis trên na bằng

biện pháp bao quả tại Chi Lăng – Lạng Sơn năm 2016 56

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Các loài ruồi đục quả thu thập được tại vùng trồng na huyện Chi Lăng,

tỉnh Lạng Sơn 33

Hình 4.2 Trưởng thành ruồi đục quả gây hại na 34

Hình 4.3 Trưởng thành ruồi đục quả đẻ trứng trên na 34

Hình 4.4 Triệu chứng gây hại của ruồi đục quả quan sát ngoài vỏ quả và bên trong quả na 35

Hình 4.5 Giòi ruồi đục quả trên na và gây hại bên trong quả na 36

Hình 4.6 Tỷ lệ quả na bị châm hại (%) và tỷ lệ quả bị rụng (%) qua các đợt điều tra tại Chi Lăng, Lạng Sơn năm 2016 38

Hình 4.7 Vòng đời của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis hại na 39

Hình 4.8 Trứng nở giòi tuổi 1 40

Hình 4.9 Móc miệng giòi tuổi 1 ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis 41

Hình 4.10 Móc miệng giòi tuổi 2 ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis 41

Hình 4.11 Móc miệng giòi tuổi 3 ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis 42

Hình 4.12 Màu sắc nhộng ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis từ lúc hóa nhộng đến khi chuẩn bị vũ hóa 42

Hình 4.13 Trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis 43

Hình 4.14 Nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis hại na 48

Hình 4.15 Tỷ lệ trứng nở (%) loài ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis qua các ngày theo dõi 49

Hình 4.16 Diễn biến ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis vào bẫy đặt tại vườn na tại vườn na kiến thiết cơ bản và kinh doanh tại Chi Lăng – Lạng Sơn năm 2016 – 2017 51

Hình 4.17 Diễn biến mật độ ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis vào bẫy đặt tại vườn na có địa hình trồng khác nhau tại huyện Chi Lăng – Lạng Sơn năm 2016 -2017 53

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Kim Thị Hiền

Tên luận văn: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel (Diptera: Tephritidae) hại na tại Chi Lăng, Lạng Sơn năm 2016 – 2017”

Phương pháp nghiên cứu:

Vật liệu nghiên cứu: Thịt quả na tươi, torula và nipagin dùng làm thức ăn nuôi giòi ruồi đục quả Protein và đường dùng làm thức ăn cho trưởng thành ruồi đục quả B dorsalis Bẫy ME (VIZUBON-D 10 ml), Flykil 95EC, Sofri – Protein 10DD được dùng

để xác định mật độ ruồi đục quả trên vườn na

Phương pháp làm mẫu và bảo quản mẫu vật côn trùng được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu của Viện BVTV (1997) Tên loài ruồi đục quả gây hại (tên Việt Nam và tên khoa học) được xác định theo các tài liệu của Ian and Harris (1992), đĩa phân loại Lucid của Lawson et al (2003) về phân loại Bộ Diptera cùng với sự giúp đỡ của cán bộ Bộ môn Côn trùng - Viện Bảo vệ thực vật Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis dựa theo phương pháp của Walker et al (1996)

Nội dung nghiên cứu:

- Thu thập, xác định thành phần loài và một số đặc điểm hình thái chủ yếu của các loài ruồi đục quả tại vùng trồng na huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

- Nghiên cứu đặc điểm gây hại và đặc điểm sinh học của loài ruồi đục quả B dorsalis trên cây na

- Điều tra diễn biến mật độ loài ruồi đục quả B dorsalis gây hại trên cây na dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (địa hình đất trồng và tuổi cây na)

- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả B dorsalis (sử dụng bẫy bả

và bao quả)

Trang 11

Kết quả chính và kết luận

Nghiên cứu được tiến hành tại Phòng thí nghiệm của Bộ môn Chẩn đoán giám định dịch hại và thiên địch – Viện Bảo vệ thực vật; xã Chi Lăng và xã Quang Lang, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Điều tra, nghiên cứu được thực hiện từ năm 2016 đến năm 2017 và đã thu được các kết quả như sau:

Thu thập và xác định được 03 loài ruồi đục quả tại Chi Lăng, Lạng Sơn: Bactrocera dorsalis Hendel, Bactrocera cucurbitae Coquillett, Bactrocera tau Walker Ruồi đục quả bắt đầu gây hại quả na ở ngày thứ 72 sau thụ phấn Tỷ lệ gây hại tăng dần theo các giai đoạn phát triển của quả na đạt mức cao nhất 21,11% vào ngày thứ 107 sau thụ phấn

Ở điều kiện nhiệt độ trung bình 23,02oC, ẩm độ trung bình 81,84%, vòng đời của ruồi đục quả B dorsalis là 53,40 ngày Ở nhiệt độ 23,02oC, ẩm độ 81,84% và nhiệt

độ 21,49 oC, ẩm độ 82,78% giòi tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 đều có khả năng sống sót rất cao trên 93%, còn ở giai đoạn nhộng ở cả 2 mức nhiệt độ đều cao hơn 95% Thời gian sống trung bình của trưởng thành cái là 80 ngày, trưởng thành đực là 85,16 ngày Trưởng thành cái có thể đẻ từ 1 - 47 trứng/ngày; một trưởng thành cái đẻ trung bình 212, 58 trứng và thời gian đẻ trứng là 35,32 ngày Tỷ lệ nở của trứng ruồi đục quả cao nhất là ngày theo dõi thứ 1 và thứ 2

Điều tra vườn na thời kỳ kinh doanh và kiến thiết cơ bản cho thấy, trưởng thành ruồi đục quả B.dorsalis bắt đầu vào bẫy từ tháng 5 đến tháng 6 Đến giữa tháng 7, số lượng trưởng thành ruồi đục quả tăng lên nhanh chóng và đạt đỉnh cao vào đầu tháng 8 với mật độ trung bình 79,25 con/bẫy ở vườn thời kỳ kinh doanh, đến cuối tháng 8 trở đi mật độ ruồi vào bẫy giảm dần Vườn trồng na có địa hình ở chân đồi, lưng đồi và đất bằng ruồi trưởng thành vào bẫy đạt cao nhất từ cuối tháng 7 đến cuối tháng 8, trong đó mật độ ruồi vào bẫy ở vườn trồng ở chân đồi với mật độ cao nhất là 89,10 con/bẫy cao hơn so với trồng ở lưng đồi và đất bằng lần lượt là 20,95 con/bẫy;18,5 con/bẫy Mật

độ ruồi vào bẫy thấp dần từ tháng 9 và đến tháng 2 trở đi không còn ruồi trưởng thành vào bẫy

Sử dụng biện pháp bẫy bả trong đó sử dụng bả Sofri – protein 10DD và biện pháp bao quả ở giai đoạn 30 ngày sau thụ phấn phòng trừ ruồi đục quả mang lại hiệu quả phòng trừ cao nhất

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Kim Thi Hien

Thesis title: "Studying on biological and ecological characteristics of Oriental fruit fly Bactrocera dorsalis Hendel (Diptera: Tephritidae) on sugar-apple at Chi Lang, Lang Son 2016-2017"

Major: Plant Protection Code: 60 62 01 12

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

The study aimed to investigate the composition of the fruit fly, damage symptoms, biological characteristics and population dynamic of fruit fly B dorsalis on sugar-apple at Chi Lang, Lang Son, in order to suggest effective control methods to again this fruit fly

Materials and Methods

Materials: The mix of fresh sugar-apple, torula and nipagin was used for rearing maggots of B dorsalis The adults were fed with protein and sugar Trap ME (VIZUBON-D 10 ml), Flykil 95EC, Sofri - 10DD were used to monitor the density of the fly in sugar apple garden

The fruit fly specimens were prepared and storaged as method frequenly using in Plant Protection Research Institute (1997) The specimens were indentified by the key

of Ian and Harris (1992), Lucid key of Lawson et al (2003) under supervior of Entomology Division- Plant Protection Research Institute The studying on biological characteristics of B dorsalis was conducted based on Walker et al (1996)

Research content:

- Collection and identification fruit fly species composition on sugar-apple; describring the major morphological characteristics of fruit fly species collected at Chi Lang district, Lang Son province

- Detemination the fruit fly damage symptom and biological characteristics of B dorsalis fed on sugar- apple

- Investigation on the densities of B dorsalis influencing of several ecological factors (soil topography and old tree sugar- apple)

- Testing several methods to control fruit fly B dorsalis Hendel (using bait and wrap sugar- apple)

Trang 13

Main findings and conclusions

The researches were conducted at Laboratory of Identification and Diagnostic Division of Pest, Plant Protection Research Institute; at Chi Lang Commune and Quang Lang Commune, Chi Lang District, Lang Son Province The researches were implemented from 2016 to 2017 and the results are as follows:

Three fruit fly species Bactrocera dorsalis Hendel, Bactrocera cucurbitae Coquillett, and Bactrocera tau Walker were found on sugar-apple at Chi Lang, Lang Son The fruit fly started to attack the fruits at 72 days after the flowers pollinated The damage rate was increased as the developmental stages of fruit and reached the highest point of 21.11% on the 107 days after pollination

At average temperature of 23.02 °C and 81.84% humidity, the life cycle of B dorsalis was 53.40 days At 23.02 °C, 81.84% humidity and 21.49oC, 82.78% humidity the survival rates of the maggots were highest (over 93%), and the pupal survival rates were over 95% The longevity of female adults was 80 days and male adults was 85.16 days Daily oviposition of B dorsalis was 1 - 47 eggs/day Total fecundity of the female was 212.58 eggs and the oviposition period was 35.32 days The hatching rates of the eggs were highest on the first and second oviposition day, from the third days the eggs did not hatch

The fruit fly survey in the sugar-apple garden showed that B dorsalis fruit fly was found in the traps initially from May to June In mid-July, the number of adult fruit flies found in the traps increased rapidly and reached peak in early August with average density of 79.25 flies/trap in the garden in business period, from end of August the density of flies was reduced gradually In the garden at hill base, hill mid and flat land, the flies were trapped from end of July to end of August The density of flies was highest (89.10 flies/ trap) in the hill base garden, follow in hill mid garden 20.95 flies/trap and lowest at flat land garden 18.5 flies /trap The density of flies was reduced from September to February and there were no adult flies found in the trap after that period

Using Sofri-10DD protein bait trap and bagging fruit at 30 days after pollinated were most effective methods to control the fruit fly

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam, cách thủ đô

Hà Nội 154 km đường bộ và 165 km đường sắt Lạng Sơn có khí hậu á nhiệt đới, ôn đới, rất thích hợp phát triển các loại cây ăn quả, cây đặc sản Hầu như mùa nào thứ

ấy, quanh năm Lạng Sơn đều có các loại hoa quả quý, trong đó không thể không kể đến loại cây ăn quả mang nhiều giá trị dinh dưỡng và có giá trị kinh tế cao đó là cây

na Trong đó chủ yếu giống được trồng tại nơi đây là giống na dai

Cây na dai (Annona squamosa ) là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao và được trồng khá phổ biến ở các vùng kinh tế của đất nước Hiện nay, na đã mang lại nguồn thu nhập chính giúp người dân địa phương cải thiện đời sống, trở thành cây xóa đói giảm nghèo cho người dân đất Chi Lăng Cây na được hình thành và phát triển trong điều kiện từ cái khó ló cái khôn và người dân Chi Lăng

đã biến cái khó thành nội lực phát triển Vì thiếu đất canh tác, do điều kiện họ cùng phải cùng nhau sống và chấp nhận trên vùng núi hiểm trở này, họ đã thay đổi quan niệm sống, vác đất lên núi đá và trồng thử nghiệm một số cây trồng trên núi đá Thật không ngờ thử nghiệm đó đã trở thành một phát minh của người nông dân, cây na đặc biệt thích ứng với vùng núi đá ở đây, vì thế nhà nhà đua nhau trồng na, diện tích ngày càng mở rộng, từ vạt núi này sang vạt núi khác Nhiều năm trở lại đây, na Chi Lăng được mùa, được giá, vùng na tiếp tục

mở rộng Tuy nhiên, tình hình sâu bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam nói chung, cây na nói riêng cũng bị rất nhiều loài sâu hại tấn công, đó cũng là một trở ngại lớn trong quá trình sản xuất na và trở thành một trong những vấn đề cấp thiết cần được giải quyết Năm 2013 trên các loại cây ăn quả có múi ở nước ta đã ghi nhận được 265 loài chân đốt là sâu hại; trên cây nhãn, cây xoài tương ứng có 129 và

123 loài sâu hại,…(Phạm Văn Lầm, 2013) trong số đó nhóm ruồi đục quả thuộc

họ Tephritidae là đối tượng gây hại ở hầu hết các loại cây ăn quả Ruồi đục quả thuộc họ Tephritidae gây ảnh hưởng đến chất lượng, giá thành sản phẩm, gây tổn thất lớn cho người sản xuất Một số loại quả có lợi thế trong xuất khẩu của Việt Nam như bưởi, vú sữa, xoài, thanh long cũng đều bị ruồi đục quả gây hại (Lê Đức Khánh và cs., 2004; Phạm Văn Lầm, 2013) Để các loại quả có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch thực vật và tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 15

phục vụ xuất khẩu, nghề trồng cây ăn quả ở nhiều nước quốc gia đã phải kiểm soát rất chặt chẽ đối với nhóm ruồi đục quả ngay trên đồng ruộng bằng những biện pháp phòng trừ khác nhau phù hợp với điều kiện từng nước và từng loại cây ăn quả (như bao quả, bẫy bắt ruồi trưởng thành đực, phun thuốc BVTV, phun bả protein, vệ sinh đồng ruộng, loại bỏ cây ký chủ, v.v…) Vì vậy,

để na có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng như cầu tiêu thụ không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu sang thế giới để nhiều người biết đến thương hiệu na Chi Lăng thì việc áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả là một việc làm rất quan trọng Trong số nhóm ruồi đục quả thuộc họ Tephritidae thì loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel gây hại trên na là đối tượng được quan tâm hơn cả Một số nghiên cứu đã được tiến hành chủ yếu phục vụ cho kiểm dịch thực vật và xử lý một số loại quả tươi để xuất khẩu (Nguyễn Hữu Đạt, 2003; 2007; Nguyễn Hữu Đạt và Bùi Công Hiển, 2004) Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu đã thực hiện trong khuôn khổ dự án hợp tác nghiên cứu với các tổ chức nước ngoài (FAO, ACIAR,…) chủ yếu tập trung phát hiện thành phần loài ruồi và ký chủ của chúng ở nước ta Tuy nhiên những nghiên cứu về ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel trên cây na còn hạn chế

Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của ruồi đục quả phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel (Diptera: Tephritidae) hại na tại Chi Lăng, Lạng Sơn năm 2016 - 2017”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu thành phần ruồi đục quả tại vùng trồng na, đặc điểm hình thái, đặc điểm gây hại, đặc điểm sinh học và diễn biến mật độ của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel trên cây na tại Chi Lăng, Lạng Sơn làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp phòng chống chúng một cách hiệu quả

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel gây hại trên cây na

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài đi sâu phát hiện thành phần loài ruồi đục quả tại vùng nghiên cứu, xác định đặc điểm gây hại, đặc điểm sinh học và sinh thái chủ yếu của loài ruồi đục quả

Trang 16

Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel Đồng thời đánh giá hiệu quả của một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả Phương Đông tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn 1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Ruồi đục quả họ Tephritidae được ghi nhận như một nhóm dịch hại mang tính toàn cầu Chúng phân bố và gây hại trên nhiều loại cây ăn quả từ vùng

ôn đới đến các vùng á nhiệt đới và nhiệt đới Ruồi đục quả họ Tephritidae có thành phần loài khá phong phú và có phổ ký chủ rất đa dạng thuộc các họ thực vật khác nhau (Ian and Elson-Harris, 1992)

Tuy nhiên, thành phần loài ruồi đục quả thuộc họ Tephritidae ở các vùng sinh thái khác nhau rất không giống nhau, thay đổi chủ yếu phụ thuộc vào thành phần loài thực vật là cây ký chủ của chúng Những hiểu biết về đặc điểm riêng về sinh vật học và sinh thái học của từng loài ruồi đục quả là cơ sở khoa học chắc chắn để đề xuất biện pháp phòng chống chúng một cách hiệu quả Với tập tính sống ở bên trong các loại quả nên các biện pháp (kể cả biện pháp hóa học) phòng trừ giòi của ruồi đục quả thường không cho hiệu quả cao Các dẫn liệu khoa học về diễn biến số lượng trưởng thành của ruồi đục quả họ Tephritidae hay ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis là căn cứ quan trọng để đề xuất thời điểm áp dụng các biện pháp tiêu diệt ruồi đục quả và là cơ sở khoa học để xây dựng biện pháp phòng chống loài côn trùng hại này hiệu quả và bền vững

2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY NA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Cây na dai Annona squamonsa có nguồn gốc ở vùng Caribê và Nam Mỹ,

nó rất được ưa thích và được trồng nhiều nhất ở đây (chưa kể những cây mọc dại) như ở các nước Mehico, Braxin, Cuba Từ miền nhiệt đới châu Mỹ, cây na được du nhập sang miền nhiệt đới châu Á từ rất sớm Hiện nay cây na được trồng

ở khắp các vùng nhiệt đới của cả Bắc và Nam bán cầu, thậm chí ở cả vùng á nhiệt đới vùng Florida của nước Mỹ

Chi na (Annona) có khoảng 110 loài trên thế giới, trong đó có khoảng 10 loài có thể ăn được Tại vùng Trung Mỹ, một số loài được trồng chủ yếu bao gồm: Annona muricata, A.riticulata, A.squamosa, A.cherimola và A.diversifolia (Granadino and Cave, 1994) Trong các loài thuộc chi na (Annona) loài na dai A.squamosa được trồng nhiều và ưa chuộng nhất, do hương vị thích hợp với nhiều người, nhiều dân tộc và cũng do nó khá dễ tính, trồng được cả ở vùng nóng

Trang 18

và vùng có mùa đông lạnh nên được trồng nhiều nhất trong các loài na trên phạm

vi toàn thế giới

Cây na được trồng mang tính thương mại ở phía Tây Ấn Độ và Cộng hoà Dominica, Mỹ (Florida), Trung Đông, Ấn Độ, Malaysia và Thái Lan (Crane and Campbell, 1990) Mặc dù na mới chỉ được coi là cây trồng ăn quả với mục đích tiêu thụ nội địa ở Philippines Tuy nhiên, nước này vẫn được coi là nước trồng nhiều na nhất trên thế giới Tại Ấn Độ, na dai được nhập nội từ trước năm 1590 (Morton, 1987) bởi những người Bồ Đào Nha và được trồng rộng đến mức độ nó trở thành cây dại và có nhiều tác giả đã cho rằng Ấn Độ là nguyên sản của na dai Tại đây na được trồng ở các vườn cây ăn quả thuộc các bang Maharashtra, Gujarat, Andhra Pradesh, Karnataka, Madhya Pradesh, Uttar Pradesh, Bihar, Assam và Orissa (Singh, 1992)

Theo Trần Thế Tục và Nguyễn Ngọc Kính (2007), ở Việt Nam vùng phân

bố cây na khá rộng, trừ những nơi có mùa đông lạnh và sương muối không trồng được na, còn hầu hết các tỉnh đều có cây na Các vùng trồng na tập trung ở miền Bắc Việt Nam: xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; xã Đông Phú, Đông Hưng, Mai Sơn, Trường Sơn, Lục Sơn, Vô Tranh huyện Lục Nam, Bắc Giang; thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; các xã Hoà Lạc, Cai Kinh, Đồng Tân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Ở miền Nam: na được trồng ở huyện Tân Thành, Châu Đức, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Tây Ninh ngoài ra còn ở Ninh Thuận và Đồng Nai

Những nghiên cứu về na ở trong nước cũng rất hạn chế Cho đến nay chưa

có một công trình nào nghiên cứu thật đầy đủ về các giống na Qua điều tra, Trần Thế Tục nhận thấy, ở các vùng trồng có những giống na có màu vỏ khác nhau: loại vỏ màu xanh nhạt, loại vỏ màu nâu, loại màu vàng nhạt; được xếp theo hai nhóm: nhóm na dai và nhóm na bở Xu hướng người dân thích trồng na dai vì bán được giá cao và quả cất giữ được lâu hơn sau thu hoạch (Trần Thế Tục và Nguyễn Ngọc Kính, 2007)

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC VỀ RUỒI ĐỤC QUẢ 2.3.1 Thành phần loài, sự phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả

Loài ruồi đục quả Phương Đông nằm trong giống Bactrocera, thuộc nhóm loài B dorsalis Loài ruồi đục quả này xuất hiện ở California, Florida vào năm 1987 và đã bị tiêu diệt, nhưng đến 1989 nó lại xuất hiện trở lại Loài ruồi đục

Trang 19

quả này chưa ghi nhận có ở khu vực châu Âu Tại châu Á, loài ruồi đục quả Phương Đông đã ghi nhận có ở Đài Loan từ năm 1912 Từ đó đến nay, loài ruồi đục quả Phương Đông đã mở rộng phân bố tới nhiều nước khác nhau thuộc châu Á và Thái Bình Dương như Ấn Độ, Paskistan, Nepan, Việt Nam, Lào, Thái Lan,…(Wan et al., 2011)

Có khoảng 4.000 loài ruồi đục quả họ Tephritidae đã được phát hiện trên toàn thế giới (Ian and Elson-Harris, 1992) Trong số này có 50 loài là đối tượng gây hại nghiêm trọng cho các loại cây rau ăn quả, cây ăn quả và 30 loài là đối tượng gây hại thứ yếu Tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương chỉ riêng thuộc phân họ Dacinae đã ghi nhận có 642 loài ruồi đục quả đục quả (Drew and Romig, 1996) Theo Ian and Elson - Harris (1992), đã thống kê ở khu vực các nước Châu Phi thuộc phía nam của sa mạc Sahara có 140 loài thuộc giống Bactrocera, 65 loài thuộc giống Ceratitis và khoảng 170 loài thuộc giống Dacus, chúng được gọi chung là nhóm Afrotropical Ở khu vực châu Âu, phần châu Á ôn đới, Trung Đông và Bắc Phi có khoảng 140 giống ruồi đục quả

họ Tephritidae, trong đó giống Bactrocera có 13 loài, giống Dacus có 5 loài, giống Rhagoletis có 22 loài và một số loài thuộc giống Ceratitis (Freidberg and Kugler, 1989; Richter, 1970; White, 1988) Theo Champ et al (1993) ở vùng Đông Phương, bao gồm cả Indonesia đến Đông Irian Jaya, đảo Ryukyu của Nhật Bản và ở Trung Quốc đến Nam sông Giang Tử đã tìm thấy 160 giống thuộc họ Tephritidae, trong đó giống Bactrocera có khoảng 180 loài và giống Dacus có 30 loài

Hầu hết ấu trùng của các loài ruồi đục quả phát triển bên trong bộ phận mang hạt của cây và khoảng 35% là các loài gây hại phần thịt quả (White and Harris, 1992) Ở giai đoạn trước thu hoạch, tỉ lệ hại của loài ruồi đục quả Carpomya vesuviana Costa trên quả táo đạt từ 10,4% đến 47% Loài ruồi đục quả Địa Trung Hải gây ra tỉ lệ quả bị hại là 20 - 25% trên cây cam quýt, 91% trên cây đào, 55% trên cây mơ và 15% cho cây mận ở Jordan (Allwood and Leblanc, 1996) Nhiều quốc gia trên thế giới phải chi kinh phí khá cao cho nghiên cứu nhằm kiểm soát ruồi đục quả Chính phủ New Zealand phải chi tới 6 triệu đô la New Zealand nhằm kiểm soát loài ruồi đục quả Địa Trung Hải vào năm 1986 Ở nước Australia, hàng năm mức chi cho phòng trừ ruồi đục quả lên tới 850 triệu đô la Australia mà tổn thất năng suất vẫn ước tính khoảng

100 triệu đô la Australia (Allwood and Leblanc, 1996)

Trang 20

2.3.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả

Loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis và các loài ruồi đục quả nói chung khi trưởng thành bước vào giai đoạn thành thục, trứng phát triển trong cơ thể con cái và chúng sẽ tìm đến nhau giao phối ở cây ký chủ nơi có nguồn dinh dưỡng phù hợp, đặc biệt là protein Những loài ruồi đục quả sống ở vùng khí hậu khác nhau có tập tính chọn nơi giao phối khác nhau Loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis có xu tính ưa màu vàng, loài Rhagoletis pomonella ở Bắc Mỹ có xu tính với màu đỏ (Drew and Romig, 1999)

Ruồi đục quả (Tephritidae) trải qua 4 pha phát dục gồm pha trứng, pha giòi, pha nhộng và trường thành Thời gian phát triển các pha phát dục có khác nhau giữa các loài Thí dụ loài Bactrocera oleae có thời gian phát triển pha trứng là 2

- 4 ngày, pha giòi kéo dài 10 - 14 ngày, pha nhộng khoảng 10 ngày và tuổi thọ trưởng thành kéo dài 1- 2 tháng (Christenson and Foote, 1960) Loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis có thời gian phát triển trứng là 1 - 20 ngày, thời gian giòi kéo dài 9 - 35 ngày, thời gian nhộng là 10 - 30 ngày Tuổi thọ của pha trưởng thành kéo dài 1 - 3 tháng (Ian and Elson - Harris, 1992) Khi nuôi bằng thức

ăn với thành phần có củ cà rốt, thời gian bắt đầu thu trứng đến bắt đầu trứng nở kéo dài 30 - 32 giờ, giòi tuổi 1 xuất hiện rộ vào giờ thứ 40 - 41, giòi tuổi 2 xuất hiện rộ vào gìờ thứ 76 - 84, giòi tuổi 3 xuất hiện rộ vào giờ thứ 104 - 120 Thời gian của pha nhộng kéo dài trung bình 7,5 ngày (Manoto and Tuazon, 1993)

Tuỳ loài ruồi đục quả, số lượng trứng do một trưởng thành cái đẻ được rất khác nhau Ví dụ, một trưởng thành cái loài Anastrepha fraterculus đẻ được

200 - 400 trứng và một trưởng thành cái loài Bactrocera oleae chỉ đẻ được 200

- 250 trứng (Christenson and Foote, 1960) Ở điều kiện phòng thí nghiệm, một trưởng thành cái ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis đẻ trung bình được 10 trứng/ngày Trong thời gian sống, một trưởng thành cái ruồi đục quả Phương Đông có thể đẻ được khoảng 1236 trứng Thức ăn cho giòi của ruồi đục quả bao gồm thành phần là các loại quả và một số loài ruồi đục quả có sự ưa thích với một

họ thực vật đặc trưng Thí dụ như giống Tephritinea hại chủ yếu họ thực vật Asteraceae, giống Dacus hại chủ yếu họ thực vật Cucurbitacae Sâu non loài ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis ở Pakist có thức ăn là các quả của vài loài thực vật thuộc họ Euphorbiaceae, 2 loài thuộc họ Rhamnaceae và 3 loài thuộc họ Rosaceae (dẫn theo Ian and Elson - Harris, 1992) Thống kê nghiên cứu của Hui and Liu (2005), ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis sử dụng trên 100 loại quả

Trang 21

thực vật làm thức ăn ở pha giòi Các loại quả này bao gồm những quả của cây ăn quả (như xoài Monghifera indica L., cam Citrus reticulate B., đào Prunus persica B.), cây công nghiệp dài ngày (như cà phê Coffea arabica L.), cây rau quả (như

ớt Capsicum annuum L., dưa hấu Citrullus laratus M.) và một số cây dại

Đa số các trưởng thành đực của đa số các loài ruồi đục quả giống Bactrocera khi đã thành thục về sinh dục bị hấp dẫn mạnh bởi chất Methyl eugenol, còn giống Zeugodacus bị hấp dẫn bởi chất Cue eugenol Đây là hai loại chất có hoạt tính sinh học cao Lợi dụng đặc tính này có thể nghiên cứu sử dụng những chất có hoạt tính sinh học cao làm bẫy chất dẫn dụ để tiêu diệt con đực, dự tính dự báo sự xuất hiện và theo dõi mật độ quần thể của ruồi đục quả Các tác giả nghiên cứu đầu tiên về chất dẫn dụ ruồi đục quả là Jacobson et al (1971),… Những tác giả này đã chỉ ra sức hấp dẫn ruồi đục quả của các chất như Kairomone

và Allomone thực vật, Parapheromone, Pheromone, mùi vị thức ăn Có 3 nhóm parapheromone chuyên tính gồm Parapheromone trimedlure (viết tắt là TML) dẫn

dụ các loài ruồi đục quả Địa Trung Hải; nhóm Parapheromone methyl eugenol (viết tắt là ME) hấp dẫn các loài ruồi đục quả thuộc phân giống Bactrocera ; nhóm Parapheromone cuelure eugenol (viết tắt là CuE) dẫn dụ các loài ruồi đục quả thuộc phân giống Zeugodacus (Clarke et al., 2005) Chất dẫn dụ thường sử dụng đối với loài ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis là methyl eugenol (ME) (1-2-dimethoxy-4-allylbenzene) dưới dạng dung dịch hoặc dạng keo (gel)

2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả

Trong thí nghiệm với các mức nhiệt độ là 16°C, 18°C, 24°C, 29°C và 32°C, thời gian vòng đời của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis kéo dài tương ứng là 133,2; 77,4; 45,1; 33,4 và 28,1 ngày (Roger et al., 1997) Số lượng trứng do trưởng thành cái đẻ được cũng rất khác nhau khi nuôi ở các mức nhiệt độ khác nhau Trưởng thành cái B dorsalis khi được nuôi ở nhiệt

độ 16oC đã đẻ được 40,8 trứng; 690,6 trứng ở nhiệt độ 18°C; 1512 trứng ở nhiệt độ 24°C; 602,8 trứng ở nhiệt độ 29°C và ở nhiệt độ 32°C đã đẻ được 77,9 trứng (Roger et al., 1997)

Tỷ lệ sống sót ở các giai đoạn phát triển của B dorsalis khi nuôi ở các mức nhiệt độ khác nhau cũng rất khác nhau Thí dụ, ở các mức nhiệt độ 16°C, 18°C, 24°C, 29°C và 32°C, trứng của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis có tỷ lệ nở đạt tương ứng là 86,1%; 90,9%; 90,0%; 91,9% và 88,3% (Roger et al., 1997)

Trang 22

Trong điều kiện phòng thí nghiệm, Kamala-Jayanthi (2002) đã sử dụng 5 loại quả nuôi giòi ruồi B dorsalis và nhận ra có sự khác nhau về thời gian hoàn thành vòng đời của loài côn trùng này khi sử dụng các thức ăn khác nhau Thời gian vòng đời khi nuôi bằng quả chuối giống Robuta và Elakki kéo dài 19 ngày, nuôi bằng quả ổi kéo dài tới 23 ngày, bằng quả đu đủ là 18,5 ngày và bằng quả xoài là 26 ngày Theo tác giả này, thời gian vòng đời ở công thức nuôi bằng đu

đủ ngắn hơn cả là do thịt quả đu đủ mềm và nhanh hỏng hơn các loại quả khác trong thí nghiệm

Thức ăn nuôi giòi khác nhau còn ảnh hưởng đến tỷ lệ giới tính của trưởng thành Theo Kamala-Jayanthi (2002), tiến hành nuôi giòi ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis bằng quả chuối giống Robuta, giống Elakki, quả ổi, quả xoài và quả đu đủ ở nhiệt độ 28oC ± 1 Kết quả thí nghiệm này cho thấy khi nuôi giòi bằng quả xoài có tỷ lệ đực : cái ở pha trưởng thành đạt cao nhất và là 1:1,7 Tỷ lệ này đạt cao thứ hai khi thức ăn là quả ổi (với tỷ lệ đực:cái là 1,09:1) Nuôi giòi bằng quả đu đủ và quả chuối giống Robuta, chuối giống Elakki tỷ lệ đực:cái đạt thấp nhất, tương ứng là 1:1; 1:0,92 và 1:1,09

Năm 1967 tại Manoa và Nuuanu (Hawaii), loài ruồi đục quả Phương Đông

có đỉnh cao thứ nhất trong năm kéo dài từ tháng 2 đến tháng 4, đỉnh cao thứ hai

từ 9 đến tháng 11 Số lượng ruồi đục quả vào bẫy của tháng 10 năm 1967 là 54.000 con, tháng 9 năm 1968 bắt được 55.800 con Số ruồi đục quả thấp nhất trong năm 1967 là vào tháng 9 chỉ có 1.900 con tại Nuanu và 200 con trong tháng

6 năm 1968 (Frank and Bess, 1970) Các tác giả này không cung cấp cụ thể số liệu về nhiệt độ và ẩm độ mà chỉ đề cập tới các mùa trong năm (mùa mưa, mùa khô hoặc mùa xuân, hạ, thu và đông)

Tại tỉnh Pakchong (Thái Lan) đã theo dõi số lượng trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông vào bẫy Số lượng trưởng thành vào bẫy đã tăng từ trung bình 6 con/bẫy ở tháng 1 lên 39 con/bẫy vào tháng 6 Số lượng này bắt đầu giảm dần từ tháng 7 (chỉ bắt có 19 con/bẫy) và đến tháng 12 không thu được ruồi đục quả Phương Đông vào bẫy (Keawchoung et al., 2000)

2.3.4 Biện pháp phòng chống ruồi đục quả

Quản lý ruồi đục quả trước thu hoạch đó là phải áp dụng những giải pháp thân thiện với môi trường hoặc có thể trừ diệt triệt để ngay đối tượng ruồi đục quả

từ ngoài đồng theo tiêu chuẩn xây dựng một vùng sạch ruồi nếu có điều kiện,

Trang 23

hoặc chỉ làm giảm mật độ ruồi trước thu hoạch bằng IPM trên diện rộng, sau đó

sẽ phối hợp với một giải pháp xử lý triệt để ruồi sau thu hoạch (Waddell, 2005)

Có nhiều giải pháp kiểm dịch đơn độc hoặc phối hợp trước và sau thu hoạch: + Biện pháp nhân thả ruồi đực bất dục (ngoài đồng): biện pháp này về lý thuyết nếu vận hành một cách tích cực, số lượng lớn, trên một vùng rộng lớn và liên tục (nhiều đợt trong năm và nhiều năm liên tục) thì có thể xem là một biện pháp kiểm dịch thực vật nhằm tạo ra một vùng sạch ruồi Để tăng cường cho hiệu quả trừ diệt ruồi, rút ngắn giai đoạn, người ta thường phối hợp với bẫy pseudo-pheromon để mau chóng đạt được mật độ ruồi bằng 0 (Yoshizawa, 1997)

+ Lợi dụng xu tính bị hấp dẫn bời chất dẫn dụ, người ta trộn chất dẫn dụ với

1 lượng nhỏ thuốc bảo vệ thực vật nhằm diệt ruồi khi ruồi vào bẫy Biện pháp dùng bẫy dẫn dụ thường được dùng phối hợp trong các chương trình phòng trừ bằng bả Protein, các chương trình triệt sản và đem lại hiệu quả cao khi phòng trừ những loài ruồi ngoại lai thuộc tập hợp B.dorsalis Một trong những chương trình thành công đó là chương trình triệt sản B.dorsalis ở Okinawa, ruồi B.papayeae ở Queenland, B.carambolae ở Suriname năm 2000 (Keng-Hong, 2000)

+ Giai đoạn tiền thu hoạch, phun thuốc hóa học phối hợp dùng bả protein trong giai đoạn quả nhỏ, sau đó quả phải được bao cho tới khi thu hoạch (Vijaysegaran, 1996) Ngoài ra, thường xuyên giám sát tình trạng ruồi đục quả ở vùng sản xuất và vùng có nguy cơ (xung quanh sân bay, bến cảng) nhằm phát hiện sớm sự xuất hiện của các loài ruồi mới bằng cách đặt bẫy parapheromon thường xuyên, kịp thời có kế hoạch khẩn cấp để trừ diệt khi phát hiện, gọi là chương trình giám sát dịch hại mới (Waddell, 2005)

Các phương pháp quản lý được phát triển để loại bỏ hoặc điều khiển ruồi đục quả đã được Allwood (1997) và Vijaysegaran (1997) cân nhắc và tổng kết Những phương pháp được chia làm 3 mục chính: kiểm soát động ruộng, xử lý sau thu hoạch phục vụ mục đích xuất khẩu và các hệ thống kiểm dịch thực vật Phương pháp kiểm soát đồng ruộng gồm: phun thuốc trừ sâu, bẫy bả, biện pháp

cơ giới vật lý (bao quả), biện pháp canh tác (vệ sinh đồng ruộng, thu hoạch sớm,

sử dụng giống kháng), kiểm soát hoạt động của ruồi (sử dụng bẫy màu sắc, bẫy

bả protein…) và biện pháp sinh học Xử lý sau thu hoạch phục vụ mục đích nhập khẩu tập trung vào tiêu diệt ấu trùng, trứng trong quả bằng hóa chất

Các nhà bảo vệ thực vật đã khuyến cáo người dân ở Tonga và Fiji nên trồng tăng diện tích cây ớt cà vào những tháng mùa đông để tránh sự gây hại của

Trang 24

ruồi đục quả loài Bactrocera facialis Coquilett (Allwood, 1996) Biện pháp bao quả nhằm ngăn không cho ruồi đục quả tiếp xúc trực tiếp với quả, ruồi đục quả không thể đẻ trứng vào quả được Biện pháp này được áp dụng để trừ ruồi đục quả khế và quả hồng xiên ở Malaysia cho kết quả tốt, tỷ lệ quả bị ruồi đục quả gây hại giảm từ 100% xuống chỉ còn 15 - 20% Hạn chế của biện pháp này là chỉ thuận tiện dùng cho những loại quả có cuống dài, ở những nơi có giá trị công lao động rẻ và loại quả cần bảo vệ có giá trị kinh tế cao, thích hợp cho những nơi gần

cư dân sinh sống (Allwood, 1996)

Thu hoạch sớm được áp dụng trước khi quả bước vào giai đoạn mẫn cảm với ruồi đục quả Ví dụ, với quả đu đủ giống Eksotika (giống chuyên xuất khẩu của Malaysia) được thu tại thời điểm vỏ quả có màu hơi vàng thì hoàn toàn có thể tránh được ruồi đục quả gây hại (Vijaysegaran, 1996) Tuy nhiên, biện pháp này không có hiệu quả đối với những loài ruồi đục quả có tập tính gây hại ở thời kỳ quả còn xanh như loài ruồi đục quả chuối B.musae (Tryon) (Allwood and Leblanc, 1996)

Sử dụng bẫy màu sắc dựa trên đặc điểm một số loài ruồi đục quả bị hấp dẫn bởi một màu nhưng cũng có những loài bị nhiều loại màu hấp dẫn Ruồi đục quả loài Rhagoletis pomonella Wash bị hấp dẫn bởi màu đỏ có bôi chất keo dính trộn nước ép quả táo chín, ruồi đục quả Queensland thích màu xanh, ruồi đục quả loài B xanthodes thích màu nâu (Allwood, 1996) Loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis bị hấp dẫn bởi nhiều loại màu, nhưng số lượng ruồi đục quả bắt trong bẫy màu vàng, mầu trắng nhiều hơn trong bẫy màu cam, đỏ, xanh nhạt, xanh tối và màu đen (Roger et al., 1990)

Sử dụng bẫy dẫn dụ có thể xác định được sự hiện diện của ruồi đục quả tại vùng điều tra, hỗ trợ chương trình phòng trừ tổng hợp, triệt sản ruồi đục quả và phát hiện loài ruồi đục quả mới xâm nhập Các chất treo trong bẫy dẫn dụ là chất

có hoạt tính sinh học cao Các vỏ bẫy này có nhiều kiểu dáng khác nhau như bẫy McPhail, bẫy Nakagawa (Drew and Romig, 2010), bẫy đa dụng Multilure, bẫy

mở Open bottom dry, bẫy gấp vàng Yellow panel, kiểu bẫy Cham P, kiểu Tephri, kiểu Steiner Tuỳ theo mục đích và loài ruồi đục quả được nghiên cứu mà lựa chọn kiểu bẫy cho phù hợp Các chất dẫn dụ này, khi sử dụng làm bẫy ruồi đục quả thường được trộn với một số loại thuốc hoá học gây chết đối với ruồi đục quả như thuốc 2,2-Dichlorovinyl dimethyl phosphate, Naled và malathion (Clarke et al., 2005)

Trang 25

Để làm tăng hiệu quả của việc dùng bẫy dẫn dụ, thường có sự phối hợp giữa kiểu dáng vỏ bẫy, màu sắc vỏ bẫy, mùi vị của bẫy Ví dụ, sử dụng bẫy hình cầu màu đỏ có tẩm nước quả táo chín sẽ hấp dẫn mạnh ruồi đục quả loài Rhagoletis pomonella Wash Bẫy màu xanh da trời hấp dẫn ruồi đục quả loài

B tryoni ở Queensland (Drew and Romig, 1999) Ngoài ra sử dụng còn sử dụng bẫy thức ăn đối với con cái của ruồi đục quả họ Tephritidae thường bị hấp dẫn bởi thức ăn có chứa protein Lợi dụng đặc tính này đã sử dụng bẫy thức ăn để tiêu diệt ruồi đục quả Việc sử dụng bẫy thức ăn đầu tiên được cho là vào năm

1889 tại Australia với loại bả có thành phần gồm đường, mật đường, si rô và nước quả ép Năm 1916, Maxwell - Lefroy đã trộn casein, đường và nước thành loại bả hấp dẫn được loài ruồi đục quả Địa Trung Hải Năm 1937, Macphai phát hiện ra hỗn hợp dung dịch bã bia với đường hấp dẫn nhiều loài ruồi đục quả thuộc giống Anastrepha Steiner là người tiên phong sử dụng bả Protein hydrolysed trong phòng trừ ruồi đục quả vào năm 1952 (Mangan, 2005) Cơ chế tác động của bả protein là do nhu cầu buộc phải ăn thêm protein của trưởng thành cái để trứng của chúng phát triển Trong bả có thuốc trừ sâu nên khi con cái

ăn bả ở trên bề mặt tán lá cây và bị nhiễm thuốc sâu và bị chết Bả protein chỉ cần phun ở một điểm bất kỳ trên tán lá cây mà không cần phải phun phủ cả tán lá cây Biện pháp sử dụng bả Protein ở Nam Phi đã làm tỉ lệ quả ổi bị hại giảm xuống còn 4%, ở Nadi tỷ lệ này trên cây xoài giảm từ 25% xuống còn 1 - 2% (Allwood, 1996) Tại Queensland, biện pháp này được triển khai phòng chống ruồi đục quả cam trong suốt 20 năm đã đem lại hiệu quả cao và được cho

là biện pháp bắt buộc dùng đối với nhóm rau quả trồng với mục tiêu xuất khẩu (Allwood, 1996) Sử dụng bẫy bả thức ăn được xếp vào nhóm biện pháp bắt buộc đối với vùng chuyên canh cho xuất khẩu do có nhiều tính ưu việt hơn các biện pháp đã đề cập trước đó Tuy nhiên, cũng có một vài hạn chế nhất định khi ứng dụng biện pháp này Các biện pháp triệt sản được phát triển trên cơ sở những con ruồi cái thường giao phối 1 lần dưới điều kiện cánh đồng (Allwood, 1997) đã được áp dụng thành công vào nhiều loài ruồi Tephritidae như các loài: B.dorsalis, C capitata, B.cucurbitae, B.tryoni Mặc dù những loài kẻ thù tự nhiên của ruồi đã được tổng hợp từ một số nước như Úc, Hawaii, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan nhưng có vẻ như mức quản lý về sinh vật học cũng không đủ cho các mục tiêu thương mại (Allwood, 1997) Sử dụng thuốc trừ sâu cũng được áp dụng rộng rãi ở Châu Á và ở Úc

Trang 26

Hiệu quả của biện pháp sử dụng thiên địch được ghi nhận thông qua tỷ lệ ký sinh vật chủ khá cao Loài ký sinh Diachasmimoapha kraussii Fullaway ký sinh được từ 8% giòi tuổi 1 đến 58% giòi tuổi 3 của ruồi đục quả loài B latifron; giòi của ruồi đục quả loài Ceratitis capitata bị kí sinh từ 10% giòi tuổi 1 đến 64% giòi tuổi 3 (Pauline et al., 1998) Theo Peters (1996), đã thống kê các chương trình sử dụng tác nhân sinh học phòng chống loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis Tại Hawaii

đã nhân nuôi thử nghiệm 7 loài ký sinh Đó là các loài ong Fopius arisanus, F vandenboschi, Diachasmimorpha var malaiensis, var noealedonicus và var taiensis, Psyttalia incisi, Aceratoneuromyia indica Kết quả cho thấy loài Fopius arisanus có hiệu quả ký sinh vượt trội với tỷ lệ ký sinh khoảng 70% ở vườn ổi và

là tác nhân chính để tiêu diệt ruồi đục quả Phương Đông Tác giả cũng cho biết trong quá trình ký sinh, một số loài vi sinh vật cùng xâm nhiễm vào vật chủ và chúng sẽ làm tăng khả năng chết cho vật chủ lên tới 95% Hiệu quả ký sinh của ong ký sinh giòi tuổi 1, tuổi 2 và tuổi 3 của loài ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis ở Hawaii khá tốt Từ tháng 6 đến tháng 12 những năm 1947-

1949 và 1950, số lượng ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis bắt được hàng ngày trong một bẫy dẫn dụ trung bình là 2.000 con Sau khi thả ong ký sinh (năm 1951), số lượng trưởng thành của loài ruồi đục quả này bắt trong bẫy giảm đáng kể, chỉ còn 400 - 500 con/bẫy

Việc sử dụng biện pháp hoá học phòng trừ ruồi đục quả là biện pháp khá phổ biến ở nhiều nước châu Á Tuy nhiên, do phun vào giai đoạn quả chuẩn bị thu hoạch nên dễ để lại dư lượng thuốc hoặc khó đảm bảo thời gian cách ly Vùng phòng trừ bao trùm tất cả các chủ sản xuất đơn lẻ có cùng một loại sản phẩm chính, hoặc có thể cả vùng địa lý có phổ ký chủ khác nhau của ruồi đục quả Phòng trừ ruồi đục quả theo hướng tổng hợp trên diện rộng được áp dụng rộng rãi ở Hawaii, Thái Lan Ví dụ, ở Thái Lan quy mô áp dụng là 70 km² và thực hiện liên tục trong 4 năm cho tỷ lệ quả ổi bị hại giảm từ 82% ở năm 1997 xuống còn 4,2% vào năm 2004 (Orankanok et al., 2007; Vargas et al., 2008)

2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC

2.4.1 Thành phần loài, sự phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả

Tổng hợp các kết quả điều tra của Cục Bảo vệ thực vật: Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng II – TP.HCM ở phía Nam (1988 – 2000), Chi cục Kiểm dịch thực vật Lạng Sơn (2001) (Đặng Đăng Chương, 2003) và kết quả thực hiện dự án

Trang 27

quản lý ruồi đục quả ở Việt Nam của Viện Bảo vệ thực vật (Drew, 2000; Drew

et al., 2000), tại Việt Nam có 30 loài ruồi đục quả thuộc 2 giống Dacus và Bactrocera, trong đó Bactrocere có 5 giống phụ là Asiadacus, Zeugodacus, Gymodacus, Sinodacus và Bactrocera Khu vực miền Bắc Việt Nam có 22 loài (20 loài thuộc giống Bactrocera , trong đó giống phụ Bactrocera có 14 loài, các giống phụ còn lại có 6 loài; 2 loài thuộc giống Dacus và giống phụ Callantra), trong đó ở khu vực miền Nam tìm thấy được 18 loài (có 16 loài của giống Bactrocera, trong đó giống phụ Bactrocera có 10 loài, các giống phụ còn lại có

6 loài; và 2 loài của giống Dacus và giống phụ Callantra) Những loài chỉ có mặt ở miền Nam là Bactrocera Asiadacus apicalis, B.carambolae, B.melastomatos, B.zonata, B.Gymodacus calophylli, B.Sinodacus hochii, B.Zeugodacus isolate và Dacus Callantra tenebrosus

Cho tới năm 2004, phân bố ruồi đục quả ở Việt Nam được ghi nhận như sau:

9 loài xuất hiện trên toàn quốc trừ B.pyrifoliae mới chỉ phát hiện ở Lào Cai và Sơn La Khu vực miền núi phía Bắc (Sơn La, Lào Cai, Lạng Sơn, Lai Châu và Hòa Bình) có 19 loài, khu vực Trung Du (Bắc Giang, Phú Thọ…) có 9 loài, khu vực Châu Thổ Sông Hồng (Hà Nội, Hải Phòng,…) có 10 loài, khu vực Trung Bộ (Thừa Thiên Huế, Nghệ An…) có 7 loài Loài B.correcta tập trung ở vùng Đông Nam Bộ, loài B.dorsalis vùng Tây Nam Bộ và loài B.latifrons chưa ghi nhận được (Lê Đức Khánh và cs., 2004) Kết quả điều tra côn trùng năm 1967 - 1968 của Viện Bảo vệ thực vật ghi nhận có 12 loài ruồi trong họ ruồi đục quả Trypetide gồm Chaetodacus cucurbitae Coquille; Chaetodacus (= Strumeta) ferruginae Fabricius; Chaetodacus sp.; Diarhegma eburata Zia; Oxyaciura formosae Hendel; Rhabdochaeta sp.; Trypanea amoena Frfld; Trypanea stellata Fuesly; Zeugodacus caudatus Fabricius; Zeugodacus scutellatus Hendel; Zeugodacus sp Kết quả điều tra côn trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam năm 1997 - 1998 của Viện Bảo vệ thực vật ghi nhận có 3 loài thuộc họ ruồi đục quả Trypetidae gồm Bactrocera correcta Bezzi; Bactrocera dorsalis Hendel và Bactrocera pyrifoliae Drew and Hancook Kết quả thực hiện dự án TCP/VIE/8823 (A) “Quản lý ruồi hại quả ở Việt nam” và Dự án CS/1998/005 của ACIAR “Quản lý ruồi hại quả nhằm tăng cường sản xuất quả và rau ở Việt Nam” ghi nhận có 30 loài ruồi đục quả ở Việt Nam Trong đó, có 8 loài ruồi đục quả có ý nghĩa kinh tế Kết quả điều tra đến năm 2010 ghi nhận có 36 loài ruồi đục quả tại 5 vùng sinh thái nông nghiệp Vùng Trung du và miền

Trang 28

núi Bắc Bộ có 27 loài, Đồng Bằng sông Hồng có 18 loài, Bắc Trung Bộ có 14 loài, Đông Nam Bộ có 20 loài và vùng đồng bằng sông Cửu Long có 22 loài (Lê Đức Khánh và cs., 2010) Tại Bình Thuận có 15 loài ruồi đục quả (Nguyễn Thị Thanh Hiền và cs., 2011)

Ba loài B.dorsalis, B.correcta và B.cucurbitae có thể xem là 3 loài ruồi gây hại chủ yếu ở Việt Nam, chiếm trên 95% cá thể ruồi đực thu được ở 5 loại bẫy pheromone đặt ở tất cả các tỉnh, trong đó B.dorsalis chiếm tỉ lệ vào bẫy cao nhất (>40%) (Drew, 2000) Mức độ thiệt hại của 3 loài ruồi này phụ thuộc vào thời gian gây hại chính của ruồi đục quả và vào giống cây ăn quả Năm 1999, đào nhiễm ruồi ở Sapa tăng dần từ 6% (tháng 6) lên 65% (cuối vụ); năm 2000 số quả đào bị hại là 21%; trên cam tỷ lệ quả bị hại thấp, cao nhất là 6% (tháng 8) (Drew, 2000) Đánh giá ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả thông qua tỷ lệ quả bị ruồi đục quả gây hại Tỷ lệ quả bị hại do ruồi đục quả gây ra là rất lớn Tỷ lệ quả bị ruồi đục quả gây hại trên cây táo (Ziziphus jujuba) là 40% vào cuối vụ sớm, trên cây đào (Prunus persicae) là 100% vào cuối vụ, trên cây sơ ri (Barbados cherry) vào cuối vụ là 62%, trên cây hồng xiêm (Achras sapota) là 98%, (Lê Đức Khánh và cs., 2004) Ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis là một trong ba loài ruồi đục quả gây hại có ý nghĩa kinh tế quan trọng ở vùng trồng cây ăn quả của tỉnh Tiền Giang (Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, 2011)

2.4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả

Các kết quả công bố trong nước về nội dung này được phân theo hai nhóm mục đích nghiên cứu Nhóm thứ nhất với mục đích phục vụ công tác diệt ruồi đục quả cho giai đoạn sau thu hoạch (Nguyễn Hữu Đạt, 2003, 2007; Nguyễn Hữu Đạt và Bùi Công Hiển, 2004; Phạm Thị Mỹ Nhan và cs., 2013; Võ Thị Bảo Trang và cs., 2012; Dương Minh Tú và cs., 2001) và nhóm thứ hai phục vụ quản lý ruồi đục quả cho giai đoạn trước thu hoạch (Huỳnh Trí Đức và cs., 2001)

Ruồi đục quả thường vũ hóa vào buổi sáng Theo Đặng Đăng Chương (2003), với khoảng thời gian theo dõi từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều, nhộng tập trung vũ hóa trong khoảng từ 9 -11 giờ sáng và trong 2 giờ này có thể chiếm đến 73,80% tổng số cá thể vũ hóa của 10 giờ quan sát với hệ số tương quan cao

Theo nghiên cứu của Bùi Công Hiển và Trần Huy Thọ (2003), nếu để cho ruồi đẻ tự nhiên và đẻ tối đa lên quả, ruồi đục quả (con cái) có thể đẻ trứng cùng lúc hoặc nhiều lúc khác nhau vào cùng một quả Tập tính đẻ trứng của ruồi ảnh

Trang 29

hưởng đến sự tồn tại và biến động quần thể ruồi trong tự nhiên Đặng Đăng Chương (2003) ghi nhận nước quả na (mãng cầu ta) và nước ổi hấp dẫn con cái B.dorsalis đến đẻ trứng nhiều nhất (trung bình lần lượt là 205 và 168,34 trứng/2 giờ), rồi đến nước quả cam và xoài (trung bình tương ứng là 80 và 66,67 trứng/2 giờ), nước thanh long hấp dẫn ít nhất Drew (2000) cũng đánh giá là mãng cầu, ổi

có tỉ lệ nhiễm ruồi cao; xoài, cam, thanh long nhiễm ít hơn ngoài tự nhiên

Trong điều kiện nuôi ở nhiệt độ 28oC, ẩm độ 75%, thức ăn nuôi giòi là quả đào mèo, ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis có thời gian phát dục các pha trứng, giòi, nhộng, trước đẻ trứng và vòng đời tương ứng là 1,98 ngày; 6,48 ± 0,04 ngày; 9,28 ± 0,09 ngày; 14,79 ± 0,04 ngày và 32,53 ± 0,06 ngày Thời gian sống của trưởng thành đực là 120 ± 3,8 ngày và của trưởng thành cái là 140 ± 10,6 ngày Một trưởng thành cái đẻ trung bình được 949,73± 38,84 trứng và thời gian đẻ trứng tập trung từ trưa đến đầu buổi chiều Tỷ lệ hoàn thành phát triển các pha trứng, giòi và nhộng cao đạt từ 73% đến 85% Nhiệt độ khởi điểm phát dục của loài ruồi này là 10,2oC (Nguyễn Thị Thanh Hiền, 2014)

Vòng đời của B dorsalis ở điều kiện nhiệt độ nuôi 28 oC và ẩm độ 70-80%, tính từ trứng đến trứng đầu tiên của thế hệ tiếp theo là 25 ± 1,2 ngày (Nguyễn Hữu Đạt và Bùi Công Hiển, 2004)

Nuôi ruồi đục quả B correcta ở nhiệt độ 26°C, ẩm độ 60 - 70%, thời gian phát triển trung bình giòi là 2-5 ngày, nhộng là 5 - 6 ngày và thời gian từ trứng đến vũ hoá trưởng thành kéo dài 15 -16 ngày (Huỳnh Trí Đức và cs., 2001) Ruồi đục quả B carambolae ở điều kiện nuôi nhiệt độ 28 ± 0,5°C, ẩm độ 70-80%, thức

ăn giòi là cám mì có vòng đời dài 26 ± 1 ngày, thời gian phát dục pha 142,2 giờ

và 10,28 ngày (Phạm Thị Mỹ Nhan và cs., 2013) Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Đạt và Bùi Công Hiển (2004) ghi nhận trứng được thu thập trong mỗi 24 giờ của 20 con cái loài B dorsalis từ ngày đẻ thứ nhất đến ngày đẻ thứ tám là không

nở Tỷ lệ nở của trứng đẻ ngày thứ 17-24 là cao nhất, đạt 29 ± 2% và thấp nhất là

từ ngày 65 đến ngày thứ 72, đạt 1%

Phạm Thị Mỹ Nhan và cs (2013) theo dõi khả năng đẻ trứng của quần thể gồm 20 cặp ruồi đục quả loài B carambolae ghi nhận loài ruồi nàycó sức đẻ cao nhất từ ngày thứ 5 đến ngày 29 sau đẻ trứng, đạt gần 45 trứng với tỷ lệ trứng nở đạt trên 70% Nhóm tác giả cũng cho biết thêm thời gian ruồi có sức đẻ cao nhất chỉ kéo dài 19 ngày Tỷ lệ trứng nở cao trên 80% chỉ trong 3 ngày khoảng từ 32

Trang 30

đến 34 ngày sau vũ hoá

Tại Bình Thuận đã xác định được 25 loại quả là cây thức ăn của ruồi đục quả Trong đó, có 10 loại quả thuộc nhóm rau ăn quả, 15 loại quả thuộc nhóm cây ăn quả (Nguyễn Thị Thanh Hiền và cs., 2011) Ở vùng trồng cây ăn quả của tỉnh Tiền Giang, loài ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis rất phổ biến, gây hại 9 loại quả của các cây như thanh long, chôm chôm, nhãn, vú sữa, xoài, sapô, bưởi lông, sơ ri, mãng cầu xiêm Sự hiện diện của loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis rất khác nhau trong những vườn quả là cây thức ăn của giòi loài này

Tỷ lệ bắt gặp trưởng thành loài ruồi đục quả này cao nhất ở vườn thanh long với 93,06% Tiếp đến là ở vườn chôm chôm (với 79,29%), vườn bưởi (với 44,16%), vườn xoài (với 39,09%), vườn vú sữa (với 32,09%), vườn hồng xiêm (với 31,97%), vườn mãng cầu xiêm (với 31,03%) Thấp nhất là tại vườn Sơ ri chỉ với

tỷ lệ là 24,11% (Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, 2011) Loài ruồi đục quả Phương Đông chiếm 27,6% trong tổng số 4 loài ruồi đục quả phổ biến ở tỉnh Bình Thuận (Nguyễn Thị Thanh Hiền và cs., 2011)

2.4.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả

Nguồn thức ăn khác nhau, chế độ nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng khác nhau ảnh hưởng rõ rệt đến biến động quần thể ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis trong nhân nuôi thí nghiệm

Theo Dương Minh Tú và Tống Mai San (2001), trong cùng điều kiện, giòi ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis được nuôi bằng củ cà rốt tươi và củ cà rốt khô có thời gian phát triển pha giòi tương ứng là 11,84 ngày và 10,73 - 11,5 ngày Thời gian phát triển các pha của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis khi thức ăn là bột đậu xanh kéo dài hơn so với thức ăn là bột mì (Lê Đức Khánh và cs., 2008b) Các loại quả đào mèo (Prunus persica L.), quả xoài (Mangifera indica L.), quả ổi (Psidium guajava L.), quả đu đủ (Carica papaya L.) và củ cà rốt (Daucus carota subsp sativus) nuôi giòi đã có ảnh hưởng khác nhau đến thời gian phát triển, vòng đời và một số chỉ tiêu sinh vật học của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis Trong đó, khi củ cà rốt là thức ăn phù hợp nhất, khi nuôi giòi ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis bằng loại thức ăn này sẽ cho các chỉ tiêu sinh vật học vượt trội hơn so với nuôi bằng các thức ăn còn lại khác được thí nghiệm (Nguyễn Thị Thanh Hiền, 2014)

Peterson (2000) khẳng định protein và đường là 2 nguồn thức ăn quan trọng

Trang 31

trong giai đoạn trưởng thành của ruồi ảnh hưởng rõ rệt đến sự chín của trứng trong cơ thể ruồi mẹ, đến khả năng đẻ trứng và tuổi thọ của ruồi Ruồi không ăn protein mà chỉ ăn đường sẽ trưởng thành rất chậm Ruồi ăn protein và đường trung bình sẽ tạo trứng thành thục (chín) ngay vào ngày thứ 9 sau vũ hóa Ruồi không ăn đường mà chỉ ăn protein sẽ không sống được, chết ngay sau khi vũ hóa trung bình 2,8 ngày, do vậy không tạo được trứng chín (Đặng Đăng Chương, 2003) Ngoài ra, ruồi ăn đầy đủ đường và protein sẽ sống thọ nhất Thời điểm đẻ trứng cao nhất ở ruồi được ăn đầy đủ protein và đường từ ngày thứ 21 đến ngày thứ 29 sau vũ hóa (22 đến 34 trứng/ngày) Trong khi đó, ruồi chỉ ăn đường đẻ trứng cao nhất chỉ có 12 trứng/ngày

Có một số kết quả nghiên cứu về tình hình phát sinh, phát triển của ruồi đục quả nói chung và ruồi đục quả Phương Đông nói riêng ở Việt Nam đã được công bố Số lượng trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông vào bẫy loại ME ở đầu vụ quả thanh long chỉ đạt dưới 25 con/bẫy, sau đó tăng 41 con/bẫy ở cuối vụ quả (Lê Thị Điểu và Nguyễn Văn Huỳnh, 2009) Tại vùng trồng thanh long của tỉnh Bình Thuận, số lượng trưởng thành loài ruồi đục quả Phương Đông vào bẫy dẫn dụ tăng từ tháng 5 đến tháng 7 với đỉnh cao đạt trung bình 89 con/tháng (Nguyễn Thị Thanh Hiền và cs., 2011b) Nhóm tác giả này cho rằng diễn biến số lượng trưởng thành của các loài ruồi đục quả họ Tephritidae tại tỉnh Bình Thuận có liên quan đến mùa vụ chín của các loại quả ký chủ Trước khi vào mùa quả chín, số lượng trưởng thành ruồi đục quả vào bẫy chỉ là 50 - 100 con/tháng Khi vào mùa chín của các loại quả ký chủ (tháng 5 - tháng 8), số lượng trưởng thành ruồi đục quả vào bẫy tăng lên hơn 100 con/tháng Khi mùa quả ký chủ hết, số lượng trưởng thành ruồi đục quả vào bẫy giảm nhanh Tại Mộc Châu (Sơn La), hàng năm ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis bắt đầu xuất hiện từ hạ tuần tháng 4 Số lượng cá thể trong quần thể tăng dần, thường đạt đỉnh cao vào khoảng thời gian từ hạ tuần tháng 6 đến hết tuần đầu của tháng 7, sau đó giảm dần đến cuối năm Kích thước quần thể của ruồi đục quả Phương Đông tại Mộc Châu (Sơn La) phụ thuộc vào kích thước quần thể ở tháng 5 Ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis có thể phát sinh 4 - 6 lứa trong một năm (Nguyễn Thị Thanh Hiền, 2014)

Lượng mưa ít cũng có vai trò nhất định tạo ẩm độ thấp là điều kiện tốt cho ruồi đục quả sinh trưởng trong mùa khô Kết quả cho biết thêm số lượng các loài ruồi đục quả nói chung tăng dần từ tháng 5 dương lịch đến tháng 8, đỉnh cao số

Trang 32

lượng từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 và không có tương quan với nhiệt độ và

ẩm độ nhưng có liên quan đến mùa vụ quả của các loại quả ký chủ có trong vùng 2.4.4 Biện pháp phòng chống ruồi đục quả

Các biện pháp xử lý ruồi đục quả nói chung và ruồi đục quả Phương Đông nói riêng trên quả sau thu hoạch đang được nghiên cứu áp dụng tại Việt Nam đều dựa trên cơ sở xử lý nhiệt nóng Một trong những yêu cầu bắt buộc đối với hàng quả tươi xuất khẩu là phải xử lý quả tươi nhằm diệt trứng cũng như sâu non của ruồi đục quả có trong quả xuất khẩu Các biện pháp xử lý đối với quả tươi được áp dụng gồm xử lý nóng, xử lý lạnh, chiếu xạ, tiêu huỷ hàng,… Tuỳ thuộc vào hàng hoá và vào hiệp ước kiểm dịch thực vật ký kết giữa bên nước nhập khẩu và xuất khẩu mà quả được áp dụng loại biện pháp xử lý tương ứng cho phù hợp Biện pháp được áp dụng tại Việt Nam đối với quả tươi xuất khẩu là xử lý bằng hơi nước nóng, chiếu xạ quả, xử lý nhiệt Xử lý ở nhiệt độ 46,5oC trong 20 phút, các giai đoạn phát triển khác nhau của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis đã ghi nhận không còn cá thể nào sống sót (Nguyễn Hữu Đạt, 2003) Hiện nay quả thanh long Bình Thuận của Việt Nam khi xuất khẩu sang Nhật, Hàn Quốc phải qua xử

lý hơi nước nóng hoặc chiếu xạ quả

Dương Minh Tú và cs (2002) chỉ ra rằng biện pháp xử lý chiếu xạ tia gamma liều thấp với ruồi đục quả gây ảnh hưởng đến khả năng tái sinh thế hệ sau của chúng do đặc tính gây tổn thương và tác động tích lũy của bức xạ ion hóa Sử dụng bả protein phòng trừ ruồi hai quả trong sản xuất một số loại quả và rau ăn quả ở Việt Nam đã nghiên cứu phòng trừ ruồi đục quả diện rộng tại Lóng Luông – Mộc Châu – Sơn La năm 2004 – 2005 và cho kết quả tỉ lệ thiệt hại do ruồi vùng thí nghiệm phun bả diện rộng ( 35 ha) là 5% vào cuối vụ, trong khi đối chứng tỉ lệ hại ở cuối vụ là 100% Kết quả cho thấy nếu áp dụng biện pháp phòng trừ ruồi bằng bả protein trên diện rộng sẽ cho hiệu quả phòng ruồi cao (Lê Đức Khánh và cs., 2008a) Ruồi đục quả là đối tượng gây hại nguy hiểm, việc phòng trừ còn đang là vấn đề đối với người sản xuất rau quả tươi ở Việt Nam, việc thu hoạch sớm khi quả còn xanh để tránh ruồi hại phần nào giảm được thiệt hại do ruồi nhưng cũng làm giảm đáng kể năng suất và chất lượng quả Biện pháp sử dụng một số loại thuốc hóa học có phổ tác động rộng Tuy nhiên không đạt hiệu quả cao vì giòi sống và gây hại bên trong quả, không bị tác động trực tiếp bởi thuốc hóa học, không an toàn cho người tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trường

Trang 33

Lê Đức Khánh (2011) đã sử dụng biện pháp xác định liều lượng chiếu xạ nhằm gây bất dục ở ruồi, là 1 trong những khâu quan trọng trong biện pháp phòng trừ ruồi bằng kỹ thuật triệt sản Phòng chống ruồi đục quả Phương Đông hại quả đào mèo tại Mộc Châu (Sơn La) theo hướng tổng hợp trên diện rộng cho hiệu quả cao và dễ thực hiện Trong đó, nhấn mạnh trên quy mô cộng đồng lớn cần áp dụng biện pháp vệ sinh đồng ruộng, treo bẫy pheromone giới tính để diệt trưởng thành đực và phun bả protein Phun bả protein vào thời điểm khi ruồi trưởng thành vào bẫy dạt 5 - 10 con/bẫy hoặc khi quả đào mèo ở giai đoạn vỏ quả chuyển mầu xanh vàng Áp dụng giải pháp phòng chống tổng hợp trên diện rộng

có thể làm giảm tỷ lệ quả đào bị ruồi đục quả hại xuống còn 2 - 3%, trong khi đó

ở vườn đối chứng (không áp dụng) tỷ lệ này là 14,18% (Nguyễn Thị Thanh Hiền, 2014) Việc xây dựng hệ thống kiểm dịch đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của hệ thống kiểm dịch trước và sau thu hoạch

Trang 34

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

+ Điều tra ngoài đồng ruộng: xã Chi Lăng, xã Quang Lang, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

+ Nghiên cứu trong phòng: Phòng thí nghiệm Bộ môn Chẩn đoán giám định dịch hại và Thiên địch, Viện Bảo vệ thực vật

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Đề tài được tiến hành năm 2016 - 2017

3.3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel gây hại trên cây na 3.3.2 Vật liệu nghiên cứu

- Thịt quả na dùng làm thức ăn chính nuôi giòi ruồi đục quả, thành phần trộn cùng thịt quả na gồm torula và nipagin Thịt quả na khi chưa sử dụng bảo quản trong tủ lạnh tối đa 5 ngày Thức ăn cho trưởng thành gồm protein, đường Bẫy ruồi đục quả, Vizubon - D 10ml, Flykil 95EC và Sofri - Protein 10DD

3.3.3 Dụng cụ nghiên cứu

- Lồng nuôi nguồn ruồi đục quả Hộp nuôi ghép cặp trưởng thành, lọ đựng nước Ống tuýp, hộp petri và hoá chất cần thiết (cồn 90%) phục vụ giám định và bảo quản mẫu Kính hiển vi soi nổi, kính lúp cầm tay, máy say điện, máy ảnh, bút lông, panh, cồn 90%),…Dụng cụ khác như: khăn lau đa năng, màn, mùn cưa, dây thép nhỏ, giấy bóng kính, bút viết kính, túi bao quả, …

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Thu thập, xác định thành phần loài và một số đặc điểm hình thái chủ yếu của các loài ruồi đục quả tại vùng trồng na huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

- Nghiên cứu đặc điểm gây hại và đặc điểm sinh học của loài ruồi đục quả

B dorsalis trên cây na

- Điều tra diễn biến mật độ loài ruồi đục quả B dorsalis gây hại trên cây na dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (địa hình đất trồng na và tuổi cây na)

Trang 35

- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả B dorsalis (sử dụng bẫy bả và biện pháp bao quả)

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Thu thập, xác định thành phần loài và một số đặc điểm hình thái của các loài ruồi đục quả tại vùng trồng na huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

3.5.1.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng

Thu thập thành phần loài ruồi đục quả: Chọn 2 vườn na đại diện được trồng tại 2 địa điểm trong vùng nghiên cứu: xã Chi Lăng và xã Quang Lang Bẫy được sử dụng là kiểu bẫy Steiner với chất dẫn dụ là Methyl eugenol (gọi tắt là bẫy ME), sau khi thu thập tiến hành cắm mẫu theo phương pháp làm mẫu và bảo quản mẫu vật côn trùng (Phương pháp nghiên cứu BVTV, 1997), sấy khô để phân loại và giám định loài Cấu tạo bẫy ME thu ruồi gồm: Bẫy có màu vàng, được khoét sẵn 4 lỗ nhỏ thông nhau tạo thành hình chữ thập, thuốc chứa hoạt chất dẫn

dụ Vizubon - D 10ml hỗn hợp gồm 2 thành phần: 1 Dibrom (chiếm 25% thành phẩm) là hoạt chất trừ sâu có tác dụng tiếp xúc, vị độc; 2 Methyl eugenol (chiếm 75% thành phẩm) là chất dẫn dụ giới tính

Cách làm và treo bẫy: Sử dụng dây thép nhỏ (1 đầu treo vào bẫy, 1 đầu treo cành cây) Sử dụng 1-2 ml thuốc/bẫy, thuốc được tẩm vào bông gắn trong bẫy Treo bẫy dưới tán cây mát, tránh ánh sáng trực tiếp (thuốc sẽ giảm hiệu lực nhanh) Các bẫy cách nhau 25m, cách mặt đất từ 1,5 - 2 m Tổng số bẫy được treo

20 bẫy/vườn Thời gian tẩm lại thuốc và thu mẫu ruồi định kỳ : 14 ngày/lần Thời gian đặt bẫy từ tháng 6/2016 đến tháng 10/ 2016, tổng số lần điều tra và thu mẫu

là 11 lần trong suốt thời gian thực hiện Đến kỳ thu mẫu, dùng bút lông gạt trưởng thành ruồi có trong từng bẫy vào giấy mềm, gói lại cho vào hộp giấy chữ nhật có kích thước cao 5cm x rộng 3,5 cm Điền các thông tin (địa điểm, ngày đổ) lên vỏ hộp Mẫu thu được đem về phòng thí nghiệm sấy khô phục vụ công tác giám định thành phần loài Tên loài ruồi đục quả gây hại (tên Việt Nam và tên khoa học) được xác định theo các tài liệu của Ian and Harris (1992), đĩa phân loại Lucid của Lawson et al (2003) về phân loại Bộ Diptera cùng với sự giúp đỡ của cán bộ Bộ môn Côn trùng , Viện Bảo vệ thực vật Chỉ tiêu theo dõi: tần suất xuất hiện của các loài ruồi đục quả và diễn biến số lượng các loài ruồi đục quả vào bẫy ME

Trang 36

3.5.1.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Ngoài thu thập thành phần ruồi bằng bẫy ME còn tiến hành thu mẫu quả

na có triệu chứng bị ruồi đục quả gây hại tại điểm điều tra, cho vào túi nilong có ghi nhãn với thông tin như: địa điểm, ngày thu mẫu, …Mẫu thu về đặt trong hộp nhựa có lót lớp mùn cưa ẩm độ dày 0,5 cm Theo dõi đến khi giòi hóa nhộng, tiến hành sàng nhộng khoảng 2 - 3 ngày/lần đến khi trưởng thành vũ hóa Khi ruồi vũ hóa, chuyển toàn bộ ruồi sang lồng nuôi, trong 3 ngày đầu nuôi bằng đường nhão,

từ ngày thứ 4 trở đi nuôi bằng thức ăn protein + đường Khoảng 7 ngày tuổi khi ruồi phát triển đầy đủ các đặc điểm của loài tiến hành cho vào ngăn đá tủ lạnh trong 8 giờ liên tục sau đó lấy làm mẫu, sấy khô và giám định phân loài

3.5.1.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái chủ yếu của trưởng thành các loài ruồi đục quả tại vùng trồng na huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Trong quá trình thu thập thành phần loài ruồi đục quả cũng như trong thời gian tiến hành thí nghiệm các chỉ tiêu sinh học, quan sát mô tả các đặc điểm cơ bản phân biệt trưởng thành các loài ruồi đục quả thu tại vùng trồng na Chụp hình minh họa các loài đồng thời tiến hành đo kích thước chiều dài thân, chiều dài cánh bằng phần mềm Axiovison LE 4.8.2 Tổng số cá thể theo dõi: 15 cá thế/loài 3.5.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm gây hại và đặc điểm sinh học của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel trên cây na

3.5.2.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm gây hại của ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis bằng phương pháp treo thẻ

Tiến hành treo thẻ, thẻ làm bằng bìa catton cứng, có đánh số quả na theo dõi Na được thụ phấn ngày 04 tháng 5 năm 2016 bằng phương pháp tự thụ phấn Vào giai đoạn 30 ngày sau thụ phấn, tiến hành treo thẻ 30 quả na/vườn và trên 3 vườn na cố định Thời gian treo thẻ từ ngày 03 tháng 6 năm 2016 đến ngày 21 tháng 8 năm 2016 Quan sát triệu chứng quả do ruồi đục quả hây hại, tính số lượng quả bị châm hại và bị rụng sau mỗi lần điều tra Những quả đã bị châm hại

ở lần điều tra sẽ được đánh dấu bằng dây đỏ Định kỳ điều tra 7 ngày/lần Bên cạnh đó trong thời gian điều tra định kỳ kết hợp cả thời gian cao điểm, khi quả bước vào giai đoạn chín sinh lý, tiến hành thu thập tất cả quả bị rụng, quả có vết châm mang về phòng thí nghiệm theo dõi triệu chứng bên ngoài quả kết hợp với

bổ quả bị hại để mô tả triệu chứng do ruồi đục quả gây ra Mô tả triệu chứng và cách gây hại của ruồi đục quả qua quan sát mẫu quả hại khi tiến hành bổ quả và

Trang 37

từ thực tế điều tra ngoài đồng ruộng Chụp ảnh lại triệu chứng quả na bị ruồi đục quả gây hại Các chỉ tiêu theo dõi: Số quả na bị hại (có vết châm của ruồi đục quả) và tỷ lệ quả bị ruồi châm; số quả bị rụng và tỷ lệ quả bị rụng

3.5.2.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis dựa theo phương pháp của Walker et al (1996) và Nguyễn Thị Thanh Hiền (2014) Nguồn ruồi ban đầu thu từ quả na bị hại tại địa điểm nghiên cứu

Thức ăn nuôi giòi bao gồm 86 gr na dai xay, 12 gr torula và 2 gr nipagin.Quả na được thu làm thức ăn cho giòi là những quả đã chín, không bị sâu bệnh và không bị dập nát Tiến hành bóc bỏ vỏ, phần thịt na được xay nhỏ, mịn bằng máy say điện sau đó chia nhỏ theo khối lượng 86 gram thịt na/hộp, bảo quản trong ngăn đá tủ lạnh Khi sử dụng, lấy thịt na trong tủ lạnh ra rã đông hoàn toàn, trộn đều với các thành phần còn lại theo tỷ lệ trên Thức ăn nuôi trưởng thành là protein và đường theo tỷ lệ 1:4

Cách thực hiện:

Pha trứng: Trước khi tiến hành thí nghiệm, chuẩn bị trứng ruồi để nuôi sinh học Đặt 10 lát cà rốt tươi (dày 0,2 - 0,3 cm) được đặt phía trên lồng nuôi trưởng thành để thu trứng Các lát cà rốt sau đó được đặt trong đĩa petri lót giấy thấm để cho trứng nở (n=85)

Pha giòi: Sau khi trứng nở, giòi được chuyển ngay ra nuôi từng cá thể ở từng hộp với thành phần thức ăn đã chia theo tỷ lệ, thức ăn được thay 2 ngày/lần Các hộp nuôi giòi được đặt trong hộp giấy kín để tạo môi trường tối phù hợp cho

sự phát triển của giòi Hàng ngày quan sát và ghi chép thời gian giòi lột xác chuyển tuổi

Pha nhộng: Khi giòi sang tuổi cuối chuẩn bị hóa nhộng, chuyển vào hộp nhựa có sẵn một lớp mùn cưa ẩm (độ dày khoảng 0,5 cm) Quan sát và theo dõi thời gian nhộng vũ hóa trưởng thành

Pha trưởng thành: Trưởng thành sau khi vũ hóa, chọn những cặp vũ hóa cùng ngày, tách và ghép cặp (1 con đực và 1 con cái) được nuôi trong hộp nhựa

có đường kính là 14 cm, chiều cao hộp là 22 cm Cắt khăn đa năng thành những miếng nhỏ có kích thước 3 cm x 2cm, giấy bóng kính được cắt thành từng miếng

có kích thước 4 cm x 2,5 cm để làm giá đỡ đựng thức ăn; sử dụng dây thép 1 đầu

Trang 38

làm móc lên lưới bọc trên miệng hộp, 1 đầu cuốn làm giá đựng phía dưới đặt giấy bóng kính, phía trên đặt miếng khăn đa năng để đựng thức ăn, đánh số thứ tự từng hộp nuôi Cho đường nhão lên miếng đựng thức ăn trong 3 ngày đầu sau vũ hóa,

từ ngày tuổi thứ 4 trở đi thay bằng hỗn hợp thức ăn dùng cho trưởng thành Nước được cung cấp từ miếng khăn đa năng kích thước 12 cm x 2 cm được nối từ đáy hộp chứa nước lên tới nắp hộp

Để nghiên cứu sức đẻ trứng, thời gian sống của trưởng thành (n=20 cặp) tiến hành ghép cặp trưởng thành tương tự như đã nêu ở phần trên Sử dụng miếng

cà rốt mỏng khoảng 0,2 – 0,3 cm đặt trên đỉnh hộp, hàng ngày vào lúc 8h sáng quan sát dưới kính hiển vi soi nổi đếm số trứng mà 1 trưởng thành cái đẻ được cho tới khi trưởng thành chết sinh lý Các lát cà rốt tươi được thay mới hàng ngày

Phương pháp nghiên cứu tỷ lệ nở của trứng: Tiến hành thu trứng vào lúc 8 giờ sáng với 30 trứng/nhắc lại, thực hiện nhắc lại 3 lần Thực hiện thí nghiệm làm

2 đợt, đợt 1: trứng thu khi ruồi trưởng thành được 36 ngày tuổi, đợt 2: trứng thu khi ruồi trưởng thành 50 ngày tuổi Thu trứng vào thời gian khi ruồi trưởng thành được 36 và 50 ngày tuổi vì thời gian này ruồi đục quả đẻ được số lượng trứng ổn định, có thể thu số lượng trứng lớn trong cùng 1 thời gian, đảm bảo được độ chính xác cao cũng như yêu cầu về số lượng trứng để thực hiện thí nghiệm Trứng được thu bằng miếng cà rốt có độ dày khoảng 0,2 – 0,3 cm và được đặt trong đĩa peptri lót giấy thấm Hàng ngày quan sát và ghi chép số trứng nở Thực hiện quan sát trong 7 ngày kể từ sau ngày thu trứng, đếm số trứng còn lại không

nở Tính tỷ lệ trứng nở (%)

Phương pháp nghiên cứu tính mật độ giòi trong 1 quả na: Thu quả na có vết châm đẻ trứng của ruồi đục quả và bị rụng vào thời điểm quả chín rộ tháng 8 năm 2016, thu 30 quả/vườn, thu tại 3 vườn thuộc xã Chi Lăng, Chi Lăng, Lạng Sơn Mẫu quả được đựng trong các túi nilong riêng biệt, bên ngoài có ghi rõ số thứ tự vườn thu quả, ngày và địa điểm thu Qủa sau khi thu được mang về phòng thí nghiệm, thực hiện bổ quả đếm số giòi Tính số giòi trung bình trong 1 quả na

Các chỉ tiêu theo dõi: Mô tả đặc điểm các pha, thời gian phát triển các pha, vòng đời của ruồi, tỷ lệ sống sót qua các pha Xác định tổng số trứng đẻ được của 1 trưởng thành cái, số trứng đẻ trung bình của 1 trưởng thành cái trong

1 ngày (số quả/ 1 trưởng thành cái/ngày), thời gian đẻ trứng trung bình của 1 trưởng thành, thời gian sống, nhịp điệu đẻ trứng Tỷ lệ nở của trứng Tính mật độ giòi trung bình trong 1 quả na

Trang 39

3.5.3 Điều tra diễn biến mật độ loài ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel gây hại trên cây na dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (địa hình đất trồng na và tuổi cây na)

Chọn vườn na ở thời kỳ kiến thiết cơ bản (tính từ thời điểm trồng cây con đến năm thứ 3 thu bói quả) và vườn na thời kỳ kinh doanh (vườn na 15 năm tuổi, cây cho năng suất quả ổn định) Chọn vườn na trồng ở chân đồi (ở độ dốc < 50); Vườn na trồng ở lưng đồi (ở độ dốc 5-150) và vườn na trồng ở đất bằng (đất vườn) Sử dụng bẫy ME treo trong vườn na, treo 20 bẫy/ha, mỗi bẫy cách nhau 25m để thu thập ruồi trưởng thành B dorsalis, đếm số lượng ruồi trong từng bẫy Thuốc chứa chất dẫn dụ Vizubon – D 10 ml Cách treo bẫy tương tự mục 3.5.1.1 Thời gian tẩm lại thuốc và đếm mật độ ruồi định kỳ : 14 ngày/lần Thời gian đặt bẫy từ 02 tháng 5 năm 2016 đến ngày 02 tháng 5 năm 2017 Tính mật độ ruồi vào bẫy bình quân/bẫy/kỳ (14 ngày/kỳ) để theo dõi diễn biến mật độ ruồi

3.5.4 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel (sử dụng bẫy bả và biện pháp bao quả)

3.5.4.1 Phương pháp nghiên cứu phòng trừ ruồi đục quả bằng sử dụng bẫy bả

Địa điểm thực hiện: xã Chi Lăng - huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn với 4 công thức, 3 lần nhắc lại Công thức 1: Phun bả Sofri – protein 10DD; công thức 2: đặt bẫy ME có sử dụng thuốc Vizubon – D 10 ml; công thức 3: đặt bẫy ME có

sử dụng thuốc Flykil 95EC Công thức 4: Đối chứng không sử dụng bẫy bả Ngày thực hiện đặt bẫy bả ngày 17 tháng 7 năm 2016 Phun bả 8 lần trong suốt thời gian thí nghiệm.Phương pháp nghiên cứu: Tiến hành thực hiện 0,5 ha/công thức/nhắc lại Công thức 1: Để tiêu diệt ruồi đục quả khi sử dụng Sofri – Protein 10DD cần pha chung với Fipronil 5% Cách pha: 0,5 lít Sofri – Protein 10DD +

20 ml Fipronil 5% + 5 lít nước/0,5 ha/1 lần phun (theo khuyến cáo) Phun thành từng đốm dưới tán lá khoảng 1 m2, mỗi đốm cách nhau 10m, không phun lên quả Phun 7 ngày/ lần Trước khi phun cần thu dọn hết quả rụng , vệ sinh vườn sạch

sẽ Công thức 2 và 3: Cách treo bẫy tương tự mục 3.5.1.1, tuy nhiên thuốc được tẩm là khác nhau tùy theo mỗi công thức Tiến hành treo 10 bẫy/ công thức/nhắc lại Mỗi bẫy cách nhau 25 m Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ quả bị hại (%) và mật độ sâu non (con/quả) Tiến hành thu mẫu làm 3 đợt (n=30 quả/đợt) ở các công thức : đợt 1 thu mẫu trước khi tiến hành thí nghiệm, đợt 2 thu mẫu sau khi sử dụng bẫy

bả 30 ngày, đợt 3 thu mẫu sau khi kết thúc đặt bẫy bả Mẫu thu về được đựng trong túi nilong bên ngoài có ghi nhãn mác đầy đủ thông tin như ngày thu quả, số

Trang 40

thứ tự công thức, số thứ tự nhắc lại,… Theo dõi tỷ lệ quả bị hại và tiến hành bổ quả để tính mật độ sâu non Trường hợp nếu bổ quả quan sát ở giai đoạn trứng, tiếp tục nuôi cho đến khi trứng nở thành giòi rồi tính mật độ

3.5.4.2 Phương pháp nghiên cứu phòng trừ ruồi đục quả Phương Đông bằng biện pháp bao quả

Địa điểm thực hiện: xã Chi Lăng - huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn với 4 công thức, 3 lần nhắc lại Túi bao quả có kích thước 16 x 19 cm Tiến hành thụ phấn ngày 04 tháng 5 năm 2016 Công thức 1: bao quả sau thụ phấn 30 ngày; công thức 2: bao quả sau thụ phấn 60 ngày; công thức 3: bao quả sau thụ phấn 90 ngày; công thức 4: đối chứng không bao quả Tiến hành thực hiện bao 10 quả/cây, 10 cây/ công thức (quả được bao là những quả không bị sâu bệnh hại)

Do đặc tính na nếu để thụ phấn tự nhiên thì tỷ lệ đậu quả thấp, chất lượng quả kém Do vậy người dân thường tiến hành thụ phấn nhân tạo Hoa sau khi thụ phấn khoảng 1-2 tuần sẽ hình thành quả non Do vậy dựa vào thời điểm thụ phấn

để tính toán thời gian bao quả Chỉ tiêu theo dõi: Khi thu hoạch quả rộ, tiến hành thu n=30 quả/công thức/nhắc lại, đựng trong túi nilong bên ngoài có ghi nhãn mác đầy đủ thông tin như ngày thu quả, số công thức, số nhắc lại,… bổ quả theo dõi mật độ sâu non và tỷ lệ quả có giòi gây hại bên trong ở quả được bao và quả đối chứng Trường hợp nếu quả thu về ruồi ở giai đoạn trứng, tiếp tục nuôi cho đến khi trứng nở ra giòi để tính mật độ Từ đó so sánh và đánh giá thời gian bao quả hợp lý

3.6 CÔNG THỨC TÍNH TOÁN SỐ LIỆU

+ Tỷ lệ quả bị ruồi hại rụng (%) = x 100

Tổng số giòi thu được + Số giòi trung bình trong 1 quả bị hại (con/quả) = Tổng số quả bị châm hại

Ngày đăng: 14/07/2021, 15:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Công Hiển, Trần Huy Thọ (2003). Côn trùng học ứng dụng. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật. 200 trang Khác
2. Drew D. (2000). Kết quả thực hiện Dự án Quản lý ruồi đục quả ở Việt nam. Tạp chí Bảo vệ thực vật. 05. tr. 178-179 Khác
3. Drew D., Hà Minh Trung, Lê Đức Khánh (2000). Kết quả thực hiện Dự án Quản lý ruồi hại quả ở Việt Nam – TCP/VIE/8823 (A). Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội. 43 trang Khác
4. Đặng Đăng Chương (2003). Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của ruồi đục quả Phương Đông (Bactrocera dorsalis Hendel). Luận văn thạc sỹ. Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Khác
5. Dương Minh Tú, Tống Mai San (2001). Kết quả nuôi ruồi đục quả Phương Đông bằng thức ăn nhân tạo. Tạp chí Bảo vệ thực vật. 02. tr. 19-21 Khác
6. Dương Minh Tú, Tổng Mai San, Nguyễn Duy Lâm, Trần Băng Diệp (2002). Hiệu quả của biện pháp xử lý chiếu xạ gramma liều thấp trừ ruồi đục quả phương Đông (Bactrocera dorsalis Hendel) trên qủa Thanh long. Báo cáo khoa học hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 4. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội. tr. 477-481 Khác
7. Huỳnh Trí Đức, Nguyễn Thu Thuỷ, Nguyễn Ngọc Thuỳ, Graham Burnip (2001). Một số đặc điểm sinh học của ruồi đục quả loài Bactrocera correcta. Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ cây ăn quả Viện Cây ăn quả Miền Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 226-232 Khác
8. Lê Đức Khánh (2011). Liều lượng chiếu xạ thích hợp gây bất dục loài ruồi hại quả Bactrocera dorsalis và Bactrocera cucurbitae ở Việt Nam. Hội nghị côn trùng học quốc gia lần thứ 7 năm 2011. tr. 572 – 575 Khác
9. Lê Đức Khánh, Đào Đăng Tựu, Nguyễn Thị Thanh Hiền, Trần Thanh Toàn, Vũ Thị Thùy Trang, Phan Minh Thông, Vũ Văn Thanh, Đặng Đình Thắng (2008a).Sử dụng bả protein phòng trừ ruồi hại quả trong sản xuất một số loại quả và rau ăn quả ở Việt Nam. Hội thảo GAP – Bình Thuận (21-22/7/2008) Khác
10. Lê Đức Khánh, Nguyễn Thanh Hiền, Lê Quang Khải, Trần Thanh Toàn, Vũ Thị Thùy Trang, Trần Thị Hằng, Đặng Đình Thắng (2010). Thành phần ruồi hại quả họ Tepritidae và ký chủ của chúng tại một số vùng sinh thái nông nghiệp ở Việt Nam. Tạp chí Bảo vệ thực vật. 03. tr. 10-14 Khác
11. Lê Đức Khánh, Nguyễn Thị Thanh Hiền, Đào Đăng Tựu, Trần Thanh Toàn, Phan Minh Thông, Vũ Thị Thuỳ Trang, Đặng Đình Thắng, Vũ Văn Thanh (2004). Báo cáo thực hiện năm thứ 3 dự án Quản lý ruồi hại quả nâng cao năng suất rau và quả ở Việt Nam. Báo cáo tại hội nghị khoa học Viện Bảo vệ thực vật năm 2004 Khác
12. Lê Đức Khánh, Nguyễn Thị Thanh Hiền, Lê Quang Khải, Trần Thanh Toàn, Vũ Thị Thùy Trang (2008b). Nghiên cứu liều lượng chiếu xạ (Sterilization dose) thích hợp cho triệt sản loài ruồi hại quả Bactrocera dorsalis (Hendel), Bactrocera cucurbitae (Coq.) hại trên các loại cây ăn quả và rau ăn quả ở Việt Nam. Báo cáo kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu cơ bản Khác
13. Lê Thị Điểu và Nguyễn Văn Huỳnh (2009). Điều tra thành phần loài sâu hại, thiên địch và ruồi đục quả trên cây thanh long tại tỉnh Long An. Tạp chí Bảo vệ thực vật. 02. tr. 3-12 Khác
14. Nguyễn Hữu Đạt (2003). Ruồi đục quả và biện pháp xử lý sau thu hoạch bằng hơi nước nóng. Kỷ yếu hội thảo khoa học Bảo vệ thực vật phục vụ chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh phía Nam và Tây nguyên. tr. 45-53 Khác
15. Nguyễn Hữu Đạt (2007). Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của ruồi đục quả Phương Đông (Bactrocera dorsalis Hendel, Tephritidae, Diptera) gây hại quả xoài sau thu hoạch và biện pháp xử lý để thanh trừ chúng, đảm bảo chất lượng xoài xuất khẩu. Luận án tiến sỹ Nông nghiệp Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. tr. 35-36 Khác
16. Nguyễn Hữu Đạt và Bùi Công Hiển (2004). Một số dẫn liệu về sinh học và thức ăn nhân tạo của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel. Tạp chí Bảo vệ thực vật. 05. tr. 3-9 Khác
17. Nguyễn Thị Thanh Hiền (2014). Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học chủ yếu của loài ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel hại cây ăn quả và biện pháp phòng chống theo hướng tổng hợp ở Mộc Châu, Sơn La.Luận án Tiến sĩ Nông Nghiệp. tr. 39 Khác
18. Nguyễn Thị Thanh Hiền, Lê Đức Khánh, Lê Quang Khải (2011a). Thành phần loài ruồi hại quả (Tephritidae: Diptera) và ký chủ của chúng tại vùng Thanh long, Bình thuận. Tạp chí Khoa học và công nghệ Nông nghiệp Việt Nam. 09. tr. 41-45 Khác
19. Nguyễn Thị Thanh Hiền, Lê Đức Khánh, Lê Quang Khải, Trần Thanh Toàn, Trần Thúy Hằng, Vũ Thị Thùy Trang (2011b). Kết quả sử dụng bẫy mang bả Protein phòng trừ ruồi hại quả Thanh long tại huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Tạp chí Bảo vệ thực vật. 06. tr. 24-27 Khác
20. Phạm Thị Mỹ Nhan, Chu Hồng Châu, Võ Thị Bảo Trang, Vũ Thị Lành, Nhan Thị Minh Uyên và Nguyễn Hữu Đạt (2013). Nghiên cứu xây dựng Quy trình nhân nuôi số lượng lớn Ruồi đục quả Bactrocera carambolae Drew and Hancock (Diptera: Tephritidae) trong điều kiện phòng thí nghiệm. Tạp chí Bảo vệ thực vật. 01. tr. 11- 16 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w