Kết quả nghiên cứu cây Thảo quả ban đầu được trình bày trong cuốn sách về công dụng và giá trị của một số loàicây dược liệu do các nhà Y học Trung Quốc biên soạn được xuất bản vào đầuthế
Trang 1Lê Văn Thành
NGHIÊN CứU một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật
gây trồng thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) ở MộT Số
tỉnh miền núi phía bắc LàM CƠ Sở Đề XUấT Kỹ THUậT
trồng Và PHáT TRIểN Mở RộNG
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Huy Sơn
Hà Tây, 2006
Trang 2Đặt vấn đề
(Zingiberaceace) là loài cây lâm sản ngoài gỗ phân bố tự nhiên ở vùng núi
cao có khí hậu nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới, thích hợp với các loại đất còntính chất đất rừng, là cây chịu bóng với độ tàn che từ 0,3-0,7 Thảo quả đượcgây trồng chủ yếu ở các tỉnh miền Nam Trung Quốc, phía Bắc Lào và các tỉnhmiền núi phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu
Hạt Thảo quả có hàm lượng tinh dầu từ 1-1,5% màu vàng nhạt, mùithơm, nóng cay dùng làm gia vị thực phẩm Đặc biệt Thảo quả là một loạidược liệu dùng làm thuốc để chữa trị bệnh đau ngực, đau bụng, đầy trướng, ỉachảy, lách to và trị cả bệnh sốt rét,… Vì vậy, Thảo quả là loài cây lâm sảnngoài gỗ không những chỉ có giá trị tiêu dùng trong nước mà còn có giá trịxuất khẩu cao
ở nước ta, những năm gần đây giá Thảo quả trung bình khoảng từ40.000 - 60.000 đ/kg khô, đến mùa thu hoạch tư thương đến tận hộ gia đìnhthu mua nên nhìn chung Thảo quả dễ bán và mang lại nguồn thu lớn cho nhiều
hộ gia đình như hộ ông Quản Gia Mô, xã Chung Lèng Hồ, huyện Bát Xát, tỉnhLào Cai trồng được 5,0 ha hàng năm cho thu nhập từ 30-50 triệu đồng Hộ ôngThào A Khoa thôn Xéo Mý Tỷ, xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai trồng
được 6,0 ha hàng năm cho thu nhập từ 40-60 triệu đồng Riêng năm 2001 giátăng tới 150.000 đ/kg khô, nhiều hộ gia đình ở huyện Sa Pa, Bát Sát, Văn Bàncủa tỉnh Lào Cai thu được 60-70 triệu đồng, thậm chí có hộ gia đình thu đượctrên 100 triệu đồng từ Thảo quả trong năm này điển hình có gia đình ông Páo
ở Bản Nậm Khâm xã Nậm Chày, hộ ông Ly ở Thôn Nậm Chày xã Nậm Chàyhuyện Văn Bàn Qua các báo cáo bằng văn bản của chính quyền và các cơquan quản lý cho thấy việc phát triển gây trồng Thảo quả đã và đang góp phần
Trang 3phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo nên nhiều địa phương đã coi câyThảo quả là cây trồng chính thay thế cây Thuốc Phiện ở vùng cao.
Vì Thảo quả có giá trị kinh tế cao như vậy nên diện tích trồng loài câynày trong những năm qua tăng rất nhanh, nhưng chủ yếu là tự phát, nên kỹthuật trồng rất khác nhau, bên cạnh những diện tích có năng suất tương đốicao, còn tồn tại nhiều diện tích cho năng suất thấp Tuy một số địa phương đã
có hướng dẫn kỹ thuật gây trồng nhưng do chưa có cơ sở khoa học dựa trênnhững công trình nghiên cứu cơ bản nên đây mới chỉ là bản hướng dẫn kỹthuật tạm thời, dựa vào kinh nghiệm và mang tính địa phương Hơn nữa, nhiều
hộ gia đình do không hiểu đặc tính sinh thái của cây Thảo quả đã tự động mởtán rừng dẫn đến làm suy giảm vốn rừng, giảm chức năng phòng hộ và năngsuất Thảo quả Vì vậy, để có thể trồng cây Thảo quả cho năng suất và chấtlượng cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên nơi trồng, đáp ứng nhu cầu tiêudùng trong nước và xuất khẩu cần thiết phải thực hiện đề tài "Nghiên cứu
một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật gây trồng Thảo quả (Amomum
aromaticum Roxb.) ở một số tỉnh miền núi phía Bắc làm cơ sở đề xuất kỹ
thuật trồng và phát triển mở rộng"
Bản luận văn này được hoàn chỉnh trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đềtài cấp Bộ "Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) ở các tỉnh miền núi phía Bắc" giai đoạn 2004-2005 do
chính tác giả làm chủ nhiệm đề tài
Trang 4Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1 Những nghiên cứu về giá trị và công dụng của Thảo quả
Thảo quả là cây lâm sản ngoài gỗ, phân bố tự nhiên hẹp, trên vùng núicao ở một số tỉnh của miền Nam Trung Quốc và phía Bắc nước Lào Cho đếnnay nhìn chung các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung đề cập đến giá trị
và công dụng của Thảo quả còn kỹ thuật gây trồng được đề cập rất sơ lược ởTrung Quốc Thảo quả được sử dụng cách đây hàng trăm năm, nhưng việcnghiên cứu về loài cây này chưa nhiều Kết quả nghiên cứu cây Thảo quả ban
đầu được trình bày trong cuốn sách về công dụng và giá trị của một số loàicây dược liệu do các nhà Y học Trung Quốc biên soạn được xuất bản vào đầuthế kỷ 19 (dẫn theo Thân Văn Cảnh, 2001) [20], công trình này mới bước đầu
đề cập đến cây Thảo quả tuy còn sơ lược và ngắn gọn nhưng đã chỉ ra côngdụng của Thảo quả trong chữa trị một số bệnh như: đau bụng, ỉa chảy, giảicảm, chữa ho, viêm lợi,… Tiền Tín Trung năm 1996 [43] nhà nghiên cứu vềcây thuốc dân tộc làm việc tại Viện Vệ sinh dịch tế công cộng Trung Quốc đãxuất bản ấn phẩm “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc” trong đó cũng đề cập
đến giá trị và công dụng của Thảo quả
Trong quá trình nghiên cứu về lâm sản nhiệt đới J.H de Beer (1992)[41] chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của Fao, L.S de Padua, N.Bunyapraphatsar, R.H.M.J Lemmens (1999) [39] đã cho thấy giá trị to lớncủa thảo quả trong việc tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho người dân sinhsống ở vùng núi cao
1.1.2 Những nghiên cứu về hình thái, sinh thái và kỹ thuật gây trồng
Việc gây trồng Thảo quả cũng giống như gây trồng nhiều loài cây khác,kết quả trồng thường phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: giống trồng, mật độ
Trang 5trồng, phương pháp và phương thức trồng,… đặc biệt là đặc tính sinh thái củacây trồng, chính vì vậy việc nghiên cứu đặc điểm sinh thái và hình thái câyThảo quả đã được một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam – TrungQuốc năm 1968 [20], Tiền Tín Trung (1996) [43] quan tâm nghiên cứu và môtả một số đặc điểm hình thái, sinh thái của Thảo quả giúp người trồng rừngxác định điều kiện gây trồng cho năng suất và chất lượng cao Các tác giả đãcho biết vùng phân bố và sản xuất chủ yếu ở Trung Quốc là các huyện TâyTrù, Mã Quan, Văn Sơn, Bình Biên, Mã Lật Ba tỉnh Vân Nam, huyện TĩnhTây, Đức Bảo, Lục Biên, Lăng Lạc tỉnh Quảng Tây và huyện La Miến tỉnhQuý Châu Về hình thái, Thảo quả là loại cây thân thảo, sống lâu năm, mọcbụi hay cụm, cao khoảng 2-2,5m Thân gốc nằm ngang, to mập có nhiều mắt,
đường kính khoảng 2,7cm Cây hình trụ tròn, đứng thẳng hoặc hơi nằmnghiêng Lá mọc so le có cuống ngắn hoặc không có cuống Lá hình bầu dụcdài, dài khoảng 60 cm, rộng khoảng 20 cm, đuôi lá nhọn, mép lá nguyên.Cụm hoa dạng bông mọc từ gốc dài khoảng 13cm Quả mọc thành chùm, quảhình trứng dài khoảng 2,7-5cm đường kính khoảng 2,7cm, quả chín màu đỏsẫm, từng quả riêng có cuống dài 2-5,7mm Thời gian ra hoa từ tháng 5-6 quảchín vào tháng 9-10 Về sinh thái, Thảo quả là cây chịu bóng độ tàn chekhoảng 0,4 ưa khí hậu ôn hoà râm mát, có thể chịu đựng được băng tuyếttrong thời gian ngắn của mùa đông Sinh trưởng tốt trên núi cao cách mặt biển700-1200m Cây thích nghi nhất ở đất cát pha, giàu mùn, thoát nước tốt, màu
mỡ và ẩm Về biện pháp gây trồng và phát triển Thảo quả các tác giả chỉ đềcập một cách ngắn gọn và sơ lược như: kỹ thuật nhân giống, chưa đưa raphương pháp tạo giống bằng hạt mà chỉ sử dụng phương pháp nhân giốngbằng hom gốc có chồi, hom gốc có tuổi khoảng 12 tháng tuổi, được đánh ởnhững bụi đã cho hoa kết quả, có kèm một đoạn thân ngầm dài 7-10cm, phầnthân khí sinh chỉ để một đoạn dài 33-50cm Thời vụ trồng trước và sau tiếtxuân phân, chưa đưa ra mật độ trồng thích hợp Về chăm sóc, mới chỉ đưa ra
Trang 6biện pháp chăm sóc của năm thứ nhất, thời gian chăm sóc tháng 4, 6, 8 Kỹthuật chăm sóc gồm: làm cỏ vun xới đất và bón phân gà trộn lẫn với tro bếp,bón vào xung quanh bụi Thảo quả và bón vào đầu mùa hạ Biện pháp thuhoạch và sơ chế bảo quản cũng được giới thiệu một cách ngắn gọn.
Năm 1999 [39] L.S de Padua, N Bunyapraphatsar và R.H.M.JLemmens đã công bố một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và phân bốcủa Thảo quả trong cuốn “Tài nguyên thực vật Đông Nam á” Trong côngtrình này các tác giả cũng chỉ đề cập ngắn gọn về kỹ thuật nhân giống, cáchtrồng, chăm sóc, bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và tiêu thụ Thảoquả trên thế giới
1.2 Nghiên cứu ở trong nước
1.2.1 Những nghiên cứu về giá trị và công dụng của Thảo quả
ở nước ta Thảo quả được người dân các vùng núi cao phía Bắc như LàoCai, Hà Giang, Lai Châu sử dụng từ rất lâu Trong thời kỳ Pháp thuộc, ngườiPháp đã tiến hành nghiên cứu về tài nguyên thực vật ở Đông Dương, đặc biệt làcác loài thực vật có giá trị được người bản xứ sử dụng, trong đó công trình “Thựcvật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte (1907-1951) [38] được coi là côngtrình đầu tiên ở nước ta có đề cập đến giá trị và công dụng của cây Thảo quả
Nghiên cứu về thành phần hoá học và công dụng của Thảo quả ở nước
ta cho đến nay điển hình có các công trình của Đỗ Tất Lợi (1957) [11],Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự (1989), Võ Văn Chi (1999) [4] cho thấy tinhdầu Thảo quả có các thành phần chủ yếu: 1-8 cineol chiếm 30,61%, Trans-2undecanal chiếm 17,33%, Citral B (geranial) chiếm 10,57% và Terpineolchiếm 4,34% Về công dụng: Thảo quả được dùng làm gia vị ăn liền với thịtcá, cũng được dùng để thêm vào một số bánh kẹo Thường dùng làm thuốcchữa đau bụng, đầy trướng, ỉa chảy, ngực đau, nôn ọe, chữa ho, chữa đau răng,viêm lợi, trị sốt rét, lách to,…
Trang 7Kết quả nghiên cứu về bảo tồn, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốcthiên nhiên và phát triển trồng cây thuốc trên đất rừng ở Việt Nam, Đoàn ThịNhu (1982) [13], Nguyễn Tập (1990) [19] cho biết Thảo quả là cây dược liệuquí, cần được bảo vệ và nhân rộng.
Trong công trình “Vấn đề nghiên cứu và bảo vệ tài nguyên thực vật vàsinh thái núi cao Sa Pa” Lã Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thuỷ và Phạm Văn Thính(1995) [12] cũng cho thấy cây Thảo quả có giá trị xuất khẩu cao, tăng thunhập cho người dân địa phương, chính vì thế loài cây này là nguồn thu nhậpchính cho người dân ở một số địa bàn vùng cao
Khi nghiên cứu về giá trị của lâm sản ngoài gỗ đối với người dân ở thônXéo Mý Tỷ xã Tả Van huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai, Nguyễn Tập (2001) [20], đãchỉ ra rằng, các hộ gia đình ở đây khi chuyển từ trồng Lúa nương sang trồngThảo quả thì thu nhập của gia đình hàng năm tăng gấp 10-15 lần
Dự án “Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ” phối hợp giữa Viện Khoahọc Lâm nghiệp Việt Nam với Tổ chức bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN),năm 2002 [25] đã “Tổng quan ngành lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam” vàkhảng định cây Thảo quả là loài cây có giá trị kinh tế cao có thể thay thế câyThuốc Phiện cho đồng bào Hơ Mông và đồng bào các dân tộc khác sống ởvùng cao
Tổ chức Bảo tồn Động thực vật hoang dã Quốc tế (2004) [22] trongBáo cáo tổng hợp trồng Thảo quả thuộc Dự án Bảo tồn vùng núi Hoàng Liêndựa vào cộng đồng đã đưa ra kết quả điều tra, hơn 90% hộ gia đình trong thônKham Tren xã Nậm Chày huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai trồng Thảo quả có thunhập cao nên đã không nằm trong diện đói nghèo theo tiêu chí của Nhà nước
và ở đây không có loài cây nào có tiềm năng góp phần vào xoá đói giảmnghèo bằng cây Thảo quả
Nhiều tờ báo điện tử từ Trung ương đến địa phương một vài năm gần
đây cũng đã đề cập nhiều đến vai trò của cây Thảo quả không chỉ xoá đói
Trang 8giảm nghèo mà còn là loài cây làm giàu cho người dân vùng cao ngoài ra còngiữ được rừng [30] [31] [32] [33] [35].
Bên cạnh đó một số bài viết ngoài việc thừa nhận giá trị kinh tế do câyThảo quả đem lại và khảng định không thể không trồng Thảo quả mà còn nêu
được mặt trái của việc trồng loài cây này là ảnh hưởng đến tái sinh phát triểnbền vững tài nguyên rừng và cần thiết phải có những nghiên cứu kỹ thuật gâytrồng Thảo quả vừa cho thu nhập cao mà vẫn đảm bảo được tính bền vững củavốn rừng [29] [34]
1.1.2 Những nghiên cứu về hình thái, sinh thái và kỹ thuật gây trồng
Ngoài những đặc điểm hình thái như các nhà khoa học Trung Quốc đãmô tả, khi nghiên cứu Đỗ Tất Lợi (1957) [11], Võ Văn Chi (1999) [4],Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn năm 2000 [1], Triệu Văn Hùng,Nguyễn Xuân Quát và Hoàng Chương (2002) [7] đã bổ sung một số đặc điểmnhư: Thảo quả có hệ rễ chùm, mọc ngang, thân ngầm và rễ Thảo quả phân bốtập trung ở tầng đất mặt từ 0-20cm, không ăn sâu Bẹ lá có khía dọc, lá nhẵn,mặt trên màu xanh lục sẫm, mặt dưới màu nhạt hơn Hoa màu đỏ nhạt Quảhình trứng, khi chín có màu đỏ sẫm, chia làm 3 ô, mỗi ô có khoảng 7 hạt, hạthình tháp dẹt có áo hạt và có mùi thơm, ra hoa tháng 5-7, quả chín tháng 9-11
Về phân bố, Thảo quả được trồng và mọc hoang ở một số tỉnh miền núi phíaBắc Việt Nam tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu
Khi nghiên cứu thống kê những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Đỗ TấtLợi (1957) [11] cho rằng cây Thảo quả được đưa vào trồng ở nước ta khoảngnăm 1890 từ các tỉnh biên giới Việt Trung Như vậy, người dân địa phương tựdẫn giống và gây trồng Thảo quả từ rất lâu, nhưng nghiên cứu về kỹ thuậttrồng thì Đoàn Thị Nhu (1982) [13] đã công bố kết quả nghiên cứu của mình
về “Bảo tồn, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc thiên nhiên và phát triểntrồng cây thuốc trên đất rừng ở Việt Nam” có chỉ ra rằng: Thảo quả thích nghitốt ở điều kiện dưới tán rừng nhưng chưa có cơ sở khoa học để chứng minh
Trang 9Tổng hợp những kinh nghiệm của địa phương, Năm 1998 [23] và năm
2002, Trung tâm khuyến nông Lào Cai đã đưa ra kỹ thuật trồng, chăm sóc, thuhoạch Thảo quả bằng tờ rơi và xuất bản tài liệu khuyến nông “Kỹ thuật nuôitrồng một số cây, con chính ở Lào Cai” Các tài liệu này chỉ đề cập ngắn gọnmột số đặc tính sinh thái như: Thảo quả ưa khí hậu ôn hoà, râm mát, độ caotrên 800m so với mặt nước biển, có mây mù che phủ, có thể chịu được giá rét,thậm chí có tuyết vào mùa đông trong một thời gian ngắn, thích hợp với đấtgiàu mùn, đất cát pha, thoát nước nhưng ẩm ướt Còn kỹ thuật gây trồng đượcgiới thiệu một cách sơ lược từ nhân giống, làm đất, trồng, chăm sóc và thuhoạch, phạm vi áp dụng trong nội bộ Trong đó, mật độ trồng được đưa rahướng dẫn cho người dân địa phương trồng từ 500-600 cây/ha
Thảo quả cũng như nhiều loại cây khác chỉ sinh trưởng và phát triển tốttrên một điều kiện lập địa nhất định Nên khi biên tập các ấn phẩm kỹ thuậtgây trồng một số loài cây đặc sản rừng trong đó có cây Thảo quả NguyễnNgọc Bình, Phạm Đức Tuấn năm 2000 [1], Triệu Văn Hùng, Nguyễn XuânQuát, Hoàng Chương (2002) [7] đã chỉ ra một số đặc điểm sinh thái cơ bảngiúp cho việc xác định nơi trồng Thảo quả phù hợp ở một số địa phương vùngnúi cao của Việt Nam như: Thảo quả ưa khí hậu nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới,nhiệt độ trung bình năm từ 15-200C, lượng mưa trên 2000mm/năm, độ ẩmkhông khí cao Chịu được tuyết và băng giá trong một thời gian ngắn Thíchhợp ở độ cao 1000-2000m so với mặt nước biển Phù hợp với loại đất tốt,nhiều mùn, giàu đạm và Kali, ưa đất ẩm nhưng không chịu được đất úng nước
Là cây chịu bóng luôn cần có độ tàn che 0,3-0,7, những nơi bị nắng nhiều,trống trải, lá Thảo quả bị vàng và chết nhiều
Ngoài những đặc điểm sinh thái đã đưa ra ở trên các tác giả cũng đãgiới thiệu kỹ thuật gây trồng Thảo quả từ khâu tạo giống, gồm 2 nguồn giống.Giống bằng thân ngầm được chọn từ cây mẹ khoảng 1 năm tuồi trong bụi đã
ra hoa kết quả, đào lấy thân ngầm dài từ 7-10cm có 2-3 mắt (chồi ngủ) phần
Trang 10thân khí sinh để lại một đoạn dài 35-45cm Giống bằng hạt, cuối tháng 11-12 khiThảo quả chín thành thục, chọn quả to có màu đỏ thẫm, tách lấy hạt, tốt nhất là
đem gieo ngay, khi cây con được 12-18 tháng tuổi, cao 60-80cm thì đem trồng.Cây bằng hom thân ngầm trồng vào tháng 4, cây gieo từ hạt trồng từ tháng 4-9vào ngày mưa Mật độ trồng 2900 cây/ha, 2000 cây/ha hoặc 1650 cây/ha Mỗinăm chăm sóc 2-3 lần, chăm sóc lần cuối trong năm kết hợp bón phân
Cục Phát triển Lâm nghiệp – Bộ NN&PTNT, năm 2001 [3] đã xuất bảntài liệu “Tập huấn kỹ thuật cho khuyến nông viên xã miền núi”, Tài liệu nàycũng đã đề cập đến đặc điểm hình thái, sinh thái, điều kiện gây trồng, kỹ thuậtgây trồng và thu hoạch, chế biến Thảo quả
Năm 2001, Viện Dược liệu đã xuất bản cuốn sách “Những cây thuốc
được lựa chọn ở Việt Nam” và cây Thảo quả cũng là loài cây được lựa chọncần được gây trồng và phát triển
Trước sự phát triển nhanh chóng diện tích trồng Thảo quả, Sở Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Giang (2001) [18], ủy ban nhân dân huyệnHoàng Su Phì tỉnh Hà Giang (2002) [28] và một số huyện trong tỉnh Lào Cai
đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng Thảo quả cho địa phương mình nhưng
đây mới chỉ là những bản hướng dẫn kỹ thuật có tính chất dự thảo và tạm thời
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố hoàn cảnh đến sinh trưởngcủa Thảo quả tại xã San Sả Hồ - Sa Pa - Lào Cai, do thời gian điều tra thu thập sốliệu không trùng với thời kỳ ra quả nên việc xác định năng suất quả chỉ là địnhtính và số lượng bụi được xác định năng suất cũng rất ít (40 bụi) do đó Phan VănThắng (2002) [20] chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của sinh trưởng đến năng suất Thảoquả Tác giả không nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố hoàn cảnh đến năng suất
mà nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố này đến sinh trưởng chiều cao củaThảo quả Vì vậy, cần có những nghiên cứu tiếp theo bằng phương pháp địnhlượng Mặt khác tác giả cũng chỉ nghiên cứu Thảo quả trồng dưới tán rừng tựnhiên còn Thảo quả trồng dưới tán rừng trồng không được đề cập đến
Trang 11Trong Báo cáo tổng hợp trồng Thảo quả thuộc Dự án Bảo tồn vùng núiHoàng Liên dựa vào cộng đồng, Tổ chức Bảo tồn Động thực vật hoang dãQuốc tế (2004) [22] đã đề cập đến “Chu trình trồng Thảo quả” nhưng hết sứcsơ lược và ngắn gọn Kết quả mới chỉ đưa ra được thời gian chuẩn bị đất trồngvào cuối năm, năm đầu chăm sóc 3 lần/năm, các năm sau chăm sóc 1 lần/năm,còn mật độ trồng, độ cao nơi trồng, … chưa được đề cập đến.
Năm 2004 [24], Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp vớiChương trình Quản lý Tài nguyên - Bảo vệ Môi trường và Phòng chống thiêntai – Bộ NN&PTNT tổ chức hội Thảo với nội dung “Tình hình sản xuất, chếbiến và thị trường lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam” trong đó có một số bài thamluận đề cập đến cây Thảo quả nhưng số liệu thống kê của các tác giả chưa cậpnhật đầy đủ và không đề cập đến kỹ thuật gây trồng phát triển loài cây này
Qua đánh giá thực trạng sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu thụ lâmsản ngoài gỗ, Phạm Xuân Phương (2005) [14] đã đề xuất định hướng pháttriển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006 - 2010 cho 8 vùng sinh thái trên cả nướctrong đó cây Thảo quả là một trong các loài cây có giá trị cao cần được gâytrồng phát triển ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc
Tóm lại: Điểm qua các công trình ở trong và ngoài nước cho thấy đa số
các công trình mới chỉ tập trung nghiên cứu về giá trị sử dụng, còn kỹ thuậtgây trồng thì có rất ít công trình đề cập đến, hoặc có đề cập thì rất sơ lược vàngắn gọn Đặc biệt gần đây đã có một số công trình đề cập đến kỹ thuật gâytrồng Thảo quả dưới tán rừng nhưng chưa được nghiên cứu có hệ thống nênhầu hết là chưa có cơ sở khoa học, nhất là kỹ thuật gây trồng Thảo quả dướitán rừng trồng để làm giảm sức ép của việc trồng Thảo quả đến rừng tự nhiên
Để góp phần khắc phục những vấn đề còn tồn tại như đã nêu ở trên, việc
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật gây trồng Thảo quả ở một
số tỉnh miền núi phía Bắc làm cơ sở đề xuất kỹ thuật trồng và phát triển mởrộng” là rất cần thiết
Trang 12Chương 2 MụC TIÊU, Giới hạn, NộI DUNG
và PhƯơng pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Tổng kết được kỹ thuật gây trồng Thảo quả dưới tán rừng tự nhiên và rừngtrồng nhằm bổ sung cơ sở khoa học cho việc đề xuất kỹ thuật gây trồng và mởrộng vùng trồng góp phần tăng thu nhập cho người dân và quản lý bền vững tàinguyên rừng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được nhu cầu sinh thái của cây Thảo quả
- Tổng kết được kỹ thuật gây trồng Thảo quả dưới tán rừng tự nhiên và rừngtrồng thông qua điều tra thực địa và kinh nghiệm của người dân
- Đề xuất được hướng dẫn kỹ thuật gây trồng và mở rộng vùng trồng
2.2 Giới hạn nghiên cứu và khối lượng thực hiện
2.2.1 Giới hạn nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu
- Các diện tích Thảo quả được trồng dưới tán rừng tự nhiên và dưới tánrừng trồng đã cho quả từ 3-6 năm
- Những hộ gia đình có gây trồng cây Thảo quả đặc biệt là các hộ đã cóthu nhập từ Thảo quả
- Các nhà quản lý có liên quan tại các địa phương có gây trồng Thảo quả
Trang 13suất và kinh nghiệm gây trồng Thảo quả của hộ gia đình Từ đó làm cơ sở xâydựng hướng dẫn kỹ thuật trồng và đề xuất mở rộng vùng trồng.
Hà Giang
Tổng số mẫu đất được phân tích là 28 mẫu của 14 phẫu diện, thời gian
đào phẫu diện và lấy mẫu thuộc tháng 7 và tháng 8
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài thực hiện một sốnội dung chính sau đây:
2.3.1 Tình hình gây trồng và vai trò của Thảo quả trong kinh tế hộ gia đình ởvùng cao
2.3.2 Điều kiện khí hậu và đất đai khu vực trồng Thảo quả
2.3.3 Đặc điểm nơi trồng Thảo quả dưới tán rừng tự nhiên (độ tàn che, chiềucao dưới cành tầng cây gỗ, độ cao nơi trồng, dạng địa hình)
2.3.4 Đặc điểm nơi trồng Thảo quả dưới tán rừng trồng Tống quá sủ (độ caonơi trồng, chiều cao dưới cành, độ tàn che, mật độ, địa hình,…)
2.3.5 Hiệu quả các mô hình trồng Thảo quả, so sánh hiệu quả trồng dưới tánrừng tự nhiên với trồng dưới tán rừng trồng Tống quá sủ
2.3.6 Tổng kết các biện pháp kỹ thuật trồng Thảo quả dưới tán rừng tự nhiên
và rừng trồng Tống quá sủ
2.3.7 Đề xuất bản hướng dẫn kỹ thuật trồng Thảo quả dưới tán rừng tự nhiên,dưới tán rừng trồng và mở rộng vùng trồng
Trang 142.4 Phương pháp nghiên cứu
Các bước tiến hành nghiên cứu được thực hiện theo sơ đồ sau:
Hội Thảo - Thu thập số liệu và thông tin đã có
Điều tra khảo sát
tra phỏng vấn cá nhân,
đỉnh, khe) Độtàn che
Mật
độ
NăngsuấtThảoquả
Đặc
điểm
đất
Chiều caodưới cành tầngcây gỗ Độcao so với mặtnước biển Địahình (sườn,
đỉnh, khe) Độtàn che
Mật
độ
Phân tích xử lý số liệu và các thông tin điều tra
thu thập đượcTổng kết các kết quả điều tra (So sánh đánh giá)
Đề xuất bản hướng dẫn kỹ thuật trồngCác phương pháp nghiên cứu cụ thể được áp dụng bao gồm:
2.4.1 Phương pháp xác định vị trí lập OTC điển hình
Qua số liệu thống kê của ủy ban nhân dân xã và qua điều tra phỏng vấnkinh nghiệm gây trồng của hộ gia đình, xác định được hộ gia đình, vị trí gâytrồng Thảo quả và thời gian cho quả đạt năng suất cao tiến hành khảo sát thực
Trang 15địa lập OTC điển hình, trên đó điều tra một số đặc điểm sinh thái, các chỉ tiêusinh trưởng và xác định năng suất quả.
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Sử dụng phương pháp điều tra OTC điển hình với dung lượng mẫu 30bụi/OTC Trên các OTC xác định chiều cao dưới cành tầng cây che bóng,
độ cao so với mặt nước biển, độ tàn che, địa hình, năng suất quả,…
- Sử dụng Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA) kết hợp Phươngpháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) để thu thập kinhnghiệm trồng Thảo quả, năng suất, giá cả,… của cá nhân, hộ gia đình trong
đó áp dụng các công cụ:
+ Phỏng vấn định hướng: dùng tập hợp các câu hỏi chính thức để có thể
được các câu trả lời ngắn gọn
+ Phỏng vấn bán định hướng: với tính chất đàm thoại và hai chiều, dùng
nó để vừa đưa ra vừa tiếp nhận thông tin
- Năng suất quả được xác định bằng phương pháp thống kê toàn bộ số chùmquả trong bụi, sau đó đếm ngẫu nhiên số quả của khoảng 2/3 số chùm củabụi, tiến hành cân ngẫu nhiên 1 kg quả tươi lặp lại 5 lần/1 điểm để tính sốquả tươi/kg Ngoài ra, còn kết hợp với điều tra phỏng vấn kinh nghiệm củangười dân về số lượng quả tươi/kg và số kg tươi/kg khô sau sấy
- Đường kính gốc trung bình của các cây trong bụi Thảo quả được xác định
từ kết quả đo ít nhất 2/3 số cây trong bụi bằng thước kẹp chính xác đến
mm, theo phương pháp ngẫu nhiên
- Đường kính tán bụi Thảo quả được tính trung bình theo 2 chiều đo Đôngtây - Nam Bắc
- Độ tàn che của OTC được xác định bằng phương pháp xác định điểm, trênOTC được chia làm các tuyến song song cách đều 3 m một tuyến Trênmỗi tuyến đặt các điểm cách nhau 3 m, tại các điểm này dùng thước ngắmlên theo phương thẳng đứng Nếu gặp tán cây giá trị tàn che được ghi là 1,
Trang 16nếu gặp nửa tán cây giá trị tàn che được ghi 0,5, nếu không gặp tán cây giátrị tàn che được ghi bằng 0 Độ tàn che của OTC được tính bằng tổng giátrị tàn che đo được chia cho tổng số điểm được đo.
- Chiều cao dưới cành (Hdc) cây gỗ trong rừng tự nhiên và cây Tống quá sủ
được xác định bằng phương pháp đo toàn bộ số cây có trong OTC bằng sào
được chia làm 2 tầng, mỗi tầng lấy 1 mẫu đất để phân tích một số tính chấtvật lý, hoá học, tầng 1 lấy sâu 0-10 cm, tầng 2 lấy sâu 20-40 cm Riêng việcxác định độ ẩm đất và dung trọng được lặp lại 3 lần/tầng đất Kết quả phântích đất được thực hiện ở Trung tâm nghiên cứu Sinh thái và môi trườngrừng – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Phương pháp phân tích mẫu đất được xác định bằng các phương pháp thôngthường trong phòng thí nghiệm cụ thể:
+ pH (KCL) phân tích theo phương pháp pH Metter
+ Mùn tổng số phân tích theo phương pháp Tiurin
+ Đạm tổng số phân tích theo phương pháp Kjeldahl
+ P2O5dễ tiêu phân tích theo phương pháp Oniani
+ K2O dễ tiêu phân tích theo phương pháp Matlova
+ Chua thuỷ phân phân tích theo phương pháp Kappen
+ Chua trao đổi phân tích theo phương pháp Xôcôlốp
Trang 17+ Ca và Mg trao đổi phân tích theo phương pháp Trilon B
+ Thành phần cơ giới phân tích theo phương pháp Robinson (Mỹ)
- Số liệu khí tượng thuỷ văn sử dụng phương pháp kế thừa tài liệu đã công bốcủa Tổng cục khí tượng thuỷ văn và tài liệu niên giám thống kê tại các trạmquan trắc trên các vùng nghiên cứu
Trang 18Chương 3
Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 3.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Lào Cai có tọa độ địa lý: 21052’34” - 22050’41” vĩ độ Bắc,
103031’52”- 104037’49” kinh độ Đông Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Namgiáp tỉnh Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu
và Sơn La
Tỉnh Hà Giang có tọa độ địa lý: 22010’2”- 23023’35”vĩ độ Bắc, 104019’
58”- 105035‘30”kinh độ Đông Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnhTuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Lào Cai
3.2 Khí hậu
3.2.1 Khí hậu tỉnh Lào Cai
Lào Cai là tỉnh miền núi phía bắc, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa
đông lạnh, mưa vào mùa hè, lượng mưa hàng năm cao, từ 1.800 – 2.500 mm
Để phản ánh được điều kiện khí hậu đề tài đã thu thập và tổng hợp sốliệu quan trắc của 4 trạm khí tượng thuộc tỉnh Lào Cai trong đó: Số năm quantrắc nhiệt độ và lượng mưa của trạm Lào cai là 76 năm, của trạm Bắc Hà là 35năm Trạm Hoàng Liên Sơn số năm quan trắc về nhiệt độ là 10 năm, về lượngmưa là 9 năm Trạm Sa Pa số năm quan trắc về nhiệt độ là 46 năm, về lượngmưa là 59 năm kết quả tổng hợp cho thấy:
Nhiệt độ trung bình năm: 17,30C Tổng lượng mưa năm: 2.472 mm.Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng lạnh nhất: 80C, Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối-5,70C (Trạm Hoàng Liên Sơn), Nhiệt độ tối cao trung bình tháng nóng nhất25,70C, Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 410C (Trạm Lào Cai), Biên độ nhiệt độ ngàytrung bình năm 6,70C Diễn biến khí hậu được tổng hợp như sau:
Trang 19Bảng 3.1: số liệu khí hậu tỉnh Lào Cai
Nguồn: Các biểu đồ sinh khí hậu Việt Nam – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Từ số liệu nhiệt độ và lượng mưa trên đề tài tiến hành xây dựng biểu đồ
vũ nhiệt
0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 80.0 90.0 100.0 110.0 120.0 130.0 140.0 150.0 160.0 170.0 180.0 190.0 200.0 210.0 220.0
Hình 3.1: Biểu đồ vũ nhiệt Gaussen Walter tỉnh Lào Cai
Trang 20Biều đồ 3.1 cho biết: Hai đường biến trình nhiệt độ và lượng mưa đượcxây dựng với một tỷ lệ tương ứng không đổi là 100C tương ứng với 20 mmtổng lượng mưa ở tỷ lệ này nhà địa lý học thực vật Gaussen Walter đã phânchia như sau:
Thời kỳ khô là khi đường biến trình lượng mưa nằm dưới đường biếntrình nhiệt độ
Thời kỳ ẩm là khi đường biến trình của lượng mưa vượt lên trên đườngbiến trình của nhiệt độ
Từ biểu đồ 3.1 cho thấy lượng mưa của tất cả 12 tháng trong năm đềunằm trên đường biến trình của nhệt độ do vậy không có thời kỳ khô đối vớichu kỳ sinh trưởng của thực vật
3.2.2 Khí hậu tỉnh Hà Giang
Hà Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, mưa mùa hè, làtỉnh cực Bắc của Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh bởi gió mùa Đông Bắc,lượng mưa hàng năm tương đối cao, từ 1.900 – 2.100 mm Đặc biệt ở BắcQuang lượng mưa hàng năm rất lớn (4.802 mm)
Tổng hợp số liệu quan trắc của 3 trạm khí tượng thuộc tỉnh Hà Giangtrong đó: Trạm Hà Giang số năm quan trắc về nhiệt độ là 35 năm, về lượngmưa là 31 năm Trạm Hoàng Su Phì số năm quan trắc về nhiệt độ là 46 năm,
về lượng mưa là 59 năm Trạm Bắc Quang số năm quan trắc về nhiệt độ là 25năm, về lượng mưa là 28 năm kết quả tổng hợp cho thấy:
Nhiệt độ trung bình năm: 22,20C Tổng lượng mưa năm: 3.015 mm.Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng lạnh nhất: 12,10C, Nhiệt độ tối thấp tuyệt
đối - 0,10C (Trạm Hoàng Su Phì), Nhiệt độ tối cao trung bình tháng nóng nhất
320C, Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 400C (Trạm Hà Giang), Biên độ nhiệt độ ngàytrung bình năm 7,90C Diễn biến khí hậu được đưa ra ở bảng 3.2:
Trang 21Bảng 3.2: Số liệu khí hậu tỉnh Hà Giang
Nguồn: Các biểu đồ sinh khí hậu Việt Nam – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Từ số liệu khí hậu trên đề tài tiến hành xây dựng biểu đồ vũ nhiệt
Hình 3.2: Biểu đồ vũ nhiệt Gaussen Walter tỉnh Hà Giang
Biểu đồ 3.2 cho thấy: Đường biến trình lượng mưa đều nằm phía trên
đường biến trình nhiệt độ do vậy không có thời kỳ khô đối với chu kỳ sinhtrưởng của thực vật
Trang 223.3 Đất đai và lập địa
Số liệu Môi trường tự nhiên và lâm nghiệp Việt Nam - Cẩm nang ngànhLâm nghiệp (2004) cho biết:
Tỉnh Lào Cai: tổng diện tích tự nhiên 805.708 ha trong đó: Đất nôngnghiệp 92.718 ha chiếm 11,5% Đất lâm nghiệp có rừng 302.134 ha chiếm37,5% gồm: rừng tự nhiên 247.580 ha, rừng trồng 54.545 ha và đất ươm câygiống 9 ha Đất chuyên dùng 14.149 ha chiếm 1,8% Đất ở 3.317 ha chiếm0,4% Đất chưa sử dụng và sông suối núi đá 393.390 ha chiếm 48,8%
Tỉnh Hà Giang: tổng diện tích tự nhiên 788.437 ha trong đó: Đất nôngnghiệp 140.511 ha chiếm 17,8% Đất lâm nghiệp có rừng 364.195 ha chiếm46,2% gồm: rừng tự nhiên 299.569 ha, rừng trồng 64.621 ha và đất ươm câygiống 5 ha Đất chuyên dùng 7.629 ha chiếm 1% Đất ở 4.582 ha chiếm 0,6%
Đất chưa sử dụng và sông suối núi đá 271.520 ha chiếm 34,4%
Lào Cai và Hà Giang là 2 tỉnh thuộc vùng Trung tâm nằm giữa hai vùng
Đông Bắc và Tây Bắc, có địa hình hiểm trở, độ dốc cao, chia cắt mạnh Theo
Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình (2001); Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, VũTấn Phương (2005) vùng này có những nhóm đất chính sau:
- Đất mùn alít trên núi cao, thường gặp phổ biến hai loại đất: đất mùn thôthan bùn và đất mùn alít trên núi cao
- Nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi bao gồm các loại đất chính trên các đá
mẹ khác nhau: đá vôi, macma kiềm và trung tính, đá sét và biến chất, đácát Nhóm đất này chiếm diện tích lớn vùng đồi núi và cũng là đốitượng đất kinh doanh lâm nghiệp, trong đó đất mùn vàng đỏ trên đá sét
và biến chất, trên macma axít chiếm diện tích chủ yếu
- Nhóm đất đỏ vàng gồm các loại đất chính: đất nâu đỏ, nâu vàng trên đávôi, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, trên macma axit, đất vàng nhạttrên đá cát Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất có diện tích lớn nhất vàcũng là loại đất có độ phì khá, đặc biệt đất phát triển trên đá phiến
Trang 23thạch mica-gơnai có vỏ phong hoá dày hàm lượng các chất dinh dưỡngkhá, đất có cấu trúc tốt đoàn lạp bền trong nước nên ngoài diện tích córừng che phủ đất này được gây trồng cây công nghiệp và cây ăn quảnhư: Chè, cam, vải, nhãn, chuối,…
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ Nhóm đất này có diện tích nhỏ, ở bậcthềm thấp
Nhìn chung vùng này cấp độ dốc III (25-350) và cấp độ dốc IV (>350)chiếm ưu thế (79%) Cấp độ dày I và II (>100 cm) và cấp III (50-100 cm)chiếm ưu thế tuyệt đối với 80% diện tích, trong đó đất không có rừngchiếm diện tích lớn hơn đất có rừng Đây là điều kiện thuận lợi phát huytiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp Mặt khác đại đa số đất lâm nghiệpthuộc đất thịt, cấp rất giàu mùn và giàu mùn chiếm tỷ lệ lớn (54%), mùntrung bình chiếm 39% Như vậy trên 90% diện tích đất lâm nghiệp có hàmlượng hữu cơ còn khá, đây là điều kiện thuận lợi để gây trồng nhiều loạicây lâm nghiệp, dược liệu trong đó có cây Thảo quả
Trang 24Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1 Tình hình gây trồng và vai trò của Thảo quả trong kinh tế hộ gia
đình ở vùng cao
4.1.1 Diện tích trồng
Kết quả thống kê diện tích trồng Thảo quả ở các địa phương được tậphợp trong bảng 4.1:
Bảng 4 1: Diện tích trồng Thảo quả tại các địa phương năm 2004
Lào Cai Sa Pa Bát Xát Văn Bàn
TX LàoCai KhươngMường
Nguồn Sở NN&PTNT – Chi cục Lâm nghiệp các tỉnh (2005)
Kết quả điều tra thống kê (bảng 4.1) cho thấy Diện tích Thảo quả đượcthống kê ở các tỉnh trên là diện tích được trồng dưới tán rừng tự nhiên Số liệuthống kê của các tỉnh về diện tích trồng Thảo quả nhìn chung chưa đầy đủ sovới diện tích thực tế, nguyên nhân: Thảo quả không được trồng tập trung trongrừng, diện tích trồng Thảo quả của một hộ gia đình thường nằm ở các địa điểmkhác nhau nên khi báo cáo chủ yếu là ước lượng do đó việc xác định chínhxác diện tích là rất khó khăn và tốn kém Hơn nữa, diện tích trồng Thảo quả
Trang 25lại thay đổi liên tục do những năm gần đây giá Thảo quả tăng cao nên ngườidân tự phát trồng thêm nhiều diện tích mới.
Ví dụ:
Diện tích trồng Thảo quả trên toàn huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai tính
đến 31/12/2003 là 935,0 ha, diện tích báo cáo của tỉnh 182,1 ha
Diện tích trồng Thảo quả của huyện Quản Bạ qua báo cáo thống kê củatỉnh Hà Giang chỉ có 50,0 ha (5/12/2003), thực tế đến ngày 13/5/2004 trêntoàn huyện có 547,0 ha trong đó: diện tích trồng mới là 100 ha, diện tích đangtrong thời gian chăm sóc là 257 ha, diện tích cho thu hoạch là 190 ha
Mấy năm gần đây tỉnh Hà Giang khuyến khích phát triển Thảo quảnhằm xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao, nên đã
hỗ trợ 1.000.000 đ/ha trồng mới
Tỉnh Lào Cai cũng đã ban hành Quyết định số 237/Quyết định UB ngày1/11/1993 về việc trồng Thảo quả thay thế cây Thuốc phiện, quyết định này đãchỉ ra các nhà quản lý ở các cấp cơ sở phải khuyến khích việc trồng Thảo quả.Sau đó 2 năm Công văn số 32/CV-UB, ngày 17/02/1995 về việc khuyến khíchtrồng và các hoạt động buôn bán Thảo quả đã định hướng cho các ngành hỗtrợ và hướng dẫn đồng bào thiểu số phát triển trồng Thảo quả cùng với cáchoạt động buôn bán trao đổi Chính vì vậy, những năm sau đó diện tích trồngThảo quả đã tăng đáng kể, đặc biệt sau năm 2000 và 2001 giá Thảo quả khô ởmức rất cao là động lực dẫn đến diện tích trồng Thảo quả trong 3 năm từ2001-2003 xấp xỉ bằng tổng diện tích từ năm 2000 trở về trước Điều này chothấy tốc độ phát triển diện tích trồng Thảo quả ở tỉnh Lào Cai là rất nhanh, cụthể: diện tích trồng Thảo quả từ năm 2000 trở về trước là 2.415,6 ha, diện tíchtrồng Thảo quả từ năm 2001 – 2003 là 2.374,8 ha
Do diện tích đã tăng quá nhanh nên tỉnh Lào Cai hiện nay có chủ trương
đi sâu vào tìm hiểu biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, nhưng thực tế chưa
có biện pháp kỹ thuật nào được triển khai
Trang 26Năm 2004 UBND Huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu đã có quyết định hỗtrợ 300.000 đ/hộ trồng mới Thảo quả Qua điều tra một số hộ gia đình có ýkiến cho rằng mức hỗ trợ như vậy là không công bằng vì có hộ trồng ít có hộtrồng nhiều.
Qua đó cho thấy việc quản lý, theo dõi và cập nhật diện tích gây trồngphát triển Thảo quả ở các tỉnh miền núi phía Bắc gặp nhiều khó khăn, vì Thảoquả là cây Lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao, người dân tự phát trồng,diện tích trồng không tập trung, không theo quy hoạch lại chỉ trồng được trênvùng núi cao giao thông rất khó khăn, mặt khác chính sách đầu tư phát triểnThảo quả hiện nay ở các tỉnh này lại rất khác nhau
4.1.2 Năng suất
Từ kết quả điều tra phỏng vấn cá nhân và hộ gia đình, đề tài đã xác định
được năng suất Thảo quả (bảng 4.2)
ảnh 4.1: Chùm quả Thảo quả
Trang 27Bảng 4.2: Năng suất Thảo quả qua điều tra hộ gia đình (phụ biểu 1)
Ghi chú: Giá trị khuyết là những phiếu phỏng vấn các cán bộ Sở, Phòng Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn huyện và một số hộ trồng Thảo quả nhưng chưacho quả
Kết quả bảng 4.2 cho thấy (không tính giá trị khuyết) Qua điều tra hộgia đình nhìn chung năng suất Thảo quả rất khác nhau, nguyên nhân chủ yếu
do điều kiện gây trồng và một phần do kỹ thuật gây trồng khác nhau như:chiều cao tầng cây che bóng, độ tàn che, độ cao nơi trồng so với mặt nướcbiển, mật độ trồng ngoài ra giống trồng là giống bằng thân ngầm hay giốnggieo từ hạt cũng ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất quả cụ thể, năng suất trảidài từ 50 – 600 kg khô/ha trong đó: tập trung nhiều nhất từ 50-300 kg khô/ha
Trang 28Đặc biệt 9 hộ có năng suất từ 350-400 kg khô/ha, 8 hộ có năng suất từ
400-600 kg khô/ha, năng suất trung bình khoảng 220 kg khô/ha
Năng suất Thảo quả qua điều tra hộ gia đình được biểu đồ hoá ở hình 4.1
nang suat (kg/ha kho)
nang suat (kg/ha kho)
Trang 29trên toàn tỉnh, nhưng căn cứ vào ý kiến của các nhà quản lý ở địa phương vàdiện tích cho thu hoạch thực tế năm 2004 ước tính sản lượng Thảo quả trêntoàn tỉnh đạt khoảng 185 tấn khô/năm.
4.1.4 Tiêu thụ và giá cả
Hàng năm đến mùa thu hoạch Thảo quả các nhà buôn thường đến tận
hộ gia đình thu mua Thảo quả khô vì vậy các hộ rất ít khi phải mang Thảo quả
được hàng trăm triệu đồng từ Thảo quả trong năm này
Nếu không được giá, các hộ gia đình chưa muốn bán thì kỹ thuật cấttrữ, bảo quản Thảo quả cũng rất đơn giản, chỉ việc sấy khô cho vào bao để trênsàn nhà hay gác bếp tránh ẩm mốc, khi được giá mang ra bán
Nhìn chung qua điều tra các hộ gia đình cho thấy trong những năm quaThảo quả rất rễ tiêu thụ
4.1.5 Vai trò của Thảo quả trong kinh tế hộ gia đình ở vùng cao, so sánh với các nguồn thu khác
ở vùng núi cao phía Bắc, diện tích đất canh tác nông nghiệp thường rất
ít, nên nguồn thu của người dân vùng cao chủ yếu dựa vào rừng và đất rừng.Nhưng rừng và đất rừng hiện nay đã được giao khoán giúp cho việc quản lýbảo vệ chặt chẽ hơn, do đó việc du canh gần như đã được hạn chế Vì thế, vaitrò của các loài cây lâm sản ngoài gỗ có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộcsống của người dân vùng cao, đặc biệt là vai trò của cây Thảo quả ở các tỉnhLào Cai, Hà Giang và Lai Châu Kết quả điều tra thu nhập của 115 hộ gia đình
từ cây Thảo quả vào năm 2003 ở huyện Quản Bạ, Vị Xuyên (Hà Giang);
Trang 30huyện Bát Xát, Sa Pa, Văn Bàn, Thị xã Lào Cai (Lào Cai) và huyện Tam
Đường (Lai Châu) thể hiện ở bảng 4.3
Bảng 4.3 Thu nhập của hộ gia đình do Thảo quả mang lại (phụ biểu 2)
TT Khoảng thu nhập của hộ gia đình Số hộ % Diện tích
(ha)
11 75 triệu đồng Thu nhập < 100 triệu đồng 1 0.9 > 6,0
số gia đình được hỏi có thu nhập 5 triệu đồng Đặc biệt có 10 hộ thu nhập từ
30 triệu đến 50 triệu đồng, 2 hộ thu nhập trên 50 triệu đồng Bảng trên chobiết không có hộ nào trong năm này có thu nhập trên trăm triệu đồng như năm
2001 lý do giá Thảo quả năm 2003 trung bình khoảng 50.000 đ/kg khô chỉbằng 1/3 giá Thảo quả năm 2001 khoảng 150.000 đ/kg khô
Trang 31Với số tiền do Thảo quả mang lại cho các hộ gia đình được đưa ra ởtrên thuộc các địa bàn vùng cao của ba tỉnh Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu làrất có giá trị Vì theo phong tục của dân tộc Dao và Mông ở thôn bản vùng caothường thì chăn nuôi gia cầm, gia súc, trồng cây lương thực chỉ phục vụ chonhu cầu gia đình, Thảo quả mới là cây có tính chất sản xuất hàng hoá và pháttriển kinh tế hộ gia đình.
Kết quả điều tra cho thấy, hộ gia đình dùng tiền bán Thảo quả làm nhà,mua xe máy, mua máy phát điện nhỏ bằng sức nước và nhiều đồ dùng đắt tiềnkhác trong gia đình cụ thể: Thôn Bản Pho xã Bản Qua huyện Bát Xát trên 90%
số hộ gia đình có xe máy nhiều hộ có 2 xe Xã Nậm Cang được coi là xã giầunhất trong các xã ở huyện Sa Pa mà nguồn thu chính của các hộ trong xã nàychủ yếu từ Thảo quả
Kết quả điều tra cũng cho thấy, 100% số hộ được hỏi đều không đầu tưphân bón cho Thảo quả, số lần chăm sóc hàng năm cũng rất ít, thường chỉ 1lần/năm, kỹ thuật chăm sóc lại đơn giản chỉ phát cỏ dại và dây leo không vunxới gốc Chính vì vậy, đầu tư hàng năm cho cây Thảo quả là rất ít so với cácloài cây khác nhưng với mức thu nhập như trên thì cây Thảo quả đã đem lạinguồn thu rất cao cho các hộ gia đình, đặc biệt đây lại là vùng cao người dân
là dân tộc thiểu số
Hơn nữa, Thảo quả là cây lâu năm trồng 1 lần thu hoạch nhiều lần vàcho thu hoạch hàng năm, nên đầu tư cho tái tạo lại rừng trồng Thảo quả rất ít,trong khi đó hầu như các loài cây khác sau khi khai thác là phải trồng mới màcông và giống đầu tư cho trồng mới thường tốn kém nhất trong trồng rừng Do
đó, khi điều tra so sánh các hộ trồng Thảo quả đều cho rằng thu nhập từ câyThảo quả cao hơn thu nhập từ các cây khác rất nhiều và là thu nhập chính củagia đình
Đặc biệt, Thảo quả khô được cất trữ trong nhà là nguồn chi thườngxuyên khi cần thiết, nhiều hộ gia đình cho biết khi cần có chi tiêu nhỏ chỉ
Trang 32mang 1kg Thảo quả khô ra chợ bán giá trị bằng 15-20kg thóc Kết quả thunhập của các hộ gia đình do Thảo quả mang lại được biểu đồ hoá ở hình 4.2.
Thu nhap tu Thao qua
Thu nhap tu Thao qua
Hình 4.2: Thu nhập của các hộ gia đình do Thảo quả mang lại (phụ biểu 2)
4.2 Điều kiện khí hậu và đất đai khu vực trồng Thảo quả
4.2.1 Điều kiện khí hậu
Kết quả hội thảo tại Lào Cai đã thống nhất, nếu thu thập điều kiện khíhậu ở các trạm khí tượng đặt ở nơi không trồng Thảo quả cho số liệu trên mộtvùng rộng thì không phản ánh đúng đặc tính sinh thái của cây Thảo quả ví dụnhư: số liệu khí tượng thuỷ văn của Thị xã Lào Cai hay của huyện Bát Xát là
số liệu trung bình cho cả thị xã và toàn huyện trên một vùng rộng lớn từ vùngthấp cho đến vùng cao trong khi đó ở những địa phương này chỉ có các xãvùng cao mới trồng được Thảo quả Chính vì vậy, việc thu thập các chỉ tiêu
Thu nhập của hộ gia đình từ Thảo quả
Số
hộ
Trang 33khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm,… nhất thiết phải thu thập tại khu vực
có gây trồng Thảo quả cụ thể Trạm khí tượng thuỷ văn Sa Pa (bảng 4.4)
Bảng 4.4: Số liệu khí tượng thuỷ văn khu vực Sa Pa (trung bình từ năm
Số giờ nắng
2003 gió hanh khô và mưa rào
11 thấp 09.4 (tối0C) 26.2 86.0 143.5 Năm 2001 và 2002 có băng vàsương muối
12 thấp 08.8 (tối0C) 47.2 91.0 85 Năm 2001 và 2002 có khôngkhí lạnh và rét đậm
TB 15.5 2327.1 86.9 117.9 Lượng mưa là trung bình tổnglượng mưa/năm
(Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn Sa Pa)
Trang 34Kết quả thu thập số liệu nhiệt độ, lượng mưa , độ ẩm và số giờ nắng
được tổng hợp ở bảng 4.4 cho thấy: Khu vực trồng Thảo quả mùa hè có khíhậu á nhiệt đới thể hiện nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 19,80C, nhiệt độtối cao 28,20C (tháng 5) Mùa đông có khí hậu ôn đới do có nhiệt độ trungbình tháng lạnh nhất 8,80C (tháng 12) Lượng mưa ở khu vực trồng Thảo quảrất cao, trung bình hàng năm từ năm 2001 đến 2004 là 2327 mm/năm Độ ẩmnơi trồng Thảo quả cao, thể hiện độ ẩm trung bình các tháng trong nămkhoảng 87% Số giờ nắng ở khu vực này nhìn chung thấp, trung bình 118giờ/tháng, tương đương 3,93 giờ/ngày Đêm và sáng thường xuyên có sương
mù, nhất là vào mùa đông, mùa xuân và mùa thu sương mù nhiều khi có cảngày
Ngoài những chỉ số cụ thể trên, số liệu bảng 4.4 còn cho thấy, có nămvào mùa đông (tháng 11,12 và tháng 1) nhiệt độ xuống đến 00C, thậm chí cóbăng và mưa tuyết Như vậy Thảo quả là cây chịu được giá rét
Tóm lại: Qua số liệu trên cho thấy Thảo quả sinh trưởng và phát triểnthích hợp ở những nơi có điều kiện khí hậu mát, lạnh quanh năm, có lượngmưa và độ ẩm không khí cao
4.2.2 Đặc điểm đất trồng Thảo quả
Thảo quả là cây đặc sản, phân bố hẹp trên vùng núi cao và chỉ sinhtrưởng, phát triển tốt trên một số điều kiện lập địa nhất định Chính vì vậy đềtài đã tiến hành lấy mẫu đất và phân tích một số tính chất chủ yếu của đất nơitrồng Thảo quả nhằm tìm hiểu tính thích nghi của cây Thảo quả với điều kiện
đất đai và làm rõ mối quan hệ của các tính chất này với năng suất quả Thảoquả, kết quả đưa ra ở bảng 4.5
Trang 35Bảng 4.5: Kết quả phân tích một số tính chất chủ yếu của đất nơi trồng Thảo quả
Dung Trọng (g/cm 3 )
pH
Dễ tiêu (mg/100g
đất) Loại đất
P 2 O 5 K 2 O
vàngnhạt trênnúi cao
đá mẹParagnai
đámacmaaxit
đá mẹGranit
Trang 36có độ ẩm thấp nhất 36,76%. Tầng thứ 2 phẫu diện 6 có độ ẩm đất cao nhất
56,22%, phẫu diện14 có độ ẩm đất thấp nhất25,53%.
Kết quả xác định dung trọng đất ở nơi trồng Thảo quả nhìn chung tơixốp, thấm nước nhanh thoát nước tốt, tầng 1 phần lớn có dung trọng nhỏ hơn 1(9/14 phẫu diện) và đều thấp hơn tầng thứ 2 Điều này cho thấy, tầng 1 có hàmlượng chất hữu cơ cao hơn, ngoài ra còn do sự rửa trôi làm cho các mao quản vàcác lỗ hổng của đất ở tầng 2 bị lấp đầy
Kết quả phân tích cho thấy thành phần cơ giới (phụ biểu 3) của đất trồngThảo quả có tỷ lệ cấp hạt từ 2-0,02 mm chiếm tỷ lệ rất cao, thấp nhất là phẫudiện10 cũng có tỷ lệ cấp hạt từ 2-0,02 mm chiếm >44% Đặc biệt có phẫu diện
tỷlệ cấp hạt từ 2-0,02 mm chiếm > 87%, chính vì vậy mà kết quả phân tích tỷ
lệ sét có cấp hạt < 0,002 mm rất thấp Như vậy, đất trồng Thảo quả có thànhphần cơ giới cát pha - thịt trung bình loại đất mùn vàng nhạt và mùn vàng đỏ đá
mẹ Paragnai, macma axit
4.2.2.2 Tính chất hoá học
Nhìn chung đất nơi trồng Thảo quả chua, độ chua thuỷ phân cao, độchua trao đổi thấp, giầu đạm và kali nhưng nghèo lân (bảng 4.5) Đặc biệt, kếtquả phân tích 2 tầng đất ở nơi trồng Thảo quả đều cho thấy có hàm lượng mùnkhá cao, tầng 1 biến động từ 3,66% đến 29,29%, cao nhất phẫu diện 11 vàthấp nhất phẫu diện 14 hàm lượng mùn cũng chiếm đến 3,66% Tầng 2 biến
động từ 1,71% đến 8,39%, cao nhất phẫu diện 11, thấp nhất phẫu diện 14
4.3 Đặc điểm nơi trồng Thảo quả dưới tán rừng tự nhiên
4 3.1 Độ tàn che nơi trồng Thảo quả
4.3.1.1 Điều tra ngoài thực địa về ảnh hưởng của độ tàn che đến năng suất Thảo quả
Thảo quả là loài cây có phân bố tự nhiên trong rừng tự nhiên ở các vùngnúi cao phía Bắc nước ta Khi phát hiện ra công dụng của Thảo quả thì từ xa
Trang 37xưa, đồng bào sinh sống ở những vùng núi cao nơi đây đã có ý thức gây trồngphát triển trong những điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất Vì thế hầu hết diệntích Thảo quả hiện nay ở các tỉnh miền núi đều được gây trồng dưới độ tàn checủa tán rừng tự nhiên Kết quả điều tra ở huyện Sa Pa, Bát Xát, Văn Bàn vàThị xã Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai; huyện Quản Bạ và Vị Xuyên của tỉnh HàGiang (bảng 4.6) cho thấy Thảo quả được trồng ở các độ tàn che khác nhau có
số quả trung bình/bụi (năng suất) khác nhau
Bảng 4.6: Số quả trung bình trong bụi Thảo quả tương ứng với các độ tàn che
Số quả trung bình/khóm (tính cho 664 khóm) 109
Kết quả điều tra cụ thể ở các độ tàn che khác nhau cho thấy: Độ tàn che0,7 có số quả trung bình trong bụi thấp nhất, kề đến là độ tàn che 0,4 Độ tànche 0,5 có số quả trung bình trong bụi cao nhất, kế sau là độ tàn che 0,6
Số quả trung bình của bụi ở các độ tàn che khác nhau có thực sự khácnhau trong tổng thể hay không, sử dụng phương pháp kiểm định Kruskal-Wallis cho kết quả mức ý nghĩa (xác suất) = 0,000 <0,05 (Phụ biểu 4 bảngTest Statistics) có nghĩa số quả trung bình trong bụi Thảo quả ở các độ tàn che0,4; 0,5; 0,6; 0,7 là khác nhau rõ rệt trong tổng thể
Như vậy, Thảo quả được trồng dưới tán rừng tự nhiên có độ tàn che từ0,5 – 0,6 cho năng suất cao nhất (bảng 4.6)
Kinh nghiệm của các hộ trong việc lựa chọn độ tàn che có phù hợp với đặctính sinh thái của cây Thảo quả hay không, tiến hành điều tra phỏng vấn hộ gia đình
Trang 384.3.1.2 Kinh nghiệm của người dân địa phương trong việc xác định độ tàn che nơi trồng
Thảo quả là cây thân thảo chịu bóng có thân ngầm, thích hợp với độ tànche nhất định, nên việc chọn độ tàn che phù hợp để cây Thảo quả sinh trưởng,phát triển và cho năng suất cao có ý nghĩa rất quan trọng Vì chưa có nhữngnghiên cứu cơ bản về độ tàn che cho gây trồng Thảo quả, nên việc dựa vàokinh nghiệm của nhân dân đã đúc kết qua thực tế gây trồng lâu đời là phươngpháp nhanh và có hiệu quả Từ những kinh nghiệm này có thể kiểm tra độ tànche bằng phương pháp định lượng và khoa học hơn xẽ xác định được chínhxác độ tàn che cần thiết để đáp ứng nhu cầu gây trồng phát triển hiện nay mộtcách nhanh nhất
Chính vì vậy đề tài đã điều tra kinh nghiệm chọn độ tàn che của các hộgia đình kết quả cho ở bảng 4.7 và hình 4.4
Bảng 4.7: Độ tàn che nơi trồng Thảo quả được xác định qua điều tra (Phụ biểu 5)
Độ tàn che Số hộ được điều tra % % hợp lệ
Trang 39Kết quả điều tra (bảng 4.7) cho thấy, biên độ tán rừng che phủ (độ tànche) cho Thảo quả có biên độ rất lớn từ 0,3-0,8 và 88,7% số hộ gia đình được
điều tra có kinh nghiệm giữ lại cây gỗ rừng giúp che bóng cho Thảo quả
Hình 4.3: Độ tàn che nơi trồng Thảo quả qua điều tra hộ gia đình (Phụ biểu 5)
Kết quả kiểm tra kinh nghiệm xác định độ tàn che của người dân địaphương (bảng 4.7 và hình 4.3) cho thấy trong tổng số hộ xác định được độ tànche, có 44,1% số hộ gia đình trồng Thảo quả dưới tán rừng chọn độ tàn che
>0,5-0,6 chiếm cao nhất, 35,3% số hộ gia đình chọn độ tàn che >0,4-0,5 đứngthứ hai, 13,7% số hộ gia đình chọn độ tàn che >0,6-0,7 Còn lại 6,9% số hộgia đình chọn độ tàn che khác
Như vậy, từ kết quả phỏng vấn đã được kiểm tra bằng phương phápkhoa học ngoài thực địa cho thấy nhận thức của người dân về độ tàn che chocây Thảo quả là rất khác nhau Đây có thể là một trong những nguyên nhân đểtrả lời câu hỏi tại sao năng suất Thảo quả của các hộ gia đình rất khác nhau.Qua kết quả đã tổng hợp và phân tích ở trên có thể thấy số hộ gia đình được
Do tan che noi trong Thao qua
Do tan che noi trong Thao qua
>0,7-0,8
>0,6-0,7
>0,5-0,6
>0,4-0,5 0,3-0,4
Trang 40hỏi có kinh nghiệm lựa chọn độ tàn che 0,5-0,6 phù hợp với cây Thảo quảkhông được cao, chỉ chiếm 39,1% trong tổng số hộ được điều tra.
4.3.2 ảnh hưởng của chiều cao dưới cành tầng cây gỗ (Hdc) đến năng suất Thảo quả
Kết quả nghiên cứu ngoài thực địa cho thấy, Thảo quả không đượctrồng ở dưới tán rừng non mới phục hồi mà chỉ được trồng dưới tán rừng tựnhiên là những khu rừng già, khoảng chiều cao dưới cành của loại rừng nàycao Điều này cho thấy, sinh trưởng phát triển của cây Thảo quả không chỉchịu ảnh hưởng bởi độ tàn che của tầng cây gỗ mà còn chịu ảnh hưởng bởi độthoáng giữa cây Thảo quả với chiều cao dưới cành tầng cây gỗ Vì vậy đề tài
đã tiến hành điều tra xác định chiều cao dưới cành tầng cây gỗ nơi trồng Thảoquả trong rừng tự nhiên tại huyện Quản Bạ, Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang; huyện
Sa Pa, Bát Xát, Văn Bàn, Thị xã Lào Cai của tỉnh Lào Cai kết quả được thểhiện ở bảng 4.8
Bảng 4.8: Số quả trung bình trong bụi Thảo quả tương ứng với Hdc
Số quả trung bình/khóm (tính cho 664 khóm) 109
Kết quả điều tra (bảng 4.8) cho thấy, chiều cao dưới cành của tầng cây
gỗ khác nhau có số quả trung bình/bụi khác nhau cụ thể Chiều cao dưới cànhnằm trong khoảng 7-10m (7 Hdc <10) có số quả trung bình trong bụi nhiềunhất, đạt 120,1 quả/bụi Chiều cao dưới cành nằm trong khoảng 4-7m (4Hdc <7) có số quả trung bình trong bụi ít nhất, chỉ có 63,3 quả/bụi
Sử dụng phương pháp kiểm định Kruskal-Wallis kiểm tra năng suất Thảoquả ở các khoảng chiều cao dưới cành khác nhau cho kết quả mức ý nghĩa (xácsuất) = 0,004 <0,05 (Phụ biểu 6 bảng Test Statistics) có nghĩa ở các khoảng