Thế nhưng hiện nay việc nhận thức về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa của các tầng lớp nhân dân ở nước ta còn chưa được đầy đủ, chính vì vậy việc lựa chọn nghi
Trang 1Học phần:
Đ
TẤT YẾU, ĐẶC ĐIỂM CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thế Hùng
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Mỹ Hạnh
Lớp : K22QTMB
Mã sinh viên : 22A4030180
Hà nội, ngày 10 tháng 5 năm 2020
Trang 2MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
Phần 1 Khái quát quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 2
1.1 Khái niệm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 2
1.2 Hình thức quá độ: quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp 2
1.3 Tính tất yếu của quá độ lên chủ nghĩa xã hội 2
1.4 Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 3
Phần 2: Liên hệ thực tế và liên hệ bản thân 4
2.1 Tính tất yếu của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam 4
2.2 Những đặc điểm cơ bản của bản của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, liên hệ thực tiễn về những đặc điểm cơ bản đó 6
2.3 Liên hệ bản thân về vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta 8
KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3MỞ ĐẦU
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đã, đang và sẽ tiếp tục là vấn đề thu hút
sự quan tâm của các chính đảng, các nhà nghiên cứu về chính trị Thực tiễn luôn vận động biến đổi không ngừng, sự nghiệp đổi mới đất nước đòi hỏi lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần phải được nghiên cứu, nhận thức sâu sắc hơn, nhằm khẳng định những giá trị của nó, đồng thời bổ sung, phát triển cho phù hợp Thế nhưng hiện nay việc nhận thức về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa của các tầng lớp nhân dân ở nước ta còn chưa được đầy đủ, chính vì vậy việc lựa chọn nghiên cứu đề tài này là cấp thiết Mục đích của đề tài là tìm hiểu về thời kỳ quá độ và tính tất yếu, đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Để đạt được mục đích đó ta phải hiểu rõ được thời kỳ quá độ là gì, các đặc điểm, tính tất yếu, hình thức quá độ, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ
đó phân tích làm rõ tính tất yếu, đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là thời thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong phạm vi từ năm 1975 đến nay Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật với các phương pháp như: thống nhất lôgic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa Về mặt ý nghĩa lý luận, đề tài giúp ta hiểu sâu hơn, rộng hơn, đầy đủ hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội Về mặt ý nghĩa thực tiễn, việc nghiên cứu về đề tài này giúp
em hiểu được tại sao Việt Nam lại lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa, hiểu rõ hơn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, từ đó phân tích thực tiễn thời kì quá độ ở nước ta, vận dụng, bổ sung chủ nghĩa Mác – Lênin để phù hợp với thực tiễn đó
Trang 4NỘI DUNG
Phần 1 Khái quát quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin về thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
1.1 Khái niệm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện từ xã hội tiền tư bản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ nghĩa Đây là thời kỳ sinh đẻ lâu dài và đau đớn để loại bỏ dần những cái cũ, xây dựng và củng cố những cái mới
1.2 Hình thức quá độ: quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp
Quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đối với những nước
đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển Cho đến nay, thời kì quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa cộng sản từ chủ nghĩa tư bản phát triển chưa từng diễn ra
Quá độ gián tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đối với những nước chưa trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển
1.3 Tính tất yếu của quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản có sự khác nhau về chất, chủ nghĩa xã hội, cơ sở kinh tế dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu, không còn đối kháng giai cấp, không còn áp bức, bóc lột, bất công, trong khi chủ nghĩa tư bản lại dựa trên chiếm hữu tư liệu sản xuất, có đối kháng giai cấp, còn tồn tại áp bức, bóc lột, bất công,… Do đó các nước muốn
đi lên xã hội chủ nghĩa cần trải qua thời kỳ quá độ để xây dựng những yếu tố
cơ sở nền tảng một cách toàn diện cả về mọi mặt
Chủ nghĩa tư bản tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật nhất định, để những yếu tố này có thể phục vụ cho chủ nghĩa xã hội thì cần phải có thời gian tổ chức, sắp xếp, xây dựng
Quan hệ sản xuất của chủ nghĩa xã hội không thể lập tức tự ra đời trong chủ nghĩa tư bản mà phải trải qua quá trình xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ
Trang 5nghĩa, cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội Do đó phải có thời kỳ quá độ để có thời gian xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,… là một công việc mới
mẻ, khó khăn Hơn nữa, trong thời kỳ quá độ không tránh khỏi sự phản kháng của giai cấp bóc lột, vì vậy giai cấp công nhân, nhân dân lao động cần thời gian để làm quen, thích ứng và thời gian đó chính là thời kỳ quá độ
Từ các yếu tố trên, ta có thể khẳng định rằng quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan
1.4 Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Đặc điểm nổi bật nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự tồn tại đan xen, đấu tranh giữa những nhân tố của xã hội mới và tàn dư của xã hội cũ trên mọi phương diện của đời sống xã hội
Trên lĩnh vực kinh tế: Xã hội tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có thành phần đối lập Lênin cho rằng thời kỳ quá độ tồn tại 5 thành phần kinh
tế, trong đó có thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa đóng vai trò chủ đạo Trên lĩnh vực chính trị: thiết lập, tăng cường chuyên chính vô sản mà bản chất
là việc giai cấp công nhân nắm giữ và sử dụng quyền lực nhà nước để trấn áp giai cấp bóc lột phản động, xây dựng một xã hội phi giai cấp
Trên lĩnh vực xã hội: do kết cấu kinh tế nhiều thành phần, trong xã hội còn nhiều giai cấp , tầng lớp khác nhau, có sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị, giữa lao động trí óc với lao động chân tay, có sự đối lập – đối kháng nhất định
Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa: tồn tại nhiều loại tư tưởng, văn hóa tinh thần khác nhau, có sự đối lập, từng bước xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, kế thừa giá trị văn hóa dân tốc và tinh hoa văn hóa nhân loại
Trang 6Phần 2: Liên hệ thực tế và liên hệ bản thân
2.1 Tính tất yếu của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
Các Mác đã từng nói “Ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh”, những trang sử vàng hào hùng của dân tộc Việt Nam là một trong những minh chứng hùng hồn cho câu nói đó Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã chấm dứt hoàn toàn ách thống trị của đế quốc, dân tộc ta đã được giải phóng, đất nước thống nhất, hòa bình lập lại toàn dân bắt đầu đi vào xây dựng cuộc sống mới, tập trung đi lên chủ nghĩa xã hội Có thể nói, thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ nghĩa xã hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh tế phát triển Dĩ nhiên, đối với những nước thuộc loại này, sẽ có nhiều thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể sẽ diễn ra ngắn hơn Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, sẽ phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, gian khổ hơn, khó khăn hơn
Câu hỏi đặt ra, tại sao nước ta lại quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa, tính tất yếu của vấn đề này là gì? Đầu tiên phải xét đến
lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin: những nước lạc hậu chỉ có thể đi lên chủ nghĩa bằng quá độ gián tiếp, đối với những nước thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa tuy sẽ được giúp đỡ để “ rút ngắn tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội” nhưng sẽ cần phải trải qua nhiều bước trung gian mới có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Như vậy dù Việt Nam xuất phát từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, bị tàn phá nặng nề, nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển về kinh tế thì vẫn có khả năng tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bằng hình thức quá độ gián tiếp, bỏ qua tư bản chủ nghĩa.Việc Việt Nam đi lên xã hội chủ nghĩa còn phù hợp với trào lưu tiến hóa của thời đại, phát triển đúng theo quy luật khách quan: thực tiễn đã khẳng định chủ nghĩa tư bản với những sự mâu thuẫn ngày càng gay gắt và sâu sắc chắc chắn
sẽ bị thay thế bởi hệ thống chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội sẽ ngày càng
Trang 7tăng lên, ngày càng mở rộng Thêm vào đó, chúng ta đang sống trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới Cách mạng tháng 10 Nga thành công rực rỡ đã làm thay đổi cục diện thế giới, trở thành một ngôi sao sáng chói để các nước đang quá độ lên xã hội chủ nghĩa noi theo Việc một nước lớn thực hiện thành công, kéo theo hàng loạt các nước khác có động lực đi lên xã hội chủ như :Trung Quốc, Cu Ba, Lào, Triều Tiên
và Việt Nam cũng nằm trong số đó Khi mà xu hướng của thế giới là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các nước bỏ qua tư bản chủ nghĩa sẽ được sự giúp đỡ có hiệu quả cả về vật chất lẫn tinh thần của những nước xã hội chủ nghĩa anh
em, thêm vào đó là sự cổ vũ của phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên thế giới thì Việt Nam đã nhanh chóng nắm lấy thời cơ này, hòa mình vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Không chỉ vậy việc đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa còn phù hợp với lịch sử của Việt Nam, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân, để thoát khỏi nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, thoát khỏi sự áp bức bóc lột, vươn tới cuộc sống ấm no hạnh phúc không còn con đường nào khác ngoài con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Sự kết hợp của những nhân tố bên trong và bên ngoài ấy đã tạo ra khả năng cho phép chúng ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội Thế nhưng việc đi lên chủ nghĩa xã hội không hề dễ dàng, không phải ngày một ngày hai, nhất là khi nước lại bỏ qua tư bản chủ nghĩa thì càng khó khăn, phức tạp, gian khổ và lâu dài hơn, cần có thời gian để cải tạo xã hội, xây dựng
xã hội, tạo tiền đề về vật chất và tinh thần cho chủ nghĩa xã hội, cần thời gian
để giai cấp công nhân, nông dân làm quen được những khó khăn thách thức,
để sắp xếp, tổ chức lại cơ sở vật chất – kỹ thuật, xây dựng lại quan hệ sản suất
xã hội chủ nghĩa, cải biến một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực, cần có thời gian để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và khoảng thời gian đó chính là thời kỳ quá độ Với tất các các yếu tố trên, ta có thể khẳng định rằng việc lựa chọn quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa ở nước ta
là tất yếu
Trang 82.2 Những đặc điểm cơ bản của bản của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, liên hệ thực tiễn về những đặc điểm cơ bản đó.
Xét trên nhiều phương diện, trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay có sự đan xen, thâm nhập lẫn nhau, có sự đối lập của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa và khuynh hướng xã hội chủ nghĩa
Trong lĩnh vực kinh tế, Đảng và Nhà nước đã chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng 1 nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, do tồn tại nhiều loại hình quan hệ sản xuất khác nhau nên dẫn tới tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau như kinh tế nhà nước, kinh
tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,…Mặc dù là một nền kinh tế nhiều thành phần nhưng Đảng và nhà nước luôn khẳng định kinh tế nhà nước
và kinh tế tập thể sẽ giữ vai trò nền tảng và kinh tế nhà nước phải vươn lên giữ vai trò chủ đạo, phải làm được điều đó thì nền kinh tế Việt Nam mới phát triển theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa Công cuộc đổi mới ở Việt Nam như một bằng chứng về sự thành công chuyển đổi kinh tế trong lịch sử đương đại Tuy vẫn là một nước nghèo, nhưng qua 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Với những bước đi đổi mới theo những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng
và Nhà nước, những sáng kiến, sự năng động, sáng tạo của nhân dân của các địa phương, đã làm cho nền kinh tế Việt Nam dần có sự phát triển nhanh và tương đối liên tục, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được đẩy mạnh
Trên lĩnh vực chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang làm tốt vai trò lãnh đạo, nhà nước pháp quyền Việt Nam đã và đang làm tốt vai trò quản lí, đặc biệt là phát huy rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân trên tất các các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tư tưởng Trong suốt thời gian qua Đảng và nhà nước đã không ngừng phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để nước ta sớm cơ bản trở
Trang 9thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đảng và nhà nước đã phấn đấu vượt khó khăn, thách thức, khắc phục, rút kinh nghệm những thiếu sót, khuyết điểm để hoàn thiện hơn, ví dụ như năm 1988, Đảng đã thay đổi cơ chế kinh tế
từ quan liêu sang kinh tế thị trường, hay việc thực hiện hội nhập quốc tế, việc thực hiện hàng loạt các chính sách thu hút kinh tế, thực hiện đối ngoại, củng
cố địa vị của Việt Nam Nhưng bên cạnh các điểm tích cực vẫn tồn tại các thế lực phản động trong nước cấu kết với các thế lực phản động ở bên ngoài, chống phá Đảng và Nhà nước, tạo ra bạo loạn nhằm lật đổ, thay đổi chế độ chính trị xã hội ở Việt Nam
Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, bên cạnh hệ tư tưởng mới đang dần được hình thành, còn tồn tại những hệ tư tưởng cũ cổ hủ lạc hậu Hai hệ tư tưởng này tồn tại đan xen, đấu tranh với nhau Hiện nay nước ta chủ trương xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc cho nên phải đấu tranh chống lại các hệ tư tưởng cũ, quan niệm cũ cổ hủ lạc hậu đồng thời phải đấu tranh để xóa bỏ quan điểm của các thế lực phản động còn tàn dư trong đời sống xã hội
Để xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu như: trọng nam, khinh nữ, gia trưởng, mê tín dị đoan,… không phải là ngày một ngày hai mà là một quá trình rất lâu dài Trong lĩnh vực văn hóa có rất nhiều đổi mới: sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy, đổi mới trên phương diện quản lý văn hóa, Tuy nhiên cũng để lại không ít hậu quả khôn lường nhất là tạo ra sự khủng hoảng về đạo đức và lối sống Có thể nói Việt Nam đã và đang từng bước xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, kế thừa có chọn lọc giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại
Trên lĩnh vực xã hội, do kinh tế nước ta là kinh tế nhiều thành phần cho nên trong xã hội tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau: giai cấp công nhân, giai cấp nông dẫn, tầng lớp trí thưc, tầng lớp doanh nhân,… Xã hội cũng có
sự khác biệt giữa miền núi với miền xuôi, giữa lao động chân tay và lao động trí thức, giữa thành thị và nông thôn Trong Điều 2, Hiến pháp năm 1992 sửa
Trang 10đổi có ghi: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực của Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và tầng lớp trí thức” Dù tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp nhưng Đảng ta luôn khẳng định lực lượng cơ bản làm nền tảng cho xã hội chủ nghĩa, cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam là khối liên minh công, nông, trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng Sản Đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra nhưng diễn ra trong điều kiện mới, với hình thức mới, Các phần tử cơ hội ở trong nước vẫn cấu kết với các thế lực phản động ở bên ngoài, âm mưu lật đổ, thay đổi chế độ chính trị xã hội ở Việt Nam Bên cạnh đó hiện nay Việt Nam cũng tồn tại nhiều tệ nạn xã hội: quan liêu, cậy quyền, tham ô, tham nhũng,…
2.3 Liên hệ bản thân về vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trong thời kỳ quá độ ở nước ta không thể không kể đến sự kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khoá V (6/1986) khẳng định chính thức đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng một nền kinh tế thị trường, ta thấy được rằng đây là một quyết định rất đúng đắn, phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác Bời vì theo chủ nghĩa Mác, đặc điểm cơ bản về mặt kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thị trường, Việt Nam lúc đó vẫn còn là một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, nền kinh tế kém phát triển và bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh., muốn nhân dân ấm no, muốn vượt qua cái đói, cái nghèo, cái khổ ta đã quyết định tuân theo chủ nghĩa Mác, chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang kinh
tế thị trường Giai đoạn sau năm 1975 trước năm 1986 nước ta cũng có đổi mới, nhưng chưa hiệu quả, kết quả sản xuất không tương ứng với lao động bỏ
ra vì nền kinh tế vẫn giữ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Sau năm 1986, việc quyết định thay đổi cơ chế kinh tế đã làm cho nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển rõ rệt, đời sống nhân dân đươc ấm no hơn, hạnh phúc hơn Nếu không đi theo quan điểm của chủ Mác, vẫn giữ cơ chế tập trung