Đối với nước ta trước khi có công cuộc đổi mới, mặc dù đã trải qua một thời gian khá dài tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa song do những sai lầm, khuyết điểm trong tư duy công nghiệp hóa, trong bố trí cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư nền kinh tế vẫn trong tình trạng lạc hậu, rời rạc, mất cân đối và trì trệ. Việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong suốt cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự chuyển dịch đó nhằm từng bước xây dựng một cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và năng động phù hợp với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, với yêu cầu của cách mạng khoa học công nghệ và phát triển nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, với sự tham gia tích cực, chủ động vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế giới ngày nay một đất nước muốn đạt tới sự phát triển phồn vinh,tiến bộ và văn minh phải tạo lập được một cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý, phùhợp với điều kiện và đặc điểm riêng của mình
Đối với nước ta trước khi có công cuộc đổi mới, mặc dù đã trải qua mộtthời gian khá dài tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa song do những sailầm, khuyết điểm trong tư duy công nghiệp hóa, trong bố trí cơ cấu kinh tế và cơcấu đầu tư nền kinh tế vẫn trong tình trạng lạc hậu, rời rạc, mất cân đối và trì trệ.Việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung quan trọng của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong suốt cả thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội Sự chuyển dịch đó nhằm từng bước xây dựng một cơ cấu kinh tếtheo hướng hiện đại và năng động phù hợp với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, với yêucầu của cách mạng khoa học - công nghệ và phát triển nền kinh tế hàng hóa vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, với sự tham gia tích cực,chủ động vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế
Những thành tựu đáng khích lệ và sự phát triển theo khuynh hướng tiến bộcủa các nghành kinh tế nước ta trong công cuộc đổi mới đã chứng minh đúng đắn,khoa học của chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong đường lối của Đảng Tuy nhiên còn nhiều vấn đề lý luận của quá trình đócần được luận giải và tiếp tục làm sáng tỏ Đặc biệt quá trình xây dựng cơ cấu kinh
tế mới có vai trò rất to lớn trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sựnghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trong đó quân đội nhân dân Việt Nam có vai tròtích cực và phải đựơc coi là lực lượng quan trọng của quá trình thực hiện sự nghiệp
đó với những ý nghĩa trên tác giả xác định tên gọi của luận án là " Xây dựng cơ cấu
Trang 2kinh tế mới và vai trò của nó đối với củng cố quốc phòng trong thới kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam".
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án.
Mục đích: Tác giả xác định mục tiêu của luận án là làm rõ những tính quyluật của quá trình hình thành cơ cấu kinh tế mới ở nước ta trong thời kỳ quá độ và
xu hướng vận động của cơ cấu trong những năm trước mắt (đến năm 2000) Trên
cơ sở đó phân tích tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế với củng cốquốc phòng và làm rõ vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ xâydựng cơ cấu kinh tế mới
Để đạt được mục đích luận án có các nhiệm vụ sau
+ Phân tích làm rõ khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo tư duy mới
+ Trên cơ sở nghiên cứu quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tếcủa nhân loại, phân tích quy luật hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
+ Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta trong thờigian vừa qua, trên cơ sở đó xác định xu hướng và một số giải pháp chủ yếu trongquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóatrong những năm trước mắt
+ Nghiên cứu sự tác động của xây dựng cơ cấu kinh tế mới đối với củng cốquốc phòng, đồng thời phân tích vai trò của quân đội trong quá trình xây dựng cơcấu kinh tế mới
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế ở Việt Namdưới góc độ kinh tế chính trị và sự ứng dụng khoa học đó trong lĩnh vực quân sự
Sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phươngpháp hệ thống, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diện dịch, thống kê so sánh cùngmột số phương pháp khác đang được vận dụng trong khoa học kinh tế
Trang 34 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đã từ lâu thu hút rộng rãi sự quan tâm của các nhà kinh tế ở cả các cơquan làm công tác lý luận lẫn các cơ quan chi đạo thực tiễn Vì thế đã có khá nhiềucác bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, đề cập tới khía cạnh này haykhía cạnh khác của vấn đề ở các mức độ khác nhau Trong đó những công trình liênquan trực tiếp tới phần lý luận và thực tiễn Việt Nam của đề tài phải kể đến:
a "Xây dựng cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta" - tác giảtập thể, do Viện kinh tế học, ủy ban khoa học xã hội Việt Nam xuất bản 1986
b "Cơ cấu công nông nghiệp hơp lý" - Tác giả tập thể, Nxb Thông tin
lý luận 1986
c "Sự hình thành cơ cấu kinh tế trong chặng đường đầu của thời kỳ quáđộ" - của tác giả Trần Ngọc Hiên, Nxb Sự thật, Hà Nội 1987
d "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh
tế quốc dân- Giáo sư tiến sĩ Ngô Đình Giao chủ biên, Nxb chính trị quốc gia, HàNội 1994
Những công trình trên chủ yếu nghiên cứu trên lĩnh vực kinh tế-xã hội Mốiquan hệ giữa xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóavới quốc phòng, xây dựng quân đội chưa có công trình nghiên cứu, lý giải, thuyếtminh và đề cập đến vấn đề một cách có hệ thống Bản thân luận án này cũng không
có khả năng đề cập vấn đề một cách toàn diện, tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu cơcấu kinh tế công nông nghiệp - dịch vụ trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ ởViệt Nam Trên cơ sở tiếp thu, có chọn lọc những thành tựu trên, vận dụng tư duykinh tế mới, luận án tiếp tục làm rõ thêm về lý luận và thực tiễn của việc xây dựng
cơ cấu kinh tế mới Đề cập đến một số vấn đề cơ bản sự tác động của cơ cấu kinh tếmới đối với quốc phòng, quân đội, đồng thời phân tích vai trò của quân đội đối vớiviệc xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
5 Đóng góp mới của luận án
Trang 4- Trên cơ sở nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhân loại,với cách tiếp cận hệ thống gắn với thực tiễn Việt Nam, luận án trình bầy tính quyluật của việc xây dựng cơ cấu kinh tế, chỉ ra quá trình này diễn ra trong những nămtới, đồng thời dự kiến xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Đưa ra một số giải pháp kiến nghị để tiến hành cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Phân tích tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới đối vớicủng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, từ đó có những giải pháp nhằm phát huymột cách tốt nhất sức mạnh của cơ cấu kinh tế đối với quốc phòng, nhằm kết hợpkinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế
- Luận án phân tích vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong quá trìnhxây dựng cơ cấu kinh tế mới - đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vaitrò của quân đội với việc xây dựng cơ cấu kinh tế mới
6 ý nghĩa thực tiễn của luận án
Góp phần luận giải co sở khoa học của quá trình hoặch định và thực thi quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy một số nộidung thuộc môn: kinh tế chính trị, kinh tế quân sự, học thuyết bảo vệ Tổ quốc ở cácnhà trường quân sự
7 Kết cấu và nội dung luận án
Luận án gồm phần mở đầu, hai chương (4 tiết), phần kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo và 13 bản phụ lục kèm theo
Chương I: SỰ HÌNH THÀNH CƠ CẤU KINH TẾ MỚI TRONG THỜI
KỲ QUÁ ĐỘ Ở VIỆT NAM
1.1 Tính quy luật của quá trình chuyển từ cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu kinh tế mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trang 51.1.1 cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nghiên cứu cơ cấu kinh tế la xem xét cấu trúc bên trong của quá trình tái sảnxuất mở rộng của nền kinh tế Cờu trúc bên trong của nền kinh tế thường được thểhiện thông qua các mối quan hệ kinh tế Quan hệ này không chỉ là quan hệ tỷ lệmang tính chất số lượng mà còn mang tính chất chất lượng Trong khi phân tíchquá trình phân công lao động nói chung Các Mác hiểu cơ cấu ở cả hai mặt chất vàlượng của nó Theo Mác đó là: "Sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về sốlượng của những quá trĩnh xã hội"(1) Tính thống nhất giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất trong khái niệm cơ cấu kinh tế cũng được C.Mác chỉ ra một lầnnữa khi Người khẳng định rằng: "Do tổ chức quá trình lao động và phát triển kỹthuật một cách mạnh mẽ cho nên làm đảo lộn kết cấu kinh tế của xã hội"(2) Nhưvậy, cơ cấu kinh tế hể hiện những mối quan hệ về quan hệ sản xuất và lực lượngsản xuất của nền kinh tế Mối quan hệ kinh tế đó không chỉ là những mối quan hệriêng lẻ từng bộ phận kinh tế, mà là những mối quan hệ tổng thể của các bộ phậncấu thành nền kinh tế, bao gồm các lĩnh vực (sản xuất, phân phối, trao đổi,k tiêudùng); các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giaothông vận tải…); các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, tư nhân, các vùngkinh tế)
Các quan hệ kinh tế trên đây không chỉ là quan hệ tỷ lệ về số lượng (như cơcấu công nghiệp nặng, cơ cấu công nghiệp nhẹ, cơ cấu diện tích trồng trọt, cơ cấulao động…) mà còn là quan hệ về chất (như năng suất, chất lượng sản phẩm, lợinhuận…)
Cơ cấu kinh tế bao giờ cũng ở trong những điều kiện không gian và thời giannhất định, trong điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội nhất định, thích hợp với điềukiện mỗi nước, mỗi vùng, mỗi doanh nghiệp
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù lao động, do đó phải có những chuyển dịchcần thiết, thích hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Sự duy trì quá lâu hoặcthay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế mà không dựa vào những biến đổi của điều
Trang 6kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội sẽ gây những thiệt hại về kinh tế Quá trình biến đổi
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm không phải là mong muốn chủquan, mà phải dựa vào mục tiêu đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội như thế nào Từ
những phân tích trên đây có thể hiểu khái quát rằng: cơ cấu kinh tế là tổng thể các
bọ phận hợp thành cùng với vị trí, tỷ trọng và quan hệ tương tác giữa các bộ phận đó trong quá trình tái sản xuất xã hội, phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội xác định.
Từ cách hiểu trên, cơ cấu kinh tế bao gồm những đặc trưng chủ yếu sau:
Một là, tính khoa học Điều đó có nghĩa nó phản ánh đúng các quy luật
khách quan, nhất là quy luật kinh tế
Hai là, cơ cấu kinh tế phải bảo đảm mối quan hệ cân đối và đồng bộ giữa các
bộ phận kinh tế nằm trong một tổng thể Nói cách khác, nó mang tính hệ thống
Ba là, cơ cấu kinh tế luôn luôn vận động, biến đổi vì nó gắn với sự biến đổi,
phát triển không ngừng của những mối quan hệ giữa chúng
Bốn là, cơ cấu kinh tế không "khép kín" mà mang tính "mở" cả trong nước
và ngoài nước
Năm là, cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều cơ cấu bộ phận khác nhau, có cơ cấu
bộ phận kinh tế chủ yếu, có cơ cấu bộ phận kinh tế thứ yếu, sắp xếp theo thứ tự ưutiên khác nhau, tùy theo vị trí của chúng Trong toàn bộ hệ thống cơ cấu kinh tế thì
cơ cấu ngành: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ là bộ phận có tầm quan trọng
"bộ xương" của cơ cấu kinh tế, phản ánh trình độ văn minh của mối nước
Sáu là, trong nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường, cơ cấu
kinh tế được hoàn thiện trong quan hệ hợp tác và cạnh tranh theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước Các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phầnkinh tế trong quá trình phát triển phải lựa chọn cho mình cơ cấu kinh tế hợp lý đểđạt hiệu quả kinh tế cao Trong quá trình đó các ngành kinh tế, các vùng kinh tếvừa hợp tác với nhau trên nhiều mặt như: xây dựng cơ cấu hạ tầng, bố trí sản xuất,
áp dụng thành tựu khoa học - công nghệ, tiêu thụ sản phẩm… đồng thời cũng vừa
Trang 7cạnh tranh với nhau trong việc bố trí sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượngsản phẩm nhằm đạt hiệu quả cao.
Bảy là, tính hiệu quả kinh tế - chính trị -xã hội Thể hiện sự tối ưu hóa của cơ
cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù có nội dung rất phong phú Tùy theo cáchtiếp cận khác nhau có thể phân định các loại cơ cấu khác nhau:
Cơ cấu các quan hệ sản xuất trong nền kinh tế, cơ cấu này phản ánh mối
quan hệ kinh tế - xã hội giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xãhội, trong đó nổi bật lên hàng đầu là quan hệ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất.Nói một cách khác đó là cơ cấu của nền kinh tế xét theo các thành phần kinh tế - xãhội hiện hữu Nó cho biết số lượng, vai trò, xu hướng vận động của các thành phần
có trong nền kinh tế, qua đó ít nhiều có thể thấy được mức độ thống trị của quan hệsản xuất chủ đạo trong mỗi bước tiến của phương thức sản xuất đang được hìnhthành và phát triển
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, song song với các thành phầnkinh tế xã hội chủ nghĩa mới hình thành và ngày càng phát triển, nền kinh tế còntồn tại các thành phần kinh tế khác Vấn đề là làm sao cho quan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa được thiết lập ngày càng phát triển và phát huy được tính ưu việt và thực
sự đóng vai trò chủ đạo trong sự nghiệp phát triển kinh tế và định hướng xã hội chủnghĩa với các thành phần kinh tế khác
Cơ cấu vùng lãnh thổ của nền kinh tế phản ánh sự phân công lao động xã
hội về mặt không gian địa lý, tức là trên các địa bàn khác nhau của đát nước Phâncông lao động theo lãnh thổ đồng thời có nghĩa là bố trí các ngành sản xuất trênnhững vùng lãnh thổ khác nhau, để khai thác mọi ưu thế của từng vùng Mỗi mộtvùng nằm trong hệ thống thống nhất và hoàn chỉnh của toàn nền kinh tế, là một hệthống bộ phận của sự phân công lao động chung, có phương hướng chuyên mônhóa đặc thù để tham gia vào sự phân công đó, song cũng lại có tính đồng bộ và cânđối riêng của các ngành trong nội bộ vùng nhằm tăng cường tính chủ động và linh
Trang 8hoạt của các đơn vị sản xuất - kinh doanh, đồng thời tự bảo đảm một số nhu cầucủa bản thân vùng.
Cơ cấu tái sản xuất xã hội, phản ánh mối quan hệ của các bộ phận cấu thành
của quá trình sản xuất xã hội, bao gồm nhiều yếu tố, nhiều quá trình Đó là các mốiquan hệ của: các yếu tố (đầu vào) của sản xuất như sức lao động, đối tượng laođộng, tư liệu lao động; các khâu trong vòng tuần hoàn như sản xuất, phân phối, traođổi, tiêu dùng Nừu giả định rằng, trong những điều kiện kinh tế xã hội về cơ bản lànhư nhau, thì cơ cấu tái sản xuất (với số lượng và chất lượng của các yếu tố sảnxuất hay các khâu của chu trình sản xuất), sẽ có ảnh hưởng lớn đến độ tăng trưởngkinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu quan trọng nhất của mọi nền kinh tế Xét ở
tầm vĩ mô đó là số lượng và quan hệ giữa các ngành lớn của nền sản xuất như:công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,… sự hình thành phát triển cơ cấu kinh tế ngành
là kết quả quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã tác động một cách mạnh mẽ đến
sự hình thành một cơ cấu kinh tế hiện đại trên phạm vi thế giới Ngày nay khi nhânloại đang chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thịtrường thì xu hướng đi tới xây dựng một nền kinh tế với cơ cấu công - nông nghiệp
- dịch vụ hiện đại đang trở thành tất yếu với các quốc gia Song cơ cấu cụ thể ở mỗinước và quá trình hình thành nó phụ thuộc vào đặc điểm của từng nước
Việc phân chia bốn loại cơ cấu kinh tế này không phải là cách phân chia duynhất, lại càng không phải là có từng ấy loại cơ cấu kinh tế Thực tế, tùy theo mụcđích nghiên cứu mà người ta có thể phân chia theo những cách khác nhau (ít hơnhoặc nhiều hơn) và trong mỗi cơ cấu này, đến lượt nó lại bao hàm nhiều kiểu cơcấu khác nữa Song, trong chừng mực cần thiết đối với đề tài này, chúng tôi chorằng sự phân chia như vậy cũng đủ để giới hạn vấn đề, ở đây đối tượng chính của
nó sẽ là cơ cấu kinh tế ở cấp vĩ mô chứ không phải ở các loại cơ cấu khác Tuynhiên, sự phân tích không loại trừ ít nhiều đề cập đến các vấn đề của các loại cơ
Trang 9cấu khác khi chúng liên quan trực tiếp tới các vấn đề của cơ cấu ngành, nhất là cơcấu vùng lãnh thổ vì nó liên quan đến bố trí lực lượng cơ cấu quốc phòng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối
quan hệ của một nền kinh tế theo một chủ đích và một phương hướng nhất định.Hiện nay nước ta đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Ở các địa phương đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, khai thác thế mạnh của địa phương,từng bước phát triển công nghiệp, khoa học và công nghệ nhằm thu được kết quả
và giá trị kinh tế cao nhất
Ở nước ta hiện nay, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình biến đổi nềnkinh tế chủ yếu ở chỗ là nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế có công nghiệp, nôngnghiệp và dịch vụ hiện đại Đó là quá trình tăng tốc độ và tỷ trọng của sản xuấtcông nghiệp trong nền kinh tế gắn liền với đổi mới căn bản về công nghệ tạo nềntảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao của toàn bộ nền kinh tế quốc dân vàtừng bước phát triển nền kinh tế dịch vụ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ có mốiquan hệ qua lại chặt chẽ Tiến bộ khoa học công nghệ làm cho cơ cấu kinh tế có sựthay đổi phù hợp, những thay đổi cơ cấu kinh tế lại có tác dụng mở đường cho việcthực hiện tiến bộ khoa học công nghệ Việc phát triển ưu tiên một số ngành trọngđiểm ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và có vai trò quan trọng với việctạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật như: điện, năng lượng, cơ khí, hóa chất trong thời kỳcông nghiệp hóa hiện đại hóa là động năng thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác pháttriển vượt bậc, bởi vì nó đã tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, đồng thờitạo ra khả năng đổi mới công nghệ sản xuất trong các ngành kinh tế
Quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nước - tuân thủnhững tính quy luật chung Song do những đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội… của mỗi nước, những xu thế thay đổi cơ cấu chung sẽ đựơc biểu hiện quahình thái đặc thù của từng giai đoạn phát triển Vì vậy nói đến vấn đề vận dụng
Trang 10những tính quy luật chung vào việc xác định chính sách cơ cấu kinh tế của đất nướccần phân tích những nhân tố ảnh hưởng đối với quá trình hình thành cơ cấu Cónhiều nhân tố quy định cơ cấu kinh tế Từng nhân tố riêng sẽ ảnh hưởng trự tiếphoặc gián tiếp, ít hoặc nhiều tới sự hình thành cơ cấu kinh tế (trước hết tới cơ cấusản xuất), đồng thời chúng cũng gắn bó với nhau chặt chẽ tạo thành một hệ thống
và tác động tới cơ cấu kinh tế như là kết quả của một sức mạnh tổng hợp
Có thể phân chia những nhân tố chịu ảnh hưởng tơi sự hình thành cơ cấucủa nền kinh tế quốc dân làm ba nhóm như sau:
Một là, những nhân tố địa lý - tự nhiên (tài nguyên khoáng sản, nguồn
nước, nguồn năng lượng, đất đai, khí hậu, địa hình, vị trí địa lý, dân số và lao động,
độ lớn của đất nước…)
Hai là, những nhân tố kinh tế - xã hội bên trong (chế độ xã hội, nhu cầu,
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, tiến bộ khoa học công nghệ, truyền thống và kinh nghiệm sản xuất, quy mô, trình độ của thị trườngnội địa…)
-Ba là, những nhân tố kinh tế - chính trị bên ngoài (phân công lao động
quốc tế, biến động trên thị trường thế giới, sự cần thiết tăng cường tiềm lực quốcphòng…)
Bất cứ nền sản xuất xã hội nào cũng là việc con người chiếm hữu lấy nhữngđối tượng của tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định và thông quahình thái đó Do sản xuất luôn luôn là sự "chiếm hữu tự nhiên" nên quá trình chiếmhữu đó cũng tác động và tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất như là điều kiệnchung của sản xuất, đồng thời như là những tư liệu sản xuất và tiêu dùng Một vấn
đề có tính quy luật là muốn chuyển nền kinh tế từ trình độ khai thác tự nhiên ở mứcthấp lên trình độ khai thác tự nhiên ở mức cao hơn, đồng thời chế ngự nó thì tất yếuphải dựa vào chính việc đẩy mạnh khai thác tự nhiên, lợi dụng những điều kiệnthuận lợi nhất của nó Những ngành làm cơ sở cho sự phát triển kinh tế ở bước điban đầu là những ngành trực tiếp khai thác tự nhiên: nông, lâm, ngư nghiệp và công
Trang 11nghiệp khai thác Thông thường, chính từ việc phát triển những ngành này màngười ta mới có được khoản tích lũy ban đầu để mở mang công nghiệp chế biến.Trong bước đầu của quá trình công nghiệp hóa, nếu chính sách cơ cấu không xácđịnh được đúng đắn những "thế mạnh" và những điều kiện bất lợi về tự nhiên củađất nước và không lợi dụng được chúng, thì sẽ làm mất đi một cơ sở tự có rất cơbản.
Trong số những nhân tố kinh tế - xã hội bên trong đất nước ảnh hưởng tới
cơ cấu kinh tế (trứơc tiên tới cơ cấu sản xuất), nhu cầu nổi lên như một nhân tốhàng đầu Với tính cách là động cơ bên trong của sản xuất, nhu cầu của con ngườiquy định các dạng hoạt động lao động, cơ cấu và kết quả những hoạt động đó
Nhu cầu là một yếu tố mang tính chất chủ quan, song nó bị yếu tố kháchquan quy định Tác động của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội đối với cơ cấu kinh tếthể hiện gián tiếp qua nhu cầu Vì vậy song song với việc tính toán, đánh giá chínhxác tác động trực tiếp của các nhân tố kinh tế - chính trị…, cần lưu ý tới tác độnggián tiếp của chúng đối với cơ cấu kinh tế thể hiện qua nhu cầu
Trình độ phát triển đã đạt được trong kinh tế là một nhân tố ảnh hưởngmạnh tới sự hình thành cơ cấu của nền kinh tế, tới những bước đi và độ dài của quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong số những nhân tố bên ngoài tác động đến cơ cấu kinh tế, cần chú ýmột cách thích đáng đến mối quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của quốc tếhóa đời sống kinh tế và phân công lao động đòi hỏi bất cứ nền kinh tế nào cũng đềuphải có sự hội nhập với nền kinh tế thế giới Trong đó cần phải tính toán tới sựthích ứng của cơ cấu nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới đang phát triểntheo xu hướng toàn cầu hóa để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Như đã nói ở trên, các nhân tố quy định cơ cấu tạo thành một hệ thống phứctạp, đòi hỏi phải có quan điểm tổng hợp, đồng bộ khi phân tích
1.1.2 Tính quy luật của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trang 121.1.2.1 Tổng quan quá trình có tính quy luật chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lịch sử.
Sự hình thành và phát triển của cơ cấu các ngành kinh tế về thực chất là quátrình phân công lại lao động xã hội trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất.Trong chủ nghĩa Tư bản trước đây, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ramột cách tự phát và lâu dài Nhưng trong điều kiện của thế giới ngày nay, đối vớibất kỳ quốc gia nào để hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế mới không thể thiếuvai trò của Nhà nước, với tư cách là người xác định mục tiêu, mô hình, hoạch địnhchiến lược, chính sách và tổ chức ở tầm vĩ mô quá trình thực hiện
Sự hình thành, phát triển cơ cấu kinh tế hiện nay diễn ra trong điều kiện củacách mạng khoa học - công nghệ, trình độ của lực lượng sản xuất và xã hội hóa laođộng đã rất cao, mối quan hệ và phụ thuộc của các nền kinh tế của các nước vớinhau rất chặt chẽ Bởi vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một quốc gia là
sự thống nhất của sự chuyển dịch các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong nước vớiviệc mở rộng sự tham gia vào quá trình phân công, hợp tác kinh tế quốc tế, xâydựng một cơ cấu kinh tế mở
Quá trình chuyển biến nền kinh tế với cơ cấu ở một trình độ thấp lên mộtnền kinh tế với cơ cấu ở trình độ cao hơn, hợp lý hơn phải tuân theo những vấn đề
có tính quy luật nhất định Song trong điều kiện mới của thế giới phải biết tận dụngcác điều kiện rút ngắn thời gian phát triển kinh tế bằng sự tranh thủ kỹ thuật hiệnđại, kết hợp tuần tự và nhảy vọt trong quá trình hình thành cơ cấu mới
Trong lịch sử hình thành và phát triển nền sản xuất của nhân loại, cơ cấukinh tế ra đời và phát triển trong quá trình phân công lao động xã hội Trong đóphân công giữa công nghiệp và nông nghiệp là nội dung cở bản của sự hình thành
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong một giai đoạn lịch sử lâu dài Có thể nói, quátrình phát triển, phân công lao động sản xuất hàng hóa dẫn tới sự hình thành cơ cấucông - nông nghiệp là vấn đề có tính quy luật của sự chuyển biến từ sản xuất nhỏlên sản xuất lớn Cơ cấu kinh tế lúc đầu của nhân loại chủ yếu là cơ cấu nông
Trang 13nghiệp còn công nghiệp (dưới hình thức thủ công nghiệp), kết hợp với nông nghiệpchủ yếu trong từng gia đình, người sản xuất vừa tiến hành sản xuất nông nghiệpvừa tiến hành chế tạo và sửa chữa các công cụ sản xuất nông nghiệp, vừa làm ranhững tư liệu tiêu dùng cần thiết cho bản thân và gia đình.
Cuộc phân công lao động lần thứ hai của loài người là thủ công nghiệp tách
ra khỏi nông nghiệp Sự tách ra này chỉ diễn ra trong phạm vi chức năng lao động,trong chuyên môn hóa lao động, còn về mặt kinh tế hai ngành này luôn luôn liên hệnhau và phụ thuộc lẫn nhau Chuyên môn hóa trong chức năng lao động càng sâuthì phạm vi phối hợp và liên kết giữa chúng càng rộng Lúc đó sự kết hợp giữa haingành này được thực hiện thông qua trao đổi sản phẩm mở rộng thị trường và quan
hệ hàng hóa - tiền tệ Trong lịch sử, trước chủ nghĩa Tư bản, quá trình tách ra đóchưa bao giờ diễn ra phổ biến, đều khắp bao trùm toàn xã hội Mặc dù dưới thờiphong kiến, quá trình xuất hiện các thành thị phong kiến - trung tâm của sản xuấtthủ công nghiệp và thương nghiệp gắn liền với sự tách rời lao động thủ côngnghiệp khỏi nông nghiệp trên quy mô đáng kể, nhưng cũng chưa thể phá vỡ đượctính tự nhiên, tự cấp, tự túc của nền kinh tế Chỉ đến chủ nghĩa Tư bản, mối quan hệgiữa công nghiệp và nông nghiệp mới thay đổi tận gốc Sự phát triển mạnh mẽ củacông nghiệp, biểu hiện tập trung ở sự ra đời đầu tiên của máy công tác, sau đó đếnđộng cơ hơi nước cải tiến, cuối cùng là hệ thống máy móc, công xưởng đã làm chohàng hóa tràn ngập thị trường Công nghiệp lớn loại trừ thủ công nghiệp cứ mở dần
ra hết mặt hàng này đến mặt hàng khác Thủ công nghiệp nông thôn trở nên tiêuđiều Kết quả là "phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hoàn thành việc cắt đứtmối liên hệ gia đình lúc ban đầu giữa nông nghiệp và công nghiệp", "nhưng đồngthời nó lại tạo ra những tiền đề vật chất cho một sự tổng hợp mới cao hơn, nghĩa làmột sự kết hợp giữa nông nghiệp và công nghiệp trên cơ sở những hình thức pháttriển đối lập lẫn nhau của chúng".(1) Từ đây lao động nông nghiệp và công nghiệpđựơc chuyên môn hóa, tách rời nhau về chức năng phổ biến trên phạm vi toàn xãhội, vừa đòi hỏi sự kết hợp vơi nhau, làm tiền đề cho nhau phát triển qua quan hệ
Trang 14thị trường Nhưng quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp dưới chủ nghĩa tư bảnkéo theo nhiều hậu quả kinh tế - xã hội to lớn trong nông thôn và nông dân, đó làviệc "đồng thời phá hoại các nguồn đẻ ra mọi của cải xã hội: đất đai và người laođộng"(1) Đó còn là tình trạng bị phụ thuộc nặng nề và tương đối lạc hậu của nôngnghiệp và nông thôn đối với công nghiệp và thành thị Như vậy, dưới chế độ tư bảnchủ nghĩa, do trình độ của lực lượng sản xuất và phân công lao động phát triển đãhình thành cơ cấu kinh tế công nông nghiệp hiện đại.
Ngày nay, do áp dụng cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại cơ cấukinh tế cũ của chủ nghĩa tư bản vỡi các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệpvốn được coi là nguồn gốc tạo ra sự giàu có cho xã hội, là cơ sở tồn tại và phát triểncủa tất cả các lĩnh vực, giờ đây đã chuyển dịch sang cơ cấu mới với ba bộ phâncông - nông nghiệp - dịch vụ hiện đại Nếu trong cơ cấu cũ, dịch vụ được coi là mộtlĩnh vực thuần túy có tính chất phục vụ và tiêu dùng của cải vật chất do các ngànhsản xuất của cải vật chất tạo ra thì trong cơ cấu mới nó được coi như bộ phận sảnnghiệp thứ ba đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và tạo ra mộtlượng lớn tổng thu nhập quốc dân
Tính chất tiến bộ, cách mạng của sự chuyển dịch cơ cấu các nghành kinh tếtrong chủ nghĩa tư bản hiện đại chủ yếu không phải sự tăng lên về số lượng các bộphận trong cấu thành cơ cấu mà là ở chất lượng mới trong mối quan hệ cũng nhưtác dụng tích cực của mỗi bộ phận đối với sự phát triển của nền kinh tế
Sự xuất hiện bộ phận dịch vụ là kết quả phát triển cao của công nghiệp vànông nghiệp về trình độ kỹ thuật và năng suất lao động, đồng thời nó cũng là do đòihỏi khách quan của sự phát triển chính hai ngành này Nếu dịch vụ không trở thànhmột bộ phận có vai trò thúc đẩy quah trọng thì bản thân các ngành công nghiệp vànông nghiệp cũng không thể tiếp tục phát triển Đến lượt nó, khi đã trở thành một
bộ phận cấu thành quan trọng của cơ cấu mới, dịch vụ có sự tác động hết sức tíchcực, thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế Bộ phận dịch vụ có lợi thế do rađời sau nên nhanh chóng tận dụng được những thành tựu khoa học, công nghệ mới,
Trang 15các phương tiện vật chất hiện đại, những phương pháp quản lý tiên tiến nên tốc độhiện đại hóa của nó nhanh hơn cả.Vì vậy nó trở thành nhân tố quan trọng nhất làmbiến đổi sâu sắc quan hệ giữa sản xuất với tiêu dùng, thúc đẩy nhu cầu mới và tạođiều kiện thuận lợi cho sản xuất Bộ phận dịch vụ bao gồm nhiều lĩnh vực hoạtđộng khác nhau như: thông tin, dịch vụ kinh doanh, y tế, tài chính, dịch vụ tưvấn… có vai trò ngày càng lớn đối với phát triển kinh tế và đời sống Chẳng hạnnhư thông tin đã trở thành tài sản và nguồn vốn quan trọng hàng đầu trong sự pháttriển của mỗi quốc gia, trở thành một nhân tố quyết định hiệu quả của sản xuất kinhdoanh, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xã hội hóa và quốc tế hóa đời sống kinh tế củanhân loại Cùng với thông tin, hoạt động tư vấn ra đời trên cơ sở phát triển kinh tế
và thông tin Đây là lĩnh vực hoạt động nhằm sử lý thông tin, chọn các phương ántối ưu và ra các quyết định xử lý các vấn đề của sản xuất và kinh doanh Trongquản lý và kinh doanh ngày nay không một Chính phủ, một tổ chức kinh tế lớn nào
có thể hoạt động có hiệu quả mà lại thiếu những nhà tư vấn tài giỏi
Tính chất tiến bộ, cách mạng của cơ cấu kinh tế mới còn thể hiện ở tínhnăng động và xu hướng tối ưu hóa của nó trong quá trình phát triển của nền kinh tếthị trường hiện đại Sự hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng tối ưu hóa căn cứ vàonhững điều kiện địa lý, tài nguyên, lao động, đặc điểm dân tộc và tận dụng tối đalợi thế của mỗi nước nhằm xây dựng một nền kinh tế mở Còn tính năng động thểhiện ở khả năng điều chỉnh, biến đổi theo yêu cầu của cách mạng khoa học - côngnghệ hiện đại, quá trình hợp tác và cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thế giới
Gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của cơ cấu kinh tế mới là sựbiến đổi sâu sắc trong cơ cấu lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển Nếuxét tổng số lao động xã hội ở các nước này thì gần nửa thế kỉ nay số lượng lao độnggần như không tăng lên, song cơ cấu lao động lại có sự thay đổi rất lớn: lao độngtrong nông nghiệp giảm mạnh (cẩ tuyệt đối và tương đối) Vào những năm 20 củathế kỷ, bẩy nước tư bản phát triển có số lao động nông nghiệp gần 70 triệu ngườithì nay chỉ còn khoảng 15 triệu ở nhiều nước lao động nông nghiệp chỉ chiếm từ
Trang 161,5% đến 3% dân số Lao động trong công nghiệp tăng khá nhanh do sự phát triểnmạnh của lĩnh vực này, đặc biệt lao động tăng nhanh hơn cả là khu vực dịch vụ Ơnhững nước tư bản phát triển nhất như: Mỹ, Nhật, Đức, lao động trong lĩnh vựcdịch vụ chiếm từ 50% đến 70% lao động xã hội và tạo ra từ 40 đến 45% tổng thunhập quốc dân Sự biến đổi của cơ cấu lao động theo xu hướng trên đây là điều hợpqui luật, năng suất lao động cao của ngành sản xuất vật chất tạo điều kiện cho sựchuyển dịch lao động Mặt khác, sự phát triển của bản thân nền kinh tế đã đạt đếntrình độ xã hội hóa sẽ đặt ra yêu cầu khách quan phải có sự chuyển dịch lao độngcho phù hợp Tính chất tiến bộ, hợp quy luật của sự biến đổi trong cơ cấu lao độngkhông chỉ thể hiện ở sự chuyển dịch số lượng và tỷ trọng lao động giữa các ngành
mà quan trọng hơn là ở sự thay đổi của chất lượng lao động Ngày nay, lao độngphức tạp, lao động trí tuệ đang trở thành mặt chủ đạo của quy trình lao động, ngàycàng trở thành nguồn gốc chủ yếu của sự giàu có của xã hội Ngoài ra, tính chấttiến bộ của những biến đổi trong cơ cấu lao động còn được thể hiện ở khuynhhướng tác động mang tính tổng hợp của các ngành khoa học ngày càng có vai tròquyết định đối với hiệu quả của lao động Sự phát triển chất lượng mới của laođộng mở ra những điều kiện khách quan để giải phóng người lao động ra khỏi sựtha hóa do quan hệ bóc lột, áp bức tư bản chủ nghĩa tạo nên Như vậy, quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhân loại đã phát triển từ thấp đến cao, gắn liền vớiquá trình phát triển phân công lao động và lực lượng sản xuất Ngày nay, sự chuyểndịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hóa vị trí của các ngành sẽ thay đổi Xéttổng thể, cơ cấu kinh tế của mỗi nước được cấu thành bởi ba loại ngành tổng hợp:công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Các ngành này có quan hệ rằng buộc vớinhau
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển trong quá trìnhcông nghiệp hóa, nói chung, diễn ra theo xu hướng sau: nông nghiệp trong giaiđoạn đầu giữ vị trí quan trọng, là hoạt động kinh tế cơ bản của dân cư, tạo ra nhữnghàng hóa tiêu dùng cần thiết cho nhân dân và bảo đảm một số điều kiện quan trọng
Trang 17cho sự phát triển công nghiệp Đến một trình độ phát triển nhất định khi những nhucầu cơ bản của dân cư về lương thực, thực phẩm đã được bảo đảm, nông nghiệp sẽchuyển vị trí xuống hàng thứ yếu tỷ trọng lao động nông nghiệp trong lao động xãhội và giá trị sản lượng nông nghiệp trong tổng giá trị sản lượng sẽ giảm dần; côngnghiệp trong nhận thức luôn được coi là ngành quan trọng, nhưng trong giai đoạnđầu của công nghiệp hóa, các nước đang phát triển có nền công nghiệp nhỏ bé sảnxuất hàng tiêu dùng đơn giản và khai thác các sản phẩm thô từ tài nguyên thiênnhiên Trong quá trình công nghiệp hóa, công nghiệp luôn được giành sự ưu tiênphát triển Tuy công nghiệp hóa không đồng nhất với phát triển công nghiệp, nhưngkhông thể tiến hành công nghiệp hóa nếu không phát triển mạnh công nghiệp Bởivậy, công nghiệp dần dần chiếm lĩnh vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế của đấtnước; các hoạt động dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống phát triển là điều kiện đểphát triển các ngành kinh tế và cải thiện đời sống của nhân dân Do đó lĩnh vựcdịch vụ, đặc biệt là hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế phải được phát triển thì mớiđẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấukinh tế của mỗi nước trong quá trình công nghiệp hóa sẽ chuyển dịch từ cơ cấunông - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ.
1.1.2.2 Bối cảnh thế giới và trong nước có liên quan đến việc xác định
cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta.
Nói chung, các nước trên thế giới cũng như các nước trên vùng Châu á Thái bình dương đều rất quan tâm đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế Song tínhquy luật đặc thù của sự dịch chuyển mỗi nước, mỗi thời kỳ khác nhau điều đó cónghĩa nó gắn với bối cảnh nhất định trong và ngoài nước
-Trong điều kiện ngày nay, cách mạng khoa học và công nghệ, mà nội dung
cơ bản là những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,công nghệ vật liệu mới tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, điều đó tạo cơmay công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ, làm cho những nước kém pháttriển có thể tiếp thu công nghệ mới, rút ngắn sự phát triển của mình
Trang 18Cùng với sự phát triển của kỹ thuật công nghệ, nền kinh tế thế giới bướcvào giai đoạn phân công lao động, hợp tác kinh tế trên phạm vi toàn thế giới;thường được gọi là quốc tế hóa kinh tế quốc tê Thực chất của phân công lao động
là chuyên môn hóa và hợp tác hóa phát triển cao dẫn tới tình trạng thế giới ngàycàng phụ thuộc lấn nhau về tài nguyên, vốn, kỹ thuật, thị trường… chính sự phụthuộc đó đã dẫn đến thực tế là: về kinh tế các nước phải hợp tác với nhau lại vừacạnh tranh nhau Đấu tranh và hợp tác là hai mặt của nền kinh tế thế giới ngày nay
Một đặc điểm của nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây là mức độtập trung ngày càng cao vào ba trung tâm kinh tế lớn của các nước tư bản là Mỹ -Tây âu - Nhật Bản và đấu tranh kinh tế nổi lên vị trí hàng đầu Có thể nói sự tậptrung kinh tế vào ba trung tâm lớn có tác động rất lớn và mang nhiều yếu tố bất lợiđối với những nước kinh tế kém phát triển Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, cácchuyên gia nghiên cứu kinh tế thường cho rằng, thế giới phụ thuộc vào ba mối quan
hệ lớn: quan hệ Đông - Tây chịu ảnh hưởng lớn của ý thức hệ và đối đầu quân sự,quan hệ Tây - Nam mang yếu tố cạnh tranh kinh tế và quan hệ Bắc - Nam thể hiệnchủ nghĩa thực dân kinh tế và cuộc đấu tranh của các nước kém phát triển đối lậptrật tự kinh tế thế giới mới Từ khi chiến tranh lạnh kết thúc quan hệ Đông - Tâygiảm mức độ căng thẳng thì quan hệ kinh tế đang nổi lên chiếm vị trí hàng đầu:cạnh tranh gay gắt của các trung tâm (quan hệ Tây - Tây) có tác động lớn đến tìnhhình liên kết và cạnh tranh trên thế giới, đồng thời cũng tạo ra những thời cơ nhấtđịnh để các nước kinh tế kém phát triển lợi dụng sự chuyển giao kỹ thuật, xuấtkhẩu tư bản tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế để tiến lên Bêncạnh đó quan hệ Bắc - Nam cũng ngày càng trở nên gay gắt hơn, các nước tư bảnphát triển đang tiến hành bóc lột các nước đang phát triển bằng nhiều hình thứcmới Các nước đang phát triển đang đấu tranh đòi lập trật tự thế giới mới Tuynhiên với các công cụ, vốn, kỹ thuật, với hàng ngàn công ty xuyên quốc gia, cácnước tư bản phát triển vẫn có nhiều lợi thế hơn trong cuộc đấu tranh này Conđường đúng đắn để các nước kém phát triển hạn chế, tiến tới xóa bỏ đựơc sự bóc
Trang 19lột tinh vi từ bên ngoài đối với mình, đồng thời vẫn tham gia hợp tác quốc tê, lợidụng được lợi thế so sánh là ý thức độc lập tự cường, có chiến lược phát triển khônngoan và đoàn kết quốc tế đòi độc lập trật tự kinh tế thế giới mới.
Về đặc điểm của quan hệ thị trường thế giới, do tác động của cách mạngcông nghệ, sự thay đổi của cơ cấu kinh tế đang dẫn đến sự thay đổi về giá cả sảnphẩm và cơ cấu đầu tư bất lợi cho những nước kinh tế kém phát triển
Sự thay đổi cơ cấu kinh tế thế giới, trước hết tác động đến cơ cấu nhu cầucác loại sản phẩm và dịch vụ các nhu cầu về nguyên vật liệu thô, các sản phẩm sơchế giảm tương đối, còn nhu cầu về kỹ thuật cao, công nghệ mới, dịch vụ chuyểnvốn tăng lên từ đó giá cả các sản phẩm nông nghiệp, khai khoáng sơ chế bị giảm rõrệt cả về tuyệt đối lẫn tương đối Giá so sánh hàng nông nghiệp và hàng côngnghiệp cũng ngày càng bất hợp lý Đó là biểu hiện của hai cách kéo ngày càng rộng
ra giữa giá cả sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp Nguyên nhân chủ yếu là do
sự thay đổi cơ cấu tạm thời giá trong một sản phẩm Một sản phẩm thường có hàmlượng khoa học, hàm lượng nguyên vật liệu và hàm lượng lao động Trong đó, xuhướng là hàm lượng khoa học đựơc tăng lên sự thay đổi đó còn có nguyên nhâncủa quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế quốc tế Tất cả các nước đều mở rộngnền kinh tế của mình, tham gia vào thị trường thế giới
Về đầu tư, trong giai đoạn trước đây, sự kết hợp vốn và công nghệ của cácnước phát triển và nguyên liệu, lao động, thị trường của các nước kém phát triển đãquy định dòng đầu tư chủ yếu từ nước giàu vào nước nghèo Nhưng trong giai đoạnhiện nay, khi nhu cầu lao động giảm đi rõ rệt, những yêu cầu cao về cơ sở hạ tầngvật chất, về cơ sở nghiên cứu, lao động kỹ thuật tăng lên thì zu hướng chính củadòng đầu tư tư bản là các nước phát triển đầu tư lẫn nhau Tất cả những chuyểnbiến về cơ cấu sản phẩm và dòng đầu tư trên đây bất lợi đối với các nước kinh tếkém phát triển Tuy nhiên cũng cần thấy rõ rằng, nhiều nước đang phát triển do cóchiến lược khoa học - công nghệ đúng đắn, biết sử dụng các loại công nghệ nhiều
Trang 20tầng, giải quyết đúng đắn quan hệ giữa nhập và nghiên cứu tại chỗ đã từng bướcđưa trình độ kinh tế và công nghệ của đất nước đi lên.
Nói đến kinh tế, thị trường thế giới ngày nay không thể không nói đến vị trívai trò kinh tế, kỹ thuật của các công ty xuyên quốc gia Các công ty này nắm trongtay tiềm lực kinh tế và công nghệ khổng lồ và đang thực hiện sự bóc lột lũng loạncủa các nứơc đang phát triển Do đặc điểm cạnh tranh trên thị trường, các công tyxuyên quốc gia đầu tư cho nghiên cứu triển khai rất lớn, thường là 2-4% tổng thunhập, có công ty đến 4% Do đó có tới 85% kỹ thuật mới, công nghệ hiện đại nằmtrong các công ty này Tình trạng trên đã nói lên một yêu cầu là: bước chân ra thịtrường thê giới chắc chắn sẽ phải giáp mặt với các công ty xuyên quốc gia, dùmuốn hay không Vấn đề là ở chỗ phải biết lợi dụng mâu thuẫn của các công ty, cónhững mỗi liên hệ phù hợp để tranh thủ vốn và kỹ thuật mà phát triển
Bên cạnh những yếu tố tác động trên các công ty xuyên quốc gia cũng làtác nhân kích thích mạnh mẽ quá trình phân công lao động quốc tế, đẩy nhanh quốc
tế hóa đời sống kinh tế quốc tê Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia thường làđầu tư trực tiếp, tập trung vào công nghiệp chế biến nên có tác dụng làm thay đổi
cơ cấu của nề kinh tế các nước nhận đầu tư, là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ởmột loạt nước Vì vậy Việt Nam có thể lợi dụng các công ty xuyên quốc gia trongviệc đầu tư trực tiếp đề xây dựng cơ cấu kinh tế mới
Quá trình đấu tranh và hợp tác trên thế giới đã dẫn đến việc hình thànhnhững liên kết khu vực, trong đó nổi lên sự phát triển hết sức năng động của khuvực châu Á - Thái Bình Dương Bên cạnh các liên kết khu vực Tây âu trong EEChay Bắc Mỹ, NAFTA khu vực châu Á Thái Bình Dương đang trở thành khu vựckinh tế phát triển năng động nhất, có tốc độ phát triển cao nhất và có mối quan hệnhiều tầng nấc, kết hợp với nhau Khu vực châu Á Thái Bình Dương đã hình thànhmột mô hình kinh tế nhiều tầng , chênh lệch nhau về trình độ kỹ thuật - công nghệ
và tiền lương công nhân và các tầng này đang tác động lên nhau Đầu tầu kinh tế làNhật Bản, với sức mạnh về vốn, kỹ thuật của mình, tiếp theo là các nước công
Trang 21nghiệp mới châu Á, tầng thứ ba là các nước công nghiệp hóa như: Trung Quốc,Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia… cuối cùng là các nước mới gia nhập vào thịtrường khu vực như: Lào Cămphuchia, Mianma Mô hình kinh tế này có tác dụng
bổ xung cho nhau, tạo ra lợi thế của mỗi nước để đưa kinh tế từng nước và kinh tếkhu vực phát triển Mỗi nước trong khu vực đang tích cực lợi dụng lợi thế so sánhcủa mình, tham gia tích cực vào phân công lao động khu vực để phát triển Đối vớinước ta đã trở thành một thành viên của các nước ASEAN, do đó có điều kiệnthuận lợi và thời cơ mới để tranh thủ vốn, kỹ thuật phục vụ cho chuyển dịch cơ cấukinh tế nhanh, có hiệu quả
Tình hình thế giới nói trên đòi hỏi chúng ta phải nhận thức rõ để nước takhông bị lạc hậu, mà cần phải biết lợi dụng những lợi thế của các nước di sau, đồngthời không để bị biến thành nơi tiếp nhận những công nghệ trình độ thấp, gây ônhiễm và bị lệ thuộc và nước xuất khẩu công nghệ
Nước ta hiện nay vẫn là nước nghèo và kém phát triển, tuy vậy những thànhtựu của công cuộc đổi mới đã tạo ra thế và lực để chúng ta bước vào một thời kỳphát triển mới, tiền đề cần thiết cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đượctạo ra Khả năng giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới đượcrộng mở, có môi trường hòa bình để xây dựng đất nước Đảng và Nhà nước có kinhnghiệm bước đầu, nhưng rất quan trọng trong xây dựng và phát triển kinh tế
Cũng cần nói thêm về truyền thống văn hóa là một trong những độc lựcphát triển Nước ta có truyền thống văn hóa lâu đời, truyền thống trọng tri thức,nhân văn, tính cộng đồng là những yếu tố quan trọng để tăng trưởng kinh tế Trongđiều kiện cách mạng công nghệ, nhân tố con người là nhân tố quyết định cho sựphát triển Hơn thế nữa, nền văn hóa phương Đông đang được coi là ưu thế cho sựphát triển đó Việc duy trì phát triển truyền thống văn hóa dân tộc đồng thời chốngmọi hủ tục lạc hậu, tiếp thu tinh hoa văn hóa của các nước khác vừa là động lựcvừa là mục tiêu phát triển của chúng ta
Trang 22Với nhận thức đúng đắn và lợi thế so sánh của đất nước trong quan hệ vớithị trường thế giới là điều kiện để xác định và thực hiện quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế của nước ta.
1.1.2.3 Những quá trình có tính quy luật trong chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ở nước ta.
Xét về bước đi, mỗi nước có những cách khác nhau, tùy thuộc vào điềukiện của từng nước, với nước ta tính quy luật của sự hình thành cơ cấu kinh tế mớiđược thể hiện ra ở các quá trình:
Một là, phát triển nền nông nghiệp hàng hóa toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩacủa nước ta sự phát triển cân đối của nền kinh tế nói chung và của công nghiệp,nông nghiệp, dịch vụ nói riêng không phải ngay từ đầu đã có Sự phát triển cân đối
đó là kết quả của một quá trình vừa cải tạo cơ cấu cũ, vừa xây dựng cơ cấu mới.Trong sự chuyển biến từ cơ cấu cũ sang cơ cấu mới, không thể đầu tư dàn đều trêntất cả các khâu như nhau, mà phải xác định hướng đầu tư trọng điểm, sao cho từkhâu đó có thể chuyển nền kinh tế sang quỹ đạo mới, với cơ cấu mới Trong đườnglối do đại hội V của Đảng đề ra, khâu trung tâm đó đã đựơc xác định rõ ràng vàđúng đắn: "Cần phải tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, đưa nông nghiệpmột bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, trong một cơ cấu kết hợp chặt chẽđúng đắn nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng"(64).Nhưng trong những năm trước đây, trước khi có chính sách đổi mới, đặc biệt lànhững năm 1976-1980, chúng ta đánh giá không đúng vai trò và vị trí của nôngnghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân nước ta, từ đó dẫn đến sai lầm trong chínhsách đầu tư, nhất là đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển lực lượngsản xuất trong nông nghiệp Trong khi nền nông nghiệp còn lạc hậu, sản xuất nhỏ,nhưng đã đóng góp cho xã hội 52% trong tổng thu nhập quốc dân sản xuất (1982)
và bình quân thời kỳ 1976-1980 là 46% (47) thì vốn đầu tư cho nông nghiệp luôn
Trang 23luôn thấp hơn so với công nghiệp (68,69) Khối lượng đầu tư của nhà nước và nôngnghiệp còn ít là một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình hình lạc hậu củanông nghiệp, của sự tiếp tục tách rời giữa nông nghiệp và công nghiệp, của sự mấtcân đối ngày càng gay gắt trong nền kinh tế quốc dân Bởi vì, nền công nghiệpnặng của nước ta còn rất yếu ớt so với yêu cầu tái sản xuất mở rộng, đại bộ phậnvật tư, kỹ thuật thiết yếu nhất (thiết bị toàn bộ, sắt, thép, xăng, dầu, hóa chất,phương tiện vận tải…) phải nhập từ nước ngoài Để cho nền công nghiệp nặngnước ta có thể tự cung cấp được phần lớn những tư liệu sản xuất đó, còn cần mộtthời gian khá dài và đó cũng là mục tiêu của sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Khi quy mô kinh tế lớn dần lên Trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa, khi nguồn vốn còn rất hạn chế, tới mức mà như thực tiến củachúng ta đã chỉ rõ, chỉ xây dựng đồng thời một vài công trình lớn cũng đã tạo ra sựcăng thẳng về nhiều mặt trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước, thì vấn đề tựbảo đảm cho mình phần lớn những tư liệu sản xuất quan trọng phải dựa vào hợp tácvới bên ngoài, thông qua trao đổi những sản phẩm mà chúng ta hiện có khả năngsản xuất ra Những sản phẩm đó là nông sản, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹnghệ, sản phẩm của công nghiệp khai thác Hiện nay, do thành tựu quan trọng đạtđược trong những năm đổi mới kinh tế đã và đang tạo ra những tiền đề đưa đấtnước chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm cótầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới không mâu thuẫn với chủ trương đẩymạnh phát triển nông nghiệp Phát triển nông nghiệp là một trong những nội dung
có vai trò quyết định trong việc ổn định tình hình kinh tế xã hội, tạo cơ sở cho sựphát triển công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, ngày nay nông nghiệp cần hiểu theonghĩa rộng, không phải thuần nông, càng không phải nông nghiệp lạc hậu Nước ta
từ nay đến năm 2000 phải từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp vàkinh tế nông thôn Do đó cần giải quyết nhiều vấn đề, trước hết từng bước thựchiện cơ khí hóa, điện khí hóa, tự động hóa, hóa học hóa các ngành sản xuất nông,
Trang 24lâm, ngư nghiệp và các công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Đẩy mạnh cơgiới hóa khâu làm đất, sử dụng máy kéo nhỏ ở nơi ít ruộng đất, máy kéo lớn ởnhững nơi có nhiều ruộng đất Cơ giới hóa các phương tiện vận tải đáp ứng các nhucầu vận chuyển hàng hóa và hành khách ở các vùng nông thôn Tăng nguồn phânbón trên cơ sở tận dụng phân hữu cơ kết hợp sử dụng phân hóa học và phân vi sinh,
sử dụng các biện pháp hóa chất phòng trừ sâu bệnh từng loại cây trồng để đượcnăng suất, chất lượng và hiệu quả cao nhất Phát triển công nghiệp chế biến nông,lâm, thủy sản trên cơ sở sử dụng rộng rãi các máy móc, thiết bị nhỏ, lẻ ở các thônxóm với việc xây dựng nhà máy chế biến quy mô lớn, công nghệ hiện đại ở nhữngvùng nguyên liệu tập trung Nông nghiệp hàng hóa chỉ có thể phát triển với sự tácđộng mạnh mẽ của công nghiệp, bản thân nông nghiệp không thể tự đi lên nếukhông có sự tác động trực tiếp của một nền công nghiệp và dịch vụ Công nghiệpchế biến và các loại dịch vụ trên địa bàn nông thôn được tổ chức tốt sẽ tạo điềukiện cho trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy, hải sản phát triển mạnh, phá vỡ trạngthái khép kín, trì trệ, lạc hậu vốn có của nền nông nghiệp nhỏ tăng nhanh sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân, tích lũy đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa đất nướcđây là giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo trong nông thôn nước ta, đặc biệt ở vùngnúi, vùng cao, vùng sâu
Đồng thời với quá trình cơ khí hóa, điện khí hóa, phải chuyển dịch cơ cấukinh tế trong nông nghiệp từ độc canh chuyển sang một nền nông nghiệp đa canh,phát triển sản xuất hàng hóa với ngành nghề đa dạng trong cả nước và đặc biệt làhai vùng nông nghiệp lớn Phải dựa vào từng vùng để từng bước xây dựng cơ cấukinh tế vừa đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trên phương diện kinh
tế vĩ mô, quá trình đó diễn ra từ nông nghiệp, do điều kiện khác nhau, cho nên cácvùng diễn ra không giống nhau ở vùng kinh tế phát triển, quá trình đó diễn ra theotrình tự chung, còn ở vùng kinh tế kém phát triển, quá trình đó bắt đầu từ việc pháthế độc canh lúa chuyển sang đa canh lúa, mầu, phát triển chăn nuôi và bước tiếptheo là phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Trang 25Đối với nước ta, trong thời gian trước mắt tiếp tục phát triển sản xuất lươngthực, chủ yếu là lúa nước, chú trọng thâm canh để càng có nhiều hàng hóa lươngthực cho xã hội, đảm bảo chương trình an toàn lương thực cho quốc gia Chính vìvậy, phát triển và hiện đại hóa hệ thống thủy lợi, giải quyết tốt nhu cầu tưới tiêukhoa học cho nông nghiệp là hướng đi đúng đắn cho công nghiệp hóa nông nghiệp.
Hiện nay các công trình thủy nông đang xuống cấp, ảnh hưởng lớn đếnthâm canh tăng vụ Nguyên nhân chính là do vẫn áp dụng cơ chế bao cấp vốn đầu
tư nên không có cốn duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp công trình, do đó cần có giảipháp để thu hồi vốn đầu tư của các công trình thủy nông, đồng thời có biện pháphuy động các nguồn vốn Nhà nước, địa phương và của nhân dân cùng hoàn chỉnh
hệ thống thủy lợi nhằm bảo đảm tưới tiêu chủ động, có hiệu quả hơn Coi trọng đưatiến bộ khoa học, công nghệ sinh học vào nông nghiệp áp dụng rộng rãi cộng nghệ
và các biện pháp sinh học trong các khâu chính của quá trình sản xuất nông nghiệp,lâm nghiệp, ngư nghiệp Đặc biệt chú trọng công nghẹ sinh học trong giai đoạn sauthu hoăch nhằm bảo quản, nâng cao giá trị nông sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu.Xây dựng sớm cơ sở hạ tầng điện, nước và giao thông cho nông thôn Đây là cơ sởvật chất - kỹ thuật nền tảng cho mọi hoạt động sản xuất và tổ chức đời sống Trong
đó giao thông cần được xây dựng trước một bước, bởi vì giao thông đóng vai trò
mở đường đưa nông thôn gắn liền với thành thị đưa các vùng kinh doanh nôngnghiệp tự cấp, tự túc hòa nhập với hoạt động kinh tế của cả nước là mạch máu lưuthông hàng hóa, mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ buôn bán đến các vùng vốn
xa xôi nhưng lại có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển các loại nông sảnhàng hóa có giá trị kinh tế cao Trong vốn đầu tư dành cho nông thôn, Nhà nướcnên ưu tiên chủ yếu dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng, trước hết là cho giao thông.Việc đầu tư không giàn đều, chắp vá và chất lượng thấp, nên đầu tư đến mức cầnthiết với tiêu chuẩn cần có cả về quy mô và kỹ thuật để phát triển hàng hóa tậptrung của vùng Vì vốn có hạn, nên cần sắp sếp thứ tự vùng để ưu tiên đầu tư vào
Trang 26vùng nào có thể chuyển sang sản xuất hàng hóa sớm và thu hồi vốn nhanh thì được
ưu tiên đầu tư xây dựng trước
Hai là, phát triển mạnh công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Công nghiệp hàng tiêu dùng phát triển sẽ đáp ứng trực tiếp nhu cầu đa dạng, phongphú và ngày càng tăng của nhân dân Phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng sẽ thúcđẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, nhất là nông, lâm, ngư nghiệp, thôngqua chế biến, gia công của công nghiệp hàng tiêu dùng làm cho những sản phẩmtrung gian của các ngành cũng trở thành sản phẩm hàng hóa, thu nhập của dân cưtăng lên, làm sức mua của nhân dân trên thị trường sản phẩm tiêu dùng được mởrộng Công nghiệp hàng tiêu dùng phát triển sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng xuấtkhẩu để thay thế nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, để đổi mới công nghệ mua sắm máymóc tiên tiến và nguyên vật liệu phải nhập ngoại Công nghiệp tiêu dùng phát triển
sẽ góp phần tích lũy vốn đầu tư vào sản xuất, nâng cao tỷ trọng đầu tư trong GDPtheo dự kiến là 25 - 30% (67) Đặc biệt với những ngành có lợi nhuận cao như: bia,rượu , chất dẻo… nếu có chính sách đúng, các ngành này sẽ tạo ra tích lũy đáng kểcho nền kinh tế
Qua phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng dẫn đến mạng lưới gia công, chếbiến cho nó từ thành thị đến nông thôn góp phần lớn vào việc chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Số lao động sẽ chuyển dịch
từ nông nghiệp sang công nghiệp có thể tiến hành ngay tại chỗ chứ không phải thuhút vào thị thành Trong những năm tới cần phát triển mạnh công nghiệp sản xuấthàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu như: hàng dệt, da, may mặc, đồ điện dân dụng,phương tiện đi lại, thuốc chữa bệnh, dụng cụ học tập, đồ dùng văn phòng, hàng thủcông mỹ nghệ… để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân vàtăng nhanh hàng xuất khẩu Để đảm bảo cạnh tranh trên thị trường trong nước vàquốc tế, các đơn vị sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu cần phải có sự đổi mớikhoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng đa dạng hóa mặt hàng cải tiến bao bì vàgiảm giá thành
Trang 27Ba là, phát triển đồng bộ giữa các ngành khai thác với các ngành chế biến.
Hình thành một cơ cấu kinh tế đồng bộ, hoàn chỉnh là một quá trình lâu dài,trong đó có sự thay đổi trong quan hệ tỷ lệ giữa các ngành thuộc lĩnh vực khácnhau, tùy theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thông thường các ngànhtuần tự được phát triển: trước tiên, lĩnh vực các ngành khai thác chiếm tỷ trọng lớntrong cơ cấu kinh tế (nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp khai khoáng), sau nàyđến lượt lĩnh vực các ngành chế biến chủ yếu là công nghiệp chế biến và cuối cùng
ở trình độ năng suất lao động cao của một nền kinh tế phát triển, lĩnh vực sản xuấtphi vật chất được mở mang rộng rãi Có một tính quy luật khách quan trong trình tựphát triển lực lượng sản xuất: trước khi có thể chế ngự thiên nhiên ở mức cao hơnnhờ kỹ thuật của các ngành chế biến đã phát triển, phải phát triển các ngành khaithác để tạo nên cái vốn ban đầu cần thiết cho việc xây dựng những ngành chế biến
đó Việc "đi trước một bước" của các ngành khai thác so với các ngành chế biếncòn là biểu hiện của một yêu cầu cân đối khác nữa: đó là quan hệ giữa cơ sở nănglượng - nguyên liệu với năng lực chế biến trong nền kinh tế Đặc biệt, trong giaiđoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quan hệ này đóng vai tròquyết định trong việc làm sản sinh mau chóng nền sản xuất lớn C.Mác đã nhận xét:
"Nhờ sự phân công kiểu công trường thủ công và việc dùng máy móc trong cùngmột khoảng thời gian, người ta chế biến được nhiều nguyên liệu hơn, do đó thamgia vào quá trình lao động có một khối lượng nguyên vật liệu và vật liệu phụ lớnhơn"(1) và "… một khi những điều kiện sản xuất chung thích ứng với nền đại côngnghiệp, đã được tạo ra thì phương thức sản xuất ấy có được một sức đàn hồi và cókhả năng mở rộng một cách đột ngột và nhảy vọt, khả năng này chỉ bị giới hạn bởinguyên liệu và thì trường tiêu thụ mà thôi"(1)
Nền kinh tế nước ta, nhờ cách mạng khoa học công nghệ và quá trình hộinhập vào nền kinh tế thế giới, ngay từ chặng đầu tiên của bước chuyển biến từ sảnxuất nhỏ lên sản xuất lớn đã có khả năng hiện thực để mở rộng năng lực công
Trang 28nghiệp chế biến Song một điều kiện tiên quyết để mở rộng như vậy - theo Mác,chính là phải có một: "khối lượng nguyên vật liệu và vật liệu phụ lớn hơn" Trênthực tế, chính khối lượng nguyên vật liệu và vật liệu phụ lớn hơn này trong nhữngnăm trước khi có công cuộc đổi mới kinh tế đất nước chưa tạo ra với nhịp độ giatăng bằng nhịp độ phát triển của bản thân công nghiệp chế biến Một phần lớnnguyên vật liệu, trong đó có cả những loại có thể sản xuất trong nước hoặc thay thếbằng sản phẩm trong nước - đã được cung cấp từ bên ngoài và do đó khi cơ sở nuôidưỡng công nghiệp chế biến bị co hẹp lại, thì nhiều ngành sản xuất cũng teo đi.Giải pháp cho vấn đề này, cũng là phương thức xác định trọng điểm ưu tiên đầu tưtrong từng chu trình sản xuất đã rõ ràng về mặt lý luận C.Mác nói về giải pháp đónhư sau: "Nếu máy móc chiếm lĩnh được những giai đoạn chuẩn bị hoặc giai đoạntrung gian mà một đối tượng lao động phải trải qua trước khi đạt đến hình thức cuốicùng của nó, thì lượng cần về lao động sẽ tăng lên cùng với vật liệu lao động trongnhững ngành nào còn sản xuất theo lối thủ công hoặc công trường thủ công, nhưnglại sử dụng những sản phẩm của máy móc"(1).
Điều đó có nghĩa là trước tiên phải xây dựng được nền sản xuất lớn ở cácngành khai thác, sản xuất nguyên vật liệu sao cho chúng tạo được đầy đủ tiền đề vềđối tượng lao động cho bước phát triển nhanh chóng của công nghiệp chế biến.Trong quá trình xác lập sự cân đối giữa các ngành khai thác và chế biến cần đặcbiệt chú ý tới sự phát triển cân đối của công - nông nghiệp của đất nước Mối quan
hệ giữa nông nghiệp với các ngành công nghiệp có liên quan đến nó (sản xuất tưliệu sản xuất cho nông nghiệp và chế biến nông sản), là mối quan hệ liên ngành cótính chất công nghệ, đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành cơ cấungành của nền kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là ởgiai đoạn đầu, với tư cách là một ngành khai thác, nông nghiệp cung cấp nguyênvật liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến, trước hết là cho công nghiệp chếbiến lương thực - thực phẩm Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, nông nghiệp đãphát triển khá, vì vậy phải có sự tác động mạnh mẽ của công nghiệp để thúc đẩy sự
Trang 29chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Bởi vậy, song song với việc đẩy mạnh sản xuất cho xuất khẩu nhằm nhập khẩuđược nhiều hơn những tư liệu sản xuất phục vụ nông nghiệp, cần xây dựng có chọnlọc một số cơ sở công nghiệp nặng trong những ngành trọng yếu mà nhu cầu đòihỏi bức bách và có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường để phát huy tác dụngnhanh và có hiệu quả cao Trong những năm trước mắt cần tranh thủ thời co huyđộng vốn trong nước và nước ngoài để xây dựng một số công trình trọng điểm cónhu cầu cấp bách và có hiệu quả như: nhà máy lọc dầu, nhà máy thép, nhà máy ximăng, phân bón, hóa chất, một số lĩnh vực công nghiệp quốc phòng đây là nhữngcông trình đòi hỏi vốn đầu tư lớn, song tạo điều kiện rất quan trọng cho sự pháttriển của toàn bộ nền kinh tế kể cả nông nghiệp, công nghiệp nhẹ.
Đối với công nghiệp khai thác, trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệphóa, một mặt cần tiếp tục khai thác trên quy mô lớn một số khoáng sản như: (dầu,
mỏ, than…), mặt khác cần khởi công khai thác một số khoáng sản mới với quy môphù hợp (như sắt, khí đốt, đất hiếm) trong đó những ngành này từ đầu thời kỳ côngnghiệp hóa phải đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế như: dầu mỏ, khí đốt, than,những ngành này nhất thiết phải đi từ khai thác nguyên liệu đến chế biến tinh, chođến sản phẩm cuối cùng Đối với những tài nguyên khác (như sắt, bô xít) trong khichưa có điều kiện cần thiết để chế biến tinh, có thể khai thác nguyên liệu bằng chếbiến khô để xuất khẩu, đó là cách làm "lấy ngắn nuôi dài", "đi từ thấp đến cao", "từthô đến tinh", phù hợp với khả năng thực tế Trong lĩnh vực này do thiếu vốn và kỹthuật nên nước ta rất cần sự tham gia đầu tư khai thác của các công ty nước ngòaidưới mọi hình thức Có quan điểm cho rằng, những tài nguyên quý hiếm này chủyếu do Việt Nam khai thác và chế biến thì có hiệu quả hơn, nếu hiện nay chưa làmđược thì đợi cho đến khi có điều kiện Xem xét từ góc độ nào, những quan điểmtrên đều không hợp lý Yừu tố thời gian cũng là sức mạnh kinh tế, cần phải tranhthủ mọi khả năng, mọi trình độ kỹ thuật để khai thác các tài nguyên, khoáng sản
Trang 30chiến lược nhằm tạo ra nguồn vốn ban đầu để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bốn là, phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế dịch vụ ở thành thị và nông thôn.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa đòi hỏi các ngành kinh tế phải phát triển cân đối, nhịp nhàng Nhưng trong thực
tế, nhiều khi sự ngăn cản tăng trưởng kinh tế lại không phải là ở sự mất cân đốigiữa hai ngành công nghiệp và nông nghiệp, mà là sự lạc hậu của cơ sở hạ tầngkinh tế như: giao thông vận tại, kho tàng, cung cấp điện nước… hay sự rối ren yếukém của các lĩnh vực lưu thông, phân phối so với yêu cầu hiện đại của sản xuất
Vì vậy, song song với việc phát triển cân đối giữa công nghiệp và nôngnghiệp, không thể không lưu tâm đến tính đồng bộ của nền kinh tế xét trên góc độngành Do đó quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa không những đòi hỏi phát triển công nghiệp, nông nghiệp mà còn phảiphát triển cơ sở hạ tầng và mở mang dịch vụ Bởi vì, cơ sở hạ tầng và kinh tế dịch
vụ là điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân
Theo quan niệm phổ biến hiện nay, "những điều kiện chung của quá trìnhsản xuất xã hội" mà C.Mác nói tới, đựơc hiểu ở nghĩa rộng là cơ cấu hạ tầng củasản xuất vật chất, tuy bản thân không tạo nên những hình thức mới của tổng sảnphẩm xã hội, nhưng làm gia tăng giá trị của các sản phẩm mà trước đó đã được cácngành khác tạo ra và đồng thời bảo đảm tính liên tục của tái sản xuất xã hội Đó lànhững ngành như: giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, cung cấp vật tư - kỹthuật, cung ứng năng lượng, cấp nước, kho tàng …
Cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội, những mối quan hệkinh tế ngày càng trở nên phong phú, phức tạp và chặt chẽ hơn Chúng chỉ có thểthực hiện được nhờ những phương tiện vật chất của một cơ cấu hạ tầng khôngngừng được củng cố Đặc biệt, trong thời kỳ chuẩn bị cho công nghiệp hóa, hiệnđại hóa toàn diện và mạnh mẽ, tức là chuẩn bị cho sự phát triển "đột ngột nhảy vọt"
Trang 31của công nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung, thì xây dựng cơ sở hạtầng là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, không phải ngẫu nhiên mà các nước trênthế giới, đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng sản xuất thường đi trước đầu tư để trựctiếp phát triển công nghiệp Đối với nước ta tình trạng yếu kém của kết cấu hạ tầngđòi hỏi phải tập trung sức giải quyết để cải thiện sớm thì mới tạo điều kiện cho mởrộng đầu tư phát triển, nhất là thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài Sự yếu kém và lạchậu của kết cấu hạ tầng nước ta đang thực sự tạo ra ách tắc, cản trở sự phát triển cả
về kinh tế và xã hội Trước mắt, do nhu cầu rất lơn mà vốn lại có hạn nên khắcphục tình trạng xuống cấp, khôi phục, nâng cấp và mở thêm các tuyến giao thôngquan trọng trên các vùng, giải tỏa ách tắc ở các thành phố, mở đường đến các vùngsâu, vùng xa, cải tạo, cung cấp một số cảng biển, sân bay lớn, xây dựng một sốcảng biển nước sâu Tiếp tục hiện đại hóa mạng lưới thông tin bưu điện và mở rộngthông tin liên lạc điện thoại đến các xã Cung cấp điện cho các thành phố, khu côngnghiệp và từng bước điện khí hóa nông thôn
Kinh tế dịch vụ phải trở thành một khu vực lớn chiếm tỷ trọng ngày càngtăng trong nền kinh tế quốc dân, mở mang kinh tế dịch vụ ở cả thành thị và nôngthôn, tăng tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động Trong nền kinh tế thịtrường, dịch vụ là một khu vực lớn, có khả năng tạo ra nhiều và tăng nhanh nguồnGDP, trong đó có một phần quan trọng là ngọai tệ, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt củasản xuất công - nông nghiệp, đời sống nhân dân và các hoạt động khác trong xãhội Đặc biệt là các ngành du lịch, ngân hàng, tư vấn, bảo hiểm, dịch vụ kỹ thuật…
là những loại dịch vụ sẽ có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, tạo ra cơ cấu kinh tế mới có hiệu quả cao
Phát triển thương nghiệp nhiều thành phần, trong đó thương nghiệp quốcdoanh cần phải củng cố và nắm giữ phần quan trọng trong kinh doanh những mặthàng thiết yếu và những khâu then chốt Chuyển các xí nghiệp quốc doanh làm ănkém hiệu quả sang hình thức cổ phần hoặc sở hữu tư nhân Đối với thương nghiệpdịch vụ tư nhân, nên tạo điều kiện cho nó phát triển nhanh, ngành nghề đa dạng và
Trang 32có vai trò ngày càng lớn trong lĩnh vực này Phát triển nhanh các dịch vụ ngânhàng, vận tải, khoa học và chuyển giao công nghệ, thông tin kinh tế, đầu tư, pháp
lý, xuất khẩu lao động và chuyên gia… ngoài ra, phát triển mạnh du lịch, mở manghợp tác với nước ngoài để hình thành công nghiệp du lịch có quy mô ngày cànglớn, xứng đáng với tiềm năng du lịch của nước ta
1.2 Thực trạng - xu hướng và một số giải pháp chủ yếu trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Để đất nước phát triển một cách năng động, cần có chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội đúng đắn, nhằm khơi dậy các tiềm năng, đặc biệt là sức bật nội tạicủa nền kinh tế Nội dung của chiến lược đó bao gồm: phát triển kinh tế hàng hóanhiều thành phần; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mở cửa với thế giới bênngoài; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Trong chiến lược đó vấn đề chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có một ý nghĩa cực kỳ quantrọng Vì vậy, đánh giá đúng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian qua, làm
rõ những mặt được và chưa được để tìm con đường tốt nhất, đẩy mạnh công cuộcđổi mới là điều cần thiết
Trong phần này, chúng tôi giới hạn phạm vi quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế từ khi cả nước thống nhất cho đến nay, từ đó tìm ra xu hướng phát triển vàđưa ra một số giải pháp chủ yếu trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp, hiện đại hóa ở nước ta, nhằm góp phần xây dựng đất nước pháttriển, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
1.2.1 Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1976 đến nay.
Sau năm 1975, tình hình trong nước và ngoài nước có những thay đổi lớn.Đất nước thống nhất, sự hợp nhất hai miền Nam Bắc dưạ trên hai cơ sở kinh tế màtrước đây hoàn toàn khác nhau về nguyên tắc, mục tiêu và cấu trúc đòi hỏi phải cómột chiến lược công nghiệp hóa mới thích hợp hơn Nhưng trong thực tế chúng tavẫn giữ nguyên đường lối cũ, tiếp tục công nghiệp hóa trên phạm vi toàn quốc Vấn
Trang 33đề then chốt phản ánh mức tập trung cố gắng đó là những ưu tiên về nguồn vốn đầu
tư chủ yếu do Nhà nước chi phối đã dồn vào khu vực công nghiệp, trước hết làcông nghiệp nặng Trong thời kỳ từ 1976 -1985 vốn đầu tư của Nhà nước cho nềnkinh tế có xu hướng tăng, đồng thời về tỷ trọng đầu tư cho công nghiệp luôn caohơn nông nghiệp, nếu gộp cả lâm nghiệp vào nông nghiệp và giao thông vận tải vàocông nghiệp thì chỉ số đó là 2,5 đến 3 lần Giai đoạn 1976 - 1980 tốc độ đầu tư chocông nghiệp nhanh hơn nhiều so với nông nghiệp, nhưng sang giai đoạn 1981 -
1985 tình hình đã xoay ngược lại, mặc dù về số lượng tuyệt đối (biểu hiện qua tỷ lệ
% về cơ cấu), công nghiệp vẫn lớn hơn nông nghiệp 1,5 lần Hơn nữa, trong suốtthời kỳ 1976 - 1985, trong tổng số vốn đầu tư cho công nghiệp, công nghiệp nặngchiếm hơn 70%, còn lại dưới 30% là công nghiệp nhẹ (68,69) Chính vì vậy, nênkết quả tăng trưởng kinh tế của thời kỳ này rất thấp Thời kỳ 1976-1980: tổng sảnphẩm xã hội chỉ tăng bình quân 1,4%; thu nhập quốc dân tăng 0,4%, trong khi đó
số dân tăng 2,24% một năm; sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm chỉ tăng0,6%, trong đó công nghiệp quốc doanh giảm 2,6%; sản xuất nông nghiệp bìnhquân tăng 1,9% một năm (70) Thêm vào đó, hiệu quả sử dụng đồng vốn quá thấp
và các chỉ tiêu bình quân đầu người tụt xuống Về hiệu quả vốn đầu tư, hiệu quảcủa một đồng tài sản cố định thời kỳ 1976-1980 đã giảm bình quân 15,3%/năm,năng suất lao động giảm 1,7%/năm, mức tiêu hao vật chất trên mỗi đồng tổng sảnphẩm xã hội và thu nhập quốc dân tăng 1,2% và 2,3%/năm Giai đoạn 1980-1985tình hình có khá hơn, mức giảm hàng năm của hiệu quả một đồng tài sản cố địnhchỉ còn là 4,1% (tức là tăng lên hơn 3 lần) nhưng vẫn còn âm, và năng suất laođộng đã tăng lên 3,3%/năm Trong thời kỳ này mặc dù tỷ trọng thu nhập quốc dânsản xuất trong nước trong tổng quỹ tiêu dùng tăng lên nhưng vẫn chưa đủ ăn, chonên toàn bộ vốn đầu tư do nước ngoài viện trợ dưới các hình thức khác nhau vàmột phần trang trải cho tiêu dùng vẫn phải dựa vào bên ngoài Tỷ trọng giữa thunhập quốc dân sản xuất trong nước với quỹ tiêu dùng năm 1976 là 92,6%, năm
1980 là 96,2% còn năm 1985 là 98% (71) Rõ ràng số còn lại chờ vào ngoại viện và
Trang 34toàn bộ vốn đầu tư cũng không thể dựa vào viện trợ và vay nợ nước ngoài dưới mọihình thức Theo quy luật thông thường, để có thể sử dụng được vốn viện trợ, nguồnvốn trong nước phải đảm bảo ở một mức cần thiết nào đó, và người ta tính rằng ítnhất cũng phải bảo đảm 1:1, vì vậy trong điều kiện không có tích lũy Nhà nước đãtiến hành in thêm tiền để đầu tư thông qua kênh tín dụng ngân hàng Do mở rộngquy mô xây dựng công nghiệp một cách tràn lan, tình trạng căng thẳng về vốn hiếtsức nghiêm trọng và thiếu hụt trong ngân sách nhà nước ngày càng lớn, không saohàn gắn được Tổng mức thâm hụt ngân sách thời kỳ 1976 - 1980 là 1.279 triệuđồng, thời kỳ 1981-1985 lên đến 823.000 triệu (hơn 63 lần) Bội chi ngân sách
1979 so với năm 1976 tăng hơn 2 lần và bội chi tiền mặt 1980/1976 gấp hơn 10lần Thời kỳ 1981-1985 mức bội chi qua các năm giao động từ 25,6% đến 45,3%.Vậy là, nguồn vốn đầu tư của công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, cơ bảndựa trên sự vay nợ và viện trợ từ bên ngoài với in thêm tiền ở bên trong Vì cả haigiải pháp này chứa đựng trong nó những nguy cơ gây ra rối loạn và tình trạng bùng
nổ khủng hoảng xét về lâu dài, nên nó luôn bị những lực cản nhằm giới hạn lại ởmột quy mô nào đó Điều này có nghĩa là không thể tiếp tục tăng quy mô đầu tưcông nghiệp bằng con đường này một cách vô hạn độ mà không phải trả giá Vấn
đề tiếp theo là với nguồn đầu tư hạn hẹp và chứa đựng mâu thuẫn gay gắt ấy lạiđược sử dụng không đúng cho nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái Trước hếtnói về cơ cấu đầu tư, do phát triển công nghiệp nặng ở thời kỳ này hầu như đượcxây dựng từ đầu, nên phần vốn đầu tư cho xây lắp luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất.Thời gian từ 1981 - 1985 còn cho thấy tình hình dường như nghịc lý là, nhà nước
có chủ trương điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư do sức ép của suy thoái kinh tế, nhưngtrên thực tế, vốn đầu tư cho xây lắp vẫn chiếm tỷ trọng không những cao nhất màcòn lớn hơn cả thời kỳ trước, tốc độ gia tăng vốn đầu tư cho xây lắp cao hơn đầu tưvào thiết bị tới 1,5 lần (73) Lời giải thích của mâu thuẫn này nằm ở chính ngay bốtrí cơ cấu ngành Do đặc điểm của công nghiệp nặng cần nhiều vốn, thời gian divào hoạt động dài, công nghệ - kỹ thuật phức tạp…, nên một khi đã khởi công thì
Trang 35nó tiếp tục thu hút vào nó những nguồn nhân tài, vật lực lớn trong một thời giandài Cho nên những chi phí đầu tư còn lớn hơn cho xây lắp của giai đoạn 1981-
1985 phần lớn do những công trình dang dở của giai đoạn 1976 - 1980 trượt sang.Chính sự "chôn vốn" vào những cơ sở công nghiệp nặng quy mô lớn nhưng chưa rangay sản phẩm trong điều kiện căng thẳng từ trước làm cho nền kinh tế mất cânđối, những cơ sở được xây dựng lên đó không đủ máy móc, thiết bị, phụ tùng thaythế, điện, nguyên liệu, công nhân đủ trình độ tay nghề… nên không sử dụng hếtcông suất (ở mức 50% tính trung bình trong suốt thời gian đó) cũng cần nói thêmrằng trong thời gian này khả năng vay từ bên ngoài để đầu từ càng giảm sút Trongkhi đó tích lũy từ nội bộ nền kinh tế hầu như chưa có gì vì thực tế chúng ta làmchưa đủ ăn
Về cơ chế thực hiện đầu tư, như trên đã nói rằng, phương thức thực hiệncông nghiệp hóa thời kỳ 1976 - 1985 là sự mở rộng mô hình công nghiệp hóa ởmiền Bắc được đề ra từ năm 1960 ra quy mô cả nước Biểu hiện tập trung nhất của
mô hình này là quốc doanh hóa các cơ sở sản xuất công nghiệp và hợp tác hóa nôngnghiệp Điều đó có nghĩa là việc ưu tiên cho công nghiệp nặng trên những nét lớnđồng nghĩa với ưu tiên cho khu vực quốc doanh và vô hình chung đã co sự phânbiệt đối sử, hoặc chí ít cũng không chú ý đầy đủ đến các cơ sở sản xuất nhỏ, nơi tỷtrọng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm phần lớn nhất, đang sản xuất
ra hầu hết hàng tiêu dùng và thu hut phần lớn nhất phần lao động công nghiệp Kếtquả tất yếu là những mất cân đối gay gắt xuất hiện do nhấn mạnh công nghiệpnặng, gây căng thẳng cho toàn bộ nền kinh tế, trước hết là phát sinh ra từ những
"đài chỉ huy" ở khu vực kinh tế quốc doanh và sự suy giảm cũng xuất hiện trướchết ở khu vực này Những biện pháp cứu chữa dựa trên cơ sở ấy lại càng đẩy đến
ưu tiên hơn nữa cho khu vực quốc doanh, ví dụ dễ thấy nhất là việc tăng đầu tưbằng cách phát hành thêm tiền qua kênh tín dụng Những xí nghiệp quốc doanhđược ưu tiên vay vốn với lãi suất thấp cũng như được ưu tiên nhận vật tư, thiết bịnhập khẩu theo cơ chế tỉ giá hối đoái ưu đãi mang tính trợ giúp hơn là kinh doanh
Trang 36Chính cơ chế này đã đẩy tòan bộ nền kinh tế nún sâu thêm vào tình trạng đói vốnđầu tư Một khi nguồn vốn ít ỏi, không đủ cung cấp thì hệ thống ngân hàng và các
cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm về phân phối vốn đầu tư và thiết bị theo kếhoạch trở nên độc quyền, từ độc quyền dẫn đến cửa quyền và tiếp theo là trở thànhmảnh đất mầu mỡ dung dưỡng nạn tham nhũng, móc ngoặc và tham ô, làm tê liệttoàn bộ hệ thống kinh doanh Chính cơ chế đó đã góp phần giải thích vì sao khi đãnhận thức ra được vấn đề của cơ cấu đầu tư và cơ cấu ngành và đề ra phương sách
để khắc phục từ những năm 1979-1980 nhưng vẫn kéo dài suốt những năm
1981-1985 mà vẫn không kìm lại được Nó cũng giải thích vì sao hầu hết các cơ sở kinh
tế công nghiệp Việt Nam trong những năm đó chỉ sử dụng từ 20 -50% công suấtvới các chỉ tiêu kinh tế thấp kém, vấn cứ tồn tại mà không bị phá sản
Kể từ những năm cuối 1970 đầu 1980, khủng hoảng kinh tế đã thực sự bắtđầu, trong điều kiện đó nhiều cuộc tranh luận về mặt lý luận cũng như các giảipháp thực tế cực kì sôi động Nổi bật nhất trong thời kỳ này là chỉ thị 100 của Ban
bí thư về khóan sản phẩm trong nông nghiệp (1981), trao quyền tự chủ kinh doanhcho các cơ sở công nghiệp và tư tưởng lớn về điều chỉnh cơ cấu đầu tư, sắp sếp lạisản xuất đựơc nêu ra ở Đại hội V của Đảng (1982) Tại đây, nông nghiệp được coi
là mặt trận hàng đầu sau đó là đến công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và côngnghiệp nặng được tập trung vào một số ngành nhất định Trong thực tế nền kinh tếgiai đoạn 1981 - 1985 đã diễn ra theo chiều hướng phức tạp Một mặt vẫn tiếp tụctăng đầu tư vào công nghiệp nặng và ở khâu xây lắp vẫn được duy trì ở một sốphân ngành (điện, dầu khí …), đồng thời lại vẫn trải đều cho các cơ sở khác thuộccác phân ngành khác Bởi vì, chỉ từ những cơ sở công nghiệp dự định sẽ khởi cônghoặc mới ở bước chuẩn bị mới bị đình hõan còn hầu hết các cơ sở đã tiến hànhdang dở hầu như được cấp vốn tiếp, cho dù phải tiến hành một cách "nhỏ giọt".Quy định việc làm này là do phải tiếp tục hoàn thiện để đi vào sản xuất và vấn đềcông ăn việc làm của số lao động "trong biên chê" Nhà nước ở những cơ sở này.Kết quả là vừa giữ trạng thái cầm chừng của sản xuất và xây dựng, lại vừa ngăn cản
Trang 37mức độ triệt để của việc tiến hành chủ trương sắp xếp lại cơ cấu Mặt khác, trongmọi khu vực sự phục hưng của nền sản xuất trước hết diễn ra ở nơi nào mà sự canthiệp trực tiếp của Nhà nước một cách gò bó trước đây được nới lỏng và lợi ích vậtchất của người lao động đựơc chú ý Trong tình hình như vậy, hoàn toàn có cơ sởtin rằng nguyên nhân cơ bản của bước chuyển biến nền kinh tế quốc dân theo chiềuhướng tích cực nằm ở những thay đổi bước đầu nhưng rất quan trọng của cơ chếquản lý.
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, mặc dù tốc độ tăng vốn đầu tư hàngnăm từ ngân sách Nhà nứơc chưa có gì thay đổi đáng kể, nhưng mức tăng tổng sảnphẩm của công nghiệp từ 0,6% lên 9,5% và thu nhập quốc dân từ công nghiệp tăng
từ 1,9% lên 5,1% (69,73) Những kết quả đã đạt được là do: một số cơ sở côngnghiệp nặng đã xây dựng trong 5 năm trước đây đã lần lượt đi vào hoạt động; việccắt giảm một số công trình dự định triển khai cho phép tập trung nguồn vốn cho các
cơ sở sẵn có và nâng cao năng suất sử dụng thực tế và quan trọng hơn cả là sự cởi
mở của cơ chế quản lý Trong lĩnh vực nông nghiệp, tỷ trọng vốn đầu tư cho nôngnghiệp về cơ bản không có gì thay đổi lớn, bình quân 5 năm không vượt quá 20%tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nhưng mức tăng phân bón lên 3 lần cho thấy cơcấu đầu tư cho nông nghiệp được tập trung vào khâu này(72) Các chỉ tiêu khác chỉ
ra nền nông nghiệp đã có sự phát triển một bước, đặc biệt là năng suất cây trồngtăng lên đáng kể, sản xuất lương thực tăng bình quân hơn 5% đã làm dịu bớt tìnhhình căng thẳng trong đời sống nhân dân
Từ tình hình phát triển trên của nền kinh tế đã có tác động trực tiếp đến qúatrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Về cơ bản cơ cấu ngành của nước ta thời kỳ 10năm không thể hiện rõ nét sự chuyển dịch theo hướng gia tăng lĩnh vực côngnghiệp (74) Cũng trong suốt cả thời kỳ này khu vực dịch vụ không có thay đổiđáng kể, việc tăng giảm xoay quanh 2 ngành cơ bản là nông nghiệp và công nghiệp.Giai đoạn 1976 - 1980 nông nghiệp có mức tăng cao hơn công nghiệp và tỷ trọngcủa nông nghiệp tăng lên trong khi công nghiệp giảm xuống Sự suy giảm tỷ trọng
Trang 38công nghiệp lại bao hàm trong đó sự gia tăng tỷ trọng của nhóm A và giảm sút củanhóm B Điều đó chứng tỏ rằng, mức tăng nhóm A (công nghiệp nặng), không đủ
bù lại sự suy giảm của nhóm B (công nghiệp nhẹ) và sự gia tăng của nông nghiệpkhông đủ bù lại sự suy giảm của công nghiệp Giai đoạn sau(1981 - 1985) nền kinh
tế phục hồi cũng là khi nông nghiệp tăng nhanh 5,1%, nhưng tỷ trọng giảm đểnhường chỗ cho tỷ trọng công nghiệp tăng, nhất là nhóm B cong nhóm A lại giảm
Tóm lại: trước khi bước vào công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đangphục hồi trở lại dưới tác động của những cải cách cục bộ, tuy nhiên vẫn còn nhiềukhó khăn Đánh giá tình hình 10 năm này Đại hội VI(1986) đã thừa nhận " nhữngsai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế " và nguyên nhân chủ yếu được chỉ ra là " do tưtưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết… trongthực tế, chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủcác tiền đề cần thiết… trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất
và đầu tư, thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không tính tới điềukiện và khả năng thực tế" (65) Nên kết quả là "chúng ta chua tiến xa được mấy sovới điểm xuất phát quá thấp Những sai lầm và khuyết điểm đã mắc phải càng làmcho tình hình thêm khó khăn" (65)
Giai đoạn từ 1986 đến nay, chúng ta xây dựng kinh tế nói chung và chuyểndịch cơ cấu kinh tế nói riêng, tuy có gặp phải những khó khăn nhất định đó là tácđộng của tình hình kinh tế trong nước và các nước xã hội chủ nghĩa có chiều hướngxấu đi Nhưng chúng ta có những thuận lợi cơ bản đó là xu hướng đổi mới, cảicách, cải tổ trên thế giới diễn ra nhanh chóng về mặt tư duy lý luận Trong khi đónền kinh tế trong nước cũng đã có những thành công nhất định Đại hội Đảng lầnthứ VI (1986) đã đưa ra nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế, khẳng định từ bỏkiểu tổ chức thực hiện công nghiệp hóa trước đây, với 3 chương trình kinh tế lớn làlương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, vấn đề xây dựng cơ cấukinh tế đã có bước phát triển tốt, quan điểm về thứ rự ưu tiên đã dựa vào điều kiệnhoàn cảnh của nước ta làm căn cứ xuất phát Xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan
Trang 39liêu bao cấp để chuyển sang nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trườngcùng với việc khuyến khích các thành phần kinh tế để tạo điều kiện cho nền kinh tếphát triển Vì vậy bước vào đổi mới kinh tế, Đảng ta lấy mục tiêu ổn định tình hìnhkinh tế - xã hội làm trọng tâm, mặc dù gặp phải không ít những khó khăn, trở ngạitrong quá trình phát triển kinh tế, nhưng nền kinh tế nước ta đã thu được nhữngthành tựu quan trọng, nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bức tranh chung tình hình kinh tế thời kỳnày, nhất là trong những năm gần đây, dưới tác động của những chính sách đổimới, nhịp độ tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế Việt Nam đã có thể sánh ngangmức tăng trưởng cao của nền kinh tế khu vực vốn được xem là năng động nhất thếgiới Theo như kết quả của (75), nền kinh tế nước ta cơ bản thoát khỏi khủnghoảng, biểu hiện qua các chỉ số kinh tế chủ yếu như sau: nạn lạm phát phi mã đãđược kìm chế ở mức một con số vào năm 1993, sản xuất nông nghiệp phát triển khá
và ngay năm đầu tiên bước ra thị trường xuất khẩu gạo (1989) đã đứng vị trí thứ basau Thái Lan và Mỹ, với tổng sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm từ 1,2 - 2 triệutấn, tương đương 1/6 tổng sản lượng gạo buôn bán trên thị trường thế giới, cán cânxuất nhập khẩu được cải thiện căn bản và đã gần đạt mức cân bằng với sự hỗ trợmạnh của ngành công nghiệp dầu khí mới xuất hiện, mối quan hệ kinh tế ngày càng
mở rộng, một số lĩnh vực công nghiệp có mức phục hồi và phát triển nhanh, mứcsống của nhân dân được cải thiện một phần, tính đúng đắn của xu hướng đổi mớiđược khẳng định Tuy nhiên, để đảm bảo được sự phát triển nhanh, liên tục và bềnvững, chỉ riêng sự tăng trưởng kinh tế cao nhất thời không thôi chưa đủ Trong sốcác nhân tố đảm bảo mục tiêu này, những sự thay đổi cấu trúc của nền kinh tế vừahiện ra như kết quả của sự tăng trưởng, lại vừa như một nguyên nhân thúc đẩy vàđảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo hướng ngày càng hiện đại và đạt hiệu quảcao Nhìn từ góc độ này thì cơ cấu kinh tế vĩ mô của Việt Nam từ đầu thập kỷ 90 đãbắt đầu có sự thay đổi theo chiều hướng của sự phát triển thường thấy ở mọi quốcgia khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, công nghiệp và dịch vụ gia tăng cả về số
Trang 40lượng tuyệt đối lẫn tỷ trọng, còn nông nghiệp thì tăng số lượng tuyệt đối, nhưnggiảm đi một cách tương đối (76) Song vì thế thay đổi diễn ra trong một thời gianngắn nên xu hướng tích cực này chưa đựơc khẳng định vững chắc Tuy nhiên, thayđổi trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải được đặt trong mối tương quan với
sự di chuyển lao động xã hội
Trong đó, gia tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và dịch vụ,cùng với giảm ở khu vực nông nghiệp, quá trình này diễn ra thực sự khi sức hút laođộng của công nghiệp và dịch vụ lớn hơn mức tăng tự nhiên hàng năm của nguồnlao động xã hội trong thời gian qua sự chuyển nguồn lao động xã hội đã chưa chothấy một xu hướng như vậy Hàng năm tổng nguồn lao động tăng lên từ gần700.000 đến 900.000 người, nhưng tới hơn 2/3 số tăng thêm này vẫn nằm ở lại khuvực nông nghiệp Vì vậy trên thực tế tỷ trọng lao động trong nông nghiệp vốn cònrất cao (hơn 70% so với tổng nguồn lao động xã hội), nhưng mấy năm qua chẳngnhững không thể giảm đi mà lại còn có xu hướng tăng lên, trong lúc đó côngnghiệp và dịch vụ chỉ thu hút được năm cao nhất là 8,0% (1991), tổng số lao độngtăng thêm, thậm chí còn bị giảm đi chút ít (77) Từ tình hình trên cho chúng ta thấyrằng, những chính sách đổi mới vừa qua chưa thực sự tạo nên bước chuyển dịch cơcấu kinh tế một cách đáng kể theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tuy nhiên, ở một góc độ khác phải thấy rằng tác động của những chínhsách đổi mới kinh tế ở đây có ý nghĩa hết sức to lớn vượt ra ngoài sự phản ảnhnhững con số thống kê nêu trên Điều này trở nên đặc biệt rõ ràng khi đối chiếumức độ biến động rất ít về cơ cấu với những thành tích tăng trưởng rất đáng kểtrong những năm thực hiện đổi mới Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của ViệtNam giai đoạn từ 1987 đến 1994 là 7,8%(75) trong đó: nông nghiệp tăng 3,8%;công nghiệp tăng 12,1%; dịch vụ tăng 9,2% Những con số này cho thấy mức tăngtrưởng của Việt Nam tuy còn kém một số nước trong vùng, song nó thực sự là bướcngoặt so với chiều hướng suy thoái kinh tế thời kỳ đổi mới, ở đây kinh tế vĩ mô ítthay đổi của thời kỳ đổi mới đã xảy ra đồng thời tăng trưởng ở mức khá cao