Năm 1999, tác giả Nguyễn Thị Oanh trong phần dẫn luận "Nhật Bản linh dị ký - tác giả và tác phẩm" trong tác phẩm dịch Nhật Bản linh dị ký của tác giả Keikai, Nhật Bản, Nxb Văn học4 đã gi
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nhật Bản Linh dị ký (Nihonryoiki) (Ghi chép những chuyện linh nghiệm, kỳ
lạ của Nhật Bản) tên thường gọi là Linh dị ký (Ryoiki) là tập truyển cổ Phật giáo
đầu tiên viết bằng chữ Hán của Nhật Bản, được biên soạn năm Enryaku thứ 6(787) và hoàn thành vào năm Konin năm thứ 13 (822) Tác phẩm ra đời trongthời kỳ Phật giáo và văn hóa Trung Quốc được du nhập và phát triển rực rỡ ở
Nhật Bản Các tác phẩm chí quái Trung Quốc đời Tấn như Sưu thần ký; các tác phẩm truyền kỳ đời Đường nổi tiếng đương thời như Nhâm Thị truyện và truyện
kể Phật giáo Trung Quốc như Minh báo ký, Kim cương bát nhã tập nghiệm ký… được lưu hành rộng rãi ở Nhật Bản thời kỳ bấy giờ đã có ảnh hưởng lớn đến Linh
dị ký Việc nghiên cứu so sánh Nhật Bản linh dị ký với Lĩnh Nam chích quái sẽ
giúp làm sáng tỏ tính dân tộc trong sự tiếp nhận, cải biến, lưu thông motip, cốttruyện, đề tài từ Trung Quốc ở Việt Nam và Nhật Bản Nó sẽ giúp bổ sung những
tư liệu cần thiết cho hướng nghiên cứu văn học dân tộc trong cộng đồng văn họckhu vực Đề tài này còn là cầu nối giúp đẩy mạnh hợp tác, giao lưu, trao đổi giữacác nhà nghiên cứu của Việt Nam với các nhà nghiên cứu trong khu vực nói riêng
và thế giới nói chung Đề tài này ngoài việc cung cấp thông tin đa chiều về cáchiện tượng đặc sắc trong nghiên cứu văn học dân gian ở các nước, còn giúpchúng ta tìm hiểu rõ ràng hơn về cơ tầng chiều sâu văn hóa các nước, giúp nuôidưỡng sinh hoạt văn hóa cho các thế hệ trẻ và đó là lý do để chúng tôi thực hiện
đề tài nói trên
2 Lịch sử vấn đề
Theo các nhà nghiên cứu, gần đây, việc nghiên cứu so sánh văn sánh vănhọc Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản đã đạt nhiều thành tựu đáng kể, song
Trang 2việc nghiên cứu so sánh các tác phẩm truyện cổ dân gian Việt Nam viết bằng chữ
Hán như Lĩnh Nam chích quái 嶺 嶺 嶺 嶺, Công dư tiệp ký 嶺 嶺 嶺 嶺 và Lan Trì kiến
văn lục 嶺 嶺 嶺 嶺 嶺 với các tác phẩm chí quái của Trung Quốc như Sưu thần ký 嶺
嶺 嶺, Dậu dương tạp trở 嶺 嶺 嶺 嶺, Thái Bình quảng ký 嶺 嶺 嶺 嶺 cũng còn hạn
chế, do thiếu nguồn tư liệu
+ Tình hình nghiên cứu trong nước:
Việc truy tìm nguồn gốc, xuất xứ cốt truyện ảnh hưởng từ văn học TrungQuốc cũng được các nhà nghiên cứu trong nước tiến hành từ rất sớm Từ những
năm 60, tác giả Đinh Gia Khánh trong Lời giới thiệu sách dịch Lĩnh Nam chích
quái (1) đã cho biết, từ thời phong kiến, trong sách Kiến văn tiểu lục 嶺 嶺 嶺 嶺, LêQuý Đôn (1726-1784) đã chỉ rõ những ảnh hưởng của các truyện Trung Quốc vào
Lĩnh Nam chích quái Do khuôn khổ của Lời giới thiệu, tác giả mới dừng ở mức
giới thiệu khái quát một số truyện trong Lĩnh Nam chích quái chịu ảnh hưởng từ
văn học Trung Quốc
Năm 1962, khi bàn về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy, tác giả TrầnNghĩa (2) cũng đi sâu phân tích những ảnh hưởng từ văn học Trung Quốc vào
Truyện Rùa vàng, sách Lĩnh Nam chích quái Năm 1996, tác giả Kiều Thu Hoạch
đã so sánh típ truyện Truyện Trầu cau ở Trung Quốc với típ truyện cùng loại ở
Việt Nam (sách Lĩnh Nam chích quái) và một số nước Đông Nam Á (3) Sau khi đisâu phân tích so sánh, tác giả đã nêu sự tương đồng và khác biệt qua truyện kểcủa các nước Theo ông, cho dù còn vài tình tiết khác biệt, nhưng chỗ tương đồng
1Lĩnh Nam chích quái Đinh Gia Khánh (chủ biên); Nguyễn Ngọc San biên khảo-giới thiệu In lần
thứ hai, có sửa chữa, bổ sung Nxb.Văn học Hà Nội 1990, tr.23.
2 Trần Nghĩa: Truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy phát triển qua các thời đại Nghiên cứu Văn
học, số 4/1962, tr.31-39.
3Kiều Thu Hoạch: so sánh típ Truyện Trầu cau ở Trung Quốc với típ truyện cùng loại ở Việt Nam và
Campuchia, bàn về tục ăn trầu và văn hóa quyển Trầu cau Đông Nam Á Tạp chí Văn học, số 4/2001,
tr.41.
Trang 3lớn nhất của kiểu truyện này là nhằm giải thích phong tục "ăn trầu", phong tụcvốn có từ lâu đời ở hai nước Việt Nam và Trung Quốc
Năm 1999, tác giả Nguyễn Thị Oanh trong phần dẫn luận "Nhật Bản linh dị
ký - tác giả và tác phẩm" trong tác phẩm dịch Nhật Bản linh dị ký của tác giả
Keikai, Nhật Bản, Nxb Văn học(4) đã giới thiệu và đi sâu phân tích một số motip,cốt truyện tương đồng với truyện truyền kỳ và chí quái của Trung Quốc, cáctruyện ảnh hưởng từ truyện kể Phật giáo Trung Quốc và cũng đã chỉ ra sự khácnhau trong việc thay đổi cốt truyện cho phù hợp với phong tục tập quán của Nhật
Bản Trong mục Linh dị ký và truyện thần kỳ, truyền kỳ Việt Nam, tác giả cũng đã làm rõ một số motip tương đồng trong Linh dị ký với truyện cổ Việt Nam như: Motip người có sức khỏe (Lê Phụng Hiểu - Việt điện u linh); motip sinh nở kỳ lạ (Lạc Long Quân, Thánh Gióng - Lĩnh Nam chích quái); motip chống thần linh (Cường Bạo đại vương- Công dư tiệp ký); motip nhân vật xấu xí mà tài ba (Người kỳ dị - Sơn cư tạp thuật) Kiểu truyện "hồn người này, xác người kia" trong Linh dị ký cũng giống với truyện Trần Tử Lương của nước Ngô được thay cho Trần Tử Lương ở Miên Châu, trong sách Minh báo ký của Trương Công Cẩn thời nhà Đường và cũng giống với truyện Đế Thích trong Công dư tiệp ký của Vũ
Phương Đề, chép truyện Trương Ba, kể chuyện Trương Ba giỏi chơi cờ, được ĐếThích cho sống lại nhưng không còn thi thể phải nhập vào xác của anh hàng thịt,người mới chết Tuy nhiên, do khuôn khổ của bài giới thiệu tác phẩm, tác giảNguyễn Thị Oanh cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu thể tài, cốt truyện của tácphẩm
Ngoài ra, một số bài nghiên cứu tuy không liên quan trực tiếp đến đề tài
nhưng lại là những gợi ý quan trọng cho đề tài, như: Đặc trưng thể loại và việc
Trang 4văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị
An(5)
Về việc nghiên cứu ngôn ngữ văn tự Hán của Linh dị ký và Lĩnh Nam chích
quái, thì cho đến nay, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của TS Nguyễn Thị Oanh là Luận
án đầu tiên đã đề cập đến một số đặc trưng ngôn ngữ văn tự Hán trong Lĩnh Nam
chích quái, có so sánh với Linh dị ký của Nhật Bản Tuy nhiên, do khuôn khổ của
Luận án nên tác giả chưa đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ văn tự Hán trong Linh dị
ký
Trở lên là một số bài viết và công trình (hiện thống kê chưa đầy đủ) liênquan đến đề tài nghiên cứu Các công trình trên đây của các nhà nghiên cứu trongnước thực sự là những gợi ý quan trọng giúp chúng tôi thực hiện tốt đề tài này
+ Tình hình nghiên cứu ngoài nước của đề tài:
Nghiên cứu văn học so sánh ở Nhật Bản và Trung Quốc đã có bề dày lịch sử
và đạt nhiều thành tựu Theo PGS.TS Nguyễn Thị Oanh, trong cuốn Nhật Bản
linh dị ký嶺嶺嶺嶺嶺, bản dịch từ Hán văn Nhật Bản ra tiếng Nhật hiện đại do tác giả
Nakada Norio thực hiện, Nxb Shogakukan ấn hành năm 1975, phần so sánh Nhật
Bản linh dị ký với truyện truyện chí quái, truyền kỳ, Phật thoại của Trung Quốc,
tuy chưa đi sâu phân tích chi tiết các motip, đề tài, cốt truyện, nhưng những vấn
đề tác giả đặt ra trong tác phẩm này cũng là những gợi mở cho một hướng nghiêncứu mới khi so sánh tác phẩm này với truyện cổ dân gian Việt Nam
Cũng theo PGS.TS Nguyễn Thị Oanh, cuốn Nhật Bản linh dị ký với và
truyện kể dân gian Trung Quốc 嶺嶺霊嶺嶺嶺嶺嶺嶺嶺嶺 (Nhihon ryoiki to Chugoku no
densho) của tác giả Kono Kimiko (Đại học Waseda Nhật Bản), Nxb.Menseisha,
1985, cũng đã đi sâu phân tích sự tương đồng về đề tài, cốt truyện, motip trong
5 Trần Thị An : Đặc trưng thể loại truyền thuyết và quá trình văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam Luận án TSKHNV.H.2000
Trang 5sách Nhật Bản linh dị ký với truyện kể dân gian Trung Quốc, từ đó tìm ra những
nét độc đáo của Nhật Bản trong trong việc tiếp nhận, cải biên đề tài, cốt truyện,motip từ Trung Quốc
Ở Trung Quốc, GS Lí Minh Kính (GS.Học viện ngoại ngữ, Đại học Nhân
Dân, Trung Quốc) trong bài viết: Trở lại các vấn đề Hán văn trong Linh dị ký, đã
đi sâu phân tích một số hiện tượng “phá cách”, “biến thể Hán văn”, “Hòa hóaHán văn” mà các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã chỉ ra, đồng thời tác giả còn nẩy rathêm một số trường hợp khác(6)
Ở Đài Loan, công trình nghiên cứu so sánh Sưu thần ký với Lĩnh Nam chích
quái 嶺 嶺 嶺 嶺 嶺 嶺 嶺 嶺 của tác giả Lâm Thúy Bình có thể coi là công trình nghiêncứu so sánh song hành giữa hai tác phẩm truyện cổ dân gian của hai nước ViệtNam và Trung Quốc
Trên đây là một số công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài liên quanđến đề tài nghiên cứu (thống kê chưa đầy đủ) Các công trình nói trên là những gợi ýthiết thực để chúng tôi thực hiện đề tài nói trên
3 Nhiệm vụ của luận văn
Với những vấn đề đã được lựa chọn, chúng tôi xác định mục tiêu và phạm
vi nghiên cứu của luận văn sẽ bao gồm các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm sáng tỏ một số về thể tài cốt truyện tác phẩm Nhật Bản linh dị ký.
- Làm sáng tỏ những giá trị văn hóa đặc sắc của hai nước qua khảo sát
những nét tương đồng và dị biệt về mô típ, kiểu truyện giữa Nhật Bản Linh dị ký
và Lĩnh Nam chích quái
- Làm sáng tỏ một số đặc trưng ngôn ngữ văn tự Hán của Nhật Bản linh
dị ký và Lĩnh Nam chích quái
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ trên của đề tài, chúng tôi sẽ sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau:
(1) Phương pháp thống kê định lượng
(2) Phương pháp so sánh
(3) Phương pháp nghiên cứu văn học dân gian
Ngoài ra, chúng tôi còn chú trọng việc nghiên cứu lý thuyết thể loại truyện
cổ (truyện cổ tích và truyền thuyết) khi vận dụng vào thực tế tác phẩm Chúng tôicòn vận dụng thành tựu của lý luận văn học, trên cơ sở chú ý đến đặc thù của vănhọc dân gian trong việc phân tích so sánh đề tài, cốt truyện và motip giữa banước
5 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
tiệp ký, Lan Trì kiến văn lục… hiện đã được dịch và xuất bản.
Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng một số truyện trong hai tác phẩm: Sưu
thần ký (bản dịch của nhóm phòng Lịch sử, Viện Nghiên cứu Hán Nôm) để thấy
rõ hơn sự tiếp nhận cũng như cải biên truyện truyền ký, chí quái và truyện kểPhật giáo Trung Quốc
Trang 7Phạm vi nghiên cứu:
Nhật Bản linh dị ký đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam từ năm 1999,
song cho đến nay chưa được đi sâu nghiên cứu, vì vậy chúng tôi sẽ đặt trọng tâmvào việc giới thiệu tác phẩm của Nhật Bản Do nội dung và thời điểm ra đời của
Nhật Bản linh dị ký và Lĩnh Nam chích quái có nhiều khác biệt nên chúng tôi chỉ
tập trung phân tích thể tài, cốt truyện và một số mô típ, kiểu truyện thần kỳ
có tần suất xuất hiện cao được đưa vào sách Biểu tượng văn hóa thế giới để so
sánh và phân tích Do khuôn khổ Luận văn có hạn nên phần so sánh về ngôn ngữ
văn tự Hán chúng tôi cũng xin hạn chế so sánh ở một số thực từ, phó từ và kiểu
câu bị động.
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn dự kiến sẽbao gồm 2 chương:
Chương 1 So sánh Nhật Bản Linh dị ký và Lĩnh Nam chích quái về thể tài,
cốt truyện
1 Vài nét về Nhật Bản linh dị ký
2 Vài nét về Lĩnh Nam chích quái
3 So sánh về mặt thể tài giữa Nhật Bản linh dị ký và Lĩnh Nam chích quái
3.1 Một số điểm chung về thể loại, đề tài, kiểu truyện
3.2 Mô hình cấu trúc cốt truyện
3.2.1 Chữ “duyên” trong Nhật Bản linh dị ký và chữ “truyện” trong
Lĩnh Nam chích quái.
3.2.2 Hình thức bố cục cốt truyện
3.2.3 Về các bài thơ đồng dao, sấm ký
Trang 83.4.1 Motip người chết sống lại
3.4.1.1.Motip chết đi sống lại hóa thành người khác 3.4.1.2.Motip chết đi sống lại sau khi xuống âm phủ.
3.4.2 Thi thố pháp thuật
4 Tiểu kết
Chương 2: So sánh Nhật Bản linh dị ký và Lĩnh Nam chích quái qua một số
đặc điểm ngôn ngữ văn tự Hán
1 Một số vấn đề chung
1.1 Một vài nét về sự du nhập và sử dụng chữ Hán ở Nhật Bản
1.1.1 Vài nét về sự du nhập chữ Hán ở Nhật Bản
1.1.2 Vài nét về việc sử dụng chữ Hán ở Nhật Bản
1.2 Một vài nét về sự du nhập và sử dụng chữ Hán ở Việt Nam
1.2.1 Vài nét về sự du nhập chữ Hán ở Việt Nam
1.2.2 Vài nét về sự sử dụng chữ Hán ở Việt Nam
2 Một số đặc điểm ngôn ngữ văn tự Hán trong Linh dị ký
2.1 Hiện tượng đảo ngược trật tự từ và cú pháp Hán
2.1.1 Đảo ngược trật tự của danh từ
Trang 92.1.2 Hiện tượng đảo ngược trật tự cú pháp Hán
2.1.2.1 Đổi vị trí của cụm động tân
2.1.2.2 Đổi vị trí xen trạng ngữ chỉ thời gian vào giữa cụm động từchỉ phương hướng
Trang 10Nhật Bản Linh dị kí (Ghi chép những chuyện linh nghiệm, kỳ lạ của Nhật
Bản) Tên thường gọi là linh dị kí, tên đầy đủ là Nhật Bản quốc hiện báo thiện ác
Linh dị kí (Ghi chép những chuyện linh nghiệm, kỳ lạ, báo ứng việc thiện, ác của
Nhật Bản) Nhật Bản linh dị kí (từ đây chúng tôi gọi là Linh dị kí) thuộc thể loại
setsuwa (thuyết thoại) (7), là một trong những tác phẩm nổi tiếng trong kho tàngvăn học cổ điển của Nhật Bản, phản ánh nhiều mặt của nền văn hóa Nhật Bảnthời trung đại
Tác giả của Nhật Bản linh dị ký là Keikai, sư chùa Yakushi, ở phía Nam
Kinh đô Nara Không rõ về năm sinh, năm mất của ông Các nhà nghiên cứu đã
dựa vào các chi tiết có liên quan tới ông trong Linh dị ký (truyện 38, quyển Hạ)
có thể đoán ông sinh vào khoảng đầu năm thời Thiên hoàng Konin (770 - 781)
Các ghi chép trong Linh dị ký cũng giúp suy đoán tác giả đã viết cuốn sách trên
được biên soạn trong khoảng 35 năm, từ năm Enryaku (Diên Lịch) thứ 6 (787),hoàn thành năm Konin (Quang Nhân) thứ 13(822), và đấy cũng là thời gian ôngchuyển từ tuổi tráng niên đến tuổi trung hoặc thượng thọ (từ 55 đến 75 tuổi)
Qua Linh dị ký người ta còn cho rằng ông thuộc dòng dõi Tomono
Miyatsuko, là những “quy hóa nhân”, tức người Triều Tiên hoặc Trung Quốc bịbắt đưa về Nhật qua các cuộc xâm lăng Triều Tiên của Nhật Bản Ông là vị sưtăng tự độ, có vợ con nhưng vẫn xuất gia tu hành Phật đạo Không rõ ông xuấtgia năm nào, năm 795 ông vào trụ trì ở chùa Yakushi Ông sống ở huyện Nakusa,tỉnh Ki (nay thuộc tỉnh Wakayama) Do những cố gắng trong việc truyền giáo,năm 788 ông được ban danh hiệu “Truyền đăng trú vị”
7 Setsuwa : là cách gọi chung cho các truyện được kể theo một chủ đề nhất định Khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong giới nghiên cứu Trong văn học Nhật Bản, người ta phân loại văn học tự sự thời Thượng đại (khoảng trước sau thời đại Nara, 71- 784) thành thần thoại, truyền thuyết, thuyết thoại Thuyết thoại, ngoài thần thoại và truyền thuyết còn được quan niệm là thể loại có dây mơ rễ má với văn
xuôi tự sự Xem thêm Nguyễn Thị Oanh: Từ điển truyện cổ tích Nhật Bản Tạp chí Nghiên cứu Văn
học, số 10 (428), tr.89.
Trang 11Do sống trong một xã hội “bất ổn định, nhiều rối ren, xấu xa ô trọc… đãkhiến những người tử tế dường như tuyệt vọng” (Tựa, quyển Hạ), nên Keikai chorằng: “nếu việc thiện ác không chỉ ra rõ thì lấy gì làm bằng để sửa chữa lệch lạc
và phân biệt đúng sai”; “Nếu không cho thấy sự quả báo, làm sao cải tạo được áctâm, tu hành theo đạo thiện” (Tựa, quyển Thượng) Vì thế ông ghi chép nhữngtruyện báo ứng, làm mọi người thấy rõ thuyết nhân quả báo ứng, “ác giả ác báo,
nhân giả nhân báo” , đó là ý đồ đầu tiên của tác giả khi tác giả biên soạn Linh dị
ký Trong lời Tựa, quyển Thượng, tác giả viết: “Ngày xưa, nhà Hán có Minh báo
ký, nước Đại Đường có Bát nhã nghiệm ký Vì sao phải cẩn trọng nâng niu với
các ghi chép của nước ngoài mà lại không tin những chuyện kỳ lạ của nước mình
Từ những việc tự mình nhìn thấy, không sao ngủ được, bình tâm xem xét, không
thể lặng im bèn tạm ghi những điều nghe được, đặt tên là Nhật Bản quốc hiện
báo thiện ác linh dị ký, làm thành 3 quyển Thượng, Trung, Hạ để lại cho đời sau”.
Ghi chép những chuyện lạ của Nhật Bản cũng là mục đích biên soạn của tác giả
Linh dị kí gồm 3 quyển: Thượng, Trung, Hạ Quyển Thượng có 35 truyện;
quyển Trung có 42 truyện và quyển Hạ có 39 truyện, cả thảy có 116 truyện Đầumỗi quyển là lời Tựa, sau phần lớn mỗi truyện là lời Tán, xen kẽ giữa các truyện
là các đoạn thơ, ca dao Nội dung tác phẩm đề cập đến hầu hết đến mọi mặt củađời sống xã hội “từ thời Thiên hoàng Yuyaku nửa thế kỷ thứ V đến đầu thời Thiênhoàng Saga đầu thế kỷ IX Các truyện xẩy ra trên địa bàn của 37 tỉnh… hai phần
ba trong số đó thuộc vùng kinnai (nay thuộc Kyoto, Osaka và Na ra) Có khoảng
200 nhân vật với đầy đủ các giai cấp từ quý tộc, tăng lữ cho đến thứ dân Nhiềunhất là các truyện từ cuối thời Nara (710-784) đến đầu thời Heian (794-1185) (8).Các đề tài như: truyện về các thiền sư, truyện về người có sức khỏe, truyện trả ơncủa súc vật, các truyện báo ứng luân hồi, ở hiền gặp lành, làm ác phải chịu quảbáo… có liên quan đến sự linh nghiệm của Phật Quan âm, Diệu kiến Bồ tát, Dilặc Bồ tát… đến sự biến hóa của kinh điển và tượng Phật Tất cả các truyện kỳ lạ
8Lời giới thiệu của GS Sakurai Yumio đăng trong cuốn Nhật Bản linh dị ký, Nxb Văn học Hà Nội,
Trang 12linh nghiệm đều được dàn dựng gắn với hiện thực trên nền lịch sử có thật, đượctác giả sắp xếp theo trục thời gian từ thời Thiên hoàng Yuryaku (Hùng Lược)(478) cho đến hết thời Thiên hoàng Kanmu(Hằng Vũ) (781-806).
Khác với Cổ sự kí (Kojiki)(9) là “tác phẩm được xây dựng trên cơ sở thầnthoại về sự sáng tạo thế giới, nguồn gốc vũ trụ; về cuộc tranh chấp giữa các thần
để thiết lập sự sinh tồn của bộ lạc trong một miền nhất định; về lịch sử các vươngtriều Nhật Bản, gắn với sự thần thánh hóa uy quyền các tù trưởng và các thiênhoàng, coi Thiên hoàng như đấng tối cao thực hiện ý chí của các thần linh”… ,
Linh dị kí là tác phẩm đầu tiên miêu tả cuộc sống chân thực của con người trên
nhiều mặt: đấu tranh chống thiên tai bảo vệ mùa màng, nương rẫy; đấu tranh giữacái thiện và cái ác… Tác phẩm thực sự rung cảm lòng người bởi nét hiện thựcsinh động, hấp dẫn bởi nội dung chất phác nhưng không kém phần kỳ vĩ, kỳ ảocủa các sự tích Nó làm cho người ta tin theo những sự việc và các các tình tiếthoang đường trong truyện
Ra đời trong bối cảnh Phật giáo và văn hóa Trung quốc được du nhập và
phát triển rực rỡ ở Nhật Bản, Linh dị kí được coi như sản phẩm mang đậm dấu vết của thời kỳ này Các tác phẩm chí quái Trung Quốc đời Tấn như Sưu thần kí, các tác phẩm truyền kì đời Đường nổi tiếng đương thời như Nhâm Thị truyện và truyện kể Phật giáo Trung Quốc như Minh báo kí, Kim cương bát nhã tập nghiệm
kí… được lưu hành rộng rãi ở Nhật Bản thời bấy giờ đã có ảnh hưởng lớn đến Linh dị kí Các motip như motip cây thiêng, sinh nở kì lạ, sự hóa thân từ người
sang vật, những nhân vật có khả năng kì diệu, hôn nhân giữa người và động vật,những nhân vật xấu xí mà tài ba…được coi là những motip có tính khuôn mẫuđược định hình trong truyện kể dân gian không chỉ riêng ở Nhật Bản mà chungcủa thế giới
9Cổ sự kí: (Kojiki) (Ghi chép về sự việc thời cổ) là sưu tập về thần thoại và truyền thuyết của Nhật
Bản Sách còn có tên là Cổ sự (Koji), Cố sự (Koji) Sách được biên soạn năm 712, gồm 3 quyển:
Thượng, Trung, Hạ
Trang 13Từ Linh dị ký có thể dễ dàng nhận ra nét chúng với truyện cổ và truyền
thuyết dân gian thần kỳ của Việt Nam qua các motip như cây thiêng, sinh nở kỳlạ… hay các kiểu truyện chống thần linh, nhân vật xấu xí mà tài ba, sống lại saukhi xuống âm phủ… Đây là tư liệu quí trong việc nghiên cứu so sánh các nước
có cùng ảnh hưởng văn hóa Hán như Triều Tiên và Việt Nam(10)
2 Vài nét về Lĩnh Nam chích quái
"Lĩnh Nam" chỉ miền đất ở phía nam Ngũ Lĩnh (tức năm dải núi ở HoaNam), nơi phát tích và sinh tụ của người Việt cổ xưa "Chích quái", tức nhặtnhạnh những chuyện lạ, chuyện "huyễn tưởng" tới mức ngòi bút chính sử đã lảngtránh không ghi chép Tựu trung lại, "Lĩnh Nam chích quái" là tập sách bao gồmnhững câu chuyện dã sử có tính chất dân gian sưu tầm được trên đất nước Việtnam thời cổ, "không đợi khắc vào đá, chạm vào gỗ mà đã gắn ghi trong lòng dân,bia truyền nơi miệng người, từ em bé đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều ham thích"
(Lĩnh Nam chích quái liệt truyện tự).
Theo Vũ Quỳnh, tác giả của Lĩnh Nam chích quái liệt truyện (từ đây gọi là
là Lĩnh Nam chích quái) là những bậc "tài cao học rộng" đời Lý Trần; người nhuận sắc là các vị "bác nhã hiếu cổ đời nay" (Lĩnh Nam chích quái liệt truyện
tự) Vũ Quỳnh không kê cứu và liệt kê tên người soạn thảo, nhưng với 4 truyện:
Lý Ông Trọng; Tản Viên; Long Nhãn Như Nguyệt; Tô Lịch, chúng ta có thể nghĩ
tới Lý Tế Xuyên, tác giả sách Việt điện u linh tập Hoặc liên quan tới sự tích từ
đời Hồng Bàng cho đến hết đời Triệu, cùng một nội dung, tính chất và thời điểm
với phần lớn truyện chép trong Lĩnh Nam chích quái, chúng ta cũng có thể nghĩ tới Hồ Tông Thốc, tác giả Việt Nam thế chí Vũ Quỳnh cũng không ghi rõ tên người nhuận sắc, nhưng Đặng Minh Khiêm trong Vịnh sử ký đã nêu tên Trần Thế
Pháp (có thể là người trước hoặc cùng cùng thời với Vũ Quỳnh) đã biên soạn,
10 Xem thêm bài giới thiệu: “Nhật Bản linh dị kí – tác giả và tác phẩm” đăng trong sách
Trang 14đúng ra là tập hợp và viết lại một số truyện dân gian được ghi rải rác trong các
sách cổ, làm thành cuốn Lĩnh Nam chích quái lục.
Trên cơ sở tư liệu của những người đi trước, năm 1492, Vũ Quỳnh đã làm ra
sách Lĩnh Nam chích quái liệt truyện gồm 2 quyển, 22 truyện và 1 bài tựa đề năm
Hồng Đức 23 (1492) Các truyện Vũ Quỳnh đưa vào sách, theo lời tựa, gồm có:
1 Hồng Bàng Thị truyện; 2 Dạ Thoa Vương truyện; 3 Bạch trĩ truyện; 4 Kim
quy truyện; 5 Tân lang truyện; 6 Tây qua truyện; 7 Chưng bính truyện; 8 Hà Ô Lôi truyện; 9 Đổng Thiên Vương truyện; 10 Lý Ông Trọng truyện; 11 Nhất Dạ Trạch truyện; 12 Việt Tỉnh truyện; 13 Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không truyện; 14 Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải truyện; 15 Ngư Tinh truyện; 16.
Hồ Tinh truyện; 17 Long Nhãn, Như Nguyệt nhị thần truyện; 18 Tản Viên Sơn truyện; 19 Nam Chiếu truyện; 20 Man Lương truyện; 21 Tô Lịch truyện; 22 Mộc Tinh truyện.
Sau đó một năm, năm 1493, Kiều Phú cũng hoàn thành một bản LNCQ khác
gồm 22 truyện (cũng vẫn là các truyện Vũ Quỳnh đã chọn) và 1 bài tựa Lần biênsoạn này, Kiều Phú không theo lối “thuật nhi bất tác” mà tự mình sửa chữa nhữngchỗ mà theo ông không đúng Chẳng hạn Kiều Phú cho rằng không thể nói thầnTản Viên là con trai Âu Cơ, Đổng Thiên Vương là con Long Quân thác thế, Lý
Ông trọng giả vờ đi tả mà chết (xem lời Tựa của Kiều Phú ở bản LNCQ, A.1300) Bài tựa không nói rõ sách Kiều Phú chia thành mấy quyển Một số bản Lĩnh Nam
chích quái hiện có đã lấy bài Tựa của Kiều Phú làm bài Hậu tự cho bản Vũ
Quỳnh, đây hoàn toàn là một sự gán ghép vô căn cứ
Đến năm 1554, Đoàn Vĩnh Phúc đã chép thêm vào cuối bản Lĩnh Nam chích
quái liệt truyện của Vũ Quỳnh một số truyện nữa, thành Q.3, gọi là "Loại tục", và
viết một bài Hậu bạt Trong bài Hậu bạt, ông đã nói rõ: “sách Lĩnh Nam liệt
truyện không ghi tên tác giả, không biết do vị nho sinh thời nào soạn thảo Bản
hiện hành là của ông Trạch Ổ họ Vũ, người làng Mộ Trạch, một kẻ sĩ thời HồngĐức, vang danh khoa hoạn, bác học hiếu cổ Ông chia sách thành 2 quyển, mở
Trang 15đầu bằng truyện Hồng Bàng và kết thúc bằng truyện Dạ Thoa, cả thảy 22 truyện.Ông có soạn bài tựa đặt ở đầu cuốn liệt truyện Có thể nói đây là một bộ sách kỳ
vĩ Tuy vậy, có một số truyện như Sĩ Tiên, Sóc Vương; một số thần như ThạchLong, Bạch Hạc chưa được đưa vào sách, còn để sót những hạt châu đáng tiếc.Ngu tôi vừa qua nhân công việc rỗi rảnh, có mượn một số sách mang về sao chép
để đọc Đối với cái hay của thánh hiền, tinh hoa sông núi, sự kiêu hùng của Trưngtrinh nữ, sự linh ứng của Càn thánh phi, cùng các việc liên quan đến thế giáo, tôi
đều kê cứu thêm ở Sử ký của Triệu Công và tham khảo thêm ở sách Việt điện u
linh Lại tìm rộng ra để bổ sung bớt đi những chỗ rườm, làm cho câu chuyện gọn
ghẽ, gần với bộ mặt ban đầu của nó, rồi xếp tiếp sau tập 2, để gia đình tiện đọc"
Đây là một bài Hậu bạt quan trọng, nó cho thấy bản của họ Đoàn được biên soạn lại trên cơ sở bản Lĩnh Nam chích quái liệt truyện của Vũ Quỳnh, ngoài các
đặc điểm đã biết như gồm 22 truyện, 1 bài tựa, chia thành 2 quyển còn một chi
tiết rất đáng quan tâm nữa là sách được mở đầu bằng truyện Họ Hồng Bàng và kết thúc bằng truyện Dạ Thoa Bài Hậu bạt của Đoàn Vĩnh Phúc cũng nói rõ lý
do vì sao ông thêm Q.3 (Loại tục), cùng các nguồn tư liệu mà họ Đoàn đã dựa đểlàm phần bổ sung này
Sang thế kỷ 18, Vũ khâm Lân lại làm cái công việc mà Đoàn Vĩnh Phúc
trước đó đã làm: tục bổ cho LNCQ Theo đà ấy, cuốn sách có xu hướng trở nên
một tổng tập về các mẩu chuyện dân gian cổ thuộc nhiều thời đại, do nhữngtay bút hữu danh hoặc vô danh ở các thế kỷ tiếp sau thực hiện
Cho đến nay, chúng ta được biết tất cả 15 bản LNCQ, trong đó có 9 bản hiện
tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang các ký hiệu A.33; A.750;A.1200; A.1300; A.1752; A.2107; A.2914; VHv.1266; VHv.1473; 1 bản hiện tàngtrữ tại Viện Sử học, mang các ký hiệu HV.486; HV.531; 2 bản hiện tàng trữ tạiThư viện Quốc gia Hà Nội, mang các ký hiệu R.6; R.1607; và 1 bản ở Thư việnPhạm Quỳnh, kí hiệu H.42 Trong Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, tác giả Nguyễn Thị
Oanh đã thống kê, so sánh, biện luận và đi đến kết luận, bản Lĩnh Nam chích
Trang 16quái A.2914 là bản đã đáp ứng được các tiêu chí theo giới thiệu của Lê Quý Đôn
và Phan Huy Chú và là bản sao sớm nhất, có thể từ thời Hậu Lê từ bản Lĩnh Nam
chích quái của họ Đoàn biên soạn vào năm 1554.
Như trên đã trình bày, Lĩnh Nam chích quái là tập sách bao gồm những câu
chuyện dã sử có tính chất dân gian sưu tầm được trên đất nước Việt nam thời cổ.Nếu lấy Long Biên (nay thuộc Hà Nội) làm trung tâm, chúng ta sẽ thấy ở phía
Đông Bắc có Truyện thần ngư tinh gắn với địa danh Bạch Long Vĩ (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh); Truyện hai vị thần Long Nhãn, Như Nguyệt; Truyện cổ Giếng
Việt (nay thuộc tỉnh Bắc Giang); ở phía tây có Truyện Núi Tản Viên (nay thuộc
Vĩnh Phúc); xuôi xuống phía nam có Truyện Dưa hấu gắn với địa danh Nga Sơn (nay thuộc Thanh Hóa), xuống nữa là Truyện cổ Nam Chiếu nói về miền đất
Thanh Nghệ và một số địa danh hải đảo ngoài khơi biển Đông Tập trung nhiềunhất là các truyện xẩy ra ở đất Thăng Long và các vùng phụ cận đất kinh kỳ xưa,
như Truyện thần Hồ tinh gắn với địa danh Hồ Tây; Truyện sông Tô Lịch, gắn với địa danh sông Tô Lịch; Truyện Lý Ông Trọng gắn với địa danh Thụy Hương, huyện Từ Liêm (Hà Nội); Truyện Đổng Thiên Vương gắn với địa danh làng Phù
Đổng (nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội); Truyện Đầm Nhất Dạ gắn với địadanh Châu Giang (nay thuộc tỉnh Hưng Yên)…
Các nhân vật trong truyện có sự đan xen khá phức tạp, từ nhân vật thầnthoại-truyền thuyết (Lạc Long Quân; Đổng Thiên Vương; Sơn tinh Thủy tinh);nhân vật huyền thoại-truyền thuyết như Đồng Tử - Tiên Dung đến các nhân vậtlịch sử như Lý Ông Trọng; các nhà sư như: Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ,Nguyễn Giác Hải; từ các nhân vật trong triều đình như Hà Ô Lôi, đến các nhân
vật đời thường như anh em Tân, Lang (Truyện cổ trầu cau)…
Các truyện của Lĩnh Nam chích quái tập trung vào các chủ đề chính như:
Truyện về các anh hùng dân tộc; Truyện về nguồn gốc địa danh; Truyện về phongtục; Truyện về tôn giáo và Truyện về bang giao Nhóm truyện về các anh hùngdân tộc mở rộng đến tận ông vua huyền thoại Kinh Dương Vương với một phả hệ
Trang 17phức tạp về thần linh, nhằm chứng minh nguồn gốc dân tộc có từ thời Viêm ĐếThần Nông; nhóm truyện về nguồn gốc địa danh kể về sự ra đời của các vùng đất
cổ, như sự ra đời của Hồ Tây và tên gọi núi Bạch Long Vĩ; nhóm truyện phongtục đề cập đến các tục ăn hỏi, cưới xin, tang ma, tục thờ cúng tổ tiên của ngườiViệt cổ, như tục ăn trầu, tục dâng bánh chưng, dưa hấu để cúng tổ tiên ; haynhóm truyện về những mối quan hệ bang giao của nước Việt cổ với bên ngoài,
như Truyện cổ chim trĩ… Tất cả các truyện đều nhằm khẳng định nước Việt là
nước có lịch sử lâu đời, với phong tục tập quán tín ngưỡng riêng Việc thu nhặt,
ghi chép các câu truyện cổ vào Lĩnh Nam chích quái như biểu tượng về ý thức tự
cường của dân tộc, thể hiện sức sống mãnh liệt của dân tộc được hun đúc quasuốt hàng ngàn năm trước áp lực đồng hóa của phương Bắc lúc nào cũng kề bên.Cũng như các nước trong khu vực văn hóa Hán như Nhật Bản, Triều Tiên,
Hàn Quốc, Lĩnh Nam chích quái cũng chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc Trong lời Tựa, Vũ Quỳnh đã nhắc tới hai tác phẩm của Trung Quốc đó là Sưu
thần ký đời Tấn và U quái lục đời nhà Đường Khi nghiên cứu Lĩnh Nam chích quái các nhà nghiên cứu đi trước cũng đã chỉ ra các truyện có nguồn gốc từ các
sách của Trung Quốc như Truyện Rùa vàng ảnh hưởng của truyền thuyết đất BaThục kể chuyện rùa giúp người xây thành; Truyện Hồ tinh cũng thấy ở sách Thụy
ứng, sách Phong thần diễn nghĩa của Trung Quốc… Không chỉ ảnh hưởng về
mặt đề tài, kiểu truyện, các motip như sinh nở kỳ lạ, motip thờ đá; motip câythiêng … cũng chịu ảnh hưởng từ một số tác phẩm nổi tiếng trong văn học cổ
điển Trung Quốc như Sưu thần ký, Thái bình quảng ký…Song, cũng giống với
các nước trong khu vực, người Việt cũng biết tiếp thu chọn lọc và sáng tạo để tạo
ra một bản sắc riêng biệt trong vườn hoa muôn sắc của văn học khu vực
3 Nghiên cứu thể tài của Linh dị ký so sánh với Lĩnh Nam chích quái
Thể tài chỉ kết cấu thơ văn hay nghệ thuật văn phong, tô sức từ ngữ; nó cũng
có nghĩa là dạng thức của văn học, chỉ sự phân loại các thể loại của văn học như
Trang 18thơ, tiểu thuyết, tản văn, kịch(11) Bách khoa danh phiến đã định nghĩa rõ ràng
hơn: “Thể tài tức chỉ tất cả các chủng loại và dạng thức của một tác phẩm nghệthuật Nếu nói về lịch sử kết cấu nghệ thuật thì chúng đều có một hình thức ổnđịnh Hình thức đó được nảy sinh và phát triển theo hiện thực phản ánh nghệthuật đa dạng và nhiệm vụ thẩm mỹ được nhà nghệ thuật nêu ra trong tác phẩm
đó Trong văn học cổ đại Trung Quốc, thể tài có nghĩa là nghệ thuật văn phong, tu
từ của tác phẩm thơ văn” (12) Nói tóm lại thể tài là nói về kết cấu và nghệ thuậtcủa một tác phẩm văn học
3.1 Một số điểm chung về thể loại, đề tài, kiểu truyện
Linh dị ký là tác phẩm ghi chép truyện cổ và truyền thuyết dân gian của
Nhật Bản ra đời trong bối cảnh Phật giáo và văn hóa, văn học Trung Quốc du
nhập ồ ạt vào Nhật Bản Cũng như Sưu thần ký (Tìm tòi, ghi chép về các truyện thần kỳ), Nhật Bản linh dị ký (Ghi chép về các truyện linh dị của Nhật Bản) đã gợi cho ta đến tên một thể tài văn học Ở Nhật Bản, Linh dị ký được xếp vào thể
loại thuyết thoại (setsuwa), là thể loại ghi chép truyện kể và truyền thuyết dângian, khác với monogatari, tiểu thuyết truyền kỳ Nhật Bản được coi là tiểu thuyết
hư cấu “Tuy được kể thành từng truyện, nhưng vẫn như trước, thuyết thoại chỉđược coi là một thể loại tản văn mang tính "đoản thiên" và "sắp xếp các tình tiếtcâu chuyện" mà thôi Trong văn học Nhật Bản, thuyết thoại được dùng để gọichung không hạn định cho loại hình truyện kể dân gian, truyện truyền miệng đãđược văn bản hóa Cũng có nghĩa trong văn học Nhật bản, thuyết thoại được sửdụng một cách khá linh hoạt Trong lĩnh vực Dân tục học Nhật Bản, các nhànghiên cứu ít dùng thuật ngữ thuyết thoại, nhưng đối với những truyện kể dângian được định hình bằng chữ Hán, thì mọi người lại thường xuyên sử dụng thuậtngữ thuyết thoại Với nghĩa rộng, nó bao gồm cả, truyện kể Phật giáo, truyền
11 Hán ngữ đại từ điển Nhà xuất bản Hán ngữ đại từ điển 1986, tr.7293.
12 Tài liệu mạng
Trang 19thuyết dân gian, truyện cổ tích và truyện thế tục, trong đó có cả truyện cười,truyện châm biếm ” (13)
Linh dị ký vừa ghi chép truyện kể Phật giáo, vừa ghi chép truyền thuyết dân
gian, truyện cổ tích và truyện thế tục Tuy thuộc thể loại setsuwa theo cách phân
loại của Nhật Bản, nhưng cũng như Lĩnh Nam chích quái của Việt Nam, Linh dị
ký gần gũi với thể loại “truyện ký” Về thể loại truyện ký đã có nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này và cho rằng “các nhà thư tịch học như Lê Quý Đôn,Phan Huy Chú và các nhà văn học sử thế kỷ XX không tách ký khỏi “truyện” vớihọc chỉ có cái gọi chung là Truyện ký” (14) Nghiên cứu về “ký”, có nhà nghiêncứu còn đưa ra mấy tiêu chí để nhận dạng thể ký như: Tác phẩm văn xuôi ghichép bằng chữ Hán; Tính chất cơ bản là ghi chép “xác thực, tái hiện những điều
“tai nghe mắt thấy”, không loại trừ cả những “hiện thực” ở dạng hoang đường kỳảo; Trừ một số ít trường hợp, còn phần lớn có dung lượng không lớn, nhân vật vàcốt truyện không rõ rệt…” (15) Tuy nhiên, cũng có sự phân biệt giữa “ký” và
“truyện” Theo Lịch sử văn hóa Trung Quốc thì “… Nhân sự tạp ký khác truyện,trạng ở chỗ chú trọng ghi việc mà không thả người, chỉ ghi mặt nào đó, khôngcầu toàn diện” (16) Đi sâu vào thể loại “truyện”, các nhà nghiên cứu cho rằng:
“Truyện là một chuỗi sự kiện xảy ra liên tiếp cho nhân vật trong không gian vàthời gian, có mở đầu, có phát triển và có kết thúc” (17) Một trong 3 yếu tố hình
13 Nguyễn Thị Oanh: Từ điển truyện cổ tích Nhật Bản Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 10
16 Đàm Gia Kiện (1993, chủ biên): Lịch sử văn hóa Trung Quốc Trương Chính, Thạch
Giang, Phan Văn Các dịch Nxb.KHXH Hà Nội
17 Tăng Kim Ngân: Cổ tích thần kỳ người Việt – Đặc điểm cấu tạo cốt truyện Nxb KHXH,
Trang 20thành nên thể loại truyện gồm có cốt truyện, nhân vật và motip(18) Tuy nhiên, cốttruyện của truyện kể dân gian có những đặc trưng không giống với cốt truyệntrong truyện ngắn hay tiểu thuyết cận, hiện đại Truyện dân gian thường sử dụngnhững công thức, nghệ thuật sẵn có trong kho tàng văn hóa dân gian như các kiểu
mở đầu, kết thúc và hàng loạt những motip nghệ thuật có sẵn, vì thế, dễ hiểu vì
sao truyện kể dân gian trên thế giới có nhiều nét gần gũi với nhau Linh dị ký tuy không có mối quan hệ trực tiếp với Lĩnh Nam chích quái và các tác phẩm truyền
kỳ, ghi chép truyện kể dân gian khác của Việt Nam như Truyền kỳ mạn lục, Công
dư tiệp ký, Kiến văn lục…, nhưng nhờ sử dụng cốt truyện dân gian nên có nhiều
điểm tương đồng Chúng tôi xin nêu một số đề tài, kiểu truyện tương đồng giữa
hai tác phẩm và giữa Linh dị ký với các tác phẩm khác của Việt Nam như sau.
- Kiểu truyện về Nguồn gốc địa danh, như Truyện bắt thần sấm nói về địa danh gò Ikazuchi (tr.1, q.Thượng) trong Linh dị ký, có cùng kiểu truyện với
Truyện thần Hồ tinh (địa danh Hồ Tây); Truyện thần ngư tinh (địa danh Bạch
Long Vĩ); Truyện Đầm Một Đêm (địa danh Đầm Nhất Dạ) trong Lĩnh Nam chích
quái
- Truyện kể về Phong tục :
+ Tục cầu đảo, xuất hiện trong các truyện sau đây: Truyện nhờ cầu nguyện
Quan Âm Bồ Tát được báo đền (tr.6, q.Thượng); Truyện gặp thời loạn lạc, kính tin Đức Quan Âm Bồ Tát được báo đền (tr.17, q.Thượng); Truyện quy y Tam Bảo, kính trọng các sư, nhờ tụng kinh nên được báo đền (tr 32, q.Thượng); Truyện giết bò làm lễ tế thần nơi khác, để chuộc lỗi lầm, lại làm việc phóng sinh, chịu sự quả báo việc thiện ác (tr.5, q.Trung)… trong Linh dị ký có cùng kiểu truyện với
18 Trần Thị An: Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam.
Luận án Tiến sĩ Ngữ văn Hà Nội 2000, tr 158
Trang 21Truyện Đổng Thiên Vương; Truyện Hai vị thần Long Nhãn Như Nguyệt, trong Lĩnh Nam chích quái
+ Tục cúng thần dịch bệnh, xuất hiện ở các truyện: Truyện quỷ sứ của Diêm
Ma Vương nhận của đút tha cho người bị bắt (tr.24, q.Trung); Truyện quỷ sứ cung Diêm Ma Vương báo đền ơn được mời cơm (tr.25, q.Trung) trong Linh dị
ký, có thể so sánh với Truyện tướng Dạ xoa trong Truyền kỳ mạn lục
+ Tục cúng ông bà tổ tiên, xuất hiện ở các truyện Truyện chiếc đầu lâu bị
người và súc vật dẫm đạp được chuyển đi nơi khác linh ứng báo ơn (tr.12,
q.Thượng) trong Linh dị ký, có cùng kiểu truyện với Truyện cổ bánh chưng bánh
dầy; Truyện cổ dưa hấu).
+ Tục ở rể , xuất hiện ở Truyện cần mẫn quy y tín ngưỡng Phật Quan Âm,
cầu nguyện phúc lành được gặp may mắn ở đời (tr.31, q.Thượng), có thể so sánh
với Truyện cổ Rùa vàng trong Lĩnh Nam chích quái
- Truyện kể về nhân vật:
+ Truyện về các nhân vật lịch sử: như Truyện những biểu hiện khác thường
của Thánh đức Thái tử (tr.6, 4, q.Thượng) kể về Thái tử Shotoku; Truyện cậy ngôi vị cao đánh nhà sư địa vị thấp hèn bị quả báo tội chết ( tr.1, q.Trung ) kể về
Thái tử Nagayano Okimi, có thể so sánh với truyện Truyện Lý Ông Trọng trong
Lĩnh Nam chích quái và mục “Nhân vật” trong sách Công dư tiệp ký, và truyện về
các nhân vật trong Kiến văn lục…
+ Truyện về các nhà sư, như Truyện nhà sư siêng tụng niệm kinh Bát nhã
tâm được ứng nghiệm có chuyện lạ xuất hiện (tr.14, q.Thượng); Truyện Đại đức Gyogi phóng tuệ nhãn mắng đuổi cô gái khi thấy trên đầu cô ta bôi dầu lợn rừng
(tr.29, 30, q.Trung) … có thể so sánh với truyện Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh
Không; Nguyễn Giác Hải, Dương Không Lộ trong Lĩnh Nam chích quái.
Trang 22- Truyện về thần, ma quỉ:
+ Thoái trị ma quỷ : như Truyện bắt thần sấm (tr.3, q.Thượng) ; Truyện chú
bé có sức mạnh nhờ sự trả ơn của thần sấm (tr.3, q.Thượng) có thể so sánh với Truyện cổ rùa vàng trong Lĩnh Nam chích quái ; Truyện Cường Bạo Đại vương
trong Công dư tiệp ký, Truyện Đánh ma trong Kiến văn lục…
Trở lên là một số đề tài, kiểu truyện có sự tương đồng giữa Linh dị ký và
Lĩnh Nam chích quái Có thể thấy Linh dị ký tuy không có mối quan hệ trực tiếp
với Lĩnh Nam chích quái và các tác phẩm truyện ký khác của Việt Nam song do
đều là tác phẩm ghi chép truyện cổ và truyền thuyết dân gian, lại chịu ảnh hưởngcủa truyện kể Phật giáo và văn học Trung Quốc nên có nhiều điểm tương đồng về
đề tài, kiểu truyện
3.2 Mô hình cấu trúc cốt truyện
Cốt truyện « Là hệ thống hoàn chỉnh các sự việc và hành động chính trongtác phẩm tự sự và kịch Cốt truyện hình thành từ những quan hệ phức tạp, chồngchéo giữa nhân vật và hoàn cảnh, nhân vật và nhân vật, vừa bộc lộ tính cách nhânvật, vừa phản ánh các mối quan hệ xã hội… » (19) Thông thường, các tác phẩmghi chép truyện dân gian giai đoạn đầu của dòng văn học mỗi nước thường chưa
chú ý đúng mức tới cốt truyện Linh dị ký cũng như vậy, tuy yếu tố hoang đường
kỳ ảo được sử dụng như là một biện pháp nghệ thuật chính, nhưng do ghi chép
“một cách khách quan”, “không hư cấu”, “hoàn toàn tự nhiên” từ câu chuyệntrong dân gian nên nó có nhiều điểm tương đồng với thể loại ghi chép truyện cổ
và truyền thuyết dân gian Trung Quốc và Việt Nam Đặc điểm chung của thể tàinày là các chuyện quái dị, hoang đường thường được ghi chép gắn với các sựkiện lịch sử có thật Các câu chuyện mà nó ghi chép đều mang ý nghĩa chứng sử,mượn hình tượng nghệ thuật trong văn học để phản ánh lịch sử
19 Từ điển Văn học Nxb KHXH Hà nội 1983, Tập I, tr.161
Trang 23Linh dị ký có mô hình kết cấu cốt truyện như thế nào? Nó có điểm chung và
riêng ra sao so với Lĩnh Nam chích quái ? Chúng ta tiếp tục tìm hiểu vấn đề này
đó gọi là “duyên” (Hán ngữ đại từ điển, tr.5707) Khác với chữ “truyện” trong
Hồng bàng thị truyện, Ngư tinh thần truyện; Mộc tinh thần truyện… đã cho thấy
ngay tính chất của tác phẩm thuộc thể loại “truyện ký”, nhưng chữ “duyên” trong
Linh dị ký thì không cho thấy điều đó Lẽ đương nhiên, chữ “ký” trong tên tác
phẩm Nhật Bản linh dị ký đã cho biết tác phẩm thuộc thể loại “truyện ký”, nhưng
chữ “duyên” cuối cùng trong tên từng truyện đã không cho thấy tính chất thể loại
tác phẩm Như trên đã trình bày, mục đích và ý đồ biên soạn của tác giả Linh dị
ký là ghi chép những truyện báo ứng, làm mọi người thấy rõ thuyết nhân quả báo
ứng, “ác giả ác báo, nhân giả nhân báo” theo thuyết của Phật giáo, vì thế dùngchữ “duyên” (duyên cớ) vừa chỉ ra nguyên nhân gây ra câu chuyện mà tác phẩmsưu tầm, ghi chép, vừa cho thấy ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo vào tác phẩm
Nếu so với tên truyện trong tác phẩm Sưu thần ký của Trung Quốc như “Vu Cát thỉnh vũ” (Vũ Cát cầu mưa) (tr.14, q.1); “Đỗ Lan Hương dữ Trương Truyền” (Đỗ
Lan Hương và Trương Truyền) (tr.22, q.1)… cũng dễ dàng nhận ra sự khác biệt
giữa Linh dị ký với Sưu thần ký
Trang 243.2.2 Hình thức bố cục cốt truyện
Nội dung của Linh dị ký xoay xung quanh những đề tài chính như: truyện
linh dị của Thần, Phật, Phật tượng, kinh điển; truyện nhân quả báo ứng ; truyệnkết hôn với động vật ; truyện chống lại thần linh ; truyện thi thố tài năng ; truyệnnhân vật lịch sử …
Cũng như các truyện ký khác, bố cục truyện của Linh dị ký được chia làm 3
phần: Mở đầu – Diễn biến - Kết thúc
Phần Mở đầu với câu mào đầu chủ yếu nêu rõ thời gian, địa điểm, họ tênnhân vật… xảy ra câu chuyện Khác với truyện cổ tích thường bắt đầu câuchuyện bằng: “Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ, có một cô gái,…”, đó là cáchnói về thời gian, không gian vô định, nhân vật khái quát, thường chỉ một loại
người trong xã hội, Linh dị ký giống với Lĩnh Nam chích quái cũng bắt đầu câu
chuyện bằng không gian, thời gian và nhân vật cụ thể, được xác định Hầu hết các
truyện trong Linh dị ký đều có cách mở đầu theo công thức này Theo thống kê, ở
Linh dị ký chỉ có 5 truyện trên tổng số 116 truyện từ mào đầu là chữ “tích” (Ngày
xưa – tức không rõ về ngày tháng, năm xẩy ra sự kiện), số còn lại đều ghi rõ là
“Vào thời …”, “Ở… có người tên là….” Nếu so sánh với Sưu thần ký của Trung
Quốc chúng ta cũng thấy có nhiều điểm tương đồng
Bảng so sánh cách mào đầu của ba tác phẩm Linh dị ký, Lĩnh Nam chích
quái và Sưu thần ký
Linh dị ký Lĩnh Nam chích quái Sưu thần ký
Sư tăng đại đức Jio của
chùa Gango ở kinh đô
Trang 25người ở Rokujo, thuộc
phía trái kinh đô Nara
(Truyện do quỷ sứ của
Diêm Ma Vương nhận
của đút nên tha cho
(tr.24.q.Trung)
Cuối thời Hùng Vương,
có người ở Thụy Hương,
huyện Từ Liêm (Truyện
Lý Ông Trọng) (tr.1,
q.Trung)
Đoàn Ế tự là NguyênChương, người huyệnTân Đô, quận Quảng hán
(Bức phong thư của
Đoàn Ế)(tr.50, q.3)
Cách vào đầu câu chuyện được ghi như trên nhằm khẳng định “câu chuyệnxẩy ra là có thật”, nhờ có tên người và địa điểm rõ ràng khiến người ta dễ tin theo
nội dung câu chuyện, kể cả tình tiết hoang đường Cốt truyện trong Linh dị ký
vừa dùng yếu tố hạt nhân “kỳ”, lại kết hợp với việc ghi chép rõ ràng về thời gian,
địa điểm để đạt được sự “chân thật” Lĩnh Nam chích quái cũng như vậy Trong lời Tựa, Vũ Quỳnh viết: “việc tuy kỳ dị nhưng không quái đản, tuy thần kỳ mà
không nhảm nhí, dẫu có phần hoang đường không nghiêm, nhưng tông tích
truyện có thể làm bằng cứ được” (Tựa Lĩnh Nam chích quái)
Trang 26Cũng như các thể tài văn học khác, cốt truyện trong Linh dị ký đóng vai trò
rất quan trọng, nó hấp dẫn và lôi cuốn độc giả bằng đặc trưng riêng, đó là sửdụng cốt truyện dân gian đơn giản, các nhân vật không có diễn biến tâm lý phứctạp, chủ yếu lấy yếu tố « kỳ » làm chất liệu xây dựng nhân vật và cốt truyện Ởđiểm này nó cũng giống với đặc trưng của chí quái của Trung Quốc, mà khôngthể tài văn học nào sử dụng công thức này
Ở phần Diễn biến, trong Linh dị ký, hầu hết diễn biến của truyện đều gắn với
hành động của nhân vật, xoay quanh nhân vật là các yếu tố kỳ ảo Ví dụ, truyện
kể về một người lấy cô gái xinh đẹp làm vợ, sau khi sinh con bị con chó trongnhà cắn phải hiện nguyên hình là con hồ ly chạy trốn (tr.2, q.Thượng) ; truyệnchú bé con do thần Sấm sinh ra có thể chế ngự ma quỷ ở chùa Kango (tr.3,q.Thượng); truyện Thiền sư Gusai chuộc rùa được rùa cứu sống khi bị bọn cướpvứt xuống biển (tr.7, quyển Thượng); truyện Yoshimichi bị điếc nhờ thành tâmtụng kinh Phương Quảng hai tai trở nên nghe được (tr.8, q.Thượng)… ; Cáctruyện quái dị như người biến thành bò (tr.20, q.Thượng ; tr.9, q.Trung…) ;truyện bức tranh Phật bị ăn trộm hóa thành tiếng kêu của loài vật báo cho sư nibiết chỗ để tìm lại (tr.35, q.Thượng); truyện pho tượng đồng cất tiếng kêu rên báocho người đi đường biết chỗ bọn trộm cắp cất giữ (tr.22, q.Trung)…
Tương tự như thế, các nhân vật trong Lĩnh Nam chích quái cũng được mô tả
gắn với yếu tố thần kỳ, như truyện chú bé lên ba tuổi, không biết nói, cười … saukhi nghe tin giặc sang xâm lược đã vụt hóa thành người khổng lồ, dẫn đầu đoàn
quân, đánh tan quân giặc (Truyện Đổng Thiên Vương) ; truyện Thiền sư Minh Không nấu nồi cơm mấy trăm người đi thuyền ăn không hết (Truyện Từ Đạo
Hạnh và Nguyễn Minh Không) ; truyện rùa vàng diệt ma quỷ, giúp vua An
Dương Vương xây thành (Truyện cổ rùa vàng) ; truyện thần sông Tô Lịch đánh tan đạo bùa do Cao Biền yểm (Truyện Sông Tô Lịch) … Tuy nhiên, đứng trước
Trang 27nạn đồng hóa của phương Bắc lúc nào cũng kề bên, tác giả Lĩnh Nam chích quái
đã sưu tầm ghi chép truyện dân gian với mục đích nhằm khẳng định Việt Nam làquốc gia có quốc thống dài lâu, cương vực, bờ cõi rõ ràng, phong tục tập quán có
từ xa xưa … nên lẽ đương nhiên tác phẩm có nhiều điểm khác với Linh dị ký.
Nhưng đi sâu vào nội dung cốt truyện, chúng ta sẽ thấy nhiều điểm tương đồngtrong việc sử dụng các motip dân gian Phần này chúng tôi sẽ đi sâu phân tích ởcác mục tiếp theo
Phần kết của các truyện trong Linh dị ký thường là lời nhận định, đánh giá,
ca ngợi những việc làm thiện, hoặc lời giáo huấn, răn đe những kẻ có tội, đặc biệtcác việc liên quan thuyết « nhân quả báo ứng » của đạo Phật Trong khi đó, ở
phần kết các truyện trong Lĩnh nam chích quái lại không có lời bình luận của tác giả Đây là điểm khác biệt nhất so với Linh dị ký Tuy lời bình luận ở cuối mỗi truyện cũng đã thấy xuất hiện ở một số tác phẩm thời Trần như Việt điện u linh,
Nam ông mộng lục, cho dù mới dừng ở các câu ca ngợi với nội dung ngắn gọn
như : « Hai miếu ấy đến nay hương hỏa bất tuyệt, linh ứng đã rõ từ lâu » (TriệuViệt Vương và Lý Nam Đế) (20) ; « Tuy các phi tần đời trước của nhà Trần cũnglắm người hiền đức nhưng người như phi này sinh sau mà gần như hơn hẳnnhưng người phi trước, sao lớn lao đến thế ? » (Sự kiên tri sáng suốt của một bàphi) (21) Phải chờ đến thế kỷ thứ XVII, mới xuất hiện lời bình phẩm về các vấn
đề mà truyện nêu ra, thậm chí còn ghi rõ « Lời bình » như ở cuối các truyện trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, hay Kiến văn lục của Vũ Trinh Có thể nêu
một ví dụ về lời bình trong Truyền kỳ mạn lục: « Lời bình : Than ôi, nói chuyện
quái, sợ loạn chuyện thường, cho nên thánh hiền không nói Nhưng việc Từ Thứclấy vợ tiên, cho là thực không ư ? Chưa hẳn là không ; cho là thực có ư ? chưahẳn là có Có không lờ mờ, câu chuyện tự hồ quái đản Nhưng có âm đức thì tất
20 Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam Nxb Thế giới Hà Nội 1997 Tập I, tr.65
Trang 28có dương báo, cũng là lẽ thường Những bậc quân tử sau này khi để mất đến sẽliệu mà thêm bớt, bỏ chỗ quái mà để chỗ thường thì phỏng có gì mà hại » (22).
Ở Trung Quốc, trong các tác phẩm truyền kỳ thời nhà Đường, lời bình củatác giả được viết đã khá sâu sắc, nhưng trước đó cũng có thể tìm thấy một số bình
luận trích từ các sách nhằm răn dạy và giáo huấn… trong Sưu thần ký (chủ yếu
xuất hiện ở q.6, tuy nhiên số lượng rất ít) Xin xem bảng so sánh dưới đây :
Nhân quả báo ứng chẳng quả đã rõ ràng
Lẽ nào chúng ta lại nghĩ là chuyện không
có thật (Truyện do lấy trộm của con sau
biến thành con bò kỳ lạ) (tr.10, q.Thượng)
Dịch truyện của Kinh Phòng nói :
« Vua gian lận bổng lộc, không giữchữ tín nên người hiền bỏ đi, chonên có điềm quái gở mưa ra cỏ »
(Trời mưa ra cỏ)(tr.132, q.6).
Than ôi, quả báo rất gần, nếu nghĩ rằng
mình cũng như người khác thì có thể đã là
người có nhân Làm người không thể
không có lòng nhân hậu (Truyện do người
đàn ông không có lòng từ bi, lột da thỏ
sống bị quả báo) (tr.16, q.Thượng)
Sách Hồng Phạm nói : « Việc đó do
chó gây họa đó là do lỗi không nghetheo »(Chó gây họa trong nhà)(tr.135, q.6)
Vì vậy trong Thành thực luận viết rằng :
« Nếu vay mượn của người không trả, sẽ
biến thành các loại gia súc như chó, dê,
hươu, ngựa để trả lại nợ của kiếp trước »
là nói về chuyện này vậy (Truyện do vay
rượu sinh lợi của chùa không trả, chết
biến thành bò, làm trả nợ) (tr.32, q.Trung)
Kinh dịch nói : « Chim đốt tổ của
mình là điềm lữ khách ban đầu cườinói vui vẻ, sau lại khóc hu hu » Saurốt cuộc gặp họa thay đổi triều đại
(Chim tự đốt tổ giết chim con)
(tr.136, q.6)
22 Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam Nxb Thế giới Hà Nội 1997 Tập I, tr.250
Trang 29Trong kiểu truyện về thiền sư, sách Linh dị ký còn xuất hiện các bài tán thay cho lời kết thúc truyện Có thể nêu một thí dụ : ở phần cuối của truyện : Truyện
một người chuyên cần học đạo Phật, hoằng dương Phật pháp, đem lại lợi ích cho mọi người, khi sắp mất xuất hiện điều kỳ lạ (tr 22, q.Thượng) có đoạn kể về
Pháp sư Dojo sang Trung Quốc học đạo Phật, trở thành đệ tử của Huyền TrangTam Tạng Sau khi trở về nước ông hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng dân.Trí tuệ của ông như một viên ngọc không vết xước, tri thức của ông sáng rọi nhưgương Khi ông gần mất, phòng của ông xuất hiện luồng ánh sáng chiếu rọi sáng
cả một phía cây thông trong sân chùa Khi ánh sáng đó bay về phương Tây cũng
là lúc Pháp sư qua đời Lời tán rằng : « Đại đức Do sho, Tên họ Funa, Rạng ngờiđức hạnh, Đi xa cầu Phật, Bậc thánh phi phàm, Mất còn tỏa sáng »
Thông thường các bài tán tuy có độ dài, ngắn khác nhau, nhưng đều lànhững lời bàn luận, ca ngợi tôn vinh nhân vật, hoặc đúc kết lại những điều đã kể
về nhân vật thiền sư Truyện thấy quạ tà dâm, ghét thói đời bỏ đi tu đạo Phật
cũng có bài tán như sau : « Mẫu mực thay, Ông họ Chinu no Agatanushi, Thấychim quạ tà dâm, Chán đời xa trần tục, Trong giả dối phù hoa, Tấm thân luôntrong sạch, Chuyên cần tu đạo Phật, Nguyện cầu trí tuệ minh, Miền cực lạc vãngsinh, Thế giới này giải thoát Kỳ tú thay ẩn sĩ » (tr.2, q Trung)
So sánh với 4 truyện về thiền sư ở Lĩnh Nam chích quái đều không xuất hiện
lời tán ở phần kết thúc, nhưng lại thấy ở phần kết thúc đoạn truyện TruyệnDương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải có đoạn : « Xưa, ông cùng Không Lộ về
Hà Trạch, tìm về chùa của Không Lộ Thời Lý Nhân Tông thường cùng ĐạoHuyền chân nhân vào ngồi hầu ở chùa Lương Thạch ở Liên Bồng Mộng Bỗng cóđôi tắc kè gọi nhau, đinh tai nhức óc Vua lệnh cho Huyền niệm chú, một con rơixuống trước Vua cười bảo : « Còn một con để cho nhà sư » Nhà sư Giác Hải bền
Trang 30niệm chú, trong chốc lát con kia cũng rơi xuống nốt Vua lạ lắm bèn làm bài tánrằng : « Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo diệc huyền, Thần thông năngbiến hóa, Nhất Phật nhất thần tiên (Tạm dịch : Giác Hải lòng như biển, ThôngHuyền đạo lại huyền , Thần thông thêm biến hóa, Nhất Phật nhất thần tiên)
Kiểu truyện thiền sư trong Linh dị ký có cốt truyện khá đơn giản, nhưng tất
cả đều tuân theo một kết cấu khá hoàn chỉnh, có mở đầu (ở đâu, tên gì), diễn biến(tài năng, đức độ, công trạng, điều kỳ lạ) và kết luận (lời bình luận của tác giả),
trong khi đó kiểu truyện thiền sư trong Lĩnh Nam chích quái đã có xu hướng xâu
chuỗi, lắp ghép nhiều mảnh truyện dân gian thành một truyện, khiến cho truyệngồm nhiều mạch truyện, phát triển theo nhiều khuynh hướng mà mới nhìn quakhông thể phân biệt được đâu là chất keo dán chìm được dùng để quy tụ cácmảng về một hướng Người kể chuyện đã thể hiện một sự thâu nhặt rộng rãi cáctruyện trong dân gian, mục đích cuối cùng là nhằm làm dày thêm công trạng vàlinh thiêng hóa nhân vật được tôn vinh
3.2.3 Về các bài thơ đồng dao, sấm ký
Trong Linh dị ký còn xuất hiện các bài thơ, đồng dao, ở thời kỳ này cũng được nâng lên thành phương thức diễn tả nội tâm nhân vật Khi viết Linh dị ký,
tác giả Keikai đã dựa vào nguồn sử liệu và dân ca được sáng tác trong dân gian
Ở Nhật Bản, ca dao xuất hiện rất sớm Nó ra đời gắn với nghi lễ cung đình, gắn
với lễ hội các miền quê và sinh hoạt thực tiễn của nhân dân lao động Trong Linh
dị ký nếu ở Truyện lấy vợ hồ sinh con (tr.2, q.Thượng) ; Truyện những biểu hiện khác thường của Thánh đức Thái tử (tr.4, q Thượng), tác giả dùng lời ca giầu
chất trữ tình, thì ở Truyện sư tăng có tri thức, tu hành đắc đạo được đâì thai trở
thành con của Thiên hoàng (tr.38, q.Hạ), tác giả sử dụng đồng dao có tính điềm
báo, sấm ký Những bài thơ, đồng dao này thường đều liên quan đến sự kiệnchính trị - xã hội quan trong như những lời dự báo, dự đoán trước về vận mệnh
Trang 31của đất nước, về việc thay đổi ngôi, hoặc mang ý nghĩa phê phán xã hội, thể hiệnnguyện vọng của nhân dân trước các sự kiện chính trị và nhân vật đương thời.Chúng ta có thể điểm qua một vài bài và hoàn cảnh xuất hiện của chúng.
Vào thời Thiên hoàng Somu trị vì thiên hạ ở ung Na ra Thiên hoàng muốncho con mình là Abeno Kimemiki và Funadono Miko, cháu của Thiên hoàngTenmu lên nối ngôi bèn ngời nakamaro giữ chức Đại nạp ngôn tới uống rượu rồilệnh cho Nakamaro thề ràng sau khi Thiên hoàng băng hà phải đưa hai người trênnối ngôi Nakamaro giữ đúng lời hứa đưa Funadono Miko lên ngôi Lúc đó trongdân gian có lời ca rằng :
« Ôi, thân vương đã mất đi tuổi thanh xuân,
Thân vương bất hạnh sẽ còn để mất đi nữa
ta Bài hát đó là điềm báo trước thân vương này sẽ diệt vong
… Lại nói vào thời Thiên hoàng Sotoku trì vì đất nước ở cung Nara, ngườitrong nước thường hát bài :
« Đường dốc Yamabe thẳng đến cung Fujiwara,
Hãy đừng đi mạnh chân, dù đó là đường đồi,
Vì có tên cao quý gọi là Yamabe
Trang 32Sau đó quả thật vào ngày 15, tháng 4, năm Teno thứ nhất (781), YamabenoMiko tức Thiên hoàng Kanmu lên ngôi Có thể biết bài hát đó là điềm báo trước
sự kiện nói trên
Thực tế, các bài đồng dao sấm ký trong Linh dị ký tuy xuất hiện ít, nhưng
cũng là một bộ phận quan trọng của tác phẩm Nó gắn với một thời kỳ mà cáctruyện dân gian thường được đặt trong không khí của huyền thoại, một khônggian văn hóa đậm chất tâm linh Lý giải sự có mặt của các bài đồng dao sấm ký
trong Linh dị ký cũng cần thiết mở rộng tìm hiểu vấn đề này ở Trung Quốc thời
cổ đại Các nhà nghiên cứu cho rằng « sấm ký », « phù sấm » « dao sấm »… đềuthuộc sấm vĩ, một học thuyết hóa kinh học, thần học ra đời từ thời kỳ Lưỡng Hán
« Sấm là những lời nói bí ẩn, giả thác lời nói của thần tiên hay thánh nhân để dựbáo việc lành dữ, tiên liệu về việc chính sự » Trước thời Hán ở nước Yên, Tề cóphương sĩ rất giỏi làm « sấm ngữ » Vào thời Tần Thủy Hoàng có phương sĩ LưSinh ra biển cầu tiên, mang về sách « Đồ lục », trong sách có ghi lời sấm dự báo
« Kẻ làm mất nhà Tần chính họ Hồ » Sách Sử ký còn có cả mục « Tần sấm » (23)
Trong Sưu thần ký cũng xuất hiện các bài thơ đồng dao, sấm ký Có thể nêu
một ví dụ : « Cuối thời Hán Linh đế, ở kinh thành lưu truyền bài ca dao noi :
« Hầu chẳng ra hầu, Vương chẳng ra vương, Xe ngựa ngàn vạn, Đều đến Bắcmang » Vào năm thứ 6 niên hiệu Trung Bình, Lại hầu (tức Thiếu đế Lưu Biện)lên ngôi thiên tử Bấy giờ hán Hiến đế còn chưa phong tước nên bị bọn Trungthượng thị Đoàn Khuê bắt đi Các công khanh bá quan triều đình đều đi theo sau,
đến bờ sông Hoàng Hà mới được trở về » (Bài ca dao trong kinh thành) (tr.165,
q.6) Theo các nhà nghiên cứu, đồng dao, sấm ký tuy chưa phải là đặc điểm nổibật của tiểu thuyết chí quái, song cũng có thể thấy, trong xã hội có nhiều chuyện
23 Sấm vĩ ở Trung Quốc Tài liệu mạng http://baike.baidu.com/view/18439.htm
Trang 33quái dị như xã hội của Sưu thần ký thì việc sử dụng các bài sấm bí ẩn chủ yếu để
« hư hư thực thực một hiện tượng xã hội »
Khác với thơ sấm ký Trung Quốc viết bằng chữ Hán, các bài thơ đồng dao
trong Linh dị ký tuy được viết bằng chữ Hán nhưng là chữ Hán ghi âm tiếng
Nhật, tác giả phải chua thêm chữ katakana để biểu thị các trợ từ trong tiếng Nhật
và đọc chúng bằng tiếng Nhật
Ở Việt Nam, trong sách Thiền uyển tập anh và Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ
nhà Lê, xuất hiện khá nhiều bài thơ sấm ký Ông Nguyễn Đổng Chi trong sách
Việt Nam cổ văn học sử đã dành cả mục 5 : Vỡ tổ sấm ký để phân tích về hiện
tượng này(24) Nhà nghiên cứu Đặng Văn Lung có bài Thơ sấm thời Lý (25)để bìnhluận về vấn đề sấm ký và những vấn đề liên quan
Xưa nay, khi nghiên cứu về sấm ký, các nhà nghiên cứu trong nước dường
như không ai nhắc tới Lĩnh Nam chích quái Lĩnh Nam chích quái là tác phẩm ghi
chép truyện dân gian, thuộc thể loại « truyện ký », liệu tác phẩm có tuân theonhững đặc trưng của thể loại này không ? Tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi thấy tuykhông có thơ « sấm » đoán về sự lên ngôi của nhà Lý như trong một số tác phẩmnói trên, song bài thơ « Nam quốc sơn hà Nam đế cư » có thể coi là bài thơ
« sấm » Bài thơ thác lời thần để dự báo về sự thất bại thảm hại của quân Tống
xâm lược Bài thơ có nhiều dị bản, song bài thơ trong Lĩnh Nam chích quái,
A.2914 được TS Nguyễn Thị Oanh chứng minh là bài thơ có thể do Thiền sưKhuông Việt sáng tác để cổ vũ tinh thần của quân dân nước Việt và làm lung lay
ý chí chiến đấu của quân thù Bài thơ như sau :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư,
24 Nguyễn Đổng Chi: Việt Nam văn học sử, Hàn Thuyên xuất bản cục H 1942, tr.105
Trang 34Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,
Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ
(Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Hoàng thiên đã định ở sách trời,
Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm,
Sẽ gặp cuồng phong quét tả tơi) (26)
Bài thơ nói đến quyền độc lập tự chủ của nước ta, trước hết là từ trong
“thiên thư”, do trời và thần công nhân Nền độc lập và chủ quyền đó đã được trời
và thần xác lập thì nó sẽ tồn tại một cách vững chắc, bất khả xâm phạm “Hộikiến thịnh trần tận tảo trừ” (Sẽ gặp cuồng phong quét tả tơi) là câu dự báo, bất kể
kẻ nào làm phương hại đến nền độc lập tự chủ đó sẽ bị trời và thần trừng trị.Chưa cần nhờ đến sức mạnh của con người, chỉ với sức mạnh của thần linh, củahồn thiêng sông núi thì bọn ngoại xâm đã phải thảm bại “Thiên thời, địa lợi,nhân hòa” là điều kiện để dân tộc ta làm nên những chiến công lừng lẫy trước cáccuộc xâm lăng của đế chế phương Bắc Để nhấn mạnh sự trợ giúp cả thần linhtrong việc “điều phối biến hóa việc thế gian, quyết định số phận cho muôn loài”,người xưa đã đặt chữ “thiên” lên đầu coi là điều kiện tiên quyết Đứng trước thếgiới bí ẩn của thế giới tự nhiên, con người thời cổ đại thường đặt niềm tin vàonhững giá trị mà họ cho là thiêng liêng Đồng dao, sấm ký thường ra đời trongkhông gian huyền thoại và đậm chất tâm linh như thế
3.3 Hệ thống nhân vật
Ngoài cốt truyện, nhân vật là yếu tố thứ hai quan trọng để hình thành nên
thể loại “truyện” Linh dị ký cũng như các tác phẩm ghi chép truyện dân gian giai
26 Nguyễn Thị Oanh: Tìm tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà Thông báo Hán Nôm học năm
2008 Viện Nghiên cứu Hán Nôm 2009, tr.776-793
Trang 35đoạn đầu ở các nước như Lĩnh Nam chích quái, Sưu thần ký đều cập tới tất cả các
loại người trong xã hội, từ quý tộc trong triều đình, tăng lữ cho đến người dân nơithôn dã Nhiều nhất vẫn là truyện về những người bình thường do việc thiện, ác màđược báo đáp hoặc phải chịu quả báo theo tín ngưỡng đức Phật Tuy nhiên, cácnhân vật mới chỉ được miêu tả về hành trạng, vẻ bên ngoài, hành động việc làm
mà chưa được chú trọng vào việc miêu tả nội tâm hay diễn biến tâm lý Do đượcxây dựng gắn với yếu tố “kỳ” nên phần lớn các nhân vật này đều có những hànhđộng, việc làm kỳ dị khác với người thường hoặc có những đặc điểm khácthường
Trong mục này, chúng tôi đi sâu phân tích hệ thống nhân vật thần kỳ trong
Linh dị ký, so sánh với Lĩnh Nam chích quái và Sưu thần ký để tìm ra những điểm
chung, riêng trong việc xây dựng nhân vật thần kỳ ở ba nước Trong thể loại
setsuwa nói chung và trong Linh dị ký nói riêng, nhân vật tuy chưa được xây
dựng bằng cách chú trọng khắc hoạ tính cách, tâm lý, mà chủ yếu xuất hiện điliền với những hiện tượng kỳ quái, hoặc liên quan đến những sự việc hoangđường kỳ ảo Yếu tố hoang đường kỳ ảo được sử dụng như một phương thức nghệ
thuật chính làm nên đặc trưng và cũng chính là yếu tố bất biến của Linh dị ký Trong Linh dị ký nhân vật chủ yếu là con người nhưng mang yếu tố kỳ quái Nhân vật trong Linh dị ký không phải là những con người khổng lồ, được xây
dựng bằng nét hoang đường kỳ ảo, hào hùng kỳ vĩ như nhân vật trong thần thoại,
mà giản dị, gần gũi với đời thường, cho dù các yếu tố có tính chất thần kỳ được tácgiả khoác thêm nhằm làm cho truyện thêm ly kỳ hấp dẫn, nhân vật được đề cao.Tuy không có hành động kỳ vĩ với những thân thể đồ sộ , vũ khí khổng lồ nhưngcác nhân vật vẫn mang dáng dấp anh hùng của thần thoại qua mô típ sinh nở thần
kỳ với các yếu tố kỳ ảo
Trang 36Chúng tôi xin lần lượt phân tích một số cách xây dựng nhân vật thần kỳ nhưsau
3.3.1 Nhân vật chống thần linh
3.3.1.1 Nhân vật “bắt thần sấm” hay “đánh lui thần sấm”
Truyện bắt thần sấm (tr.1, q.Thượng) kể về nhân vật Sugaru thuộc dòng họ
Chisakobe là cận thần tâm phúc hộ vệ cho Thiên hoàng Yuryaku Khi thiên hoàng
ái ân với hoàng hậu cung điện daian, trong không trung bỗng vang lên tiếng sấm.Thiên hoàng sợ hãi bèn lệnh cho Sugaru đi bắt thần Sấm Sugaru phụng mệnh ra
đi, khi đi đến pho Morokoshi ông lớn tiếng gọi thần sấm Khi quay trở về, ông đãthấy thần sấm giáng hạ, bèn cho quan trông coi thần mang kiệu đưa thần sấm vềcung điện Về tới nơi, thần sấm bỗng lòe chớp sáng khiến thiên hoàng sợ hãi, ngàibèn ra lệnh cho người rước thần sấm về nơi đã giáng hạ Sauk hi Sugaru mất, thiênhoàng cho đặt mộ của ông ở nơi thần sấm giáng xuống và cho dựng bia, đề rằng:
“Mộ của Sugaru, người đã bắt được thần sấm” Thần sấm nghe tin tức giận, nhảyxuống định dẫm nát trụ bia, nhưng lại bị kẹp chặt vào vết nứt của trụ bia Thiênhoàng lại sai người gỡ ra, thần sấm mới thoát chết Sau khi thoát ra ngoài, thầnsấm vẫn sợ hãi, ở lại bên mộ bảy ngày bảy đêm, không thể bay về trời được Thiênhoàng lại ra lệnh dựng lại bia và đề rằng: “Mộ của Sugaru, người lúc sống bắtđược thần sấm, khi mất cũng bắt được thần sấm”
Ngoài truyện trên, Truyện chú bé có sức mạnh nhờ sự hảo tâm của thần sấm
(tr.3, q.Thượng) cũng có chi tiết liên quan đến thần sấm Phần đầu truyện kể vềngười nông dân ở làng Katawa đi dẫn nước vào ruộng, gặp trời mưa liền trú mưadưới gốc cây Đúng lúc đó thần sấm giáng hạ, người nông dân định dùng gậy sắtđập chết thần sấm nhưng khi nghe thần sấm nói cho đứa con để trả ơn, ông bènlàm máng nước bằng cây quế hương, thả lá tre xuống cho thần sấm bay về trời
Trang 37Thần sấm là nhân vật thường xuất hiện trong truyện cổ và truyền thuyết dângian ở các nước trong khu vực Nhật Bản cũng như Trung Quốc, Triều Tiên và ViệtNam cũng là nước nông nghiệp, từ xa xưa đã lấy việc trồng lúa làm cây trồng cơbản Do có nhiều điểm tương đồng về điều kiện khí hậu, nắng lắm, mưa nhiều vềmùa hạ nên có điều kiện để phát triển nghề nông và cây lúa nước Bên cạnh đó, cácnước cũng phải hứng chịu những khắc nghiệt do thiên nhiên mang lại, đe dọa tínhmạng con người và cuộc sống như nạn lũ lụt, ngập úng, hạn hán và sấm sét Trongcuộc đấu tranh với thiên nhiên, xuất hiện các nhân vật anh hùng chống thiên nhiênmang tầm vóc vũ trụ Xuất phát từ nhu cầu ca ngợi, tôn vinh, ngay từ những tácphẩm ghi chép truyện dân gian đầu tiên đã xuất hiện truyện kể và các nhân vật anhhùng có khả năng chống thiên tai như lũ lụt, hạn hán, sấm sét Các nhân vật nàyđều được mô tả như những người nông dân bình thường, nhưng họ lại có khả năngphi thường chế ngự được thần thánh Sau khi chết đi họ còn được tôn thành thần vàchiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Truyện về
những người bắt thần sấm trong Linh dị ký và truyện kể dân gian các nước khu vực
văn hóa Hán phản ánh một chiều kích khác trong đời sống tâm linh của con người
Kiểu truyện bắt thần sấm trong Linh dị ký đã được nhà nghiên cứu Kono
Kimiko (Đại học Waseda, Nhật bản) (27) và TS Nguyễn Thị Oanh (28) đi sâu phântích, so sánh cấu tạo cốt truyện và cách xây dựng nhân vật trong kiểu truyện “đánhlui thần sấm” của Việt Nam Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, nhân vật “bắt
thần sấm”, hay “đánh lui thần sấm” trong Linh dị ký và truyện cổ dân gian các
nước trong khu vực như Trung Quốc, Việt Nam đều được xây dựng theo cấu trúc:
27 Kono Kimiko: Nghiên cứu Nhật Bản linh dị ký với truyền thuyết dân gian Trung Quốc.
Nxb Bensei 1986
28 Nguyễn Thị Oanh: Kiểu truyện “đánh lui thần sấm” trong truyện cổ dân gian Việt Nam,
Trang 381 Sinh nở thần kỳ Như nằm mơ thấy thần nhân thác thai; sinh ra từ trứng,
có hiện tượng kỳ lạ khi sinh nở…
2 Tính cách nhân vật Thường được mô tả là những người dũng mãnh, táobạo
3 Công trạng thần kỳ Thường được mô tả kèm theo vũ khí của nhân vật;phương pháp chế ngự
4 Sự trả thù của thần sấm
5 Sự hóa thân của nhân vật trị thần sấm
Trong bài viết trên, TS Nguyễn Thị Oanh sau khi so sánh kiểu truyện “bắt
thần sấm” trong Linh dị ký, so sánh với Sưu thần ký của Trung quốc và Công dư
tiệp ký của Việt Nam và đưa ra kết luận: Thứ nhất, kiểu truyện “bắt thần sấm” hay
“đánh lui thần sấm” khá phổ biến trong truyện cổ và truyền thuyết dân gian banước Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam Thứ hai, Nhật Bản và Việt Nam đềuchịu ảnh hưởng của cốt truyện “đánh lui thần sấm” từ Trung Quốc Tuy nhiên, đó
là hiện tượng bình thường, nếu không nói là phổ biến làm nên đặc trưng độc đáocủa văn học dân gian trên thế giới Thứ ba, Việc so sánh không phải nhằm truy lạinguồn gốc, xuất xứ mà quan trọng hơn tìm ra sự khác biệt, làm nên bản sắc riêngbiệt của dân gian mỗi nước Cốt truyện “đánh lui thần sấm” của Việt Nam tuy chịuảnh hưởng của Trung Quốc song cách dàn dựng lại theo công thức truyền thuyết vềngười anh hùng Do ra đời muộn vào giai đoạn xã hội Việt Nam có nhiều biếnđộng nên cảm hứng tôn vinh mờ nhạt Điều này hoàn toàn khác với Nhật Bản vàTrung Quốc
Để thấy rõ hơn cách xây dựng nhân vật chế ngự thần linh, ma quỷ trong Linh
dị ký so với Lĩnh Nam chích quái và Sưu thần ký, chúng tôi xin tiếp tục tìm hiểu
vấn đề này ở mục tiếp theo
Trang 393.3.1.2 Nhân vật trị ma quỷ
Nhân vật “trị ma quỷ” hay hàng phục ma quỷ thường xuất hiện trong vănhọc dân gian thế giới Truyện cổ Việt Nam và Nhật Bản cũng không nằm ngoàithông lệ đó Ở Trung Quốc, nhân vật trị ma quỷ xuất hiện phong phú trong các
tiểu thuyết chí quái như Sưu thần ký, U quái lục ra đời từ thời nhà Tấn (thế kỷ
3-5) cho đến thời nhà Đường (thế kỷ 7-10) Trong thế giới truyện cổ của khối cácnước đồng văn như Việt Nam, bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản cũng xuất hiệnnhiều kiểu truyện và motip tương đồng với truyện cổ và truyền thuyết dân gianTrung Quốc, trong đó có nhân vật "trị ma quỷ" hay “hàng phục ma quỷ”
Tuy nhiên, khác với Việt Nam, ở Nhật Bản, việc nghiên cứu so sánh truyện
cổ và truyền thuyết dân gian giữa ba nước Nhật Bản với Trung Quốc và bán đảoTriều Tiên đã đạt nhiều thành tựu có giá trị, đáng khâm phục Như trên đã trình
bày, tác phẩm Nhật Bản linh dị ký và truyền thuyết dân gian Trung Quốc do
Kono Kimiko (Đại học Waseda, Tokyo) thực hiện được đánh giá là công trình
tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu so sánh giữa tác phẩm Nhật Bản linh dị ký
với truyện cổ và truyền thuyết dân Trung Quốc Trong công trình này, KonoKimiko cũng làm rõ ảnh hưởng của kiểu truyện "trị ma quỷ" từ Trung Quốc,nhưng cũng cho thấy sự sáng tạo của tác giả Nhật Bản trong việc xây dựng nhânvật trị ma quỷ trong tác phẩm
Trong công trình đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu so sánh truyện cổ dân gian ba
nước Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản, PGS.TS Nguyễn Thị Oanh cũng đã đi
sâu nghiên cứu thế giới ma quỷ, qua đó cũng đề cập đến kiểu truyện “trị ma quỷ”trong truyện cổ dân gian ba nước Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản (29)
Trong mục này, chúng tôi xin kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhànghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề này, đồng thời làm nổi bật sự sáng tạo
29 Nguyễn Thị Oanh: Nghiên cứu so sánh truyện cổ dân gian Việt Nam, Trung Quốc và
Nhật Bản Công trình cấp Bộ, nghiệm thụ ngày 14/12/2011, tại Hội đồng Viện Khoa học xã
Trang 40trong việc xây dựng cốt truyện, đặc biệt là cách xây dựng nhân vật trong kiểu
truyện trị ma quỷ của Linh dị ký, so sánh với Lĩnh Nam chích quái và Sưu thần
ký.
Trước hết, chúng ta hãy xem nhân vật diệt trừ ma quỷ trong Linh dị ký được xây dựng thế nào Truyện chú bé có sức mạnh nhờ sự trả ơn của thần Sấm (tr.3,
q.Thượng) kể rằng:
Về sau chú bé con vào làm tiểu ở chùa Gango Bấy giờ, đêm đêm thường
có người chết ở gác chuông chùa Chú bé thấy thế liền thưa với các sư tăng rằng:
"Con xin giải nạn chết chóc này" Các sư đồng ý
Chú tiểu liền lấy bốn cái đèn để ở bốn góc gác chuông và bảo bốn ngườirình ở bốn góc: "Nếu ta bắt được quỷ, tất cả các ngươi hãy cùng lúc mở chụp đènra" Nói rồi chú bé nấp vào chỗ cánh cửa gác chuồng Nửa đêm quỷ mò tới Liếcthấy chú bé ở đó, quỷ liền quay lại Mãi đến canh tư, quỷ mới dám đi vào gácchuông Lập tức, chú bé túm tóc kéo vào Quỷ vùng vẫy chạy ra ngoài còn chú bélại ra sức đẩy quỷ vào trong Bốn người đứng chờ sẵn đấy hoảng hốt, ngây người
ra, luống cuống không sao mở nổi chụp đèn Chú bé vừa kéo quỷ đi quanh bốngóc vừa lần lượt mở chụp đèn Gần sáng, quỷ phải chịu lột tóc mới trốn thoát.Ngày hôm sau, lần theo vết máu quỷ đến ngã tư nơi chôn kẻ hầu ác bụng của nhàchùa mới vẽ lẽ con quỷ ấy chính là linh hồn của người hầu xấu bụng đó Mái tóccon quỷ được chùa Gango giữ lại sau trở thành vật báu của chùa
Cũng giống như nhân vật “bắt thần sấm” hay “hàng phục thần sấm”, nhân
vật “trị ma quỷ” trong Linh dị ký được xây dựng theo công thức:
- Sinh nở thần thần kỳ: “…Bỗng mây đen kéo đến che kín bầu trời, một lúcsau chú bé được sinh ra, trên đầu có hai con rắn cuộn tròn, đầu và đuôi rủ cảxuống phía sau”
- Tính cách: