Về thanh tra: a Lập kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ; hướng dẫn Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ sau đây gọi tắt là Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 1Câu 1 Quan điểm của Nhà nước về Thanh tra, giải quyết Khiếu nại, Tố cáo và PCTN
I QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
Từ trước đến nay, Đảng ta đã ban hành rất nhiều chỉ thị, nghị quyết để lãnh đạo cuộc đấutranh chống tham nhũng Nghị quyết số 14/NQ/TW ngày 15-5-1996 về quan điểm chỉ đạo vàmột số giải pháp để đấu tranh chống tham nhũng của Bộ Chính trị khóa VII đã chỉ rõ: Đấutranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp đấutranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay Nó góp phần nâng cao vai trò lãnh đạocủa Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy nhànước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền dân chủ của nhân dân… Đấu tranh chống thamnhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăngcường đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Chống tham nhũng là cuộc đấu tranh hết sức phức tạp, đòi hỏi có sự lãnh đạo toàn diện và
tuyệt đối của Đảng, quan điểm, nguyên tắc xây dựng Luật phòng, chống tham nhũng chủ yếu
dựa trên các quan điểm lớn đã được chỉ ra tại Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 15-5-1996 vàtrong một số văn kiện khác của Đảng như sau:
- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn chặt với đổi mới kinh tế - xã hội, nâng cao đờisống của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân;
- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới hệ thống chính trị,xây dựng Đảng và kiện toàn, tăng cường đoàn kết nội bộ;
- Chống tham nhũng phải gắn liền với chống quan liêu, lãng phí;
- Đấu tranh chống tham nhũng phải kết hợp giữa xây, phòng và chống Vừa tích cực phòngngừa, vừa xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng;
- Đẩy mạnh phòng và chống tham nhũng một cách chủ động, huy động và phối hợp chặtchẽ mọi lực lượng đấu tranh chống tham nhũng, thực hiện chống tham nhũng ở mọi cấp, mọingành;
- Đấu tranh chống tham nhũng là nhiệm vụ lâu dài, phải tiến hành kiên quyết, kiên trì
và thận trọng, không nóng vội, không chủ quan; phải có kế hoạch cụ thể, có bước đi vữngchắc; sử dụng nhiều biện pháp, trong đó lấy giáo dục làm cơ sở, lấy pháp chế làm đảmbảo
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp nhằmđẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, trong đó xác định: “Đấu tranh phòng,chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm
vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”[1] Đại hội yêu cầu:
“Thành lập các ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng trung ương và địa phương đủ mạnh, cóthực quyền, hoạt động có hiệu quả”2
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa X đã ra Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí Đây là Nghị quyết đầu tiên của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng đề cập một cách toàn diện, tập trung về công tác phòng, chống tham nhũng,lãng phí Nghị quyết Trung ương 3 khóa X đã đưa ra những nhận định, đánh giá về công tácphòng, chống tham nhũng, lãng phí; chỉ ra những nguyên nhânchủ yếu của những thiếu sót,khuyết điểm trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đề ra những mục tiêu, quan điểm chỉđạo công tácphòng, chống tham nhũng, lãng phí
Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí được nêu trong Nghị quyết Trungương 3 khóa X là: “Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến
rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân;
Trang 2xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêmchính”.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, Nghị quyết đã đề ra 10 chủ trương, giải pháp như sau:
Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng Đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, phải nêu gương về đạo đức, lối sống và kiên quyết chống tham nhũng
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí Đưa nội dung phòng, chống tham nhũngvào chương trình giáo dục Mở chuyên mục tuyên truyền, giáo dục về vấn đề này trên các báo,đài Bảo vệ, biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích đấu tranh chống thamnhũng
Hai là, nâng cao tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên, tăng cường vai trò của chi bộ đảng trong quản lý, giáo dục đảng viên.
Chi bộ đảng phải nắm chắc việc thực hiện nhiệm vụ và quan hệ xã hội của đảng viêntrong chi bộ, giáo dục, nhắc nhở và kịp thời kiểm tra, xử lý những trường hợp có dấu hiệu viphạm, không được dung túng, bao che tham nhũng
Nâng cao tính chiến đấu, thực hiện dân chủ, công khai trong tự phê bình và phê bình theophương châm "trên trước, dưới sau, trong trước, ngoài sau" Trong sinh hoạt đảng và nhậnxét, đánh giá đảng viên hằng năm, phải có nội dung về phòng, chống tham nhũng Hằng năm,cán bộ chủ chốt cấp xã phải trực tiếp tự phê bình và phê bình tại hội nghị đại diện nhân dân
do Mặt trận Tổ quốc tổ chức Xây dựng và thực hiện cơ chế chất vấn trong sinh hoạt đảng
Ba là, tiếp tục hoàn thiện công tác cán bộ phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng.
Sửa đổi, bổ sung các quy định về công tác cán bộ, bảo đảm công khai, dân chủ; chấn chỉnhcông tác thi tuyển, tiếp nhận cán bộ, công chức Thực hiện nghiêm túc việc chuyển đổi vị trícông tác trong hệ thống chính trị và việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị
để xảy ra tham nhũng
Xây dựng lộ trình cải cách tiền lương trong những năm tới theo hướng tăng thu nhập caohơn cho cán bộ, công chức Bảo đảm minh bạch tài sản, thu nhập của đảng viên, cán bộ, côngchức; đảng viên là cán bộ, công chức thuộc diện kê khai tài sản phải công bố bản kê khaitrong chi bộ, là cấp ủy viên thì còn phải công khai trong cấp ủy Xây dựng và thực hiện quytắc ứng xử nhằm bảo đảm sự liêm chính của đảng viên, cán bộ, công chức Rà soát, sửa đổi
và bổ sung Quy định những điều đảng viên không được làm; công bố công khai để nhân dângiám sát
Bồn là, bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch; bổ sung quy định bảo đảm minhbạch quá trình ra quyết định, bao gồm cả chính sách, văn bản quy phạm pháp luật và quyếtđịnh giải quyết một vụ việc cụ thể của cơ quan nhà nước các cấp Xem xét, sửa đổi các danhmục bí mật nhà nước nhằm mở rộng công khai Hoàn thiện, công khai hóa và thực hiện đúngcác chế độ, định mức, tiêu chuẩn sử dụng lao động, ngân sách và tài sản công Nghiên cứu
ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân.
Năm là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội.
Thực hiện nghiêm các quy định về quản lý và sử dụng đất đai, công sở Chấn chỉnh, bảođảm công khai, minh bạch trong quy hoạch và quản lý, sử dụng đất đai, công sở Hoàn thiện
hệ thống chính sách, pháp luật, tài chính về đất đai, đăng ký bất động sản
Chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và hoạt động mua sắm công Côngkhai, minh bạch trong quyết định, chủ trương đầu tư Công khai, minh bạch hoạt động mua
Trang 3sắm công, kể cả việc công khai hóa các khoản hoa hồng từ mua sắm Thực hiện thí điểm môhình mua sắm công tập trung.
Chấn chỉnh công tác thu, chi ngân sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các định mức,tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu ngân sách, trang bị tài sản, phương tiện đi lại, thiết bị làm việc.Tăng cường quản lý vốn, tài sản nhà nước và nhân sự tại doanh nghiệp có vốn nhà nước
Sáu là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng.
Tập trung kiểm tra, thanh tra, kiểm toán một số lĩnh vực trọng điểm như: đầu tư xây dựng
cơ bản, quản lý đất đai, thu, chi ngân sách, quản lý tài sản công và hệ thống ngân hàngthương mại
Nghiên cứu tổ chức các cơ quan phòng, chống tham nhũng theo hướng bảo đảm sự độc lậpcần thiết với các cơ quan quản lý nhà nước theo cấp lãnh thổ và sự chỉ đạo tập trung, thốngnhất của Trung ương Tăng cường cán bộ cho các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểmsát, tòa án và kiểm tra của Đảng, đồng thời kiểm soát hoạt động của các cơ quan này
Người có hành vi tham nhũng phải bị xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh về trách nhiệmchính trị, hành chính hoặc hình sự, bất kể người đó là ai và ở cương vị nào Chú trọng thu hồi tàisản tham nhũng áp dụng chính sách khoan hồng đối với những người phạm tội nhưng có thái
độ thành khẩn, đã bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ quanchức năng Trừng trị nghiêm khắc những đối tượng tham nhũng có tổ chức, gây hậu quả đặc biệtnghiêm trọng
Bảy là, thực hiện tốt công tác truyền thông về phòng, chống tham nhũng.
Đề cao vai trò, trách nhiệm của báo chí trong phòng, chống tham nhũng; khen thưởng,động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; xử lýnghiêm việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt gây hậu quả xấu
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các cơ quan chức năng phải chủđộng cung cấp cho công chúng những thông tin có liên quan đến tham nhũng
Tám là, xây dựng, kiện toàn các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng được thành lập theo Luật phòng, chống tham nhũng.
Chín là, tăng cường giám sát của nhân dân và cơ quan dân cử.
Hằng năm, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp nghe báo cáo và thảo luận, chất vấn vềcông tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí
Tăng cường công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng; thực hiệnQuy chế dân chủ ở cơ sở gắn với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệuquả của thanh tra nhân dân
Mười là, tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng.
Chủ động tham gia các chương trình, sáng kiến, diễn đàn quốc tế về phòng, chống thamnhũng phù hợp với điều kiện Việt Nam Thực hiện các cam kết quốc tế về phòng, chống thamnhũng, chú trọng tới các cam kết về xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch
Cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng, Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đếnnăm 2020 đã đề ra quan điểm về phòng, chống tham nhũng như sau:
- Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo củaĐảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm ngườiđứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức, đoàn thể vàquần chúng nhân dân
- Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, xuyên suốtquá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trongthời kỳ mới
Trang 4- Sử dụng tổng thể các giải pháp phòng, chống tham nhũng; vừa tích cực, chủ động trongphòng ngừa, vừa kiên quyết trong phát hiện, xử lý với những bước đi vững chắc, có trọngtâm, trọng điểm, trong đó phòng ngừa là cơ bản, lâu dài; gắn phòng, chống tham nhũng vớithực hành tiết kiệm, chống quan liêu, lãng phí.
- Xây dựng lực lượng chuyên trách đủ mạnh, có phẩm chất chính trị, bản lĩnh, đạo đứcnghề nghiệp làm nòng cốt trong công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng theohướng chuyên môn hóa với các phương tiện, công cụ, kỹ năng phù hợp, bảo đảm vừa chuyênsâu, vừa bao quát các lĩnh vực, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội
- Đặt quá trình phòng, chống tham nhũng trong điều kiện hội nhập, chủ động hợp tác hiệuquả với các quốc gia, các tổ chức quốc tế; chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu có chọn lọckinh nghiệm của nước ngoài trong công tác phòng, chống tham nhũng
Chiến lược phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 cũng xác định mục tiêu chung vànăm nhóm mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu chung:
Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, loại bỏ dần các cơ hội, điều kiện phát sinhtham nhũng, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệuquả; đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính; lành mạnh hóa các quan hệ xã hội thông qua việcthực hiện đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng; củng cố lòng tincủa nhân dân và cộng đồng quốc tế, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển;
- Mục tiêu cụ thể:
+ Ngăn chặn, làm triệt tiêu các điều kiện và cơ hội phát sinh tham nhũng trong việc hoạchđịnh chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật, nhất là trong quá trình ban hành và tổ chứcthi hành các văn bản áp dụng pháp luật
+ Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước, ngăn ngừa việc lợidụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi trên cơ sở xây dựng nền công vụ hiệu quả, minh bạch,phục vụ nhân dân và xã hội, với đội ngũ cán bộ, công chức trung trực, công tâm, liêm khiết,tận tụy, chuyên nghiệp và được trả lương hợp lý; các chuẩn mực đạo đức công vụ, đạo đứcnghề nghiệp được củng cố và phát triển
+ Hoàn thiện thể chế, tạo lập môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, công bằng,minh bạch nhằm thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần thúc đẩy tăng trưởngkinh tế; nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; từng bước xóa bỏ tệ hối lộtrong quan hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước và trong giao dịch thương mại
+ Tính trách nhiệm, tính chuyên nghiệp, sức chiến đấu và hiệu quả hoạt động của các cơquan bảo vệ pháp luật, các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng được nâng cao,giữ vai trò nòng cốt trong phát hiện và xử lý tham nhũng
Chính sách xử lý đối với tham nhũng, đặc biệt là chính sách hình sự, chính sách tố tụnghình sự tiếp tục được hoàn thiện; hệ thống đo lường, giám sát tham nhũng được thiết lập.+ Nâng cao nhận thức, vai trò của xã hội về tham nhũng, về chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng; thúc đẩy sự tham gia chủđộng của các tổ chức, đoàn thể xã hội, các phương tiện truyền thông và mọi công dân trong
nỗ lực phòng, chống tham nhũng; xây dựng văn hóa và tạo ra thói quen phòng, chống thamnhũng trong đời sống của cán bộ, công chức và trong các tầng lớp nhân dân
II- TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ THAM NHŨNG VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG
Nghiên cứu tham nhũng và công tác đấu tranh chống tham nhũng, chúng ta không thểkhông nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tư tưởng củaNgười về một nhà nước của dân, do dân, vì dân là nền tảng cốt lõi cho việc xây dựng một nhànước dân chủ, chính vì vậy, Người có thái độ hết sức nghiêm khắc đối với "tệ tham ô, lãng
Trang 5phí và bệnh quan liêu"; Người thường xuyên giáo dục toàn Đảng, toàn dân đấu tranh khôngkhoan nhượng đối với tệ nạn này Những lời dạy của Người vừa sâu sắc, toàn diện vừa cănbản lâu dài; vừa có tính khái quát, vừa cụ thể, dễ hiểu, luôn giữ được tính thời sự và cònnguyên giá trị, là kim chỉ nam hướng dẫn chúng ta trong cuộc đấu tranh với tệ nạn thamnhũng trong tình hình hiện nay.
1 Quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về tham nhũng
a) Quan niệm về tham nhũng, lãng phí
Chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu là mối quan tâm lớn, thường xuyên của Hồ
Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí là tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội Hồ Chí Minh chỉ rõ bảnchất của tham ô: là lấy của công làm của tư, là gian lận tham lam, tham ô là trộm cướp HồChí Minh nêu ra một khái niệm khái quát, làm rõ bản chất tham ô:
“Tham ô là gì?
- Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là:
Ăn cắp của công làm của tư
Đục khoét của nhân dân
Ăn bớt của bộ đội
Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phươngmình, đơn vị mình, cũng là tham ô
- Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là:
Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”[2]
Theo Hồ Chí Minh, đặc trưng của hành vi tham ô là biến "của công" thành "của tư" "Củacông" chính là tài sản của nhân dân, do nhân dân đóng góp, phục vụ mục đích chung là giảiphóng dân tộc, xây dựng đất nước "Của công" thành "của tư" tức là tài sản chung khi khôngnhằm phục vụ mục đích chung mà chỉ dành làm của riêng, quỹ riêng cho một tập thể, một địaphương
Bất cứ hành vi lấy "của công" làm "của tư" nào cũng đều bị Hồ Chí Minh coi là hành vitham ô Đây chính là hành vi tham ô hiểu theo nghĩa rộng Theo nghĩa này, chủ thể của hành
vi tham ô không chỉ là cán bộ, công chức - những người nắm chức vụ, quyền hạn nhất địnhtrong bộ máy nhà nước Người dân bình thường, nếu "ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế"cũng có thể là chủ thể của hành vi tham ô
Sâu sắc hơn nữa, Hồ Chí Minh còn chỉ ra một hình thức tham ô tinh vi, rất khó nhận thấy
trong cuộc sống đời thường, đó là tham ô gián tiếp Hồ Chí Minh nêu ra một ví dụ về tham ô gián tiếp: “Thí dụ: một cán bộ, Chính phủ, nhân dân trả lương hằng tháng đều cho, nhưng lại
kém lòng trách nhiệm, đứng núi này trông núi nọ, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ của Chínhphủ, của nhân dân”[3] Đây là hình thức tham ô đặc biệt, tuy không nhanh chóng gây hậu quả
nghiêm trọng như những hành vi trực tiếp chiếm đoạt tài sản công, nhưng tham ô gián tiếp
xảy ra hằng ngày, thường xuyên, liên tục, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động đúng đắncủa bộ máy nhà nước, hiệu lực của quản lý nhà nước, là một trong những mối nguy hại lớnđối với sự nghiệp cách mạng của đất nước
b) Nguyên nhân của tệ tham ô, lãng phí
Tham ô, lãng phí là những tệ nạn nguy hiểm Muốn chống tham ô, lãng phí hiệu quả, cầnphải tìm hiểu nguồn gốc, nguyên nhân của chúng Hồ Chí Minh đã nói: "Tham ô và lãng phíđều do bệnh quan liêu mà ra”[4] Người chỉ rõ tệ quan liêu chính là căn nguyên sâu xa, nguyênnhân trực tiếp, là điều kiện của tham ô, lãng phí Người khẳng định nơi nào có tệ quan liêu thì
ở đó có tham ô, lãng phí; mà quan liêu càng nặng thì tham ô, lãng phí càng nhiều
Theo Hồ Chí Minh, quan liêu là "bệnh giấy tờ, bệnh hình thức, không thực tế, là xa cáchquần chúng, không theo đường lối quần chúng, làm không đúng chính sách của Chính phủ và
Trang 6của đoàn thể”2 Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không đi sâu đi sát công việc,việc gì cũng không nắm vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung Quan liêu là xa rờiquần chúng, không rõ lai lịch, tư tưởng và công tác của cán bộ mình, không lắng nghe ý kiếncủa quần chúng, sợ phê bình và tự phê bình Tác phong của người cán bộ mắc bệnh quan liêu
là thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách
Theo Hồ Chí Minh, người cán bộ mắc bệnh quan liêu còn có biểu hiện như: “Đối với côngviệc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề Chỉ biết khai
hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn”3 Khi triểnkhai thực hiện công việc của bản thân, giao nhiệm vụ cho cấp dưới mà không biết kiểm tra thì
sẽ không có điều kiện giải thích, hướng dẫn, đôn đốc cấp dưới, không kịp thời phát hiện, chấnchỉnh hay xử lý vi phạm, điều này dẫn đến công việc không có hiệu quả, gây thiệt hại về tàisản, tiền bạc, công sức của Nhà nước, của nhân dân
c) Tác hại của tệ tham ô, lãng phí, quan liêu
Hồ Chí Minh khẳng định quan liêu, tham ô, lãng phí là "bạn đồng minh của thực dân,phong kiến", "Kẻ thù của nhân dân, của bộ đội, của Chính phủ"[5] Bởi vì, tham ô, lãng phí cótác hại rất lớn Trước hết và trực tiếp, nó gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, của nhândân Cán bộ được giao quản lý tài sản của Nhà nước, của nhân dân, tài sản do những nướcbạn đóng góp, giúp đỡ để phục vụ cho kháng chiến, kiến quốc, nâng cao đời sống của nhândân Nhưng do chủ nghĩa cá nhân, tư lợi, một số cán bộ đã tham ô, chiếm đoạt của công, biếncủa công thành của tư, xâm phạm đến tài sản của Nhà nước, của tập thể, làm hại đến sựnghiệp xây dựng nước nhà, đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân
Tham ô, lãng phí làm tha hoá, suy thoái đạo đức cách mạng của cán bộ, phá hoại tinh thầntrong sạch, ý chí vượt khó của cán bộ, nhân dân, xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng,Nhà nước Hồ Chí Minh khẳng định: phần đông cán bộ, đảng viên, đoàn viên, công nhân viênchức ta đều trong sạch, tận tụy, đều mang bản chất, đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm,chính Họ không ngại gian khổ, hy sinh vì cách mạng, vì nhân dân Nhưng vẫn còn một bộphận cán bộ do tham ô, quan liêu, lãng phí, do mưu lợi cá nhân đã thoái hoá, biến chất, khônggiữ được đạo đức cách mạng Điều này làm giảm sức chiến đấu của Đảng, giảm lòng tin củanhân dân vào Đảng, Nhà nước, làm hại đến sự nghiệp cách mạng
Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xãhội, cả nước phải huy động và đã huy động được mọi nguồn lực: của cải vật chất, công sức,tinh thần… Vì sự nghiệp cách mạng của đất nước, "chiến sĩ thì hy sinh xương máu, đồng bàothì hy sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp"[6] Những kẻ tham ô, lãng phí đã chiếm đoạt, đã phíphạm, huỷ hoại những nguồn lực ấy Điều này dẫn đến một hậu quả nguy hại lớn hơn nữa đó
là sự cản trở, phá hoại sự nghiệp cách mạng, "làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiếnquốc của ta"
2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về chống tham nhũng
a Về vai trò, ý nghĩa của công tác chống tham nhũng
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng, chống tham ô, lãng phí là cách mạng, là dân chủ
Sự nghiệp cách mạng do toàn thể hệ thống chính trị, toàn thể quần chúng nhân dân tiếnhành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Đấu tranh giành độc lập dân tộc,tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, xây dựng đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa là nộidung, mục tiêu của cách mạng Hồ Chí Minh khẳng định: "tham ô, lãng phí, quan liêu lànhững xấu xa của xã hội cũ"[7], tham ô là đặc trưng, gắn liền với thực dân, phong kiến Đấutranh chống thực dân, phong kiến, xây dựng xã hội mới phải bao hàm cả đấu tranh chốngtham ô, lãng phí, quan liêu Cách mạng không thể thành công hoàn toàn nếu vẫn còn tham ô,lãng phí Vì vậy, chống tham ô, lãng phí là một nội dung, nhiệm vụ quan trọng của cáchmạng
Trang 7Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Quyền lực thuộc về nhân dân Tất cả tàisản là của nhân dân Nhân dân đóng góp mồ hôi xương máu, tiền của cho công cuộc khángchiến, xây dựng đất nước Vì vậy, bảo vệ tài sản công, chống tham ô, lãng phí là bảo vệ tàisản của nhân dân, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân Hồ Chí Minh chỉ rõ: "phong trào
chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành
công"2 Dân chủ tức là nhân dân làm chủ Cán bộ là người được giao quản lý tài sản để thựchiện các nhiệm vụ do nhân dân giao phó Vì vậy, nhân dân có quyền và nghĩa vụ giám sát,phê bình cán bộ, đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, tham ô, lãng phí Sự tham gia củaquần chúng quyết định sự thành công của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham ô, lãng phí.Quần chúng tham gia tích cực, đông đảo thì cuộc đấu tranh càng mang lại hiệu quả cao HồChí Minh khẳng định: "Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mauchóng"[8]
b) Quan điểm chỉ đạo công tác phòng, chống tham ô, lãng phí
Công tác chống tham ô, lãng phí rất quan trọng, cần phải được tất cả các cấp, các ngànhquan tâm và tiến hành thường xuyên Cũng như các mặt trận khác, muốn giành thắng lợi trênmặt trận chống tham ô, lãng phí, chúng ta phải nắm được quan điểm chỉ đạo cuộc đấu tranhtrên mặt trận đó Hồ Chí Minh nêu rõ: “phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnhđạo và trung kiên”2 Đấu tranh chống tham ô, lãng phí cần phải bằng hệ thống các biện phápđồng bộ, cả trước mắt và lâu dài, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” Cùng với việc xâydựng cơ chế phòng, chống, tấn công tham ô, lãng phí trên tất cả các lĩnh vực, cần xác định vàtập trung vào các lĩnh vực trọng tâm Yếu tố quan trọng, quyết định hiệu lực, hiệu quả củacuộc đấu tranh phòng, chống tham ô, lãng phí chính là công tác lãnh đạo Sự lãnh đạo tậptrung thống nhất của Đảng, thông qua các chủ trương, chính sách mang tính chỉ đạo, thôngqua các cấp uỷ đảng quyết định sự thành bại của cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí,chống bệnh quan liêu
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục và cưỡngchế, trong đó lấy tuyên truyền, giáo dục là nền tảng, cơ sở Người nói: “Trong phong trào
chống tham ô, lãng phí, quan liêu, giáo dục là chính, trừng phạt là phụ”[9] Việc tuyên truyền,giáo dục cần được đặc biệt coi trọng, làm sao để cán bộ hiểu được sự nguy hại, xấu xa củatham ô, lãng phí, từ đó có các hành động tích cực nhằm phòng, chống Đồng thời, công táctuyên truyền, giáo dục sẽ giúp nêu gương tốt, lên án các hành vi tham ô, lãng phí, góp phầntích cực vào việc ngăn chặn nạn tham ô, lãng phí Nhưng khi cần thiết, đối với những người
đã suy thoái về đạo đức, không chịu rèn luyện, cố tình tư lợi, chiếm đoạt tài sản của nhànước, của nhân dân, phá hoại sự nghiệp cách mạng, phải bị xử lý nghiêm khắc để bảo vệ sựnghiêm minh của pháp luật và để răn đe, làm gương cho những người khác
c) Các biện pháp phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc sự nguy hiểm, tìm ra bản chất, nguyên nhân của tham ô, lãngphí, quan liêu, Hồ Chí Minh đã nêu ra hàng loạt biện pháp nhằm đấu tranh phòng, chống.Trong các biện pháp phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, Hồ Chí Minh đặc biệt chútrọng biện pháp giáo dục tư tưởng cho quần chúng Người nói: “làm cho quần chúng khinhghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng trăm, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác củaquần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãngphí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”[10] Quần chúng là lực lượng chính của cách mạng, sự tham giatích cực của quần chúng quyết định sự thành bại của cách mạng Trong cuộc đấu tranh phòng,chống tham ô, lãng phí, quan liêu, quần chúng nhân dân giám sát cán bộ, công chức, kịp thờiphát hiện sai phạm, phê bình, lên án các biểu hiện tiêu cực của cán bộ Sự giám sát chặt chẽcủa quần chúng nhân dân đối với cán bộ, công chức nhà nước, thông qua các hình thức khácnhau là một cơ chế ngăn ngừa tham ô, lãng phí hữu hiệu Đồng thời, các phản ánh, kiến nghị
Trang 8kịp thời của nhân dân qua công tác giám sát sẽ giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyềnsớm phát hiện các hành vi tham ô, lãng phí, từ đó có các biện pháp xử lý phù hợp
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng, phát động, chỉ đạo và hướng dẫn phong tràophê bình và tự phê bình trong đội ngũ cán bộ, đảng viên Người chỉ đạo: "bộ đội, cơ quan,đoàn thể và nhân dân phải tổ chức một phong trào thật thà tự phê bình và phê bình từ cấp trênxuống, từ cấp dưới lên"[11] Trong phong trào này, mỗi cán bộ, Đảng viên phải luôn ý thức tựphê bình và phê bình, không phải để đả kích nhau, mà để cùng nhau nhận thức các sai lầm,khuyết điểm, cùng bàn cách khắc phục, sửa chữa, để thực hiện chức trách, công vụ tốt hơn.Người nêu các bước thực hiện tự phê bình và phê bình Trước hết, tự phê bình và phê bình ởcác "tiểu tổ" Sau đó, cơ quan triển khai kiểm thảo chung Phê bình và tự phê bình phải tiếnhành từ trên xuống, từ dưới lên, phải làm thường xuyên, liên tục, phải có báo cáo, điều tra,hướng dẫn việc kiểm thảo Sau khi công khai, thật thà tự phê bình và phê bình, cán bộ, đảngviên phải kiên quyết sửa đổi những sai lầm, khuyết điểm
Hồ Chí Minh coi các biện pháp về tư tưởng như giáo dục, thuyết phục, các biệnphápphòng ngừa là nền tảng trong cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu Đồngthời, Người luôn nhấn mạnh việc nghiêm trị các hành vi tham ô, lãng phí Việc xử lý nghiêmkhắc hành vi tham ô, lãng phí phải đúng các quy định của pháp luật, không được nể nangngười có chức vụ, địa vị, với mục đích bảo vệ công lý, đảm bảo sự nghiêm minh của phápluật, răn đe, làm gương cho những người đang hoặc có ý định tham ô Người chỉ thị: “Phápluật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”.Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu, vốn là người có công với cách mạng, nhưng
đã có hành động tham ô tài sản của Nhà nước Toà án kết án Trần Dụ Châu tử hình Gia đìnhTrần Dụ Châu đã làm đơn gửi Hồ Chí Minh xin được ân giảm Nhưng Hồ Chí Minh bác đơnxin ân giảm đó Và hình phạt đã được thi hành Đây chính là sự thể hiện sinh động, cụ thể, rõnét quan điểm, sự nghiêm khắc của Bác đối với hành vi tham ô, lãng phí
d) Vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí
Trong công cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, các cơ quanthanh tra nhà nước đóng vai trò rất quan trọng Hồ Chí Minh huấn thị: “các ban thanh tra phảichú ý kiểm tra chống lãng phí, tham ô Phát hiện ra những việc lãng phí, tham ô, chẳng nhữngcần báo cáo với Trung ương và Chính phủ giải quyết mà còn phải giúp các cấp lãnh đạo địaphương tìm ra được những biện pháp để tích cực chống lãng phí, tham ô”[12]
Như vậy, thanh tra, kiểm tra không những để phát hiện vi phạm, phát hiện tham ô, lãng phí
để xử lý Quan trọng hơn, qua kiểm tra, các cơ quan thanh tra nhà nước tìm hiểu nguyên nhântham ô, lãng phí, từ đó, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với bản thân các
cơ quan là đối tượng thanh tra, kiểm tra để có các giải pháp hữu hiệu nhằm chống tham ô,lãng phí có hiệu quả
Quan liêu là nguyên nhân, nguồn gốc của nạn tham ô, lãng phí Vì vậy, các cơ quan thanhtra nhà nước chẳng những kiểm tra chống lãng phí, tham ô mà còn phải chống quan liêu đểgiúp các cơ quan Nhà nước đổi mới công tác, giữ gìn kỷ luật, thực hành dân chủ, góp phầncủng cố bộ máy nhà nước
Để thực hiện tốt, có hiệu quả nhiệm vụ của mình, cơ quan thanh tra nhà nước phải tựchống tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu trong nội bộ cơ quan mình trước Hồ Chí Minh yêucầu người cán bộ thanh tra phải tự mình nghiêm chỉnh, phải có đạo đức cách mạng, tự mìnhphải gương mẫu cho người khác Người chỉ thị rõ ràng: “phái anh tham ô đi thanh tra tham ôthì không được, phái người lười đi thanh tra công việc người khác cũng không được”[13].Người cán bộ thanh tra khi đi thanh tra chống quan liêu thì trước hết bản thân mình khôngđược quan liêu Thanh tra muốn biết, muốn thấy, muốn hiểu rõ sự thật ở cơ quan, ở địa
Trang 9phương nào đấy phải đến tận nơi, nghe ngóng, tìm hiểu, chịu khó Quan liêu sẽ không làmđược nhiệm vụ.
Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tiếp dân
Cập nhật: 03/09/2013 09:26
Tiếp công dân là giai đoạn đầu của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đóng vai trò quantrọng như là một khâu then chốt góp phần giải quyết có hiệu quả việc giải quyết khiếu nại, tốcáo của công dân, qua đó bảo vệ lợi ích của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Với nhận thức về tầm quan trọng của công tác tiếp dân, trong nhiều năm qua Đảng và Nhànước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về công tác này nhằm phát huy quyền dân chủnhân dân cũng như củng cố mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước
Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tiếp công dân
Để củng cố mối quan hệ giữa nhân dân đối với Đảng và Nhà nước cần phải làm tốt một lĩnhvực công tác quan trọng có liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đó là công tác tiếpdân Chính vì vậy, ngay từ ngày đầu xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Đảng,Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm đến việc thể chế hoá và hiện thực hoácác quyền tự do, dân chủ trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo của công dân Ngày 23/11/1945Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, Điều 2 củaSắc lệnh này quy định một trong những nhiệm vụ của Ban thanh tra là “Tiếp nhận các đơnkhiếu nại của nhân dân” Đây là văn bản pháp lý quan trọng đầu tiên xác định quyền khiếunại của công dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước,cán bộ, nhân viên làm việc trong cơ quan đó và trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việcgiải quyết các khiếu nại của nhân dân Điều này cho thấy mặc dù trong giai đoạn này đấtnước còn gặp nhiều khó khăn song Đảng ta đã coi hoạt động giải quyết khiếu nại, tiếp côngdân là nhiệm vụ hết sức quan trọng Trên thực tế, Ban thanh tra đặc biệt đã thông qua việcnhận các đơn khiếu nại của nhân dân, từ đó nghiên cứu giải quyết Trong những trường hợpcần thiết thì đi điều tra tại chỗ, gặp gỡ nhân dân để giải quyết ngay các yêu cầu của quầnchúng
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số138B-SL ngày 18/12/1949 về thành lập Ban thanh tra Chính Phủ, trong đó điểm a, b Điều 4quy định cơ quan này có nhiệm vụ thanh tra các vụ khiếu nại của nhân dân cùng với việc
“xem xét sự thi hành chính sách, chủ trương của Chính phủ, thanh tra các uỷ viên Uỷ bankháng chiến hành chính và viên chức về phương diện liêm khiết” Như vậy, mặc dù trong giaiđoạn này Đảng và Nhà nước chưa ban hành các chỉ thị, nghị quyết riêng về tiếp công dân,song trên thực tế hoạt động tiếp công dân đã được đặc biệt quan tâm thông qua việc xác địnhcác cơ quan thanh tra có trách nhiệm xem xét, giải quyết các khiếu nại của nhân dân
Trong nhiều bài viết, huấn thị của Bác Hồ về công tác thanh tra, vấn đề mấu chốt được đặt lênhàng đầu đó là quan điểm lấy dân làm gốc, coi đó là một phương thức gắn kết giữa Đảng,Nhà nước với Nhân dân Trong tác phầm Sửa đổi lề lối làm việc Bác viết: “Giữ chặt mối liên
hệ với dân chúng và lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng
và nhờ đó mà Đảng thắng lợi Vì vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dânchúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định sẽ thất bại” Bác cũng chỉ rõ: “Kiểm soát
có hai cách: một là từ trên xuống Tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả những công việccủa cán bộ của mình Một cách nữa là từ dưới lên Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự
Trang 10sai lầm của người lãnh đạo và bầy tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó Cách này là cách tốtnhất để kiểm soát các nhân viên”.
Trong bài Sao cho được lòng dân đăng trên Báo Cứu quốc số 65 ra ngày 12/10/1945, Ngườichỉ rõ: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc
gì có hại cho dân phải hết sức tránh Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâumặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống nhân dân Phải chấp đơn, phải xử kiện mỗi khingười ta đem đến”
Tại hội nghị cán bộ Thanh tra toàn miền Bắc năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “Vềcông tác xét và giải quyết các việc khiếu nại, tố giác, nhiệm vụ của các Ban Thanh tra là phảilàm cho nghiêm chỉnh, kịp thời, làm sớm chừng nào hay chừng ấy Đồng bào có oan ức mớikhiếu nại, hoặc chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại Ta giải quyếtnhanh, tốt chừng nào thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm đến quyền lợi của họ,
do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ cũng được củng cố tốt hơn” Huấnthị trên đã chỉ rõ hai nguyên nhân của khiếu nại: thứ nhất do là oan ức mà khiếu nại; thứ hai
là do chưa hiểu chính sách pháp luật mà khiếu nại Từ ý nghĩa trên của Huấn thị, liên hệ vớithực tế hiện nay cho thấy, ở giai đoạn đầu của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo (công táctiếp dân) người cán bộ tiếp dân phải có trách nhiệm: lắng nghe ý kiến của người dân đếnkhiếu nại, tố cáo; hướng dẫn, giải thích về pháp luật cho công dân; và giải quyết nhanh, tốt vụviệc một cách thấu tình đạt lý Do vậy, nếu làm tốt công việc ở giai đoạn này sẽ khắc phụcđược phần nào tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp hiện nay
Trong thư gửi đồng bào Liên khu IV, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu “… Khi ai có điều gì oan ức,thì có thể do các Đoàn thể tố cáo lên cấp trên Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân ViệtNam Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy Người còn căn dặn “Cán bộ cấp trên phảiluôn luôn đôn đốc và kiểm tra công việc của cán bộ cấp dưới Nhân dân thì giúp Chính phủ
và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của cán bộ” Quan điểm này của Chủ tịch Hồ ChíMinh cũng đã được thể hiện rõ nét trong các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước.Hiến pháp năm 1992 tại Điều 8 quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhànước phải tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắngnghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” Theo quan điểm trên thì việc giải quyếtnhanh chóng, kịp thời, dứt điểm các khiếu nại, tố cáo phát sinh đòi hỏi phải đề cao tinh thầntrách nhiệm của thủ trưởng cơ quan nhà nước từ Trung ương tới địa phương Người chỉ rõ:Làm người lãnh đạo, làm cán bộ, viên chức nhà nước là đầy tớ của dân, là công bộc của dân
Do đó, trách nhiệm của họ là phải giải quyết những công việc mà dân đề nghị yêu cầu
Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng đến việc xây dựng chính quyền dân chủ, với mục tiêulấy dân làm gốc thông qua việc tôn trọng, tiếp thu những ý kiến đóng góp của nhân dân Theo
đó, cơ quan thanh tra ở Trung ương đã hướng dẫn, chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức tốt việctiếp công dân coi “tiếp dân là biểu thị sự chấp hành pháp lệnh, là tôn trọng quyền làm chủ củanhân dân” (Hồ sơ số 264 - Lưu trữ Thanh tra Nhà nước) Trong các văn bản pháp luật về côngtác giải quyết khiếu nại, tố cáo như: Pháp lệnh về việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo củacông dân và Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 và các nghị định hướng dẫnthi hành các pháp lệnh trên đều có đề cập tới trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong côngtác tiếp công dân
Trang 11Ngày 23/9/1989, Ban Bí thư ban hành Thông báo số 164-TB/TW về việc tiếp công dân vàbảo vệ Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước, trong đó quy định Trụ sởtiếp công dân chung của Trung ương Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhà nước và Hội đồng Bộtrưởng (tại Hà Nội) được thành lập để “tiếp cán bộ, đảng viên, nhân dân lên Trung ươngkhiếu tố, kiến nghị, phản ánh tình hình Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước, Hộiđồng Bộ trưởng cử cán bộ có năng lực, thẩm quyền đến Trụ sở để tiếp, xử lý phần việc thuộc
cơ quan mình”
Ngày 07/8/1997 Chính phủ ban hành Nghị định số 89/CP kèm theo Quy chế tổ chức tiếp côngdân trong đó quy định rõ về mục đích của công tác tiếp công dân; trách nhiệm của thủ trưởngcác cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác tiếp dân; tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Trụ sởtiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh;trách nhiệm của Thanh tra Nhà nước và các cơ quan Thanh tra nhà nước trong công tác tiếpdân
Ngày 06/3/2002 Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 09/CT-TW về một số vấn đề cấp bách cần thựchiện trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong đó quy định “Các cấp uỷ,chính quyền, đoàn thể các cấp phải đặc biệt quan tâm đến việc tiếp dân, giải quyết đúng đắn,kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương,ngăn ngừa, khắc phục tình trạng công dân khiếu tố vượt cấp, không đúng nơi quy định, gâymất trật tự nơi công sở hoặc nhà riêng các đồng chí lãnh đạo, ảnh hưởng đến an ninh chính trị
và trật tự an toàn xã hội.”
Nhằm thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng về công tác tiếp công dân, năm 1998 Quốchội đã thông qua Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, tốcáo năm 2004 và năm 2005, trong đó dành hẳn một chương (Chương V) để quy định về côngtác này Trên cơ sở đó Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ban hành ngày 14/11/2006 quy định chitiết và hướng dẫn việc tiếp công dân, tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liênquan đến khiếu nại, tố cáo Trong đó quy định rõ về trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quannhà nước; trách nhiệm của người tiếp công dân khi tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo; quyền và nghĩa vụ của công dân khi đến khiếu nại,
tố cáo…
Để tăng cường trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyếtkhiếu nại, tố cáo và tiếp công dân, ngay sau Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004 được ban hành,Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 30/2004/QH11 về công tác giải quyết khiếu nại tronglĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Trên cơ sở đó Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số36/2004/CT-TTg ngày 27/10/2004 về việc chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của các cơquan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo Trước đó ngày09/10/2001 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 26/CT-TTg về việc tạo điều kiện đểHội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo trong đó có việc phối hợp thamgia tiếp công dân
Để phục vụ việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội, vai trò của đại biểu Quốc hội,trong nhiều văn bản pháp luật đã quy định về công tác tiếp công dân của Uỷ ban Thường vụQuốc hội, Đại biểu Quốc hội Nghị quyết số 228NQ/UBTVQH10 quy định về trách nhiệmtiếp công dân của đại biểu Quốc hội; Nghị quyết số 370/2003-NQ-UBTVQH11 ngày17/3/2003; Nghị quyết số 695/2008/NQ-UBTVQH12 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sửa
Trang 12đổi, bổ sung Nghị quyết số 370/2003/NQ-UBTVQH11 về việc thành lập Ban Dân nguyện đãquy định thẩm quyền, trách nhiệm của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong công tác tiếp côngdân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh Uỷ ban Thường vụ Quốc hội với vai trò là cơquan giám sát của Quốc hội đã tổ chức giám sát việc thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáotrong 03 năm (2006, 2007, 2008), qua đó đã có những đánh giá về ưu và nhược điểm củacông tác tiếp dân để từ đó đã đưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả chocông tác tiếp dân.
Thông qua những quan điểm trên của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy,hoạt động tiếp công dân là trách nhiệm, là nghĩa vụ thường xuyên của người lãnh đạo, ngườiquản lý và các cơ quan, tổ chức nhà nước Qua đó, góp phần tăng cường hiệu quả công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo cũng như củng cố mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhànước
Viện Khoa học Thanh tra
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh tra
1 Công tác kiểm tra của Đảng và Nhà nước cùng với hoạt động kiểm tra, giám sát của
các cơ quan nhà nước với mục đích giữ gìn kỷ cương pháp luật, có tác dụng hạn chế, răn đenhững hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng quản lý, phát hiện, khắc phục kẽ hở củacác chính sách, pháp luật góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Theo quanđiểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thanh tra là công tác quan trọng, do vậy phải được tiến hànhthường xuyên, vì nếu công tác thanh tra không được tiến hành thường xuyên sẽ dẫn tới bệnhquan liêu, mệnh lệnh và từ đó sẽ tiếp tục gây ra những tác hại to lớn khác cho sự nghiệp cáchmạng
Bác Hồ đã thường căn dặn cán bộ Thanh tra: “Cán bộ thanh tra giúp trên hiểu biết tìnhhình địa phương và cấp dưới, đồng thời cũng giúp cho các cấp địa phương kịp thời sửa chữa,uốn nắn nếu làm sai, hoặc làm chậm Cho nên trách nhiệm của công tác thanh tra là quan
trọng” -(Một số văn kiện chủ yếu của Đảng và Chính phủ về công tác thanh tra Uỷ Ban Thanh tra của Chính phủ, 1977) Người còn nói: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn
giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai
ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát” - (Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN.1995, tập 5, tr.287).
Thực tế cho thấy, những cơ quan, đơn vị mà người lãnh đạo chú trọng công tác thanhtra và tiến hành thường xuyên hoạt động thanh tra thì không những kỷ cương, pháp luật trongquản lý duy trì mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt độngquản lý, thúc đẩy các hoạt động của các cơ quan nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý, kinhdoanh của các doanh nghiệp Những nơi không chú trọng công tác thanh tra, sẽ dễ dẫn đếnnhững vi phạm, thậm chí là vi phạm nghiệm trọng tới mức phạm tội hình sự
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:“Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới” Với
quan niệm như vậy, Người chỉ ra rằng, hoạt động thanh tra không những giúp cho người lãnhđạo, quản lý cơ quan, đơn vị thấy được kết quả và mức độ thực hiện đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước; mà còn có tác dụng giúp cho việc xem xét,đánh giá những chủ trương, chính sách và pháp luật đã đề ra có đúng và có sát thực tiễn haykhông Từ kết quả thanh tra, người lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị kịp thời xem xét, điềuchỉnh và có những biện pháp cụ thể thích hợp giúp cho công tác quản lý, chỉ đạo; điều hànhcủa mình sát thực tiễn và có hiệu quả; đồng thời cũng là biện pháp để xây dựng, hoàn thiện cơcấu, tổ chức, bộ máy và kiện toàn đội ngũ cán bộ, nhân viên ngày một tốt hơn Với cách tiếp
cận như vậy cho thấy thanh tra chính là “cánh tay nối dài của trên”
Trang 13Đối với các cấp lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức khi được thanh tra kết luận sẽgiúpcho đối tượng được thanh tra nhận thức đầy đủ về ưu điểm và những vi phạm, thiếu sótcủa mình Thấy được những việc làm đúng, làm tốt để tiếp tục phát huy; những việc làm chưađúng, những sai phạm, thiếu sót để khắc phục sửa chữa và nâng cao năng lực, trách nhiệmcủa mình Như vậy, thanh tra chính là đã giúp đỡ mình trong quá trình thực thi nhiệm vụ quản
lý nhà nước và thanh tra cũng là “bạn của dưới”
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng, công tác thanh tra phục vụ thiết thực cho sự lãnhđạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội, côngtác thanh tra có vai trò quan trọng như vậy nên cần được tiến hành thường xuyên trong hoạtđộng quản lý nhà nước
2 Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra.
Người yêu cầu cán bộ thanh tra phải có đạo đức cách mạng, phải là người gương mẫu; cán
bộ thanh tra phải có năng lực, có kinh nghiệm và là người có uy tín Người cũng yêu cầu cán
bộ thanh tra phải cố gắng học tập, trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ lý luận,nghiệp vụ, chuyên môn
Khi đề cập đến đạo đức cách mạng của người cán bộ thanh tra, Chủ tịch Hồ Chí Minhnói: “Phẩm chất của người cán bộ thanh tra là phải tự mình nghiêm chỉnh, phải có đạo đứccách mạng”
Ví dụ: Phái người lười đi thanh thanh tra công việc người khác thì cũng không được.Cán bộ thanh tra phải có đạo đức cách mạng, phải hiểu nhân tình thế cố đã đành, nhưng tự
mình còn phải gương mẫu cho người khác” - (Một số văn kiện về công tác thanh tra, tr 10)
7-Theo Bác, người được giao làm công tác thanh tra phải thấy được niềm vinh dự củamình khi được cấp trên tín nhiệm giao cho làm công tác này Người nói: “Đối với cán bộ,được làm công tác thanh tra là một vinh dự Vì sao? Vì công tác thanh tra là một công tác
quan trọng, Đảng và Chính phủ có tin cậy mới giao cho làm nhiệm vụ ấy” - (Huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc ngày 5/3/1960) Cũng tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc ngày 5/3/1960, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã phê bình: “Một số cán bộ chưa yên tâm công tác, cho làm công tác thanh trakhông tiến bộ, thắc mắc về tiền đồ, đứng núi này trông núi nọ, muốn xin đi công tác khác.Như thế là không hiểu rõ nhiệm vụ của mình, không hiểu vinh dự của mình, là mắc bệnh cánhân chủ nghĩa” Bác Hồ còn yêu cầu: Người cán bộ thanh tra nghe không được thiên lệch,nghe một bên, nên nghe người này, nghe người kia Phải khách quan, chớ do ý muốn và suyđoán chủ quan của mình Thanh tra muốn biết, muốn thấy, muốn hiểu rõ sự thật ở cơ quan, ởđịa phương nào đấy phải tận nơi, nghe ngóng tìm hỏi, chịu khó Quan liêu sẽ không làm đượcnhiệm vụ Phải cẩn thận, khách quan, điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng, chịu khó
Công tác thanh tra đặc biệt quan trọng, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cán bộthanh tra phải là những người thực sự có năng lực, kinh nghiệm và uy tín Năng lực của ngườicán bộ thanh tra không chỉ tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ thanh tra, mà còn phải nắmvững nghiệp vụ thuộc ngành, nghề của cơ quan, đơn vị đang làm việc; đồng thời phải hiểubiết sâu sắc về các vấn đề xã hội, am hiểu luật pháp, giải quyết các mối quan hệ xã hội mộtcách minh bạch, công tâm theo đúng pháp luật và không trái với tập quán, đạo lý truyềnthống của dân tộc Bác nói: Người cán bộ thanh tra phải có uy tín cao Điều đó có nghĩa làcán bộ thanh tra phải là người trong sáng về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chícông vô tư Có như vậy thì mới làm cho đối tượng thanh tra “tâm phục khẩu phục”
Người căn dặn: “Cán bộ thanh tra phải cố gắng học tập, học cái hay, tránh cái dở, traudồi đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ lý luận, trình độ nghiệp vụ và trình độ chuyên môn
Trang 14để làm việc cho tốt” - (Huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc ngày 5/3/1960).
Trong giai đoạn hiện này khi nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá thì việc không ngừng học tập, trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao kiến thức chuyênmôn nghiệp vụ thật sự là yêu cầu mà mọi cán bộ thanh tra phải học tập, quán triệt
Câu 2 Khái niệm thanh tra; Vị trí, vai trò của thanh tra trong quản lí nhà nước?
Theo Nghị định 83/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ.
Khái niệm:
- Theo Từ điển Tiếng việt thì thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địaphương, cơ quan, xí nghiệp
-Điều 3 Giải thích từ ngữ (Luật TTr 2010)
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1 Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách,pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồmthanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
2 Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm
vụ, quyền hạn được giao
3 Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyênngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó
4 Định hướng chương trình thanh tra là văn bản xác định phương hướng hoạt động
thanh tra trong 01 năm của ngành thanh tra do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo đề nghịcủa Tổng Thanh tra Chính phủ
5 Kế hoạch thanh tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về thanh tra của cơ quan
thực hiện chức năng thanh tra trong 01 năm do Thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năngthanh tra xây dựng để thực hiện Định hướng chương trình thanh tra và yêu cầu quản lý của
Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp
6 Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là cơ quan thực
hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực, bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chicục thuộc sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
7 Người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành là công chức được
phân công thực hiện nhiệm vụ thanh tra của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh trachuyên ngành
8 Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban thanh tra
nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việcthực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã,phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước
Vị trí và chức năng
Thanh tra Chính phủ là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhànước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống thamnhũng trong phạm vi cả nước; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo vàphòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Trang 15Nhiệm vụ và quyền hạn
Thanh tra Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định
số 83/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụthể sau đây:
1 Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo
nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ vềthanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theochương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Thanh tra Chính phủ đã được phêduyệt và các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác theo sự phân công của Chínhphủ, Thủ tướng Chính phủ
2 Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Định hướng chương trình thanh tra hàng năm, các
dự thảo quyết định, chỉ thị, các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và
tổ chức triển khai thực hiện
3 Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về thanh tra, tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng
4 Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến
lược, định hướng chương trình đã được phê duyệt về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo vàphòng, chống tham nhũng; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thanh tra,tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng
5 Về thanh tra:
a) Lập kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ; hướng dẫn Thanh tra Bộ, cơ quan ngang
Bộ (sau đây gọi tắt là Thanh tra Bộ), Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sauđây gọi tắt là Thanh tra tỉnh) xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra;
b) Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ, cơ quanngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương(sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước doThủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; thanh tra vụ việc phức tạp, liên quan đến tráchnhiệm quản lý nhà nước của nhiều Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
c) Thanh tra vụ việc khác do Thủ tướng Chính phủ giao;
d) Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của các kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanhtra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và củaChánh Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Chánh Thanh tra cấp tỉnh khi cần thiết;
đ) Quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Bộ trưởng kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu viphạm pháp luật khi được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã đượcChủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra tỉnh kết luậnnhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
e) Đề nghị Bộ trưởng, yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiến hành thanh tra trongphạm vi quản lý của Bộ, của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi phát hiện có dấu hiệu vi phạmpháp luật; trường hợp Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không đồng ý thì cóquyền ra quyết định thanh tra, báo cáo và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ vềquyết định của mình;
g) Chủ trì xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa cơquan Thanh tra các Bộ; giữa Thanh tra bộ với Thanh tra tỉnh;
h) Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý vềthanh tra của Thanh tra Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ;
i) Xem xét xử lý vấn đề mà Chánh Thanh tra bộ không nhất trí với Bộ trưởng, Chánh Thanhtra tỉnh không nhất trí với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác thanh tra Trường
Trang 16hợp Bộ trưởng không đồng ý với kết quả xử lý của Tổng Thanh tra Chính phủ thì Tổng Thanhtra Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
k) Kiến nghị Bộ trưởng đình chỉ việc thi hành hoặc hủy bỏ quy định do bộ mình ban hành tráivới quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, của Tổng Thanh tra Chính phủ về công tácthanh tra; trường hợp Bộ trưởng không đình chỉ hoặc không hủy bỏ văn bản đó thì trình Thủtướng Chính phủ quyết định;
l) Đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ quy định của Ủy ban nhândân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trái với quy định của cơ quan nhà nước cấptrên, của Tổng Thanh traChính phủ về công tác thanh tra;
m) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định chophù hợp với yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉ hoặc hủy bỏ quy định trái pháp luật phát hiệnqua công tác thanh tra;
n) Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý củaThủ tướng Chính phủ có hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thựchiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra; yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức xemxét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạmpháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanhtra
6 Về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo:
a) Tổ chức việc tiếp công dân; tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tốcáo theo quy định của pháp luật;
b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân tại trụ sở tiếpcông dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh;
c) Xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáothuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao;
d) Xem xét, kết luận việc giải quyết tố cáo mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủtrưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng códấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luậtthì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, giải quyết lại;
đ) Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quanthuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thihành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
7 Về phòng, chống tham nhũng:
a) Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật
về phòng, chống tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong công tác thanh tra;
b) Thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền hoặc chỉ đạo củaThủ tướng Chính phủ; chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc phát hiện hành
vi tham nhũng; thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng; đôn đốc việc xử lý người có hành
vi tham nhũng theo quy định của pháp luật và theo phân cấp quản lý cán bộ của Đảng vàChính phủ;
c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng hệ thống dữ liệuchung về phòng, chống tham nhũng;
d) Phối hợp với Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dântối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chốngtham nhũng trong việc cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu, kinh nghiệm về công tác phòng,
Trang 17chống tham nhũng; tổng hợp, đánh giá, dự báo tình hình tham nhũng và kiến nghị chính sách,giải pháp phòng, chống tham nhũng.
8 Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống
tham nhũng được áp dụng các quyền hạn của Thanh tra Chính phủ theo quy định của phápluật; được yêu cầu các cơ quan, đơn vị có liên quan cử cán bộ, công chức, viên chức tham giađoàn thanh tra
9 Yêu cầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo
cáo tình hình, kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống thamnhũng
10 Tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng,
chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Chính phủ; tổng kết kinh nghiệm vềcông tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng
11 Thực hiện hợp tác quốc tế về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng,
chống tham nhũng
12 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ
khoa học, công nghệ trong lĩnh vực thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo vàphòng, chống tham nhũng
13 Quyết định và tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của Thanh tra Chính phủ
theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính nhà nước của Chính phủ và chỉ đạo củaThủ tướng Chính phủ
14 Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành văn bản hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế của các cơ quan thanh tra nhà nước
15 Chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra; bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra đối
với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra; thực hiện việc quản lý, bổ nhiệm cácngạch công chức thanh tra theo quy định của pháp luật; cấp thẻ thanh tra viên cho công chức,
sỹ quan được bổ nhiệm vào các ngạch thanh tra viên trong toàn ngành Thanh tra; ban hànhtiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra Bộ và ChánhThanh tra, Phó Chánh Thanh tra tỉnh
Thống nhất với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnhviệc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chánh Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ và ChánhThanh tra cấp tỉnh
16 Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện chế độ tiền
lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viênchức thuộc phạm vi quản lý của Thanh tra Chính phủ theo quy định của pháp luật
17 Quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp trực thuộc theo quy định của
pháp luật
18 Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ theo
quy định của pháp luật
19 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao hoặc
theo quy định của pháp luật
Trong thực tiễn, hoạt động quản lý nhà nước và quá trình thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp và tư pháp đều phải chịu sự kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm sát Cơ cấu tổ chức và cơchế kiểm tra của Nhà nước ta gồm đủ các loại hình nói trên Với các hoạt động xây dựng,chúng ta thường gặp các khái niệm thanh tra, kiểm tra và giám sát Bài viết này sẽ làm rõnhững khái niệm trên, nhằm giúp các Chủ đầu tư và các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xâydựng chủ động hơn trong quá trình quản lý và phối hợp thực hiện
PHÂN BIỆT GIỮA THANH TRA, KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
1 Về ngữ nghĩa:
Trang 18- Kiểm tra (control): Theo Từ điển Tiếng Việt, kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh
giá, nhận xét”, để chỉ hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực
thuộc hoặc không trực thuộc) Theo nghĩa rộng, để chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, cácđoàn thể và của công dân kiểm tra hoạt động bộ máy của nhà nước Theo nghĩa này, tínhquyền lực nhà nước trong kiểm tra bị hạn chế vì các chủ thể thực hiện kiểm tra không cóquyền áp dụng trực tiếp những biện pháp cưỡng chế nhà nước Theo nghĩa hẹp hơn, kiểm tra
là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác định một việc gì đó của đối tượng bịquản lý xem có phù hợp hay không phù hợp với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội
bộ của người đứng đầu cơ quan, kiểm tra phương tiện giao thông…)
- Thanh tra (inspect): xuất phát từ gốc La-tinh (in-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên
trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định: “là sự kiểm soát đối với đối tượng bị thanh tra” trên cơ sở thẩm quyền (quyền hạn và nghĩa vụ)
được giao, nhằm đạt được mục đích nhất định
- Giám sát (supervision hoặc overseer): Theo Từ điển Tiếng Việt, giám sát được hiểu là
“theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều đã quy định không” Khái niệm này
dùng để chỉ một hoạt động xem xét có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệ thống đối vớikhách thể thuộc hệ thống khác, tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu sự giám sátkhông nằm trong một hệ thống trực thuộc nhau theo chiều dọc
- Kiểm sát (investigate): chỉ hoạt động bảo đảm pháp chế của Viện Kiểm sát nhân dân các
cấp nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật (kiểm sát chung), vai trò công tố (bảo vệ quyền vàlợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân)
2 Phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra
- Giữa kiểm tra và thanh tra có một mảng giao thoa về chủ thể, đó là Nhà nước Nhà nướctiến hành cả hoạt động thanh tra và kiểm tra
- Sau quá trình thực hiện kiểm tra, thanh tra, các cơ quan quản lý nhà nước có thể phân tíchđánh theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra
- Mối quan hệ giữa thanh tra và kiểm tra là mối quan hệ đan chéo nhau Hiểu theo nghĩa rộngthì thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra Ngược lại, hiểu theo nghĩa hẹp, thanh tralại bao hàm cả kiểm tra Các hoạt động thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra như việckiểm tra hồ sơ, tài liệu của đối tượng thanh tra; so sánh đối chiếu, đánh giá tài liệu, chứng cứthu thập được trong quá trình thanh tra…đó là kiểm tra
b) Khác nhau:
- Về chủ thể thực hiện: Chủ thể của kiểm tra rộng hơn của thanh tra rất nhiều Trong khi chủthể tiến hành thanh tra phải là Nhà nước, thì chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nướchoặc có thể là chủ thể phi nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm tra của một tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị- xã hội (Đảng, Công đoàn, Mặt trận, Đoàn thanh niên ), như hoạt động
kiểm tra trong nội bộ một công ty hoặc doanh nghiệp hoạt động xây lắp hay tư vấn
Trang 19- Về phạm vi hoạt động: Phạm vi hoạt động kiểm tra thường theo bề rộng, diễn ra liên tục, ởkhắp nơi với nhiều hình thức phong phú, mang tính quần chúng Phạm vi hoạt động thanh trathường hẹp hơn hoạt động kiểm tra.
- Về phương pháp tiến hành: Khi tiến hành thanh tra, Đoàn thanh tra cũng áp dụng nhữngbiện pháp nghiệp vụ sâu hơn, đi vào thực chất đến tận cùng của vấn đề như: xác minh, thuthập chứng cứ, đối thoại, chất vấn, giám định Đặc biệt, quá trình thanh tra các Đoàn thanhtra còn có thể áp dụng những biện pháp cần thiết để phục vụ thanh tra theo quy định của phápluật về thanh tra để tác động lên đối tượng bị quản lý
- Về mục đích thực hiện: Mục đích của thanh tra bao giờ cũng rộng hơn, sâu hơn đối với cáchoạt động kiểm tra Đặc biệt, đối với các cuộc thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo thì sựkhác biệt về mục đích, ý nghĩa giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra càng rõ hơn nhiều Thanhtra xây dựng có quyền hạn xử lý, xử phạt hành chính trong lĩnh vực xây dựng
Tóm lại: Thanh tra và kiểm tra tuy có sự phân biệt nhưng chỉ là tương đối Khi tiến hành cuộc thanh tra, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ đó thực chất là kiểm tra Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra để làm rõ vụ việc, lại lựa chọn được nội dung thanh tra Kiểm tra và thanh tra là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ qua lại, gắn bó.
Do vậy, khi nói đến một khái niệm người ta thường nhắc đến cả cặp với tên gọi là thanh tra, kiểm tra hay kiểm tra, thanh tra.
3 Phân biệt giữa thanh tra và giám sát
MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC CỦA HOẠT ĐỘNG THANH TRA
Điều 6 Hoạt động thanh tra (Luật Ttra 2010)
Hoạt động thanh tra do Đoàn thanh tra, Thanh tra viên và người được giao thực hiệnnhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thực hiện
Điều 3 Nguyên tắc hoạt động thanh tra (Nghị định 86/2011/NĐ-CP)
Hoạt động thanh tra hành chính được tiến hành theo Đoàn thanh tra; hoạt động thanhtra chuyên ngành được tiến hành theo Đoàn thanh tra hoặc do Thanh tra viên, công chức đượcgiao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành độc lập
Điều 7 Nguyên tắc hoạt động thanh tra (Luật Ttra 2010)
1 Tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ,kịp thời
2 Không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơquan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổchức, cá nhân là đối tượng thanh tra
1 Mục đích và nguyên tắc của hoạt động thanh tra (TÀI LIỆU)
a) Mục đích của hoạt động thanh tra
Trang 20Mục đích thanh tra là nội dung quan trọng được đề cập trong Luật Thanh tra và mangtính định hướng cho hoạt động của các cơ quan thanh tra Theo quy định của Luật Thanh tranăm 2010 thì mục đích thanh tra cũng có sự bổ sung, phát triển Nếu như Luật Thanh tra năm
2004 đề cao mục đích thanh tra là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm phápluật thì Luật Thanh tra năm 2010 đã thể hiện rõ hơn mục đích thanh tra theo tư tưởng của Chủtịch Hồ Chí Minh: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới” Điều 2 của LuậtThanh tra năm 2010 quy định về mục đích thanh tra như sau: "mục đích thanh tra nhằm pháthiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhànước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi viphạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; pháthuy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo vệ lợi íchcủa nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân"
b) Nguyên tắc hoạt động thanh tra
Nguyên tắc hoạt động thanh tra là những quy tắc chỉ đạo, tiêu chuẩn hành động xuyênsuốt trong quá trình tiến hành thanh tra của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra nhànước Theo quy định trong Luật Thanh tra năm 2004 thì “ hoạt động thanh tra phải tuân theopháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; khônglàm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và cá nhân là đối tượng thanhtra” Qua tổng kết công tác thanh tra cho thấy, về cơ bản nguyên tắc này là phù hợp, đáp ứngđược yêu cầu hoạt động của các cơ quan nhà nước thời gian qua Tuy nhiên, thực tế công tácthanh tra cũng cho thấy vẫn còn tình trạng trùng lắp, chồng chéo trong hoạt động của các cơquan thực hiện chức năng thanh tra Để khắc phục tình trạng này, giúp các cơ quan thanh trahoạt động theo đúng phạm vi được pháp luật quy định, bảo đảm cho công tác thanh tra gópphần thiết thực hơn nữa trong việc hoàn thiện cơ chế quản lý, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, Luật Thanhtra năm 2010 đã bổ sung thêm nguyên tắc hoạt động thanh tra “không trùng lặp về phạm vi,đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra”.b1 Nguyên tắc tuân theo pháp luật trong hoạt động thanh tra
Phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa - một nguyên tắc cơ bản của quản lýhành chính nhà nước, hoạt động thanh tra đòi hỏi tuân thủ nguyên tắc tuân theo pháp luật.Nguyên tắc này đặt ra hai yêu cầu căn bản dưới đây:
- Mọi công việc cần tiến hành trong hoạt động thanh tra phải được thực hiện trên cơ sởnhững quy định của pháp luật hiện hành về Thanh tra
- Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt độngthanh tra Khi có đầy đủ những căn cứ do pháp luật quy định, cơ quan thanh tra được quyềntiến hành hoạt động thanh tra một cách độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Việc can thiệpkhông có căn cứ pháp luật của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào đều là bất hợp pháp và tùy theomức độ nặng, nhẹ sẽ bị xử lý theo các quy định của pháp luật
Những đòi hỏi nêu trên có nội dung rất rộng, theo đó, từ chương trình, kế hoạch hoạtđộng của các tổ chức thanh tra đến việc ra quyết định thanh tra, cử Đoàn Thanh tra, Thanh traviên đến việc kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạtđộng thanh tra đều phải tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật hiện hành
b2 Nguyên tắc đảm bảo chính xác, khách quan, dân chủ, công khai, kịp thời trong hoạtđộng thanh tra
Thanh tra là hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp xử lý thích hợp, đảm bảo cho chính sách,pháp luật, kế hoạch được tôn trọng thực hiện Mỗi kết luận, kiến nghị hay quyết định tronghoạt động thanh tra đều rất quan trọng bởi nó phải làm rõ tính đúng sai, nêu rõ tình hình, tính
Trang 21chất, hậu quả của sự việc, xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nếu họ sai phạm và yêucầu các đối tượng này có những biện pháp tích cực loại trừ những sai phạm đó Vì vậy, tínhchính xác phải được coi là một nguyên tắc của hoạt động thanh tra Bản thân nguyên tắc tuântheo pháp luật trong hoạt động thanh tra đã tạo ra cơ sở quan trọng để đảm bảo cho nguyêntắc chính xác Điều này có nghĩa là hoạt động thanh tra phải được tiến hành trên cơ sở có đầy
đủ những căn cứ rõ ràng đã được quy định trong pháp luật; việc thực hiện những nhiệm vụ,quyền hạn, các quyền và nghĩa vụ pháp lý khác hoàn toàn phải phù hợp với quy định củapháp luật về hoạt động thanh tra
Nguyên tắc khách quan trong hoạt động thanh tra đòi hỏi, mọi công việc tiến hành tronghoạt động này phải xuất phát từ thực tiễn quản lý hành chính nhà nước Mọi quyết định, kếtluận hay kiến nghị trong hoạt động thanh tra đều phải xuất phát từ thực tiễn khách quan đóchứ không phải là kết quả của việc suy diễn chủ quan, hời hợt hay mang tính áp đặt Muốnkhách quan trong hoạt động thanh tra, cán bộ thanh tra phải có trình độ hiểu biết về chínhtrị, pháp luật, am hiểu chuyên môn nghiệp vụ để có thể độc lập, khách quan trong suy nghĩ
và hành động của mình
Công khai, dân chủ là bản chất chế độ xã hội của chúng ta và nó cũng đã trở thành mộtnguyên tắc trong hoạt động thanh tra Các quy định pháp luật về cơ cấu, tổ chức, nhiệm vụ,quyền hạn, trình tự, thủ tục thanh tra đều thể hiện rõ nét những nội dung của nguyên tắc côngkhai, dân chủ Nguyên tắc công khai, dân chủ đòi hỏi:
- Nội dung các công việc của hoạt động thanh tra phải được thông báo một cách đầy đủ
và rộng rãi cho mọi đối tượng có liên quan biết;
Trang 22- Cơ quan thanh tra phải có trách nhiệm thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tích cựctham gia vào hoạt động thanh tra, đảm bảo phát huy mạnh mẽ tính dân chủ của hoạt độngnày;
- Các kết luận, kiến nghị, quyết định về thanh tra trong hoạt động thanh tra được thôngbáo công khai cho các đối tượng có liên quan biết
Kịp thời là một yêu cầu mang tính đặc thù trong phương pháp hoạt động của thanh tra.Yêu cầu này nhằm đảm bảo phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời những việc làm vi phạmpháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và các cá nhân trong xã hội.Nguyên tắc kịp thời trong hoạt động thanh tra đòi hỏi:
- Khi có đầy đủ cơ sở tiến hành thanh tra, tổ chức thanh tra có thẩm quyền phải nhanhchóng tiến hành hoạt động thanh tra theo đúng quy định của pháp luật;
- Mọi công việc cần tiến hành trong hoạt động thanh tra đều phải thực hiện trong thờihạn được pháp luật quy định
b3 Nguyên tắc không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữacác cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơquan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra
Theo nguyên tắc này: Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước cần nghiên cứu, xem xét
kỹ các căn cứ và những điều kiện khác có liên quan trước khi ra quyết định thanh tra và thànhlập Đoàn Thanh tra để tránh trùng lặp, cố gắng tránh hiện tượng có thể xảy ra là 1 năm liêntiếp có nhiều Đoàn kiểm tra, thanh tra đến 1cơ quan, đơn vị, nhất là thanh tra, kiểm tra vềcùng 1 nội dung Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, Trưởng đoàn và các thành viên ĐoànThanh tra cần thực hiện đúng kế hoạch thanh tra, đúng quyền hạn, trình tự thủ tục và đúng thờigian, thời hiệu thanh tra
Thực hiện hoạt động thanh tra nhằm góp phần đảm bảo tuân thủ pháp chế và kỷ luật nhànước, tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý hành chính nhà nước Pháp luật traocho cơ quan thanh tra những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt để tiến hành hoạt động thanh tranhằm đạt được mục tiêu quan trọng nêu trên Tuy nhiên, khi tiến hành hoạt động thanh tra,trong đó có việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt này, cơ quan thanh tra phải đảm bảokhông cản trở đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân là đốitượng thanh tra Có như vậy, thanh tra mới thực sự là công cụ để củng cố và tăng cường phápchế và kỷ luật nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Nguyên tắc không cảntrở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, đặcbiệt khi trên thực tế xuất hiện tình trạng một bộ phận cán bộ thanh tra lợi dụng việc thanh tra
để thực hiện nhưng hành vi tiêu cực, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của đối tượngthanh tra, đặc biệt là của các đơn vị thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh
Nguyên tắc này cũng lấy nguyên tắc tuân theo pháp luật làm cơ sở để đảm bảo thựchiện Luật Thanh tra đã quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong quá trình tổ chức thựchiện hoạt động thanh tra, trong đó có những hành vi bị cấm nhằm đảm bảo thực hiện nguyêntắc không cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra Khoản 1, Điều 13 LuậtThanh tra cấm “ lợi dụng chức vụ, quyền hạn thanh tra để thực hiện hành vi trái pháp luật,sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra”
TỔ CHỨC, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CÁC CƠ QUAN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG THANH TRA
Điều 4 Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra (Luật Ttra 2010)
1 Cơ quan thanh tra nhà nước, bao gồm:
a) Thanh tra Chính phủ;
b) Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Thanh tra bộ);
Trang 23c) Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Thanh tratỉnh);
d) Thanh tra sở;
đ) Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Thanh trahuyện)
2 Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
Điều 5 Chức năng của cơ quan thanh tra nhà nước (Luật Ttra 2010)
Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện vàgiúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giảiquyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Chương II (Nghị định số 86/2011/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Thanh tra)
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, CƠ CẤU TỔ CHỨC
CỦA CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƯỚC
Điều 6 Thanh tra Chính phủ
Thanh tra Chính phủ là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thựchiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chốngtham nhũng trong phạm vi cả nước; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ được quy định tại Nghịđịnh khác của Chính phủ
Điều 7 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ
1 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 18 của Luật Thanh tra
2 Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạchthanh tra của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ
3 Tổ chức tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho Thanh tra viên, công chứcđược giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành và công chức làm công tác thanh trathuộc Bộ, ngành mình
4 Tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của
Bộ thực hiện các quy định pháp luật về thanh tra
5 Tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước củaBộ
Điều 8 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh Thanh tra Bộ
1 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 19 của Luật Thanh tra
2 Báo cáo Bộ trưởng, Tổng Thanh tra Chính phủ về công tác thanh tra trong phạm vitrách nhiệm của mình
3 Tham mưu, đề xuất với Bộ trưởng việc giao chức năng thanh tra chuyên ngành đốivới tổng cục, cục thuộc Bộ
4 Thanh tra trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của Bộtrong việc thực hiện pháp luật về thanh tra
5 Trưng tập công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị có liên quan tham gia hoạt độngthanh tra
Điều 9 Cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ
1 Thanh tra Bộ có Chánh Thanh tra, các Phó Chánh Thanh tra, các Thanh tra viên vàcông chức khác
Chánh Thanh tra Bộ do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhấtvới Tổng Thanh tra Chính phủ
Trang 24Phó Chánh Thanh tra Bộ do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghịcủa Chánh Thanh tra Bộ Phó Chánh Thanh tra Bộ giúp Chánh Thanh tra Bộ phụ trách mộthoặc một số lĩnh vực công tác và chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh Thanh tra
Bộ về việc thực hiện nhiệm vụ được giao
2 Thanh tra Bộ có các phòng nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ được giao
3 Thanh tra Bộ có con dấu và tài khoản riêng
Điều 10 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra tỉnh
1 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 20 của Luật Thanh tra; thanhtra các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấptỉnh
2 Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện xây dựng và thực hiện chương trình, kếhoạch thanh tra của Thanh tra sở, Thanh tra huyện
3 Tổ chức tập huấn nghiệp vụ thanh tra hành chính cho Thanh tra viên, công chức làmcông tác thanh tra của Thanh tra tỉnh, Thanh tra sở, Thanh tra huyện
4 Tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các sở, Ủy ban nhân dân cấp huyệntrong việc thực hiện pháp luật về thanh tra
5 Tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Điều 11 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh Thanh tra tỉnh
1 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 21 của Luật Thanh tra
2 Báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Tổng Thanh tra Chính phủ về công tácthanh tra trong phạm vi trách nhiệm của mình
3 Thanh tra trách nhiệm của Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trongviệc thực hiện pháp luật về thanh tra
4 Phối hợp với Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan, tổ chứchữu quan trong việc xác định cơ cấu, tổ chức, biên chế, chế độ, chính sách đối với Thanh tra
sở, Thanh tra huyện
5 Phối hợp với Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc bổnhiệm, miễn nhiệm, cách chức và thuyên chuyển, điều động Chánh Thanh tra sở, ChánhThanh tra huyện và các chức danh thanh tra
6 Trưng tập công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị có liên quan tham gia hoạt độngthanh tra
Điều 12 Cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh
1 Thanh tra tỉnh có Chánh Thanh tra, các Phó Chánh Thanh tra, các Thanh tra viên vàcông chức khác
Chánh Thanh tra tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ
Phó Chánh Thanh tra tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễnnhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh Thanh tra tỉnh Phó Chánh Thanh tra tỉnh giúpChánh Thanh tra tỉnh phụ trách một hoặc một số lĩnh vực công tác và chịu trách nhiệm trướcpháp luật, trước Chánh Thanh tra tỉnh về việc thực hiện nhiệm vụ được giao
2 Cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh có các phòng nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụđược giao
3 Thanh tra tỉnh có con dấu và tài khoản riêng
Điều 13 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra sở
1 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 24 của Luật Thanh tra
2 Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạchthanh tra của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở
Trang 253 Tổ chức việc tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho Thanh tra viên, côngchức làm công tác thanh tra thuộc sở và công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh trachuyên ngành thuộc cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc sở.
4 Tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của
sở trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra
5 Tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước củasở
Điều 14 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh Thanh tra sở
1 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 25 của Luật Thanh tra
2 Báo cáo Giám đốc sở, Chánh Thanh tra tỉnh, Chánh Thanh tra Bộ về công tác thanhtra trong phạm vi trách nhiệm của mình
3 Thanh tra trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của sởtrong việc thực hiện pháp luật về thanh tra
4 Trưng tập công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị có liên quan tham gia hoạt độngthanh tra
Điều 15 Cơ cấu tổ chức của Thanh tra sở
1 Thanh tra sở có Chánh Thanh tra, các Phó Chánh Thanh tra, các Thanh tra viên vàcông chức khác
Chánh Thanh tra sở do Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thốngnhất với Chánh Thanh tra tỉnh
Phó Chánh Thanh tra sở do Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đềnghị của Chánh Thanh tra sở Phó Chánh Thanh tra sở giúp Chánh Thanh tra sở phụ trách mộthoặc một số lĩnh vực công tác và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Chánh Thanh tra sởtrong việc thực hiện nhiệm vụ được giao
2 Thanh tra sở có con dấu và tài khoản riêng
Điều 16 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra huyện
1 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 27 của Luật Thanh tra; thanhtra các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấphuyện
2 Tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhândân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra
3 Tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của
Ủy ban nhân dân cấp huyện
Điều 17 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh Thanh tra huyện
1 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 28 của Luật Thanh tra
2 Báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chánh Thanh tra tỉnh về công tácthanh tra trong phạm vi trách nhiệm của mình
3 Thanh tra trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dâncấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra
4 Trưng tập công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị có liên quan tham gia hoạt độngthanh tra
Điều 18 Cơ cấu tổ chức của Thanh tra huyện
1 Thanh tra huyện có Chánh Thanh tra, các Phó Chánh Thanh tra, các Thanh tra viên
Trang 26Chánh Thanh tra huyện thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh Thanh tra huyện vàchịu trách nhiệm trước phát luật, trước Chánh Thanh tra huyện trong việc thực hiện nhiệm vụđược giao.
2 Thanh tra huyện có con dấu và tài khoản riêng
THEO TÀI LIỆU THI
2 Tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra nhà nước
a) Tổ chức cơ quan thanh tra nhà nước
Luật Thanh tra hiện hành không phân định tổ chức cơ quan thanh tra nhà nước thành lậptheo cấp hành chính và tổ chức cơ quan thanh tra nhà nước thành lập theo ngành, lĩnh vực màchỉ quy định về các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, bao gồm:
- Cơ quan thanh tra nhà nước (Thanh tra Chính phủ; Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ;Thanh tra tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương; Thanh tra sở; Thanh tra huyện, Quận, Thị
Theo quy định của Luật Thanh tra, tổ chức các cơ quan thanh tra nhà nước được xâydựng phải bảo đảm tăng cường mối quan hệ chỉ đạo, điều hành của cơ quan thanh tra cấp trênvới cơ quan thanh tra cấp dưới Các cơ quan thanh tra phải có tính độc lập, chủ động tronghoạt động thanh tra, nhất là sự chủ động trong kết luận, kiến nghị và xử lý về thanh tra, đồngthời phải quy định cho cơ quan thanh tra cấp trên bổ nhiệm, cách chức người đứng đầu cơquan thanh tra cấp dưới Tuy nhiên, việc tổ chức các cơ quan thanh tra phải phù hợp với cácquy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân.Xuất phát từ lý do đó, Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định tổ chức các cơ quan thanh tranhà nước như sau:
a1 Thanh tra Chính phủ
Theo Khoản 5 Điều 18 của Luật Tổ chức Chính phủ, trong lĩnh vực pháp luật và hànhchính tư pháp, Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra nhà nước; tổchức và chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc trách nhiệm của Chính phủ;tại Điều 22 của Luật Tổ chức Chính phủ quy định “Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan củaChính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trongphạm vi cả nước” Theo các quy định này thì Thanh tra Chính phủ có địa vị pháp lý như các
bộ, cơ quan ngang bộ khác, tức là có địa vị pháp lý độc lập, có phạm vi quản lý ngành, lĩnhvực riêng, đó là quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng,chống tham nhũng Thanh tra Chính phủ có vai trò giúp Chính phủ quản lý nhà nước về côngtác thanh tra tương tự như các Bộ, cơ quan ngang bộ khác và theo đúng quy định của Luật Tổchức Chính phủ Đây chính là định hướng đã được xác định rõ tại Nghị quyết số48/2005/NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị là “bảo đảm mọi hoạt động quản lý nhànước đều chịu sự thanh tra, kiểm tra của Chính phủ” Tại Nghị quyết số 21/2009/NQ-CP ngày12/5/2009 về chiến lược quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2020, cụ thể là “nghiêncứu, sửa đổi pháp luật về Thanh tra theo hướng làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn củacác cơ quan thanh tra nhà nước tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của cơ quanthanh tra tăng cường hiệu lực thi hành các kết luận của cơ quan thanh tra”
Như vậy, Thanh tra Chính phủ là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chínhphủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng,
Trang 27chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Cơ cấu của Thanh tra Chính phủ có Tổng Thanh tra Chính phủ, các Phó Tổng Thanh traChính phủ, Thanh tra viên và cán bộ, công chức viên chức Tổng Thanh tra Chính phủ làthành viên Chính phủ, là người đứng đầu ngành thanh tra Tổng Thanh tra Chính phủ chịutrách nhiệm trước Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và phòng, chống tham nhũng Phó Tổng Thanh tra Chính phủ giúp Tổng Thanh traChính phủ thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Tổng Thanh tra Chính phủ
a2 Thanh tra bộ
Thanh tra bộ là cơ quan của Bộ, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác thanh tra,giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra hành chính đốivới cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ; tiến hành thanh tra chuyên ngànhđối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của Bộ;giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Thanh tra bộ có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên Chánh Thanhtra bộ do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh traChính phủ
Phó Chánh Thanh tra bộ do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghịcủa Chánh Thanh tra bộ Phó Chánh Thanh tra bộ giúp Chánh Thanh tra bộ thực hiện nhiệm
vụ theo sự phân công của Chánh Thanh tra bộ; giúp Chánh Thanh tra bộ phụ trách một hoặcmột số lĩnh vực công tác và chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh Thanh tra bộ vềviệc thực hiện nhiệm vụ được giao
Cơ cấu tổ chức của Thanh tra bộ có các phòng nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ đượcgiao Thanh tra bộ có con dấu và tài khoản riêng
Về mặt hoạt động, Thanh tra bộ chịu sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng và chịu sự chỉ đạo
về công tác, hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ
a3 Thanh tra tỉnh
Thanh tra tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, có trách nhiệm giúp
Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo vàphòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống thamnhũng theo quy định của pháp luật
Thanh tra tỉnh có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên ChánhThanh tra tỉnh do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức saukhi thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ, Phó Chánh Thanh tra tỉnh do Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh Thanh tra tỉnh.Phó Chánh Thanh tra tỉnh giúp Chánh Thanh tra tỉnh thực hiện nhiệm vụ theo sự phân côngcủa Chánh Thanh tra tỉnh; giúp Chánh Thanh tra tỉnh phụ trách một hoặc một số lĩnh vựccông tác và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Chánh Thanh tra tỉnh về việc thực hiệnnhiệm vụ được giao
Cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh có các phòng nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ đượcgiao Thanh tra tỉnh có con dấu và tài khoản riêng
Về mặt hoạt động, Thanh tra tỉnh chịu sự chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch Uỷ ban nhândân cùng cấp và chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ của Thanh traChính phủ
a4 Thanh tra sở
Thanh tra sở là cơ quan của Sở, giúp Giám đốc sở tiến hành thanh tra hành chính vàthanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy địnhcủa pháp luật Thanh tra sở được thành lập ở những sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
Trang 28nước theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc theo quy định của pháp luật.
Thanh tra sở có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên Chánh Thanhtra sở do Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Chánh Thanhtra tỉnh Phó Chánh Thanh tra sở do Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đềnghị của Chánh Thanh tra sở Phó Chánh Thanh tra sở giúp Chánh Thanh tra sở thực hiệnnhiệm vụ theo sự phân công của Chánh Thanh tra sở; giúp Chánh Thanh tra sở phụ trách mộthoặc một số lĩnh vực công tác và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Chánh Thanh tra sởtrong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Thanh tra sở có con dấu và tài khoản riêng
Về mặt hoạt động, Thanh tra sở chịu sự chỉ đạo, điều hành của Giám đốc sở; chịu sự chỉđạo về công tác thanh tra và hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra hành chính của Thanh tra tỉnh,
về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra bộ
a5 Thanh tra huyện
Thanh tra huyện là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, có tráchnhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tốcáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Thanh tra huyện có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên ChánhThanh tra huyện do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chứcsau khi thống nhất với Chánh Thanh tra tỉnh Phó Chánh Thanh tra huyện do Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp huyện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh Thanh trahuyện Phó Chánh Thanh tra huyện giúp Chánh Thanh tra huyện thực hiện nhiệm vụ theo sựphân công của Chánh Thanh tra huyện và chịu trách nhiệm trước phát luật, trước ChánhThanh tra huyện trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Thanh tra huyện có con dấu và tàikhoản riêng
Về mặt hoạt động, Thanh tra huyện chịu sự chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch Uỷ ban nhândân cùng cấp và chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra của Thanh tratỉnh
b) Nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thanh tra và người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước
Quán triệt quan điểm xác định rõ vai trò của các cơ quan thanh tra, đảm bảo hoạt độngthanh tra thực sự có hiệu lực, hiệu quả, Luật Thanh tra năm 2010 đã tập trung tăng cường cácnhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra cũng như người đứng đầu các cơ quan này.Đồng thời, phận định, làm rõ các nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động thanh tra; nhiệm vụ,quyền hạn của người đứng đầu cơ quan thanh tra Các nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quanthanh tra, người đứng đầu cơ quan thanh tra trong Luật Thanh tra năm 2010 về cơ bản được
kế thừa từ Luật Thanh tra năm 2004, song Luật Thanh tra lần này đã bổ sung một số nhiệm
vụ, quyền hạn mới cho các cơ quan thanh tra Cụ thể là:
- Bổ sung việc quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật choChánh thanh tra các cấp, các ngành Việc bổ sung quyền năng này là nhằm tăng cường tínhchủ động cho người đứng đầu các cơ quan thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra,bảo đảm tính linh hoạt, nhanh nhạy của thanh tra trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiệnnay
- Xác định rõ việc thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Thủ trưởng cơ quan quản
lý quyết định thành lập Đây là nội dung được bổ sung nhằm làm rõ hơn nhiệm vụ của các cơquan thanh tra trong hoạt động thanh tra đối với đối tượng thanh tra là các doanh nghiệp
- Bổ sung việc kiển tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử
lý sau thanh tra của thủ trưởng cơ quan quản lý cấp dưới thuộc thẩm quyền quản lý của thủtrưởng cơ quan quản lý trực tiếp
Trang 29- Bổ sung việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị, quyếtđịnh xử lý về thanh tra, kết luận thanh tra; quyết định thanh tra lạivụ việc đã được thủ trưởng
cơ quản quản lý cấp dưới của thủ trương cơ quan quản lý cùng cấp đã kết luận nhưng pháthiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Thực tế cho thấy nhiều trường hợp vụ việc đã được các
cơ quan thanh tra cấp dưới tiến hành thanh tra, song vì lý do nào đó mà không thể phát hiệnhết các vi phạm pháp luật, do vậy Luật Thanh tra năm 2010 đã bổ sung quyền thanh tra lại vụviệc đã được thủ trưởng cơ quản quản lý cấp dưới của thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp
đã kết luận nhưng thanh tra cấp trên phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật, nhằm đáp ứngyêu cầu công tác phòng, chống các vi phạm pháp luật hiện nay, bảo đảm mọi hành vi vi phạmpháp luật đều được phát hiện và xử lý kịp thời
b1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Chính phủ và người đứng đầu cơ quan Thanh traChính phủ
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Chính phủ
Trong quản lý nhà nước về thanh tra, Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn: xâydựng chiến lược, định hướng chương trình, văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra trình cấp
có thẩm quyền ban hành, phê duyệt hoặc ban hành theo thẩm quyền; hướng dẫn, tuyêntruyền, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về thanh tra; lập kế hoạch thanh tra củaThanh tra Chính phủ; hướng dẫn Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh xây dựng và tổ chức thực hiện
kế hoạch thanh tra; chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra; bồi dưỡng nghiệp
vụ thanh tra đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra; chủ trì, phối hợp với
Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức bộ máy, biên chế thanh tra các cấp, các ngành, điều kiện,tiêu chuẩn bổ nhiệm Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên các cấp, cácngành; yêu cầu Bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Bộ), Uỷ ban nhân dân cấp tỉnhbáo cáo về công tác thanh tra, tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, tổng kết kinhnghiệm về công tác thanh tra, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị,quyết định xử lý về thanh tra của Thủ tướng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ; thực hiện hợptác quốc tế về công tác thanh tra
Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn như thanh traviệc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ, cơ quan thuộc Chínhphủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chínhphủ quyết định thành lập; thanh tra vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý củanhiều Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra
và quyết định xử lý sau thanh tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủyban nhân dân cấp tỉnh khi cần thiết; thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quyđịnh của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theoquy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và thanh tra vụ việc khác do Thủ tướngChính phủ giao
Trang 30- Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng Thanh tra Chính phủ
Tổng Thanh tra Chính phủ là thành viên của Chính phủ Với tư cách là người chịu tráchnhiệm cao nhất trước Chính phủ về công tác thanh tra, Tổng Thanh tra có nhiệm vụ: lãnh đạo,chỉ đạo, kiểm tra công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Chính phủ; lãnh đạoThanh tra Chính phủ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Thanh tra và cácquy định khác của pháp luật có liên quan; trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướngchương trình thanh tra và tổ chức triển khai định hướng chương trình thanh tra; chủ trì xử lýviệc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các Thanh tra bộ;giữa Thanh tra bộ với Thanh tra tỉnh; xem xét xử lý vấn đề mà Chánh Thanh tra bộ khôngnhất trí với Bộ trưởng, Chánh Thanh tra tỉnh không nhất trí với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấptỉnh về công tác thanh tra Trường hợp Bộ trưởng không đồng ý với kết quả xử lý của TổngThanh tra Chính phủ thì Tổng Thanh tra Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét,quyết định
Tổng Thanh tra Chính phủ có quyền quyết định việc thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu
vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về quyết định của mình;quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Bộ trưởng kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu viphạm pháp luật khi được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã đượcChủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
đề nghị Bộ trưởng, yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiến hành thanh tra trong phạm
vi quản lý của bộ, của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật;trường hợp Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không đồng ý thì có quyền ra quyếtđịnh thanh tra, báo cáo và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về quyết định củamình; kiến nghị Bộ trưởng đình chỉ việc thi hành hoặc hủy bỏ quy định do Bộ đó ban hànhtrái với quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, của Tổng Thanh tra Chính phủ về công tácthanh tra; trường hợp Bộ trưởng không đình chỉ hoặc không hủy bỏ văn bản đó thì trình Thủtướng Chính phủ quyết định; đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏquy định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trái với quy địnhcủa cơ quan nhà nước cấp trên, của Tổng Thanh tra Chính phủ về công tác thanh tra; kiếnnghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định cho phù hợpvới yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉ hoặc huỷ bỏ quy định trái pháp luật phát hiện quacông tác thanh tra; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét trách nhiệm, xử lý người thuộcquyền quản lý của Thủ tướng Chính phủ có hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh trahoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra; yêu cầu người đứng đầu cơquan, tổ chức xem xét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức cóhành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định
xử lý về thanh tra
b2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra bộ và người đứng đầu cơ quan Thanh tra bộ
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra bộ
Trang 31Để giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra bộ có nhiệm vụ, quyền hạn: xây dựng kế hoạch thanh tratrình Bộ trưởng phê duyệt; tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra thuộc trách nhiệm của Thanhtra bộ; hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra thuộc tráchnhiệm của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ; hướngdẫn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan được giao thực hiện chức năng thanhtra chuyên ngành thuộc Bộ, Thanh tra sở; hướng dẫn, kiểm tra cơ quan, đơn vị thuộc Bộ thựchiện quy định của pháp luật về thanh tra; yêu cầu Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiệnchức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ báo cáo về công tác thanh tra; tổng hợp, báo cáokết quả về công tác thanh tra thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; theo dõi, đôn đốc, kiểmtra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của Bộ trưởng, Thanh tra
bộ
Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra bộ có nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra việc thực hiệnchính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyềnquản lý trực tiếp của Bộ; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Bộ trưởng quyết địnhthành lập; thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹthuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lýnhà nước của ngành, lĩnh vực do Bộ phụ trách; kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luậnthanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chứcnăng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với vụ việcthuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ khi cần thiết; thanh tra vụ việc khác do Bộtrưởng giao; thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật vềkhiếu nại, tố cáo; thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
về phòng, chống tham nhũng
Bên cạnh đó, Thanh tra bộ còn có một số nhiệm vụ: hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việcxây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch thanh tra của cơ quan được giao thực hiện chứcnăng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ; tổ chức tập huấn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngànhcho Thanh tra viên, công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành và côngchức làm công tác thanh tra thuộc Bộ, ngành minh; tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đônđốc cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của Bộ thực hiện các quy định pháp luật về thanhtra; tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh Thanh tra bộ
Chánh Thanh tra bộ có nhiệm vụ: lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra công tác thanh tra trongphạm vi quản lý nhà nước của Bộ; lãnh đạo Thanh tra bộ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theoquy định của Luật Thanh tra và các quy định khác của pháp luật có liên quan; chủ trì xử lýviệc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra trong phạm vi quản lýnhà nước của Bộ; phối hợp với Chánh Thanh tra tỉnh giải quyết việc chồng chéo về phạm vi,đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra trên địa bàn Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương
Trang 32Chánh Thanh tra bộ có quyền quyết định việc thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu viphạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về quyết định của mình; quyết địnhthanh tra lại vụ việc đã được Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh trachuyên ngành thuộc Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấuhiệu vi phạm pháp luật khi được Bộ trưởng giao; yêu cầu Thủ trưởng cơ quan được giao thựchiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ tiến hành thanh tra trong phạm vi quản lýcủa cơ quan đó khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp Thủ trưởng cơ quanđược giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ không đồng ý thì có quyền
ra quyết định thanh tra, báo cáo và chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về quyết định của mình;kiến nghị Bộ trưởng tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sai trái về thanh tra của cơ quan,đơn vị thuộc quyền quản lý trực tiếp của Bộ; kiến nghị Bộ trưởng giải quyết vấn đề liên quanđến công tác thanh tra; trường hợp kiến nghị đó không được chấp nhận thì báo cáo TổngThanh tra Chính phủ; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, banhành quy định cho phù hợp với yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉ hoặc huỷ bỏ quy định tráipháp luật phát hiện qua công tác thanh tra; xử phạt vi phạm hành chính theo quy định củapháp luật về xử lý vi phạm hành chính; kiến nghị Bộ trưởng xem xét trách nhiệm, xử lý ngườithuộc quyền quản lý của Bộ trưởng có hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặckhông thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra; yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổchức xem xét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức có hành vi
vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý vềthanh tra
Ngoài ra, Chánh Thanh tra bộ còn nhiệm vụ: báo cáo Bộ trưởng, Tổng Thanh tra Chínhphủ về công tác thanh tra trong phạm vi trách nhiệm của mình; tham mưu, đề xuất với Bộtrưởng việc giao chức năng thanh tra chuyên ngành đối với Tổng cục, Cục thuộc Bộ; thanh tratrách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của Bộ trong việc thực hiệnpháp luật về thanh tra; trưng tập công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị có liên quan tham giahoạt động thanh tra
b3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra tỉnh và người đứng đầu cơ quan Thanh tra tỉnh
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra tỉnh
Trong quản lý nhà nước về thanh tra, Thanh tra tỉnh có nhiệm vụ xây dựng kế hoạchthanh tra trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạchđó; yêu cầu cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi chung là Sở),
Uỷ ban nhân dân cấp huyện báo cáo về công tác thanh tra; tổng hợp, báo cáo kết quả về côngtác thanh tra; chỉ đạo công tác thanh tra, hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra hành chính đối vớiThanh tra sở, Thanh tra huyện; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị,quyết định xử lý về thanh tra của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thanh tra tỉnh
Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra tỉnh có quyền hạn: thanh tra việc thực hiện chính sách,pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của Sở, của Ủy ban nhân dân cấp huyện; thanh tra đối vớidoanh nghiệp nhà nước do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập; thanh tra
vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm của nhiều Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện; thanhtra vụ việc khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao; kiểm tra tính chính xác, hợppháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Giám đốc sở, Chủ tịch Ủyban nhân dân cấp huyện khi cần thiết; thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theoquy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũngtheo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng
Bên cạnh đó, Thanh tra tỉnh còn có một số nhiệm vụ sau: hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốcviệc thực hiện xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch thanh tra của Thanh tra sở,Thanh tra huyện; tổ chức tập huấn nghiệp vụ thanh tra hành chính cho Thanh tra viên, công
Trang 33chức làm công tác thanh tra của Thanh tra tỉnh, Thanh tra sở, Thanh tra huyện; tuyên truyền,hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các Sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc thực hiện phápluật về thanh tra; tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhànước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh Thanh tra tỉnh
Chánh Thanh tra tỉnh có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra công tác thanh tra trongphạm vi quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; lãnh đạo Thanh tra tỉnh thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liênquan; chủ trì xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữacác Thanh tra sở, giữa Thanh tra sở với Thanh tra huyện; chủ trì phối hợp với Chánh Thanh tra
bộ xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra trên địa bàn Tỉnh,Thành phố trực thuộc trung ương; xem xét xử lý vấn đề mà Chánh Thanh tra sở không nhất trívới Giám đốc sở, Chánh Thanh tra huyện không nhất trí với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấphuyện về công tác thanh tra Trường hợp Giám đốc sở không đồng ý với kết quả xử lý củaChánh Thanh tra tỉnh thì Chánh Thanh tra tỉnh báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnhxem xét, quyết định
Chánh Thanh tra tỉnh có quyền quyết định việc thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu viphạm pháp luật và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về quyết
định của mình; quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Giám đốc sở kết luận nhưng phát
hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao; quyếtđịnh thanh tra lại vụ việc đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện kết luận nhưng pháthiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; yêu cầu Giám đốc sở, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấphuyện thanh tra trong phạm vi quản lý của Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện khi phát hiện códấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyệnkhông đồng ý thì có quyền ra quyết định thanh tra, báo cáo và chịu trách nhiệm trước Chủtịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về quyết định của mình; kiến nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dâncấp tỉnh giải quyết vấn đề về công tác thanh tra; trường hợp kiến nghị đó không được chấpnhận thì báo cáo Tổng Thanh tra Chính phủ; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyềnsửa đổi, bổ sung, ban hành quy định cho phù hợp với yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉhoặc hủy bỏ quy định trái pháp luật phát hiện qua công tác thanh tra; kiến nghị Chủ tịch Uỷban nhân dân cấp tỉnh xem xét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý của Chủ tịch Uỷban nhân dân cấp tỉnh có hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thựchiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra; yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức xemxét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạmpháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanhtra
Ngoài ra, Chánh Thanh tra tỉnh còn có những nhiệm vụ sau: báo cáo Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp tỉnh, Tổng Thanh tra Chính phủ về công tác thanh tra trong phạm vi trách nhiệmcủa mình; thanh tra trách nhiệm của Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trongviệc thực hiện pháp luật về thanh tra; phối hợp với Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dâncấp huyện và cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc xác định cơ cấu, tổ chức, biên chế, chế độ,chính sách đối với Thanh tra sở, Thanh tra huyện; phối hợp với Giám đốc sở, Chủ tịch Ủyban nhân dân cấp huyện trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và thuyên chuyển, điềuđộng Chánh Thanh tra sở, Chánh Thanh tra huyện và các chức danh thanh tra; trưng tập côngchức, viên chức của cơ quan, đơn vị có liên quan tham gia hoạt động thanh tra
b4 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra sở và người đứng đầu cơ quan Thanh tra sở
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra sở