1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tieu luan phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu

20 668 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU Trong thời đại ngày nay, xu hướng quốc tế hoá sản xuất và đời sống ngày càng một gia tăng, cách mạng khoa học – kỹ thuật trên thế giới diễn ra như vũ bão thì công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, với việc đổi mới và nâng cao trình độ văn hoá giáo dục, khoa học – công nghệ. Đó cũng là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, trong đó vai trò của khoa học, công nghệ được Đảng Cộng sản Việt Nam coi là nền tảng, là động lực. Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của mỗi quốc gia. Phần thắng trong cuộc chiến “ai thắng ai” trên thị trường, suy cho cùng là do trí tuệ và năng lực sáng tạo của cả dân tộc, biết học hỏi một cách khôn ngoan kinh nghiệm và thành tựu tri thức của nhân loại, tận dụng được lợi thế của người đi sau, đề ra được những chủ trương, biện pháp thích hợp với đất nước trong hoàn cảnh mới, giải quyết có hiệu quả các vấn đề kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ, kỹ thuật, môi trường, sinh thái. Ngày nay, không một quốc gia nào lại không nhận thức được vai trò then chốt của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định rằng: “phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” (1). Điều đó nói lên vai trò to lớn của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, cả về lý luận và thực tiễn, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thời kỳ quan trọng nhất của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, thực hiện sự lãnh đạo đối với khoa học và công nghệ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trang 1

A Mở đầu

Trong thời đại ngày nay, xu hớng quốc tế hoá sản xuất và đời sống ngày càng một gia tăng, cách mạng khoa học – kỹ thuật trên thế giới diễn ra nh vũ bão thì công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, với việc đổi mới và nâng cao trình độ văn hoá - giáo dục, khoa học – công nghệ Đó cũng là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, trong

đó vai trò của khoa học, công nghệ đợc Đảng Cộng sản Việt Nam coi là nền tảng, là động lực Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của mỗi quốc gia Phần thắng trong cuộc chiến “ai thắng ai” trên thị trờng, suy cho cùng là do trí tuệ và năng lực sáng tạo của cả dân tộc, biết học hỏi một cách khôn ngoan kinh nghiệm và thành tựu tri thức của nhân loại, tận dụng đợc lợi thế của ngời đi sau, đề ra đợc những chủ trơng, biện pháp thích hợp với đất nớc trong hoàn cảnh mới, giải quyết có hiệu quả các vấn đề kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ, kỹ thuật, môi trờng, sinh thái

Ngày nay, không một quốc gia nào lại không nhận thức đợc vai trò then chốt của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển đất nớc Đảng Cộng sản

Việt Nam đã khẳng định rằng: “phỏt triển khoa học và cụng nghệ cựng với phỏt triển giỏo dục và đào tạo là quốc sỏch hàng đầu” (1) Điều đó nói lên vai trò to lớn của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, cả về lý luận và thực tiễn, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, thời

kỳ quan trọng nhất của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên con đờng tiến lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy, thực hiện sự lãnh đạo đối với khoa học và công nghệ

là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam

1 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 112.

Trang 2

b nội dung

I Một số vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ.

1 Vị trí, vai trò của khoa học công nghệ.

Khoa học với t cách là một hình thái ý thức xã hội, ra đời vào thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ, khi xã hội đã có sự phân công lao động thành lao

động trí óc và lao động chân tay Có thể nói khoa học là kết quả tất yếu của phân công lao động xã hội, khoa học xuất hiện khi hình thức lao động trí óc đã hình thành và tách biệt hẳn với hình thức lao động chân tay

Khoa học về một phơng diện nào đó, có thể hiểu là một tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội, t duy và quy luật khách quan của sự phát triển của chúng trên cơ sở thực tiễn xã hội

Công nghệ, hiểu một cách chung nhất là một tập hợp những tri thức h-ớng vào cải tạo tự nhiên, phục vụ nhu cầu của con ngời Các công nghệ sản xuất là một tập hợp các phơng pháp, quy tắc, kỹ năng và kỹ xảo đợc sử dụng trong quá trình tác động vào đối tợng lao động để tạo ra một dạng sản phẩm nào đó Sự tác động đó thờng phải thông qua các phơng tiện vật chất nh: máy móc, công cụ, v.v

Xem xét vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá nói chung và phát triển kinh tế nói riêng, các nhà khoa học cho rằng, khoa học và công nghệ vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, vừa là yếu tố thúc đẩy tăng trởng kinh tế, chuyển đổi tích cực về mặt xã hội và nâng cao giá trị văn hoá của dân tộc, của vùng và thế giới

Lịch sử phát triển của xã hội loài ngời đã chứng kiến những bớc ngoặt cách mạng của khoa học và công nghệ Sau mỗi bớc ngoặt đó, những biến đổi trong tri thức khoa học, trong cách thức sản xuất kéo theo những biến động to lớn trong đời sống chính trị – xã hội, làm thay đổi mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội dẫn đến sự thay đổi về chất của xã hội cũ, hình thành nền văn minh mới với những đặc trng hoàn toàn khác Đặc biệt, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tác động đến tất cả các lĩnh vực khoa học, đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho bộ mặt thế giới

đổi thay kỳ diệu

Trang 3

2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của khoa

học và công nghệ.

Là một Đảng vô sản, mác-xít, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập

đến nay, đều lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và t tởng Hồ Chi Minh làm kim chỉ nam cho mọi cơng lĩnh hành động của mình Đảng luôn quán triệt những t t-ởng của các nhà kinh điển mác-xít, của Hồ Chí Minh trong mọi lĩnh vực, thẩm nhuần trong những chủ trơng, chính sách thực tiễn phù hợp với điều kiện lịch

sử trong từng thời kỳ cách mạng cụ thể Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ cũng vậy, cơ sở lý luận để hình thành quan điểm của Đảng chính là những t t-ởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về khoa học và công nghệ

C Mác nói: “Khoa học là động lực của sự phát triển xã hội, khoa học

đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, còn công nghệ đợc đổi mới hết sức nhanh chóng”(1) Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn sẽ đa loài ngời đến hạnh phúc vô tận”(2) Trình độ dân trí, tiềm lực khoa học, công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới đang phát triển hết sức mạnh mẽ, tác động sâu sắc

đến sự phát triển của tất cả các nớc, đến mọi lĩnh vực của xã hội loài ngời Khoa học và công nghệ càng có vai trò quan trọng đối với các nớc chậm phát triển trong việc xây dựng nền tảng vật chất cho chế độ mới

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội,

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm đến giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ Đảng đã ra một loạt nghị quyết, trong đó xác định vị trí, vai trò, phơng hớng và nhiệm vụ của khoa học và công nghệ

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, chỉ ra thực chất của công nghiệp hoá là thực hiện một cuộc cách mạng kỹ thuật nhằm chuyển nền kinh tế từ tình trạng năng suất thấp, hiệu quả thấp sang nền kinh tế có năng suất cao, hiệu quả cao dựa trên sản xuất công nghiệp, sử dụng khoa học

và công nghệ Để công nghiệp hoá phải đổi mới công nghệ trong tất cả các lĩnh vực, phát triển những ngành mới, nhất là những ngành công nghệ cao, tạo

sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hớng phát triển nhanh các ngành có giá trị gia tăng cao Để làm đợc điều đó, không thể không dựa vào khoa học và công

1 V.I Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979 T 17, tr 20.

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, T 12, tr 501.

Trang 4

nghệ Khoa học, công nghệ có phát triển mạnh thì mới có thể đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc

Cùng với quá trình nhận thức của Đảng về vai trò của khoa học và công nghệ, các chủ trơng, đờng lối của Đảng vạch ra ngày càng đúng đắn hơn, hoàn thiện hơn Có thể nói, với sự ra đời của Nghị quyết hai Ban Chấp hành Trung

-ơng khoá VIII, vai trò, vị trí của khoa học, công nghệ đợc Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn nhận và trình bày theo một hệ thống chỉnh thể các quan điểm hết sức rõ ràng:

1 Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế – xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc phải bằng và dựa vào khoa học, công nghệ Đảng và Nhà nớc có chính sách đầu t khuyến khích, hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ

2 Khoa học và công nghệ là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trởng kinh tế

và củng cố quốc phòng – an ninh

Khoa học và công nghệ gắn với giáo dục và đào tạo, khoa học tự nhiên

và kỹ thuật gắn với khoa học xã hội và nhân văn

3 Phát triển khoa học và công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàn dân Phát huy cao độ khả năng sáng tạo của quần chúng, của các tập thể khoa học và công nghệ, của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức chính trị – xã hội và của mỗi công dân trong hoạt động khoa học, công nghệ

4 Phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ thế giới

5 Phát triển khoa học, công nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện môi trờng sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững

3 Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ.

Mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ đợc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung ơng lần thứ hai (khoá VIII)

và đợc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh: “Tăng c-ờng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nớc”(1)

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 205.

Trang 5

Để đạt mục tiêu đó, nội dung lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ trong thời gian tới cần tập trung vào các vấn đề sau:

Một là, Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện chiến lợc phát triển khoa

học và công nghệ gắn với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc:

Phát triển khoa học và công nghệ phải đáp ứng yêu cầu nâng cao mặt bằng dân trí để tiếp thu và vận dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Khoa học và công nghệ phải bảo đảm luộn cứ khoa học cho việc xây dựng các chủ trơng, đờng lối phát triển đất nớc; lựa chọn, tiếp thu và làm chủ các công nghệ từ bên ngoài kết hợp với cải tiến công nghệ truyền thống, nâng cao trình độ công nghệ trên tất cả các lĩnh vực sản xuất đảm bảo năng suất, chất lợng và hiệu quả đạt trình độ công nghệ trung bình trong khu vực ở những ngành sản xuất và dịch vụ chủ yếu

Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trên cơ sở xây dựng đội ngũ tri thức đông về số lợng, mạnh về chất lợng; tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật cho khoa học và công nghệ, tập trung xây dựng một số ngành khoa học và công nghệ tiên tiến trên các lĩnh vực công nghệ trọng điểm

Hai là, Đảng lãnh đạo đổi mới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động khoa

học và công nghệ bằng việc:

Kiện toàn tổ chức và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nớc về khoa học và công nghệ từ trung ơng đến cấp huyện, nâng cao chất lợng

đội ngũ cán bộ quản lý khoa học và công nghệ, tăng cờng công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động

Đổi mới cơ chế đầu t cho khoa học và công nghệ theo hớng lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm mục tiêu và kiểm tra chặt chẽ nguồn kinh phí đầu t của Nhà nớc cho khoa học và công nghệ

Ban hành và từng bớc hoàn thiện luật khoa học và công nghệ trên tinh thần Nhà nớc quản lý thống nhất các hoạt động khoa học và công nghệ, đồng thời có sự phân cấp quản lý và phát huy tính chủ động của các cơ quan khoa học và công nghệ

Củng cố và tăng cờng hoạt động của các hội khoa học và công nghệ, khuyến khích thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài khu vực nhà nớc Tăng cờng hoạt động của các hội khoa học trong việc phổ biến, triển khai

và ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng cao vai trò chính trị – xã hội của các tổ chức đó và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động có hiệu quả cao

Trang 6

Ba là, Đảng lãnh đạo việc đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên

truyền, phổ cập kiến thức khoa học và công nghệ, trong đó cần tập trung:

Đẩy mạnh các dịch vụ t vấn, thông tin khoa học và công nghệ về lãnh

đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học; đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp,

đặc biệt là công nghệ thông tin

Phát triển và quản lý tốt mạng lới thu thập, xử lý thông tin và khoa học

và công nghệ nớc ngoài

Phát động phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống

Bốn là, Đảng lãnh đạo tạo lập thị trờng và đổi mới chính sách khoa học

và công nghệ

Tạo lập thị trờng và đổi mới chính sách khoa học và công nghệ sẽ tạo

động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ Vì vậy,

sự lãnh đạo của Đảng cần tập trung các nội dung sau:

+ Sử dụng các công cụ thích hợp trên cơ sở pháp luật để cho các doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh, trong đó đặc biệt u tiên cho các doanh nghiệp nhà nớc và các lĩnh vực yêu cầu ứng dụng công nghệ cao

+ Tạo điều kiện cho các cơ quan nghiên cứu, triển khai khoa học và công nghệ hoạt động một cách nhanh nhạy, đáp ứng đợc yêu cầu thị trờng; bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ cho họ và tạo điều kiện cho các sản phẩm trí tuệ đợc lu thông trên thị trờng nh là một thứ hàng hoá đặc biệt

+ Có chính sách thoả đáng cho cán bộ khoa học và công nghệ cả về vật chất và tinh thần, điều kiện và môi trờng làm việc, cập nhật thông tin; biểu

d-ơng và tôn vinh những ngời có đóng góp lớn, những chuyên gia hàng đầu; tăng cờng công tác đào tạo, bồi dỡng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ cả về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và trình độ trí tuệ; khuyến khích và tạo điều kiện cho trí thức Việt kiều về nớc tham gia hoạt động khoa học và công nghệ; xây dựng và đảm bảo quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học

và công nghệ; mở rộng hợp tác quốc tế và tăng đầu t cho khoa học và công nghệ từ nhiều nguồn khác nhau

4 Phơng thức lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ.

Một là, Đảng đề ra các chủ trơng, đờng lối, chiến lợc về khoa học và công nghệ gắn với điều kiện thực tiễn của đất nớc và xu hớng phát triển của thời đại Cấp uỷ đảng ở địa phơng, các ngành đề ra những chủ trơng công tác

Trang 7

cụ thể về hoạt động của lĩnh vực này Trên cơ sở những quan điểm, những nguyên tắc, t tởng chỉ đạo của Đảng về khoa học và công nghệ, các cấp chính quyền và đoàn thể chính trị – xã hội cụ thể hoá thành pháp luật, thành các quy chế, quy định để tổ chức thực hiện trong thực tiễn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, với từng giai đoạn lịch sử, với từng địa phơng, đơn vị cụ thể

Hai là, Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà

n-ớc về khoa học và công nghệ thật sự trong sạch, vững mạnh để các tổ chức này

có đủ khả năng và uy tín chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ tr ơng,

đờng lối của Đảng về khoa học và công nghệ Xây dựng cơ chế quản lý hợp lý trên tinh thần từng bớc xoá bỏ sự hành chính hoá trong khoa học và công nghệ

và tạo môi trờng thuận lợi để phát huy cao nhất tính chủ động sáng tạo trong lĩnh vực này Các cơ quan quản lý điều tiết, kiểm tra, giám sát sự đầu t của Nhà nớc vào lĩnh vực này một cách chặt chẽ, hợp lý, có hiệu quả

Ba là, Đảng kiểm tra việc quán triệt và thực hiện các quan điểm, nguyên tắc, t tởng chỉ đạo thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan khoa học và công nghệ; đồng thời kiểm tra qua các tổ chức quần chúng, sự giám sát của nhân dân trên lĩnh vực đó Các tổ chức đảng phải tăng cờng củng cố tổ chức để thật sự trở thành hạt nhân lãnh đạo trong các cơ quan khoa học và công nghệ; tích cực phát triển đảng viên trong lĩnh vực hoạt động này Mỗi đảng viên của Đảng phải thật sự có năng lực trí tuệ, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tiên phong gơng mẫu, thực sự có uy tín trong tập thể,

đợc quần chúng tin tởng

Bốn là, Đảng lãnh đạo bằng việc đề ra các quan điểm về cán bộ, công tác cán bộ và chính sách cán bộ Trên cơ sở đó các cơ quan quản lý nhà nớc và các tổ chức trong lĩnh vực khoa học và công nghệ lập chơng trình, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ theo yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức mình Đảng không can thiệp trực tiếp vào công việc của các cơ quan đó, nhng Đảng cử những cán bộ có năng lực, trình độ, phẩm chất, đạo đức tốt nắm giữ các cơng

vị lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong các cơ quan đó, trên cơ sở uy tín cán bộ và bầu cử dân chủ

Nói cách khác, phơng thức lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ là bằng đờng lối, chính sách; bằng vai trò tiên phong gơng mẫu của các

tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan đó; băng công tác t tởng, công tác tổ chức và cán bộ; bằng phát huy tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động của các tổ chức trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; bằng vai trò làm chủ của quần chúng nhân dân

Trang 8

II Vài nét về thực trạng khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay.

1 Sự phát triển của khoa học và công nghệ trong thời gian qua.

Qua hơn 20 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm trở lại đây, Đảng và Nhà nớc Việt Nam đã đặc biệt chú trọng đẩy mạnh hoạt động khoa học và phát triển công nghệ của đất nớc, trên thực tế, hoạt động này đã đạt đợc nhiều kết quả đáng kể, nhng vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đất nớc

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 2 triệu công nhân kỹ thuật, trên 2.250.000 ngời có trình độ đại học và cao đẳng, trên 18.000 thạc sỹ và 16.000 tiến sỹ và tiến sỹ khoa học, trong đó có 610 tiến sỹ khoa học Bình quân có

193 cán bộ khoa học công nghệ trên 10.000 dân

Theo báo cáo phát triển con ngời năm 2004 của UNDP, ở Việt Nam

đang có khoảng 50.000 ngời làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Trong số này có hơn 37.000 ngời (72% có trình

độ đại học trở lên) làm việc trong các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Nhà nớc, với 68,9% làm việc theo chế độ biên chế và 31,1% làm việc theo chế độ hợp đồng

Các kết quả hoạt động khoa học và phát triển công nghệ của Việt Nam

đợc thể hiện rõ ràng nhất thông qua số lợng các công trình khoa học đợc công

bố và số lợng các đăng ký sáng chế hằng năm ở Việt Nam

Có thể nhận thấy trong 10 năm gần đây, số lợng bài báo đăng trên các tạp chí khoa học và công nghệ trong nớc đã tăng hơn gấp 3 lần Tuy nhiên, số công trình, bài báo khoa học của Việt Nam công bố ở nớc ngoài mới đạt khoảng 300 bài/ năm Trong giai đoạn 1998 – 2002, tỷ lệ số bài báo khoa học của Việt Nam trên tổng só của thế giới chỉ đạt 0,02% Trong lúc đó ở Hàn Quốc và Đài Loan: 0,77%; Xin-ga-po: 0.25%; Thái Lan: 0,11%; Ma-lai-xi-a: 0,08%; Phi-líp-pin: 0,05%; In-đô-nê-xi-a: 0,04%

Số lợng đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích chủ yếu là do các doanh nghiệp đầu t nớc ngoài đăng ký thông qua nhập khẩu công nghệ Số lợng đăng

ký sáng chế và giải pháp hữu ích của ngời Việt Nam mới đạt khoảng 10% trong một số năm gần đây Số đăng ký sáng chế quốc tế của Việt Nam trong 5 năm (2001 – 2005) chỉ có 11 đơn, trong khi đó của một số nớc trong khu vực

và trên thế giới là: Ma-lai-xi-a: 147; Phi-líp-pin: 85; Thái Lan: 39; In-đô-nê-xi-a: 36; Hàn Quốc: 15.000; Nhật Bản: 87.620; Mỹ: 206.710 Những con số

Trang 9

trên cho thấy trình độ khoa học và công nghệ của Việt Nam vẫn còn một khoảng cách lớn so với ngay cả các nớc trong khu vực

Năm 2006, tổng đầu t từ ngân sách nhà nớc cho khoa học và công nghệ

đã tăng lên gần 5.890 tỉ đồng, đạt 2% chi ngân sách nhà nớc Nguồn đầu t từ ngân sách nhà nớc chiếm đến 60% tổng đầu t của xã hội cho khoa học và công nghệ, trong đó 2/3 dành cho sự nghiệp khoa học và 1/3 dành cho xây dựng cơ bản ở các nớc, số đầu t của doanh nghiệp cho khoa học và công nghệ chiếm trên 60%, còn đầu t của nhà nớc chỉ chiếm 30%

Tình hình phát triển công nghệ ở Việt Nam có thể đánh giá thông qua giá trị nhập khẩu máy móc, trang thiết bị công nghệ trong thời gian gần đây Trong 5 năm giai đoạn 2001 – 2005, Việt Nam đã nhập khẩu 35.997 triệu USD máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch nhập khẩu Năm 2006, con số này là 9.597 triệu USD, chiếm 21,8% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam

Đến nay, Việt Nam sử dụng công nghệ trung bình là phổ biến, tỷ lệ nhôm ngành công nghệ cao của Việt Nam hiện nay mới đạt khoảng 20% Tốc

độ đổi mới công nghệ của cả nớc đạt khoảng 10% Trong công nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp tự động hoá chiếm khoảng 1,9%, bán tự động là 19,6%, cơ khí hoá 26,6%, bán cơ khí hoá 35,7%, thủ công 16,2%

Trên đây là một số kết quả hoạt động khoa học và phát triển công nghệ của Việt Nam trong thời gian qua

Trong báo cáo của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khoá IX ngày 10 tháng 4 năm 2006 về phơng hớng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm

2006 – 2010 cũng đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế về khoa học và công nghệ

2 Thành tựu:

Khoa học và công nghệ đã tập trung hơn vào nghiên cứu ứng dụng, phục

vụ các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội Nhiều thành tựu khoa học và công nghệ mới đợc ứng dụng trong các ngành xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp…, đã tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mới có chất l, đã tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mới có chất lợng cao, có sức cạnh tranh, phục vụ xuất khẩu và thay thế nhập khẩu

Khoa học xã hội và nhân văn đã có tiến bộ trong việc điều tra, nghiên cứu, cung cấp t liệu và luận cứ khoa học và phục vụ hoạch định chủ trơng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc

Khoa học tự nhiên đã tăng cờng các hoạt động điều tra nghiên cứu, đánh giá tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và phòng, tránh thiên tai

Trang 10

Bớc đầu đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hoá phơng thức giao nhiệm vụ nghiên cứu nh đấu thầu cạnh tranh hoặc hỗ trợ một phần kinh phí nghiên cứu ứng dụng cho các doanh nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp liên kết hoặc

ký hợp đồng với các tổ chức khoa học và công nghệ Tiềm lực và trình độ khoa học, công nghệ trong nớc đã có bớc phát triển; hoạt động khoa học và công nghệ đợc mở rộng và nâng cao hiệu quả

Công tác bảo vệ môi trờng đạt đợc những kết quả bớc đầu Hoạt động

điều tra cơ bản về môi trờng đợc duy trì; việc ngăn ngừa và khắc phục ô nhiễm môi trờng có tiến bộ; đã ban hành một số chính sách về bảo vệ môi trờng

3 Hạn chế:

Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội chậm đổi mới; cha có chính sách và biện pháp tốt để huy động các nguồn lực và để sử dụng có hiệu quả nguồn lực nhà nớc đầu t cho khoa học và công nghệ; thiếu cơ chế gắn kết nghiên cứu khoa học và công nghệ với đào tạo nhân lực, nhất là ở bậc đại học và với hoạt động sản xuất, kinh doanh; cha phát huy tác dụng tích cực đối với phát triển kinh tế – xã hội

Thị trờng khoa học và công nghệ chậm đợc hình thành, hiệu quả ứng dụng các công trình nghiên cứu khoa học thấp; thiếu chính sách và biện pháp thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm đầu t nghiên cứu và đổi mới công nghệ

để nâng cao năng suất, chất lợng và khả năng cạnh tranh

Trình độ công nghệ trong nhiều ngành còn lạc hậu; việc chuyển giao công nghệ còn rất chậm Cơ sở vật chất kỹ thuật của các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ còn thiếu, lạc hậu, cha đồng bộ và sử dụng kém hiệu quả

Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học còn hạn chế về trình độ, bất hợp lý

về cơ cấu; thiếu cán bộ đầu ngành và các tập thể khoa học và công nghệ mạnh Quyền sở hữu trí tuệ cha đợc coi trọng đúng mức và còn bị xâm phạm

4 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế:

Những thành tựu đạt đợc và sự hạn chế của sự phát triển khoa học công nghệ trong những năm qua là do rất nhiều nguyên nhân, nhng có một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

4.1 Nguyên nhân của những thành tựu:

Có đợc những thành tựu trên đây, trớc hết là do đờng lối đúng đắn của

Đảng, do nhu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi đa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, nhờ sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khoa học và công nghệ Mặt khác đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đã trởng thành một bớc và có

Ngày đăng: 22/03/2017, 11:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w