Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, chính quyền nhà n¬ước là vấn đề rất mấu chốt, rất cơ bản mà giai cấp vô sản cùng nhân dân lao động phải nhận thức sâu sắc và giải quyết chính xác trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng khỏi mọi ách áp bức, bóc lột giai cấp; cải tạo xã hội cũ và xây dựng thành công xã hội mới. Xây dựng nhà nước pháp quyền là một yêu cầu tất yếu, khách quan và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Trang 1CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG nhµ níc ph¸p quyÒn x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam
MỞ ĐẦU
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, chính quyền nhà nước là vấn đề rấtmấu chốt, rất cơ bản mà giai cấp vô sản cùng nhân dân lao động phải nhậnthức sâu sắc và giải quyết chính xác trong cuộc đấu tranh để tự giải phóngkhỏi mọi ách áp bức, bóc lột giai cấp; cải tạo xã hội cũ và xây dựng thànhcông xã hội mới Xây dựng nhà nước pháp quyền là một yêu cầu tất yếu,khách quan và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Thực hiện dân chủ
là một trong những nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền, đặc biệt làNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Không
có nhà nước pháp quyền thực sự thì không có nền dân chủ rộng rãi vàbền vững Dân chủ đóng vai trò cơ sở, động lực thúc đẩy sự phát triểncủa nhà nước pháp quyền
Xây dựng nhà nước pháp quyền là một đòi hỏi tất yếu, khách quan và phùhợp với xu thế phát triển lịch sử chung của xã hội loài người, bởi nhà nước phápquyền là một giá trị chung của nhân loại trên con đường phát triển tiến bộ Ởnước ta vẫn đang tồn tại quan niệm xem nhà nước pháp quyền như là một sảnphẩm của chủ nghĩa tư bản, do đó nó là cái đã lỗi thời, không tiến bộ, trái ngược
và không thích dụng với chủ nghĩa xã hội Cũng giống như thái độ không đúngtrước đây về kinh tế thị trường, quan niệm sai trái như vậy về nhà nước phápquyền đang gây cản trở đối với tiến trình phát triển xã hội nói chung, cho việcxây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân nói riêng
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳngđịnh: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân
Trang 2dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”1 Như vậy, đối vớinước ta hiện nay, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân, vì dân đang trở thành vấn đề thời sự cấp bách Bởi vì nhà nướcluôn là một trong những vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất; đồng thời, làvấn đề "rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ hệ thống chính trị"2 Thậm chí,
ở một góc độ nhất định, có thể nói, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân ở nước ta có ảnh hưởng rất lớn đến sựthành bại của chế độ, của Đảng Cộng sản
Đối với nước ta, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng và vận hành cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, cónhiều việc vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm Do vậy, nhiệm vụ xây dựng nhànước pháp quyền trong điều kiện lịch sử cụ thể ở nước ta, đòi hỏi phải tiến hànhnghiên cứu cơ bản về lý luận; tổng kết kinh nghiệm thực tiễn xây dựng nhà nước,nhằm xác định đúng đắn, mục tiêu và các giải pháp cải cách có hiệu quả mô hình
tổ chức và hoạt động của nhà nước ta hiện nay
NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
ở nước ta hiện nay.
1.1 Pháp quyền và tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử.
Một trong những đặc trưng của nhà nước là mối liên hệ mật thiết với phápquyền Pháp quyền là hình thức điều tiết hành vi của con người, là tổng thểnhững chuẩn mực hành vi do nhà nước đặt ra và chuẩn y nhằm duy trì trật tựkinh tế, chính trị, xã hội và những trật tự khác có trong xã hội, đó là ý chí của
1 §¶ng Céng s¶n ViÖt Nam, V¨n kiÖn §¹i héi Đ¹i biÓu toµn quèc lÇn thø IX, Nxb CTQG,
H, 2001, tr.131
2V.I Lênin Toàn tập, t.39 Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr 75, 76
Trang 3giai cấp thống trị được nâng lên thành luật Trong chế độ công xã nguyên thuỷkhông có pháp quyền Trật tự đời sống xã hội thời kỳ này được duy trì bằngsức mạnh của tập quán, truyền thống, uy tín, tinh thần của trưởng lão thị tộc đạidiện cho lợi ích chung của các thành viên Khi xã hội phân chia thành giai cấp,những lợi ích đối lập nhau xuất hiện, tập quán, truyền thống, uy tín không thểđiều tiết được hành vi của con người, mà chỉ có pháp quyền Xã hội có giai cấpkhông thể tồn tại, nếu không thể chế hoá bằng pháp quyền các mối quan hệ sởhữu, gia đình, hôn nhân và các quan hệ khác Thông qua pháp quyền được trìnhbày dưới hình thức luật, nhà nước thực hiện chức năng lập pháp.
Những tư tưởng coi trọng pháp luật trong cai trị và quản lý xã hội đã xuấthiện từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây Mặc dù các tư tưởng triếthọc về nhà nước và pháp quyền đã có từ rất sớm trong lịch sử nhưng lý thuyếttriết học về nhà nước và pháp quyền đạt tới trình độ lý thuyết về nhà nhà nướcpháp quyền hoàn chỉnh thì chỉ bắt đầu từ thời cận đại Tây Âu Đây là thời kỳxác lập và phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong phạm vicác quốc gia dân tộc tư sản Đó cũng là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh chínhtrị giành quyền lực nhà nước giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến.Thích ứng với nhu cầu xã hội ấy là các lý luận triết học pháp quyền củaXpinôda, Lốccơ, Cantơ và Hêghen trên lĩnh vực nghiên cứu về nhànước và pháp luật, Môngtexkiơ và Rútxô là những nhà lý luận nổi tiếng
về lý thuyết tổ chức nhà nước theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”.Với học thuyết phân quyền, họ đề cao dân chủ tư sản chống lại nhà nướcphong kiến Thực chất của học thuyết này là dùng quyền lực để khốngchế quyền lực và dàn xếp mâu thuẫn trong nội bộ tư sản Trong tổ chứcnhà nước cần phân chia độc lập các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp,nhưng quyền lực thống trị của nhà tư sản chỉ là một
Trang 4Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhìn thấy những hạn chế của thuyết phânquyền và đã chỉ ra bản chất bên trong của nó và quyền lực nhà nước đượcsinh ra từ mâu thuẫn giai cấp Sự xuất hiện giai cấp, đồng thời cũng xuất hiệnnhà nước và cùng với nó là quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước là quyềnlực của một nhóm chủ thể nhất định đối với toàn xã hội, với đặc thù sử dụngnhững biện pháp cưỡng chế mang tính nhà nước Quyền lực nhà nước làphạm trù thuộc thượng tầng kiến trúc, do đó, tính chất của quyền lực nhànước sẽ do hạ tầng cơ sở là các quan hệ kinh tế quy định Bộ phận cấu thànhquan trọng nhất tạo nên bản chất của quyền lực nhà nước là ý chí của giai cấpcầm quyền Quyền lực nhà nước chỉ tồn tại thông qua bộ máy thực hiện nó.
Đó là bộ máy nhà nước Bộ máy này tạo nên sức mạnh của quyền lực nhànước Bản thân nhà nước không phải là quyền lực, mà cùng với pháp luật chỉ
là những công cụ thực hiện quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước là quyềnlực chính trị, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị và, do đó, về bản chất, nó
Trang 5tư tưởng dõn chủ, tư tưởng cộng hoà và cỏch mạng để hỡnh thành, phỏt triểnnhững quan điểm của mỡnh
Trước hết, từ tiờu chớ đề cao dõn chủ, phỏp luật và tớnh nhõn văn của phỏpluật như là những giỏ trị cơ bản của nhà nước phỏp quyền, C Mỏc, Ph.Ăngghen
đã nêu những t tởng sâu sắc về nhà nớc pháp quyền trong các tác phẩm “Gia
đình thần thánh”, “Sự khốn cùng của triết học”, “Phê phán triết học pháp quyềncủa Hêghen”, và đặc biệt trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C.Mỏc, Ph.Ăngghen đó đặt vấn đề xõy dựng một xó hội mới, một xó hội mà trong
đú “tự do của mỗi người là điều kiện phỏt triển tự do của tất cả mọi người”3 Vàgiải phúng con người là mục tiờu của nhà nước phỏp quyền kiểu mới; đú là mộtnhà nước tổ chức được đời sống chung của nhõn dõn, trong đú bảo đảm được sựphỏt triển tối đa và phỏt triển toàn diện con người
Về mặt nhà nước C.Mỏc chủ trương xõy dựng một chế độ dõn chủ triệt
để, dõn chủ là do nhõn dõn tự quy định, là bước chuyển từ xó hội thần dõnsang xó hội cụng dõn, là từ “nhõn dõn của nhà nước” sang “ Nhà nước củanhõn dõn” Dõn chủ là xuất phỏt từ con người và phỏp luật cũng vỡ con người.Trong xó hội mới sẽ tạo ra điều kiện cơ bản để giải phúng cỏc cỏ nhõn; bởi lẽ
xó hội sẽ khụng thể giải phúng cho mỡnh được, nếu khụng giải phúng một cỏnhõn riờng biệt Do vậy, xó hội phải được xõy dựng trờn cơ sở phỏp luật.Những tư tưởng cơ bản của C.Mỏc, Ph.Ăngghen đó được V.I Lờnintiếp thu và phỏt triển trong quỏ trỡnh xõy dựng một nhà nước kiểu mới,trong đú xỏc định rừ mục đớch của chớnh quyền Xụ Viết là thu hỳt nhữngngười lao động tham gia vào quản lý nhà nước, thực hiện một nền dõn chủrộng rói nhằm giải phúng con người và phỏt triển toàn diện con ngườitrong xó hội mới Người cho rằng khụng cú chế độ dõn chủ thỡ chủ nghĩa
xó hội sẽ khụng thực hiện được theo hai nghĩa sau đõy:
3C Mác, Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 4, Nxb, CTQG, H 1995, tr 628
Trang 6Thứ nhất, giai cấp vô sản không thể hoàn thành được cuộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa, nếu họ không được chuẩn bị cho cuộc cách mạng đó thông quacuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ
Thứ hai, Chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi của
mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến thủ tiêu nhà nước, nếu khôngthực hiện đầy đủ chế độ dân chủ
Về mặt nhà nước, từ chỗ xác định mục đích của chính quyền Xô Viết là
sự tham gia của những người lao động vào chính quyền và việc thu hút đượcmọi người lao động tham gia vào quản lý là một trong những ưu thế quyếtđịnh của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa V.I Lênin đã xác lập hàng loạt quanđiểm về xây dựng nhà nước kiểu mới, “Nhà nước không còn nguyênnghĩa”, “Nhà nước nửa nhà nước”, “Nhà nước quá độ” để rồi chuyển dầntới một chế độ tự quản Muốn vậy, trước mắt phải thực hiện chế độ dân chủtheo các hướng cơ bản
Quyền bầu cử được thực hiện ngay sau cách mạng tháng Mười Nga thànhcông và dần dần được mở rộng Bầu cử theo nguyên tắc “ Phổ thông bình đẳng,trực tiếp, bỏ phiếu kín” là nguyên tắc tiến bộ nhất của nền dân chủ hiện đại
Quyền tham gia quản lý nhà nước của những người lao động Theo V.ILênin, những người lao động phải “thay nhau” tham gia vào tổ chức nhà nước
và quản lý nhà nước Theo đó mỗi lần bầu cử nhất thiết phải đổi mới thànhphần đại biểu để có thêm nhiều đại biểu mới
Quyền bãi miễn là quyền có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiệnchế độ dân chủ Lênin nhấn mạnh: mọi cơ quan được bầu ra đều có thể coi
là có tính chất dân chủ chân chính và đại biểu thực sự cho ý chí của nhândân, khi nào quyền bãi miễn của cử tri đối với những người trúng cử đượcthừa nhận và áp dụng từ chối không chịu áp dụng quyền bãi miễn, trì hoãnthi hành quyền đó, hạn chế nó, thì như thế tức là phản lại dân chủ và hoàn
Trang 7toàn từ bỏ nguyên tắc chủ yếu và nhiệm vụ của cuộc cách mạng xã hội chủnghĩa đã bắt đầu ở nước Nga.
Về mặt pháp luật V.I Lênin khẳng định rõ vai trò của pháp luật về phápchế trong quản lý xã hội mới, coi đó là một trong những điều kiện cơ bản đểxây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải căn cứ vàoluật lệ của mình là điều kiện cần và đủ cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi triệt để
1.3 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng Hố chí Minh về “nhà nước của dân,do dân và vì dân ”4 củaChủ tịch Hồ Chí Minh là sự nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng của chủnghĩa Mác - Lênin về vấn đề chính quyền “vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộccách mạng”5 phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam Tư tưởng
về nhà nước của dân, do dân, vì dân là một cống hiến về lý luận và thực tiễn
to lớn và đặc sắc của Hồ Chí Minh Ngoài ra, trong tư tưởng về xây dựng nhànước kiểu mới, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: Bản chất dân chủ triệt để của nó; Sựthống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộccủa Nhà nước; Kết hợp cả đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội
Tư tưởng Hồ chí Minh về nhà nước của dân do dân và vì dân bao gồmnhiều nội dung rộng lớn, phong phú, có quan hệ mật thiết với nhau Trong đó có nộidung tư tưởng chủ yếu có liên quan trực tiếp tới việc xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Được thể hiện ở các nội dung sau:
Một là, về quyền lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quyền lực của nhân dân
Để có một Nhà nước pháp quyền XHCN thì vấn đề cơ bản, đầu tiên làquyền lực nhà nước là của nhân dân, nhân dân là chủ tối cao và duy nhất củaquyền lực Nhà nước Nếu quyền lực Nhà nước trên thực tế chỉ thuộc về thiểu
4Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1996, tr.234
5V.I Lênin Toàn tập, t.34 Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr 268
Trang 8số, về những người thuộc các cơ quan, quyền lực Nhà nước thì không thể cónhà nước Pháp quyền XHCN với đầy đủ ý nghĩa của nó.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì “Dân” là một phạm trù rộng lớn baogồm trong đó “tất cả những người lao động”6, những người làm chủ thực sự.Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương
do dân cử ra Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên”7; theo đó mà
“bao nhiêu quyền hạn đều của dân”8 Tại phiên họp đầu tiên của chính phủlâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vào sau ngày đọc “Tuyên ngônđộc lập”, Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ “phải” tổ chức càng sớm càngtốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”9 Người đã khẳngđịnh vai trò của tổng tuyển cử, coi đây là “một dịp cho toàn thể quốc dân tự
do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà.Trong cuộc tổng tuyển cử hễ là những người muốn lo việc nước thì đều cóquyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử Do tổng tuyển
cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ Chính phủ đóthực sự là Chính phủ của toàn dân”10 Như thế, Hồ Chí Minh đã xem bầu cử làmột hình thức đặc biệt quan trọng để nhân dân lựa chọn những người thaymặt mình thực thi quyền lực do chính mình giao cho
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân
có sự thống nhất chặt chẽ với tư tưởng của Người về Đảng cầm quyền, lãnhđạo Nhà nước Chỉ có Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp côngnhân Việt Nam trực tiếp lãnh đạo Nhà nước thì Nhà nước ta mới có đầy đủ
6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1996, tr.310.
7 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr.698.
8 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr.698.
9 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1984, tr.6.
10 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr.133.
Trang 9bản chất giai cấp công nhân và từ đó mới có được tính chất nhân dân triệt
để, mới bảo đảm được mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân lao động
Hai lµ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải là một nhà nước hợp hiến ,thực hiện việc quản lí điều hành xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.
Để Nhà nước là tổ chức mà ở đó “bao nhiêu quyền hạn đều của dân” thìNhà nước phải thực hiện bằng một cơ chế có hiệu quả
Hiện nay chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân, vì dân, Nhà nước này phải có được giá trị cơ bản là thật sự đề caopháp luật và các giá trị của pháp luật; đề cao hiến pháp, coi hiến pháp là đạoluật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất Điều này đã được HồChí Minh rất quan tâm
Ngay sau khi giành chính quyền, Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủlâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và với thếgiới khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nhờ đó, Chính phủlâm thời có địa vị hợp pháp và Tuyên ngôn độc lập trở thành một văn bảnpháp lý nổi tiếng Sau đó, Người bắt tay xây dựng Hiến pháp dân chủ, tổ chứcTổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thành lập Uỷ ban dự thảoHiến pháp của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Cuối năm 1946, Hồ ChíMinh được Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch Chính phủ liên hiệp khángchiến Đây là Chính phủ hợp hiến đầu tiên do nhân dân bầu ra, có đầy đủ tưcách và hiệu lực trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại Hoạtđộng quản lý nhà nước bằng Hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luậtvào cuộc sống: Theo Hồ Chí Minh, nhà nước dân chủ Việt Nam không thểthiếu pháp luật Vì pháp luật là bà đỡ cho dân chủ Hồ Chí Minh đã chỉ rõbản chất pháp luật của Nhà nước ta là “pháp luật của nhân dân, dùng đểngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung
Trang 10của đại đa số nhân dân”11 Người đòi hỏi mọi cán bộ trong bộ máy nhànước, toàn thể nhân dân lao động phải “triệt để chấp hành mọi chế độ vàpháp luật của Nhà nước”12.
Ba lµ, về phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên Nhà nước
Những người được nhân dân uỷ quyền trong bộ máy chính quyền phải
có đủ đức, tài; thực sự là công bộc, là đầy tớ của nhân dân, hoạt động theopháp luật và chịu sự kiểm soát của nhân dân Đây là một yếu tố quan trọngbảo đảm cho Nhà nước ta là của dân, do dân vì dân và mọi quyền lực Nhànước thuộc về nhân dân
Vấn đề đặt ra là phải có một đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước thật sự
vì dân, đặt lợi ích của dân lên trên hết, không chuyển quyền lực của Nhà nướcthành quyền lực cá nhân để áp bức và chiếm đoạt của cải của dân Hồ ChíMinh yêu cầu: “Để xứng đáng với vinh dự to lớn là đầy tớ tuyệt đối trungthành của nhân dân, các đại biểu quốc hội và cán bộ chính quyền cần phải:Thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Gương mẫu về mọi mặt:đoàn kết công tác, học tập, lao động Luôn luôn giữ vững tác phong khiêmtốn, chất phác và hoà mình với quần chúng thành một khối”13
Bốn là, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước.
Xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân không bao giờ tách rờivới việc làm cho Nhà nước luôn luôn trong sạch, vững mạnh Trong quá trìnhlãnh đạo Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh thường chỉ rõnhững tiêu cực sau đây và nhắc nhở mọi người đề phòng, khắc phục: Đặc quyền,đặc lợi; Tham ô, lãng phí, quan liêu Hồ Chí Minh coi đây là những “giặc nộixâm”, “giặc trong lòng”, thứ giặc còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm
11Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, tr.453
12Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, tr.234
13Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.1995, tr.56, 57
Trang 11Vì vậy, một mặt phải nhấn mạnh vai trò của luật pháp, đồng thời tăngcường tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân nhất là giáo dục đạođức Hồ Chí Minh đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa quản lý xã hộibằng pháp luật với phát huy những truyền thống tốt đẹp trong đời sống cộngđồng người Việt Nam được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử “Phép trịnước” của Hồ Chí Minh là kết hợp cả “pháp trị” và “đức trị - nhân trị”; “pháptrị” rất nghiêm khắc, công minh và “đức trị - nhân trị” cũng rất tình người,bao dung, thấu tình đạt lý Thực tế đó cho thấy rằng, Hồ Chí Minh là một nhàlập pháp sắc sảo, đồng thời là một nhà hành pháp nghiêm minh Pháp quyềntrong tư tưởng của Người là pháp quyền nhân nghĩa rất đặc sắc
1.4 Quan niệm về nhà nước pháp quyền hiện nay.
Lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay có bốn kiểu nhà nước có liên
hệ mật thiết với pháp quyền là nô lệ, phong kiến, tư sản và vô sản Nhà nướcpháp quyền mà chúng ta quan niệm không phải là một kiểu nhà nước gắn liềnvới một giai cấp như nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa, mà
là một hình thức tổ chức nhà nước, một trình độ phát triển của nhà nước vềphương diện tổ chức quyền lực để bảo đảm Hiến pháp và pháp luật giữ địa vịtối cao Nói một cách khái quát là, hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề caopháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đờisống xã hội Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật.Đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền bao gồm:
Thứ nhất, sự đảm bảo tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống
xã hội, trong đó pháp luật phải phản ánh ý chí chung của nhân dân và lợi íchchung của xã hội
Thứ hai, Nhà nước thực hiện và bảo vệ các quyền dân sự, chính trị, kinh
tế, xã hội và văn hoá của công dân Pháp luật chỉ cấm những gì có hại cho xãhội Công dân được tự do làm những gì pháp luật không cấm
Trang 12Thứ ba, nhà nước và nhân dân bảo đảm trách nhiệm lẫn nhau, có quan
hệ mật thiết và ràng buộc lẫn nhau về quyền và nghĩa vụ do pháp luật điềuchỉnh Bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân là trách nhiệm của Nhànước Nhà nước chịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt động củamình và công dân chịu trách nhiệm trước Nhà nước về những hành vi viphạm pháp luật của mình
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền phải có hình thức tổ chức quyền lực thích
hợp để thực hiện hữu hiệu việc xây dựng hệ thống pháp luật, giám sát sự tuânthủ pháp luật, xử lý các vi phạm pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thựchiện một cách nghiêm minh
Hiện nay trên thế giới, dựa trên các nguyên tắc và các đặc trưng của nhànước pháp quyền, một quốc gia, dân tộc xây dựng và phân công quyền lựcnhà nước riêng của mình xuất phát từ điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch
sử và truyền thống dân tộc Không thể có một “mô hình kiểu mẫu” duy nhấtcủa nhà nước pháp quyền, bắt buộc các dân tộc phải tuân theo
2 Quá trình nhận thức và những thành tựu, hạn chế về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.1 Quá trình nhận thức về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tư tưởng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta khẳng địnhtrong quá trình đổi mới có cơ sở tư tưởng dân chủ và xây dựng nhà nước phápquyền trong lịch sử, đặc biệt là kế thừa giá trị của nền dân chủ tư sản và tưtưởng dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của Chủ tịch Hồ ChíMinh Nhận thức về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được thểhiện qua các Văn kiện của Đảng trong công cuộc đổi mới như sau:
Đại hội lần thứ VI, Đảng khởi xướng đường lối đổi mới, trong đó lấyđổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới hệ thống chính trị Đảng đã
Trang 13dứt khoát từ bỏ mô hình kinh tế phi hàng hoá, phi thị trường, mô hình kinh tếtập trung bao cấp và chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần Sự chuyển hướng ấy đã đặt ra yêu cầu chúng ta cần nhận thức rõ hơnvai trò của pháp luật và phải quản lý xã hội bằng pháp luật, chứ không phảibằng đạo lý Trong quá trình đó đã nảy sinh quan niệm về Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tuy nhiên đã có những quan điểm khác nhau về nhà nước pháp quyền Có
ý kiến cho rằng, trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì không thể có nhà nước phápquyền Nhà nước pháp quyền chỉ dành riêng cho nhà nước tư sản Nhưng nhiều
ý kiến khác lại cho rằng, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam là sự sáng tạo của Đảng trong quá trình đổi mới tư duy về xâydựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Điều quan trọng là Đảng và Nhànước phải biết phát huy cao độ tinh thần dân chủ, ý thức tự lực tự cường và tinhthần sáng tạo của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Nhận thức là một quá trình và thực tiễn là cơ sở của quá trình ấy.Chính thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá tính xác thực của quá trìnhnhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhận thức này đã dẫn đến chủ trương coi trọng hơn việc quản lý xã hộibằng pháp luật và theo pháp luật; bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt độngtheo pháp luật; phân biệt rõ quản lý hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất -kinh doanh, trên cơ sở đó tổ chức bộ máy quản lý hành chính - kinh tế nhằmtạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh chứ không cản trở nó; chútrọng từng bước xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế và các pháp luật về anninh xã hội; pháp luật phải được thực hiện thống nhất trong cả nước Phápluật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước phápluật Trong điều kiện một đảng cầm quyền, mọi cán bộ, bất cứ ở cương vị nàođều phải sống và làm việc theo pháp luật, gương mẫu trong việc tôn trọng
Trang 14pháp luật Mọi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý Phải dùng sức mạnhcủa pháp chế xã hội chủ nghĩa kết hợp với sức mạnh của dư luận nhân dân đểđấu tranh những hành vi vi phạm pháp luật Coi trọng công tác giáo dục,tuyên truyền, giải thích pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống và cuộc sốngphải được phản ánh vào pháp luật
Có thể coi những nhận thức trên là cơ sở, tiền đề quan trọng cho sự tiếptục phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đại hội lần thứ VII của Đảng tuy chưa nêu lên khái niệm nhà nước phápquyền nhưng đã xác định rằng: tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theophương hướng: Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, Nhà nước quản lý
xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức hoạt động theonguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phâncông, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giảm, gọn nhẹ và hoạt động có chấtlượng cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật quản lý Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CHXH do Đại hộiVII của Đảng thông qua, đã xác định rằng: toàn bộ tổ chức và hoạt động của
hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từngbước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyềncon người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm
Đến Đại hội giữa nhiệm kỳ khoá VII, nhận thức mới của Đảng ta vềnhà nước pháp quyền khá toàn diện và cụ thể Hội nghị khẳng định tiếp tụcxây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam, đó lànhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đờisống xã hội bằng pháp luật Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xâydựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên
Trang 15minh giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng doĐảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Như vậy, lần đầu tiên trong văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam dùngkhái niệm nhà nước pháp quyền Việt Nam, đồng thời chỉ ra những nguyêntắc, đặc trưng của nó, đánh dấu bước tiến rõ nét trên con đường nhận thức vềnhà nước pháp quyền nước ta Hội nghị Trung ương 8 khoá VII đã ra nghịquyết về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước cộng hoà XHCN ViệtNam, trọng tâm là cải cách hành chính nhà nước và đã nêu lên năm quan điểm
cơ bản cần nắm vững trong quá trình xây dựng và kiện toàn nhà nước:
Thứ nhất, xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân, lấy liên
minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng doĐảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữnghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi íchcủa Tổ quốc và nhân dân
Thứ hai, quyền lực của nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối
hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lậppháp, hành pháp, tư pháp
Thứ ba, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt
động của nhà nước
Thứ tư, tăng cường pháp chế XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật đồng
thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức XHCN
Thứ năm, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.
Đó là năm quan điểm cơ bản đã được khẳng định trong Văn kiện Đạihội VII Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII có nhận định rằng: trong quátrình đổi mới, Đảng ta: đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm,nguyên tắc cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do dân, vì dân Đồng thời khi phân tích nguyên nhân những yếu kém, hội
Trang 16nghị đó nờu lờn một số vấn đề cú tớnh phương phỏp luận: Việc xõy dựngnhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi nền kinh
tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chỳng ta cũn ớt, cú nhiều việc phảivừa làm, vừa tỡm tũi, rỳt kinh nghiệm
Đại hội IX chỉ rừ: Nhà nước ta là nhà nước phỏp quyền của dõn, do dõn, vỡdõn Quyền lực nhà nước là thống nhất, cú sự phõn cụng và phối hợp giữa cỏc cơquan Nhà nước trong việc thực hiện cỏc quyền lập phỏp, hành phỏp và tư phỏp
Đại hội XI một lần nữa nhấn mạnh “Nhà nước ta là Nhà nước phỏp quyền
xó hội chủ nghĩa của nhõn dõn, do nhõn dõn, vỡ nhõn dõn, do Đảng lónhđạo Nhà nước chăm lo, phục vụ nhõn dõn, bảo vệ cỏc quyền và lợi ớchchớnh đỏng của nhõn dõn Tổ chức và hoạt động của bộ mỏy nhà nướctheo nguyờn tắc tập trung dõn chủ Quyền lực nhà nước là thống nhất, cú
sự phõn cụng phối hợp và kiểm soỏt giữa cỏc cơ quan trong việc thực hiệncỏc quyền lập phỏp, hành phỏp và tư phỏp”.14
2.2 Những thành tựu về xõy dựng nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa việt Nam.
Từ Đại hội VII (năm 1991) của Đảng đến nay, tỡnh hỡnh hoạt động của
bộ mỏy nhà nước núi chung cú tiến triển theo chiều hướng tốt Đõy là giaiđoạn chỳng ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng về lĩnh vực kinh tế Cỏctiền đề kinh tế, chớnh trị, tư tưởng, xó hội và quốc tế thỳc đẩy sự hỡnh thànhngày càng đầy đủ và toàn diện hơn những tư tưởng, quan điểm, sự lónh đạo,chỉ đạo xõy dựng Nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa Việt Nam
Cú thể núi, vấn đề xõy dựng Nhà nước phỏp quyền ở nước ta tuy cũnmới mẻ, nhưng nú đang mở ra phương hướng mới đầy triển vọng khi xỏcđịnh đú là Nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa Việt Nam trong nền kinh
14Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG,
H, 2011, tr.52