Khi giao kết hợp đồng trong kinh doanh thương mại, các chủ thể đều muốn hợp đồng đảm bảo được tính pháp lý để có cơ sở thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, đồng thời đảm bảo mang lại lợi nhuận và tăng cường hợp tác, phát triển mối quan hệ. Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau, có thể là do các bên tham gia hợp đồng không đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hoặc có thể do các bên vì lợi ích trước mắt, lợi ích bất hợp pháp mà cố tình giao kết hợp đồng khi không đủ điều kiện giao kết hợp đồng, giao kết hợp đồng có nội dung, mục đích trái quy định pháp luật, … từ đó dẫn đến hợp đồng vô hiệu. Để hiểu rõ như thế nào là hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại, các dấu hiệu để nhận biết hợp đồng vô hiệu cũng như xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu, em xin chọn phân tích làm rõ đề tài: “Hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Khi giao kết hợp đồng trong kinh doanh thương mại, các chủ thể đều muốn hợp đồng đảm bảo được tính pháp lý để có cơ sở thực hiện quyền, nghĩa
vụ của mình, đồng thời đảm bảo mang lại lợi nhuận và tăng cường hợp tác, phát triển mối quan hệ Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau, có thể là do các bên tham gia hợp đồng không đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hoặc có thể do các bên vì lợi ích trước mắt, lợi ích bất hợp pháp mà cố tình giao kết hợp đồng khi không đủ điều kiện giao kết hợp đồng, giao kết hợp
Trang 2đồng có nội dung, mục đích trái quy định pháp luật, … từ đó dẫn đến hợp đồng
vô hiệu Để hiểu rõ như thế nào là hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại, các dấu hiệu để nhận biết hợp đồng vô hiệu cũng như xử lý hậu quả của
hợp đồng vô hiệu, em xin chọn phân tích làm rõ đề tài: “Hợp đồng vô hiệu và
xử lý hợp đồng vô hiệu trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”.
NỘI DUNG
I Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
1.Khái niệm hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc thực hiện hay không
thực hiện một điều gì đó Theo Điều 385 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng là
sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Trang 3Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng trong kinh doanh thương mại (hợp đồng thương mại) Theo quy định hợp đồng tại Bộ luật Dân sự 2015, có thể hiểu hợp đồng thương mại
là sự thảo thuận giữa các bên, trong đó ít nhất một trong các bên phải là thương nhân, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại
Các hoạt động thương mại được xác định theo Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Vô hiệu theo nghĩa thông thường là không có hiệu lực Từ đó có thể suy
ra, hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lý Trong khoa học pháp lý, hợp đồng vô hiệu dùng để chỉ tình trạng một hợp đồng trái với ý chí của các bên hoặc trái với điều kiện
có hiệu lực của pháp luật Khi một hợp đồng bị tuyên vô hiệu có nghĩa là hợp đồng không có giá trị ngay từ thời điểm giao kết
Theo quy định tại Điều 122 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự không có
một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”
Bản chất của hợp đồng thương mại cũng là một giai dịch dân sự Do đó,
có thể hiểu hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại là những hợp đồng
thương mại mà các chủ thể tham gia hợp đồng không tuân thủ các điều kiện
có hiệu lực do pháp luật quy định, dẫn đến hậu quả hợp đồng không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập hợp đồng.
Hợp đồng thương mại vô hiệu có những đặc điểm sau:
- Hợp đồng thương mại là hợp đồng chưa có giá trị về mặt pháp lý
Trang 4- Hợp đồng thương mại chỉ được coi có hiệu lực kể từ thời điểm các khiếm khuyết trong hợp đồng thương mại được khắc phục
- Sự vô hiệu của hợp đồng thương mại được xác định ngay tại thời điểm hình thành hợp đồng thương mại
2.Phân loại hợp đồng thương mại vô hiệu
Dựa trên những tiêu chí khác nhau tùy thuộc vào mục đích của việc phân loại, có những cách phân loại hợp đồng thương mại vô hiệu như sau:
Một là, căn cứ vào tính chất trái pháp luật của giao dịch, hợp đồng thương mại vô hiệu được chia thành hai loại: hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối.
Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối khi việc xác lập việc xác lập hợp đồng trái với pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước hoặc lợi ích chung, lợi công cộng Hợp đồng sẽ bị xem là đương nhiên vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Vô hiệu do giả tạo;
- Có các nội dung vi phạm những điều mà pháp luật cấm;
- Có nội dung hoặc mục đích trái với các giá trị đạo đức xã hội;
- Có hình thức khác với các hình thức quy định của pháp luật, đã được Tòa án cho thời hạn để thay đổi hình thức đúng theo quy định nhưng không thay đổi;
- Hợp đồng vi phạm về hình thức nhưng các bên chưa thực hiện và có tranh chấp xảy ra thì hợp đồng cũng được xem là vô hiệu tuyệt đối
Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối sẽ không hạn chế thời hiệu khởi kiện tại tòa
án Việc giải quyết sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật, không giải quyết theo yêu cầu của các bên Đồng thời, hợp đồng vô hiệu tuyệt đối không được hòa giải, không được công nhận giá trị pháp lý khi thụ lý và giải quyết tranh chấp
Trang 5Khác với hợp đồng vô hiệu tuyệt đối, hợp đồng vô hiệu tương đối là các hợp đồng bị tòa án tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của các bên liên quan Hợp đồng bị tuyên bố là vô hiệu tương đối khi:
- Được xác lập bởi các chủ thể không có năng lực hành vi dân sự hoặc không
có năng lực hành vi tương ứng với yêu cầu của pháp luật đối với giao dịch theo thỏa thuận trong hợp đồng;
- Vô hiệu do bị đe dọa, do lừa dối, do nhầm lẫn;
- Vô hiệu do người xác lập trong tình trạng không thể nhận thức hoặc không điều khiển được hành vi của mình
Thời hiệu khởi kiện với hợp đồng vô hiệu tương đối là 02 năm từ ngày hợp đồng được xác lập
Hai là, căn cứ vào mức độ của sự vô hiệu, hợp đồng vô hiệu được chia thành hai loại: hợp đồng vô hiệu toàn bộ và hợp đồng vô hiệu từng phần.
Đây là cách phân loại phổ biến trong các chế định hợp đồng ở Việt Nam Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định mức độ của hợp đồng khi bị tuyên bố vô hiệu, khả năng khắc phục khiếm khuyết của hợp đồng và trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng
Hợp đồng vô hiệu toàn bộ là hợp đồng có toàn bộ nội dung bị tuyên bố
là vô hiệu Một số hợp đồng có thể vô hiệu toàn bộ khi chỉ một phần nội dung
vô hiệu, nhưng đó lại là phần nội dung quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng
Trường hợp hợp đồng vô hiệu toàn phần như hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; do giả tạo; do bị lừa đối, đe dọa; do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
Trang 6Hợp đồng thương mại vô hiệu từng phần chỉ có một phần nội dung vô hiệu, không có giá trị pháp lý Tuy nhiên, hợp đồng thương mại vẫn có hiệu lực và các bên vẫn có thể thực hiện theo thỏa thuận với những phần nội dung
có hiệu lực
Thứ ba, căn cứ vào mức độ vượt phạm vi đại diện của người đại diện thì hợp đồng thương mại vô hiệu được chia thành các loại sau:
Hợp đồng thương mại vô hiệu do người đại diện xác lập vượt quá phạm
vi đại diện Thông thường hợp đồng thương mại được xác lập bởi người đại diện theo pháp luật, nhưng do người đại diện đã xác lập hợp đồng trên thực tế vượt quá phạm vi đại diện được ghi trong hợp đồng ủy quyền hoặc được quy định trong Điều lệ công ty hoặc các loại văn bản khác tương ứng Hợp đồng thương mại được xác lập vượt quá phạm vi đại diện thì phần vượt quá phạm vi đại diện đó bị vô hiệu
Hợp đồng thương mại vô hiệu do người giao kết không có quyền đại diện, có nghĩa là người trực tiếp giao kết không có tư cách đại diện
3.Dấu hiệu xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Dấu hiệu xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại là hợp đồng không đáp ứng một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS 2015, bao gồm:
3.1. Chủ thể tham gia hợp đồng
Bản chất của hợp đồng là sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong hợp đồng nhưng không phải bất cứ ai cũng có quyền tham gia vào bất kỳ hợp đồng nào mà chỉ có các chủ thể được pháp luật cho phép mới có thể tham gia Khi các chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng được xác lập
Đối với hợp đồng thương mại, chủ thể giao kết hợp đồng thường là
thương nhân Điều 6 Luật Thương mại 2005 quy định: “Thương nhân bao
Trang 7gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Theo đó, thương
nhân là chủ thể giao kết hợp đồng thương mại phải là các tổ chức được thành lập hợp pháp, cá nhân có đăng ký kinh doanh
Như vậy, trường hợp chủ thể giao kết hợp đồng thương mại không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự hoặc tổ chức kinh tế, cá nhân không được thành lập hợp pháp, không có đăng ký kinh doanh thì hợp đồng thương mại được giao kết bởi một trong các chủ thể này sẽ vô hiệu
3.2. Người có thẩm quyền ký kết hợp đồng
Đối với hợp đồng thương mại, một trong các bên tham gia hợp đồng thương mại là thương nhân, thì người có thẩm quyền ký kết hợp đồng thương mại phải là người đại diện hợp pháp của thương nhân hoặc người được người đại diện hợp pháp ủy quyền Theo các quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020, người có thẩm quyền ký kết hợp đồng của doanh nghiệp là người đại diện theo pháp luât của doanh nghiệp Đối với công ty cổ phẩn, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể là Chủ tịch hội đồng quản trị hoặc Giám đốc/Tổng Giám đốc; đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, người đại diện theo pháp luật là Chủ tịch hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc/Tổng Giám đốc Đồng thời, việc phân chia quyền đại diện của người có thẩm quyền giao kết hợp đồng phải được quy định cụ thể trong Điều lệ công
ty Trường hợp ủy quyền thì nội dung ủy quyền phải được quy định trong hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền
Như vậy, thương nhân tham gia vào giao dịch thông qua người đại diện hợp pháp của họ (đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền) Trường hợp người ký kết hợp đồng thương mại không phải là người đại diện hợp pháp, hoặc là người đại diện hợp pháp nhưng ký kết hợp đồng vượt quá phạm vi đại diện thì hợp đồng này sẽ bị tuyên vô hiệu
Trang 83.3. Mục đích và nội dung của hợp đồng thương mại không vi phạm điều
cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Điều cấm của luật là những quy định không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Còn chuẩn mực xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được công đồng thừa nhận và tôn trọng
Căn cứ Điều 118 BLDS 2015, mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích
mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó, còn nội dung giao dịch chính là thỏa thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ trong giao dịch mà các bên phải thực hiện nhằm đạt được mục đích khi xác lập, tham gia giao dịch
Để hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Chỉ những tài sản được phép giao dịch, những công việc được phép thực hiện không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội mới là đối tượng của giao dịch dân sự Những giao dịch xác lập nhằm trốn tránh pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là những giao dịch dân sự có mục đích và nội dung không hợp pháp, không làm phát sinh hiệu lực pháp luật của giao dịch dân sự đó
3.4. Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện
Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại nhằm đảm bảo
sự thỏa thuận của các bên phù hợp ới ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Các điều khoản trong hợp đồng thương mại được đưa ra
là những lợi ích mong muốn dựa trên ý chí thực sự của họ chứ không phải do
sự cưỡng ép hoặc ép buộc của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác, các bên tự nguyện thỏa thuận các vấn đề nhằm làm phát sịnh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của mình Bản chất của giao dịch là sự thống nhất ý chí và bày tổ ý chí Sự tự nguyện của một bên hoặc sự tự nguyện của các bên trong hợp dồng
Trang 9là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Tính tự nguyện xuất phát từ ý chí chủ thể và phụ thuộc vào yếu tố chủ quan Những hành vi cưỡng ép, đe dọa, lừa dối để giao kết hợp đồng là lý do dẫn đến hợp đồng bị coi là vô hiệu
3.5. Hình thức của hợp đồng thương mại
Hình thức của hợp đồng thương mại là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch dân sự Thông qua phương tiện này bên cũng như người thứ ba
có thể biết được nội dung của hợp đồng đã xác lập Nó là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra
Căn cứ Điều 119 BLDS 2015, hợp đồng thương mại có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Người xác lập giao dịch dân sự có quyền lựa chọn hình thức của hợp đồng đó Trong một số trường hợp pháp luật yêu cầu về hình thức buộc các chủ thể phải tuân thủ theo (yêu cầu phải lập thành văn bản, phải có chứng nhận, chứng thực, đăng kí, xin phép)
Trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản, phải được công chứng nhà nước chứng nhận, được chứng thực, đăng
ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, hợp đồng đại lý, hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, …
Khi các bên không tuân thủ các quy định này thì vô hiệu Tuy nhiên, để bảo đảm lợi ích của các bên pháp luật quy định các trường hợp loại trừ sau:
+ Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vu trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó
Trang 10+ Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực
4.Các trường hợp hợp đồng thương mại vô hiệu
4.1. Hợp đồng thương mại vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã
hội
Điều 123 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội cùng những hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu dạng này Vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội bao gồm nội dung, mục đích của giao dịch trái pháp luật và đạo đức xã hội
Hợp đồng thương mại vi phạm quy định này đương nhiên bị coi là vô hiệu không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia giao dịch Tài sản giao dịch và lợi tức thu được có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước
4.2. Hợp đồng thương mại vô hiệu do giả tạo
Trường hơp vô hiệu do giả tạo có điểm đặc biệt là các bên trong hợp đồng hoàn toàn tự nguyện xác lập giao dịch nhưng lại cố ý bày tỏ ý chí không đúng với ý chí đích thực của họ (có sự tự nguyện nhưng không có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí)
Có hai trường hợp giả tạo:
+ Giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác Khi đó giao dịch giả tạo vô hiệu còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu như giao dịch bị che giấu đó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
+ Giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì hợp đồng giả tạo này vô hiệu