1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn Lịch sử Đảng

14 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 339,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

An sinh xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa gó

Trang 1

Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

====================

BÀI TẬP LỚN

Môn Lịch sử Đảng

Đề bài: Trình bày điểm mới trong văn kiện đại hội 13 về chủ trương thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam trong 2021-2025 Liên

hệ thực tiễn tại địa phương

Họ và tên :

Mã SV:

Lớp :

Hà Nội , 10/2021

Trang 2

Nội dung

Mở đầu 1

I, Khái niệm an sinh xã hội 2

II, Bối cảnh lịch sử Việt Nam hiện nay 3

III, Khái quát đại hội 12,13 4

IV, Nội dung văn kiện đại hội 13 về thực hiện an sinh xã hội và điểm mới 7

V, Liên hệ tới địa phương ( Thái Bình) 9

Lời kết 11

Trang 3

1

Mở đầu

Từ thuở sơ khai , con người đã sống chung với nhau , có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời Và cho tới ngày nay , cuộc sống càng ngày càng phát triển , chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của sức lao động Lao động tạo ra thu nhập, lao động giúp con người có cơ sở để tồn tại, nhưng cũng chính trong quá trình đó có nhiều trường hợp xảy ra gây cho con người bị giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, tai nạn, già yếu, thất nghiệp, nghèo đói, … Những rủi ro này là khó có thể tránh khỏi và dự báo trước được Khi các rủi ro, bất lợi xảy ra với nhiều người thì chính là rủi ro có tính xã hội Để giải quyết tốt những vấn đề xã hội, một trong những nhiệm vụ cơ bản của mỗi nhà nước là phải xây dựng hệ thống chính sách xã hội mà an sinh xã hội là loại chính sách xã hội phổ biến An sinh xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Bảo đảm an sinh xã hội không chỉ là bảo vệ quyền của mỗi người dân, mà còn là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội

cơ bản thể hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Mỗi thời kỳ , chính sách an sinh xã hội sẽ khác nhau Qua Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII vừa qua, Đảng đã đưa ra những biện pháp khác để đảm bảo an sinh xã hội , nhất trong thời kỳ dịch bệnh như hiện nay

Trang 4

2

Nội dung

I, Khái niệm an sinh xã hội

Trong lịch sử , an sinh xã hội đã tồn tại từ lâu, dưới nhiều dạng khác nhau Nhưng đến cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 , an sinh xã hội mới được nhiều nước

hệ thống hóa có tổ chức cung cấp phúc lợi nhà nước

Khái niệm an sinh xã hội đã được nêu trong Điều 22 của Tuyên ngôn Quốc

tế nhân quyền :"Mọi người, như một thành viên của xã hội, có quyền an sinh xã

hội và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực quốc gia và hợp tác quốc tế và phù hợp với tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không thể thiếu cho nhân phẩm của mình và sự phát triển tự do của nhân cách của mình." Điều này được hiểu đơn giản là các bên ký thỏa thuận rằng xã hội có thể giúp họ phát triển và tận dụng tối đa tất cả những lợi thế được cung cấp cho họ trong quốc gia đó

An sinh xã hội cũng có thể là chỉ các chương trình của chính phủ nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ Từ đó có thể đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ về thực phẩm và nơi trú ẩn và tăng cường sức khỏe và phúc lợi cho người dân nói chung và các phân đoạn có khả năng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người bệnh và người thất nghiệp

Các dịch vụ an sinh xã hội thường được gọi là dịch vụ xã hội Các dịch vụ này được chia thành nhiều loại ,trong đó có ba loại chính Một là bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội của Nhà nước Nó đảm bảo thay thế hoặc chia sẻ rủi ro từ các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ mất khả năng làm việc Người tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được hưởng quyền lợi khi bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau , thai sản , tai nạn giao thông, bệnh nghề nghiệp , hết tuổi lao động hoặc chết Hai là , các dịch vụ khác được cung cấp bởi chính phủ hoặc các cơ quan được chỉ định chịu trách nhiệm chu cấp an sinh xã hội Ở các nước khác nhau điều này có thể bao gồm chăm sóc y tế, hỗ trợ tài chính trong thời gian thất nghiệp, bệnh tật, hoặc nghỉ hưu, sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc, các khía cạnh của công tác xã hội và thậm chí cả quan hệ ngành công nghiệp Ba là các chính sách an sinh cơ bản

Dù người dân có tham gia các chương trình bảo hiểm cụ thể nào hay không thì vẫn được hưởng an sinh cơ bản khi đủ điều kiện

Về chức năng , an sinh xã hội tạo ra mạng lưới, "giá đỡ " an toàn cho các thành viên xã hội bao gồm chức năng phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc

Trang 5

3

phục rủi ro An sinh xã hội là sự đảm bảo thu nhập và đời sống trong trường hợp người dân gặp phải các rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống, với phương thức hoạt động là thông qua các chương trình, chính sách cụ thể từ Nhà nước hoặc các lực lượng xã hội khác nhằm đảm bảo cuộc sống của mỗi cá nhân và toàn xã hội

Về mục đích, an sinh xã hội hướng đến sự phát triển bền vững, thúc đẩy tiến

bộ xã hội trên cơ sở đảm bảo thực hiện được công bằng xã hội

An sinh xã hội có nguyên tắc cơ bản là đảm bảo sự đoàn kết, chia sẻ và tương trợ cộng đồng đối với các rủi ro trong đời sống, do vậy có tác dụng thúc đẩy sự đồng thuận, bình đẳng và công bằng xã hội Bên cạnh đó, hệ thống ASXH g thông qua tác động tích cực của các chính sách chăm sóc sức khỏe, an toàn thu nhập và các dịch vụ xã hội, sẽ nâng cao năng suất lao động, hỗ trợ chuyển đổi

cơ cấu lao động nói riêng và toàn bộ quá trình phát triển kinh tế nói chung

II, Bối cảnh lịch sử Việt Nam hiện nay

Trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội (2011-2020) , đất nước gặp nhiều khó khăn đặc biệt là diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 ,song đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng

Kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc hơn, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, tăng trưởng kinh tế đạt khá gắn với chất lượng tăng trưởng và các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện Các cân đối lớn về ngân sách nhà nước (NSNN), thương mại, đầu tư, năng lượng, an ninh lương thực tiếp tục được bảo đảm, cải thiện Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng mạnh; cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc

tế được cải thiện rõ rệt; dự trữ ngoại hối đạt cao nhất từ trước đến nay Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển được đẩy mạnh; đầu tư khu vực ngoài nhà nước tăng nhanh; chất lượng, hiệu quả đầu tư được cải thiện.Phát triển kinh tế vùng, kinh

tế biển, đô thị, xây dựng nông thôn mới đã có bước chuyển biến, khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, từng vùng, khu vực

Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam đạt kết quả tích cực; an sinh

xã hội được bảo đảm; đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện Chúng ta đã thực hiện tốt các chính sách đối với người có công, bảo trợ xã hội, tạo việc làm, giảm nghèo bền vững; tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế, bảo hiểm thất nghiệp tăng nhanh; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 3% vào năm

2020

Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu

và phòng, chống thiên tai ngày càng được chú trọng hơn Chúng ta vừa hoàn thiện,

Trang 6

4

vừa tập trung triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách, pháp luật về tài nguyên, môi trường Các nguồn lực tài nguyên từng bước được quản lý chặt chẽ, khai thác

và sử dụng hiệu quả hơn, nhất là đất đai, khoáng sản

III, Khái quát đại hội XII, XIII

1, Đại hội XII

- Đại hội XII , Đảng Việt Nam tổ chức đánh giá kết quả lãnh đạo và phát triển đất nước sau 30 năm đổi mới, quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội

XI (2011–2015) và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước trong giai đoạn 2016-2020

- Đại hội đã tổng kết thành quả quan trọng sau khi phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI:

Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện bước đầu đạt kết quả tích cực Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế có bước phát triển An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được bảo đảm, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hoà bình, ổn định Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả Vị thế, uy tín quốc

tế của nước ta tiếp tục được nâng cao Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được phát huy Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được chú trọng và đạt kết quả quan trọng

Tuy nhiên, đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện Một số chỉ tiêu kinh tế

- xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu

để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế chậm được khắc phục Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng

xa còn nhiều khó khăn Bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,

Trang 7

5

lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020, nguồn NSNN chi cho giảm nghèo và an sinh xã hội đã không ngừng tăng lên và phát huy hiệu quả ngày càng cao Cụ thể: Năm 2017, ngân sách đã dành kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững là 7.231 tỷ đồng (trong đó vốn sự nghiệp là 2.231 tỷ đồng; vốn đầu tư là 5.000 tỷ đồng) Năm 2018, ngân sách trung ương (NSTW) đã

bố trí thực hiện cho chương trình giảm nghèo bền vững là 7.305 tỷ đồng Năm

2019, NSTW bố trí trên 10.400 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, vốn đối ứng địa phương và các nguồn huy động hợp pháp tại 40/63 tỉnh là 2.177 tỷ đồng.Năm 2020, nguồn NSNN chi cho giảm nghèo bền vững, đặc biệt là hỗ trợ người nghèo đối phó với ảnh hưởng của đại dịch Covid - 19 đã tăng lên đáng kể và đang phát huy tác dụng lớn trong cộng đồng, xã hội

Năm 2020, trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, thách thức, việc thực hiện nhiệm vụ “kép” vừa chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả thiên tai vừa tập trung phát triển kinh tế, việc bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội lại càng được cải thiện và mang tính nhân văn…Việt Nam bước vào năm 2020 với đà tăng trưởng mạnh từ những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của giai đoạn 2016-2019 Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 bùng phát từ tháng 2/2020

đã gây ra những phức tạp, khó khăn, tác động tiêu cực đến nền kinh tế và đời sống nhân dân Dịch bệnh khiến hơn 31 triệu lao động bị mất việc làm, giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập; lực lượng lao động giảm 1,2 triệu người so với năm trước và dịch COVID-19 có thể đã tước đi cơ hội tham gia thị trường lao động của 1,6 triệu người Trong khi bệnh dịch rình rập, tình trạng mưa đá, lũ ống, lũ quét ở các tỉnh miền núi phía Bắc, hạn hán, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là tình trạng “bão chồng bão,” “lũ chồng lũ” xảy ra liên tiếp tại các tỉnh miền Trung đã gây thiệt hại rất nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của hàng triệu người dân

Trước khó khăn đó, Đảng, Nhà nước đã chủ động triển khai nhiều biện pháp ứng phó Điển hình như với đại dịch COVID-19, Đảng, Nhà nước kiên định mục tiêu bảo vệ quyền con người, bảo hộ công dân, bảo đảm sức khỏe

và tính mạng của nhân dân với những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ, nhân văn Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều giải pháp, chính sách tài khóa để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất-kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội Đặc biệt, gói 62 nghìn tỷ đồng hỗ trợ người

Trang 8

6

dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, một quyết sách chưa có tiền lệ của Chính phủ, đã kịp thời giúp đỡ và củng cố niềm tin của người dân cùng cộng đồng doanh nghiệp, hỗ trợ, góp phần ổn định đời sống nhân dân và người lao động, ổn định kinh tế-xã hội tại các địa phương Tính đến cuối năm 2020, gói

hỗ trợ này đã được giải ngân xấp xỉ 12,9 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ gần 12 ngàn người và trên 3 vạn hộ kinh doanh Trong đó, có gần 8 triệu người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo với kinh phí hỗ trợ trên 5,9 nghìn tỷ đồng

năm 2020, cả nước có 1.096.987 người đến nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 32,3% so với năm trước Đến nay, trên 1 triệu người đã có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền trợ cấp là 18,2 nghìn tỷ đồng với mức hưởng bình quân là trên 3 triệu đồng/người/tháng

Song bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho cộng đồng là chiến lược,

là kế hoạch dài lâu, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Như cam kết của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trước Quốc hội mới đây, Chính phủ tiếp tục nỗ lực không ngừng để giảm nghèo bền vững cho 3% hộ dân còn lại; đặc biệt là người dân ở vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu

số, vùng lõi nghèo

và phát triển đất nước, quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội XII (2016– 2021) và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước trong giai đoạn 2021–2025, tầm nhìn đến năm 2045 Cũng tại đây, Ban Chấp hành Trung ương Đảng mới lần lượt bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Tổng Bí thư theo thủ tục quy định tại Điều lệ Đảng và Quy chế bầu cử trong Đảng năm 2020 của Ban Chấp hành Trung ương

phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển đất nước Cụ thể:

chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, , khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước

mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hoá, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức mạnh của nền kinh tế trên cơ sở nhận thức đây là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước;

quyết hài hoà các quan hệ lợi ích trong xã hội Xử lý hiệu quả mối quan

Trang 9

7

hệ giữa thực hành dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế , bảo đảm kỷ cương xã hội;

nền ngoại giao hiện đại vì lợi ích quốc gia – dân tộc, lấy người dân

và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa;

chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

IV, Nội dung văn kiện đại hội XIII về thực hiện an sinh xã hội và điểm mới

“Đến năm 2025, tỷ trọng lao động nông nghiệp tronh tổng lao động xã hội khoảng 25% , ; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70% ; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%; tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1-1,5%/năm ; có 10 bác sĩ và 30 giường bệnh trên 1 vạn dân , tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số , tuổi thọ trung bình dạt khoảng 74,5 tuổi ; tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới tối thiểu 80% trong đó ít nhất 10% đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu ”

“ Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện , tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa , giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân , đảm bảo trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế Cải cách hệ thống bảo hiểm

xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng – hưởng , chia sẻ- bền vững Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều , bền vững , đảm bảo mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản Nâmg cao chất lượng xây dựng nông thôn mới ,triển khai có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội , vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2020-2030, thu hẹp khoảng cách giàu -nghèo giữa các vùng ,miền ,dân tộc

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng là:

phát triển phù hợp, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội phát triển Đảng ta luôn coi chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, động lực để phát triển nhanh và bền vững trong các giai đoạn phát triển của đất nước Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân

và bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Xây dựng chính sách xã hội, trong đó có chính sách ASXH phải phù hợp với trình độ

Trang 10

8

phát triển kinh tế - xã hội và khả năng huy động, cân đối các nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; chú trọng ưu tiên những người có công, những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa

o Thứ hai, hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp và chính sách đối với người có công

Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng bên cạnh tính chính trị, kinh tế, xã hội còn mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, giáo dục ý thức cho thế hệ trẻ Làm tốt chính sách đối với người có công sẽ góp phần vào sự ổn định xã hội, giữ vững thể chế, góp phần từng bước nâng cao đời sống người có công

và thân nhân của họ

o Thứ ba, cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay đổi giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế

Chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, liên quan trực tiếp đến ASXH và các cân đối lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người

hưởng lương Trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực,

tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội

Theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, việc cải cách chính sách tiền lương phải bảo đảm tính tổng thể, hệ thống, đồng bộ, kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục có hiệu quả những hạn chế, bất cập của chính sách tiền lương hiện hành; tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật khách quan của kinh tế thị trường, lấy tăng năng suất lao động là cơ sở để tăng lương; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; có lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và nguồn lực của đất nước

những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân; đổi mới chính sách lao động, việc làm

Chính sách bảo đảm ASXH và phúc lợi xã hội của Đảng và Nhà nước ta đã mang lại những thành công lớn, nhất là trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Giảm nghèo nhanh, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Hệ thống tổ chức y tế được kiện toàn, năng lực, chất lượng khám, chữa bệnh được cải thiện Thời gian qua, với sự tham gia của khu vực tư nhân trong cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, đã

Ngày đăng: 04/01/2022, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w