1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp Luật ĐC LUẬT dân sự

25 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 45,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ tài sản không chỉ bao gồm vật thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà còn bao gồm cả việc dịch chuyển những tài sản đó từ chủ thể này sang chủ thể khác, quyền yêu cầu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LUẬT

BÀI TẬP NHÓM

CHỦ ĐỀ: LUẬT DÂN SỰ

LỚP HỌC PHẦN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG 220_(03)

GIẢNG VIÊN: NGUYỄN THU TRANG

NHÓM: 5

THÀNH VIÊN NHÓM:

HÀ CÔNG PHÚC – 11197080 ( NHÓM TRƯỞNG ) NGUYỄN NGỌC VÂN ANH – 11190293

LÊ THỊ BÍCH NGỌC – 11193775 DƯƠNG THU HƯƠNG – 11192264 PHẠM THỊ THU PHƯƠNG – 11194296 CHONENY THIPPHABOUNHUEANG – 11197513

Trang 2

Giới thiệu chung về Luật Dân Sự:

Luật Dân Sự là ngành luật được hình thành từ rất sớm trong lịch sử phát triển của nhà nước và pháp luật Những quan hệ xã hội do Luật Dân Sự điều chỉnh thuộc các lĩnh vực: dân sự; kinh doanh; thương mại; lao động; hôn nhân và gia đình Đó

là những quan hệ xã hội cơ bản, thiết yếu trong đời sống kinh tế - xã hội Ở các thời kỳ, nhà nước luôn chú trọng hoàn thiện pháp luật dân sự do tính phổ biến và vai trò của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội

1. Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân Sự:

Là một ngành luật độc lập, trong hệ thống pháp luật của nước Việt Nam Luật Dân

Sự có đối tượng điều chỉnh là: các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân

1.

Quan hệ tài sản: là những quan hệ giữa người với người thông qua một tài

sản dưới dạng tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng hoặc dịch vụ nhằm tạo ra một tài sản nhất định Quan hệ tài sản là hình thức biểu hiện quan hệ kinh

tế Thông qua quan hệ tài sản quá trình phân phối, trao đổi, lưu thông các

tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng và các thành quả khác được thực hiện Trong đời sống xã hội quan hệ tài sản phát sinh rất đa dạng và do nhiều ngành luật điều chỉnh Luật dân sự chỉ điều chỉnh quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá tiền tệ với đặc trưng là giá trị tính được bằng tiền đền bù ngang giá Nhưng cũng có một số quan hệ tài sản không có tính chất đền bùngang giá như thừa kế, cho, tặng

Tài sản (được khái quát chung ở Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015) bao gồm: vật,tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản) Quan hệ tài sản không chỉ bó hẹp ở những vật vô tri mà còn hàm chứa nội dung xã hội là những quan hệ xã hội liên quan đếnmột tài sản

Quan hệ tài sản không chỉ bao gồm vật thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà còn bao gồm cả việc dịch chuyển những tài sản đó từ chủ thể này sang chủ thể khác, quyền yêu cầu của một hay nhiều chủ thể và nghĩa vụ tương ứng với các quyền yêu cầu đó của một hay nhiều chủ thể khác trong quan hệ nghĩa vụ cũng được coi là quan hệ tài sản Quan hệ tài sản rất đa dạng và phức tạpbởi các yếu tố cấu thành nên các quan hệ đó bao gồm: chủ thể tham gia, khách

Trang 3

thể được tác động và nội dung của các quan hệ đó Quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh của luật dân sự có những đặc điểm sau:

+) Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang tính ý chí Quan hệ tài sản phát sinh giữa các chủ thể là những quan hệ kinh tế cụ thể trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thồng và tiêu thụ sản phẩm cũng như cung ứng dịch vụ trong xã hội Quan hệ tài sản luôn gắn liền với quan hệ sản xuất và phù hợp với quan hệ sản xuất vốn là hạ tầng của xã hội Quan hệ sản xuất tồn tại không phụ thuộc vào ýchí của con người mà nó phát sinh, phát triển theo những quy luật khác quan Nhưng những quy luật này được nhận thức và phản ánh thông qua những quy phạm pháp luật lại mang tính chủ quan - ý chí của giai cấp thống trị phản ánh sự tồn tại xã hội thông qua các quy phạm pháp luật Mỗi chủ thể tham gia vào một quan hệ kinh tế cụ thể đều đặt ra những mục địch và với động cơ nhất định Bởi vậy, quan hệ tài sản mà các chủ thể tham gia mang ý chí của các chủ thể và phải phù hợp với ý chí của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp ;uật dân sự Nhà nước dùng các quy phạm pháp luật dân sự tác động lên các quan hệ kinh tế, hướng cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi theo ý chí của Nhà nước

+) Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang tính chất hàng hóa và tiền tệ Quy luật của nền kinh tế thị trường trong sản xuất xã hội chi phối các quan hệ tài sản mà một trong các biểu hiện của nó là quan hệ tiền - hàng Khái niệm hàng hóacàng ngày càng mở rộng cùng với sự chuyên môn hóa của nền sản xuất, cùng với

sự phát triển của khoa học - kĩ thuật và quan niệm xã hội về các đối tượng trao đổi Tài sản là đối tượng và cũng là khách thể của quan hệ tài sản phải trị giá được thành tiền và có thể chuyern giao thông qua các giao dịch dân sự Do vậy, các quan hệ tài sản này cũng không nằm ngoài sự chi phối của quy luật hàng hóa - tiềntệ

+) Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang tính chất đền bù tương đương

Sự đền bù tương đương trong trao đổi là biểu hiện của quan hệ hàng hóa và tiền

tệ, là đặc trưng của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng

2.

Quan hệ nhân thân: là quan hệ giữa người với người không mang tính chất

kinh tế, không được tính bằng tiền, nó phát sinh từ một giá trị tinh thần (giátrị nhân thân) của một cá nhân hay một tổ chức và luôn gắn liền với một chủ thể nhất định Quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật

Trang 4

dân sự bao gồm các quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản và các quan hệ nhân thân liên quan đến tài sản.

Quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản là những quan hệ xã hội về nhữnglợi ích tinh thần, tồn tại một cách độc lập không liên quan gì đến tài sản và được quy định là các quyền nhân thân như quyền đối với họ tên, danh dự, nhân phẩm.Những quan hệ nhân thân liên quan đến tài sản là những quyền nhân thân có thể làm phát sinh những quyền tài sản như là quyền lao động, quyền tự do kinh

doanh, quyền tự do sáng tạo…

Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân (Điều 1 Bộ luật Dân sự năm 2015) Trong đó, quan hệ nhân thân do pháp luật điều chỉnh có những đặc điểm sau:+) Quyền nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và không thể dịch chuyển được cho các chủ thể khác Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định

có thể được dịch chuyển Những trường hợp cá biệt này phải do pháp luật quy định (quyền công bố tác phẩm của tác giả các tác phẩm, các đối tượng sở hữu công nghiệp)

+) Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền - giá trị nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá Các quyền nhân thân không gắn với tài sản như danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, danh dự, uy tín của tổ chức; quyền đối với họ, tên; thay đổi họ tên; quyền xác định dân tộc, thay đổi dân tộc; quyền đối với hình ảnh; với bí mật đời tư; quyền kết hôn, li hôn (từ Điều 26 đến Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015) Một sốquyền nhân thân mới được ghi nhận và bảo hộ trong Bộ luật Dân sự năm 2015) Một số quyền nhân thân mới được ghi nhận và bảo hộ trong Bộ luật Dân sự năm

2015 như: quyền về đời sống riêng tư, bí mật gia đình; chuyển đổi về đời sống riêng tư; quyền nhân thân trong quan hệ hôn nhân và gia đình,

Luật dân sự ghi nhận những giá trị nhân thân được coi là quyền nhân thân và quy dịnh các biện pháp bảo vệ các giá trị nhân thân đó Mỗi chủ thể có những giá trị nhân thân khác nhau nhưng được bảo vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâm phạm

2. Phương pháp điều chỉnh của Luật Dân Sự:

Phương pháp điều chỉnh luật dân sự chủ yêu dựa vào các phương pháp đó là: bình đẳng, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể; phương pháp thỏa thuận để đưa

ra các giải quyết tốt nhất

Trang 5

Đặc điểm của phương pháp điều chỉnh:

+) Bình đẳng về địa vị pháp lý: Có nghĩa là không có bấp kỳ sự phân biệt nào về địa

vị xã hội, tình trạng tài sản, giời tính và dân tộc tất cả để được bình đẳng không

có sự ưu tiên nào

+) Độc lập về tổ chức và tài sản: Tổ chức không có sự phụ thuộc vào quan hệ cấp trên hay cấp dưới, các quan hệ hành chính khác Tài sản khi tham gia vào quan hệ pháp luật, cá nhân, tổ chức hoàn toàn độc lập với nhau, không có sự nhầm lẫn hayđánh đồng giữa cá nhân này với tổ chức khác, hay giữa các cá nhân với nhau.+) Chế tài trong luật dân sự: Do đối tượng áp dụng của luật dân sự rất rộng và đa dạng vậy nên chế tài trong luật dân sự mang tính đa dạng và theo pháp luật Việt Nam ban hành, hậu quả khác nhau để áp dụng cho từng hành vi, vi phạm tương ứng, tuy nhiên dựa vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà áp dụng chế tài

xử pháp khác nhau, chế tài có các mức phạt khác nhau như cải chính, bồi thường thiên tai hay vi phạm đều có các chế tài

+) Đặc trưng của phương pháp giải quyết các tranh chấp dân sự là hòa giải

+) Trách nhiệm dân sự không chỉ do pháp luật quy định mà còn do các bên thỏa thuận về điều kiện phát sinh và hậu quả của nó

3. Luật Dân Sự và hệ thống Luật Dân Sự:

Luật dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật dân sự do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản hoặc có liên quan đến tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, dựa trên nguyên tắc bình đẳng pháp lý, quyền tự định đoạt, quyền khởi kiện dân sự và trách nhiệm tài sản của những người tham gia quan hệ đó

1.

Nguồn của pháp luật dân sự: Nguồn của pháp luật Dân sự được hiểu theo

nhiều nghĩa khác nhau gồm:

Thứ nhất, theo nguồn gốc phát sinh quy phạm pháp luật thì nguồn của luật Dân

sự là những quan hệ xã hội cần thiết phải được pháp luật dân sự điều chỉnh

Thứ hai, dưới góc độ xã hội học thì nguồn của luật Dân sự là ý chí của giai cấp thống trị được đưa lên thành luật mà nội dung được quyết định bởi điều kiện kinh

tế, chính trị, văn hóa - xã hội và phong tục, tập quán

Trang 6

Thứ ba, theo hình thức biểu hiện ra bên ngoài thì nguồn của luật Dân sự là những văn bản quy phạm pháp luật dân sự.

Nguồn của luật dân sự hiểu theo nghĩa hẹp là những văn bản pháp luật (hình thứccủa pháp luật) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân Một văn bản được coi là nguồn của luật dân sự phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:

+) Văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;

+) Chứa đựng các quy phạm pháp luật dân sự;

+) Phải ban hành theo trình tự, thủ tục do luật định

+) Phần riêng: bao gầm những quy phạm pháp luật được sắp sếp thành các chế định pháp luật điều chỉnh từng mặt, từng lĩnh vực cụ thể của quan hệ pháp luật dân sự Từ chương X, đã đề cập đến những vấn đề sau đây( BLDS 2005):

Tài sản và quyền sở hữu; nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; thừa kế; chuyển quyền sử dụng đất; quyền sở hữu trí tuệ và quyền chuyển giao công nghệ

4. Quan hệ pháp luật dận sự

1. Khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự

Quan hệ pháp luật dân sự mang các đặc điểm của quan hệ pháp luật nói chung Vậy khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự được hiểu thế nào?

1.1 Khái niệm quan hệ pháp luật dân sự

Trang 7

Quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Trong hệ thống pháp luật, mỗi ngành luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội khác nhau.

Quan hệ pháp luật dân sự là một dạng quan hệ pháp luật, vì vậy, nó mang đầy đủ đặc tính của quan hệ pháp luật về bản chất xã hội, bản chất pháp lí, tính cưỡng chế nhà nước…

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội mang tính chất ý chí – ý chí của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật mà nội dung của chúng được xác định bằng cácđiều kiện kinh tế, chính trị, xã hội tồn tại trong xã hội đó vào thời điểm lịch sử nhất định

Ngoài ra, các quan hệ pháp luật còn mang ý chí của các chủ thể tham gia vào quan

hệ đó Ý chí của các chủ thể phải phù hợp với ý chí của Nhà nước và được thể hiệnkhác nhau trong từng quan hệ cụ thể, từng giai đoạn của nó (phát sinh, thực hiện hoặc chấm dứt) Có thể chỉ thể hiện khi phát sinh, lúc thực hiện hay chấm dứt mộtquan hệ cụ thể, song ý chí của các chủ thể tham gia vào các quan hệ này phải phù hợp với ý chí của Nhà nước thể hiện qua các quy phạm pháp luật dân sự và các nguyên tắc chung của luật dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự 2015

1.2 Đặc điểm các quan hệ pháp luật dân sự

Ngoài các đặc điểm chung của quan hệ pháp luật, quan hệ pháp luật dân sự còn mang những đặc điểm riêng Những đặc điểm riêng này xuất phát từ bản chất củacác quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh và những đặc điểm của phương pháp điều chỉnh

a. Chủ thể

Chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự đa dạng bao gồm cá nhân, pháp nhân,

hộ gia đình, tổ hợp tác Tuy nhiên khi tham gia vào quan hệ dân sự, các chủ thể độc lập với nhau về tổ chức và tài sản Xuất phát từ các quan hệ mà luật dân sự điều chỉnh là những quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân – những quan hệ phát sinh trong đời sống thường nhật của các cá nhân cũng như trong các tập thể, trong tiêu dùng cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh Cho nên, cá nhân và tổ chức đều là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự:

Trong quan hệ dân sự, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước với tư cách

là chủ thể đặc biệt tham gia vào các quan hệ dân sự, các chủ thể này độc lập với

Trang 8

nhau về tổ chức và tài sản, được quyền tự định đoạt khi tham gia vào các quan hệ nhưng buộc phải thực hiện các nghĩa vụ khi đã tham gia vào các quan hệ đó.

b. Địa vị pháp lí

Địa vị pháp lí của các chủ thể dựa trên cơ sở bình đẳng, không bị phụ thuộc vào các yếu tố xã hội khác Mặc dù trong quan hệ pháp luật dân sự cụ thể, các bên tham gia là các chủ thể đối lập nhau trong việc phân định quyền và nghĩa vụ: Một bên mang quyền, một bên gánh chịu nghĩa vụ và thông thường, trong quan hệ dân sự, các bên đều có quyền và nghĩa vụ đối nhau

Tuy nhiên, điều đó không làm mất đi sự bình đẳng mà nó chỉ hạn chế sự bình đẳng so với trước khi tham gia vào quan hệ dân sự Khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, các bên không được áp đặt ý chí của mình để buộc bên kia thực hiện nghĩa vụ mà tạo điều kiện cho họ lựa chọncách thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ sao cho có lợi nhất cho các bên

c. Lợi ích

Lợi ích (trước tiên là lợi ích kinh tế) là tiền đề trong phần lớn các quan hệ dân sự Quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa – tiền tệ và được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật đã tạo điều kiện cho các chủ thể thông qua các biện pháp pháp lí để thoả mãn các nhu cầu vật chất cũng như tinh thần

Sự đền bù tương đương là đặc trưng của quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa– tiền tệ do luật dân sự điều chỉnh Bởi vậy, bồi thường toàn bộ thiệt hại là đặc trưng của trách nhiệm dân sự Quan hệ dân sự chủ yếu là quan hệ tài sản, do vậy, yếu tố tài sản là cơ sở, là tiền đề phát sinh quan hệ dân sự, cho nên bảo đảm bằngtài sản là đặc trưng để buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của họ và bên có quyền có thể thông qua các biện pháp bảo đảm này để thoả mãn các quyền tài sản của mình

d. Các biện pháp cưỡng chế

Các biện pháp cưỡng chế đa dạng không chỉ do pháp luật quy định mà có thể tự các bên quy định về các biện pháp cưỡng chế cụ thể về hình thức áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó Nhưng đặc tính tài sản là đặc trưng cho các biện pháp cưỡng chế trong luật dân sự

2. Các thành phần quan hệ pháp luật dân sự

Trang 9

1. Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự

Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự là những người tham gia vào quan hệ pháp luậtdân sự, có quyền và nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật dân sự đó

Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự bao gồm: cá nhân (công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch), pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và nhà nước CHXHCN Việt Nam tham gia quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là chủ thể đặc biệt Sự đa dạng về chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự được giải thích Bởi lẽ, mọi chủ thể đều có nhu cầu tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự để nhằm thỏa mãn nhu cầu và lợi ích vật chất cũng như tinh thần của bản thân

Để trở thành chủ thể quan hệ pháp luật thì đòi hỏi chủ thể đó phải có năng lực chủ thể, tức là khả năng trở thành chủ thể quan hệ pháp luật Năng lực chủ thể bao gồm hai yếu tố: năng lực pháp luật và năng lực hành vi Từ đó có thể hiểu để tham gia vào một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể, đòi hỏi chủ thể phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Nếu năng lực pháp luật dân sự là khả năng của chủ thể có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự do pháp luật quy định thì năng lực hành vi dân sự của chủ thể là khả năng của chủ thể bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự

2. Khách thể quan hệ pháp luật dân sự

Khách thể là một trong các yếu tố để cấu thành quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm khách thể Có ý kiến cho rằng khách thể của quan hệ pháp luật dân sự là: “Cái” mà

vì nó mà quan hệ pháp luật dân sự được hình thành Theo quan điểm này thì chính nguyên nhân dẫn đến sự phát sinh quan hệ pháp luật dân sự được xác định

là khách thể của quan hệ

a. Tài sản là khách thể trong quan hệ pháp luật về quyền sở hữu:

Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyề tài sản

Tiền là loại tài sản đặc biệt có giá trị trao đổi với các loại hàng hoá khác Tiền do Nhà nước ban hành, giá trị của tiền được xác định bằng mệnh giá ghi trên đồng tiền đó Những đồng tiền có giá trị lưu hành mới được coi là tiền

Trang 10

Giấy tờ có giá là loại tài sản đặc biệt do Nhà nước hoặc các tổ chức phát hành theo trình tự nhất định Có nhiều loại giấy tờ có giá khác nhau với những quy chế pháp lí khác nhau như: Công trái, trái phiếu, kì phiếu, cổ phiếu, séc… Giấy tờ có giá

là hàng hoá trong một thị trường đặc biệt – thị trường chứng khoán

Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền có thể chuyển giao trong lưu thông dân sự, bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ, đó là: Quyền đòi nợ, yêu cầu bồi thườngthiệt hại, quyền đối với tác phẩm, quyền sở hữu công nghiệp…

b. Hành vi trong quan hệ nghĩa vụ và hợp đồng

Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật dân sự mà trong đó quyền và nghĩa vụ của các bên luôn đối lập nhau một cách tương ứng Trong quan hệ nghĩa vụ lợi ích của chủthể có quyền có được đáp ứng hay không phải thông qua hành vi thực hiện nghĩa

vụ của bên có nghĩa vụ Và muốn xem xét hành vi có thực hiện đúng hay không phải căn cứ vào kết quả của việc thực hiện hành vi đó và như vậy hành vi này được vật chất hóa Vì vậy, có quan điểm cho rằng kết quả của hành vi là khách thể của quan hệ pháp luật dân sự Điều này không thể giải thích được trong các quan

hệ dân sự mà hành vi không được vật chất hóa như tư vấn pháp luật với hành vi

tư vấn… Trong các trường hợp như vậy, căn cứ đánh giá chỉ có thể là hành vi của người phải thực hiện hành vi mà thôi

c. Các giá trị nhân thân trong các quan hệ nhân thân

Giá trị nhân thân là cơ sở làm phát sinh lợi ích nhân thân Đó là các lợi ích phi vật chất gắn liền, không thể tách rời với một chủ thể nhất định như: danh dự, nhân phẩm, hình ảnh,… “Cái” mà các chủ thể trong quan hệ nhân thân hướng đến, mong muốn đạt được là việc được công nhận, duy trì các giá trị nhân thân của mình và các giá trị nhân thân ấy được pháp luật bảo vệ khi bị xâm phạm

d. Kết quả của quá trình hoạt động tinh thần sáng tạo

Thỏa mãn các nhu cầu của con người không chỉ là của cải vật chất mà còn có các giá trị tinh thần, các sản phẩm trí tuệ để phục vụ nhu cầu tinh thần và quá trình sản xuất vật chất Trong lao động thì lao động sáng tạo là một loại lao động đặc biệt, là cơ sở để làm phát sinh quyền sở hữu trí tuệ cho một chủ thể nhất định Kết quả của quá trình lao động tinh thần sáng tạo được thể hiện trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, các đối tượng của quyền sở hữu công

Trang 11

nghiệp, giống cây trồng mới ý tưởng sáng tạo là “cái” mà các chủ thể hướng tới

để được công nhận và bảo vệ khi bị xâm phạm

+) Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học… Đây là những hình thức biểu hiệnkết quả của quá trình sáng tạo và chúng được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhaunhư viết, nói hay bằng các phương tiện kĩ thuật…

+) Các đối tượng của sở hữu công nghiệp là sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp… Những đối tượng này chỉ được bảo vệ khi được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền công nhận chúng là đối tượng của sở hữu công nghiệp

5. Tài sản và quyền sở hữu

+) Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà,công trình xây dựng gẳn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; Tài sản khác theo quy định của pháp luật

+) Động sản là những tài sản không phải bất động sản

Trang 12

Theo Điều 158 của Bộ luật dân sự 2015: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.

b Quyền chiếm hữu

Theo điều 179 Bộ luật dân sự 2015, chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.1b Chiếm hữu có căn cứ pháp luật bao gồm các trường hợp:

+) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

+) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

+) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợpvới quy định của pháp luật;

+) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

+) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

+) Trường hợp khác do pháp luật quy định (Điều 165 Bộ luật dân sự 2015)

2b Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật: là chiếm hữu của một người đối với một tài sản mà không dựa trên những căn cứ của pháp luật quy định

Dựa vào ý chỉ của chủ thể chiếm hữu tài sản mà luật dân sự phân thành: Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình

-Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình: là việc chiếm hữu của một ngườikhông có căn cứ pháp luật nhưng không biết và không thể biết việc chiếm hữu là không có căn cứ

Ngày đăng: 04/01/2022, 10:29

w