1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn lịch sử kinh tế việt nam thời kì đổi mới

17 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 93,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trải qua một thời gian kiên trì với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội CNXH, Đảng và Nhà nước ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm đối với sự phát triển của đất nước nói chung và sự phá

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Kinh tế là nền tảng cho sự ổn định chính trị và con đường phát triển của đất nước Một nền kinh tế vững chắc và phát triển lành mạnh sẽ là động lực thúc đẩy để đất nước đi lên Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề phát triển kinh tế đang được đặt ra đối với toàn Đảng toàn dân Sự phát triển của nền kinh tế có sự lãnh đạo của Đảng và quản

lý của Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng Trải qua một thời gian kiên trì với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), Đảng và Nhà nước ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm đối với sự phát triển của đất nước nói chung

và sự phát triển của kinh tế nói riêng Từ khi đất nước giành được độc lập dân tộc đến nay, nền kinh tế nước ta đã trải qua các thời kỳ khác nhau Trải qua những bước thăng trầm, cho đến nay, kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển

và hàng năm đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh và giàu đẹp Tuy nhiên, những thách thức đối với kinh

tế Việt Nam vẫn còn tồn tại, do đó việc đi sâu tìm hiểu kinh tế Việt Nam qua các giai đoạn là kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế Mặt khác Việt Nam cũng đang trong thời kỳ khẳng định vị thế kinh tế của mình thì những kinh nghiệm kinh tế của các giai đoạn trước lại có tầm quan trọng rất lớn

Với những lí do trên đây, đồng thời trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu của các nhà kinh tế học trong và ngoài nước Trong suốt quá trình học tập, với khát khao nghiên cứu và đặc biệt là được sự hướng dẫn tận tình của giáo

viên, em quyết định lựa chọn đề tài tiểu luận “Lịch sử kinh tế Việt Nam thời

kì đổi mới " Bản thân em, khi được giao viết đề tài này, cảm thấy rất hứng thú

và say mê Tuy nhiên do sự hiểu biết còn hạn chế, em chỉ đóng góp một phần nhỏ suy nghĩ của mình Bài viết còn có rất nhiều sai sót, em kính mong thầy, cô giáo giúp đỡ em hoàn thành bài viết tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn.

Trang 2

I Mục đích nghiên cứu :

Thông qua đề tài này tôi có một cái nhìn tổng quát, toàn diện hơn về nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đồng thời thấy được những thành tựu cũng như những hạn chế để từ đó nâng cao được trình độ lý luận kinh tế của mình, nắm bắt và học tập được những kinh nghiệm trong xây dựng và phát triển kinh tế, bồi dưỡng quan điểm lịch sử, quan điểm thưc tiễn nâng cao lập trường tư tưởng cho bản thân

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

3.1 Đối tượng :

Lịch sử kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu :

Kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :

Nghiên cứu phả phản ánh được thực tiễn sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Tìm ra được những đăc điểm và những quy luật của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này Qua đó rút ra bài học kinh nghiệm phục vụ cho xây dựng và phát triển kinh tế

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

Ở đây, tôi đã sử dụng những phương pháp đó là :

- Phương pháp đọc, nghiên cứu, thu thập, xử lý thông tin tài liệu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa vấn đề

V ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI :

Việc đi sâu nghiên cứu đề tài này sẽ làm giàu lên kiến thức, làm sâu thêm lý luận và sẽ sáng tỏ thêm thực tiễn phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay

Trang 3

PhÇn néi dung

CHƯƠNG I BỐI CẢNH LỊCH SỬ

I.1.ĐẠI HỘI LẦN THỨ VI – ĐẠI HỘI MỞ ĐẦU CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI :

Hoàn cảnh nước ta trong 10 năm sau khi giải phóng miền Nam (1975 – 1985):

- Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng thì hậu quả của cuộc chiến tranh để lại hết sức nặng nề, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn,

kẻ thù lại ra sức bao vây cấm vận kinh tế nước ta, thiên tai lũ lụt lại xảy ra nhiều, tình hình kinh tế xã hội ở thời kỳ hậu chiến rất phức tạp… Đứng trước tình hình đó nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta là phải nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời củng cố quốc phòng, bảo vệ thành quả của cách mạng

- Trải qua hai kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng là Đại hội lần thứ V (1982), cách mạng nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận, đó

là : hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, nhanh chóng khôi phục được nền kinh tế quốc dân, khắc phục được những hậu quả của thiên tai lũ lụt, tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đó là chiến tranh biên giới phía Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, làm được nghĩa vụ quốc tế giúp bạn Lào và Căm- pu-chia, ổn định đời sống nhân dân trong nước về nhiều mặt

- Bên cạnh những thành tựu nói trên, cách mạng nước ta cũng gặp rất nhiều khó khăn và yếu kém: Nền kinh tế nước ta không được phát triển,tình hình sản xuất ngày một thụt lùi, nhất là từ 1979- 1980, trong khi đó đời sống của nhân dân ta không những không được nâng cao mà ngày càng giảm sút, đất nước ta bước vào một thời kỳ khủng hoảng về kinh tế xã hội Nguyên nhân của tình hình đó là Đảng và Nhà nước ta mắc nhiều sai lầm khuyết điểm trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo kinh tế xã hội Cụ thể như sau :

Trang 4

• Chủ quan nóng vội trong con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

• Áp dụng mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội bao cấp

• Công nghiệp hóa theo lối giản đơn, tập trung vào công nghiệp nặng Đứng trước những hoàn cảnh và thách thức đó, đòi hỏi nước ta phải đổi mới để đạt được mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, ổn định và phát triển nền kinh tế xã hội, đưa nước ta đi lên từ khó khăn

Đại hội cũng đề ra phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu cho kế hoạch 5 năm 1986-1990, cụ thể, về kinh tế xã hội là như sau :

+ Thu nhập quốc dân tăng bình quân mỗi năm 6-7%

+ Phấn đấu đến năm 1990 sản xuất được 22-23 triệu tấn lương thực quy thóc + Sản xuất hàng tiêu dùng tăng bình quân mỗi năm từ 13-15%

+ Giá trị xuất khẩu trong 5 năm từ 1986-1990 tăng 70% so với 5 năm 1981-1985

+ Hạ tỉ lệ tăng dân số xuống chỉ còn tăng 1,7% vào năm 1990

Tuy vẫn tồn tại hạn chế về những giải pháp tháo gỡ tình trạng rối ren trong phân phối, lưu thông nhưng Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI đã tìm

ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội Đề ra những chủ trương chính sách gợi mở, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, giải phóng năng lực sản xuất của xã hội để mở đường cho phát triển sản xuất

I.2 ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ VII – ĐẠI HỘI TIẾP TỤC CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI :

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VII diễn ra trong bối cảnh đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI và đạt được những thắng lợi bước đầu, được nhân dân và quốc

tế ủng hộ.Tình hình quốc tế và trong nước lúc bấy giờ có nhiều biến chuyển, nhất là sự sụp đổ của khối ĐÔNG ÂU và cuộc khủng hoảng trầm trọng của

Trang 5

LIÊN XÔ Do đổi mới đang bước đầu thực hiện dù đã đạt nhiều thành tựu nhưng làn sóng đổi mới thái quá trên một số lĩnh vực gây ra nguy cơ chệch hướng đi lên xã hội chủ nghĩa và sự cầm quyền của Đảng Trước làn sóng bất

ổn kinh tế chính trị tại Đông Âu và Liên Xô, sự sụp đổ của HỆ THỐNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, một số thế lực trong nước được sự tiếp sức của nước ngoài đòi đa nguyên, đa Đảng và những bất ổn mới phát sinh trong quá trình đổi mới, Đại hội VII (6-1991) đã đề ra chiến lược “ ổn định và phát triển đến năm 2000

”, đồng thời đề ra phương hướng nhiệm vụ cho kế hoạch 1991-1995 :

• Đẩy lùi và kiểm soát lạm phát

• Ổn đinh phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội

• Bước đầu ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao đông

• Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế

Đây là đại hội đầu tiên sau khi đất nước đã tiến hành đổi mới Tuy vẫn tồn tại và xuất hiện một số khó khăn nhưng Kế hoạch 5 năm 1991-1995 do Đại hội đề ra đã đạt đươc những thành công trên các lĩnh vực của sự nghiệp đổi mới

Trang 6

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG

THỜI KỲ ĐỔI MỚI.

II.1 NHỮNG NỘI DUNG ĐỔI MỚI.

Trước đại hội VI, những quan điểm trái ngược nhau trong tư duy kinh tế của các nhà lãnh đạo nước ta đã giúp Đại hội chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội Từ đó đòi hỏi nước ta phải đổi mới để giải quyết những khủng hoảng đó

Quan điểm đổi mới của Đảng ta là đổi mới toàn diện nhưng trước hết là đổi mới kinh tế Trong đó quan trọng nhất là đổi mới tư duy kinh tế

Trong phần này, em xin đưa ra sơ lược những nội dung về đổi mới kinh

tế như sau :

+ Xóa bỏ kinh tế bao cấp, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần + Đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế : cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây là động lưc chue yếu thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế trong kế hoạch 5 năm 1986-1990

+ Đổi mới về nội dung và cách thức công nghiệp hóa, thực hiện 3 chủ trương kinh tế :

• Sản xuất lương thực, thực phẩm

• Sản xuất hàng tiêu dùng

• Sản xuất hàng xuất khẩu

Cụ thể :

II.1.1 Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần :

Nền kinh tế mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế nhiều thành phần là một trong những nội dung quan trọng nhất của đường lối đổi mới của Đảng Phát triển kinh tế nhiều thành phần là phát triển đa ngành nghề trên cơ sở xây dựng cơ cấu ngành hợp lý giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Về kinh tế nhà nước :

Trang 7

• Trước hết là mở rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp quốc doanh từ khâu xây dựng kế hoạch đến việc giao quyền chủ động về tài chính, giá cả, thị trường Chế độ thu quốc doanh bãi bỏ thay vào chế độ thuế thu nhập doanh nghiệp

• Sắp xếp lại doanh nghiệp theo hướng giải thể, cho thuê, bán, cổ phần hóa các doanh nghiệp kém làm việc kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài, không có khả năng trả nợ

• Chuyển sang hình thức sở hữu khác, cổ phần hóa bắt đầu từ năm 1992, đến 1996 mới chỉ có 10 doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần Chủ trương rất đúng song tốc độ còn chậm do tâm lý, cơ chế chính sách chưa phù hợp Từ năm

2003, chủ trương của Đảng là chuyển các doanh nghiệp nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con

Về kinh tế hợp tác xã :

• Mô hình kinh tế tập thể vận hành trong một thời kỳ dài đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế cần phải khắc phục Chế độ quản lý và phân phối bình quân trong các HTX đã làm giảm động lực

Phát triển kinh tế nhiều thành phần có tác động về nhiều mặt: giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; tạo ra cạnh tranh

- động lực của tăng trưởng; thực hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, huy động sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế - xã hội; là con đường xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

II.1.2 Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế :

Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp tồn tại khá lâu không tạo động lực cho sự phát triển kinh tế, trái lại nảy sinh nhiều tiêu cực Đại hội Đảng lần thứ VI đã nhận ra điều đó và kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh

xã hội chủ nghĩa đúng nguyên tắc tập trung, dân chủ mà khâu chủ yếu là thực

Trang 8

hiện chế độ tự chủ sản xuất, kinh doanh trong các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa, trước hết là các đơn vị kinh tế quốc doanh, đồng thời đổi mới một bước

cơ bản cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế, làm cho các đơn vị kinh tế cơ sở chuyển sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa

+ Đổi mới hệ thống chính sách tài chính, tiền tệ Về tài chính nhà nước:

Về thu ngân sách, trước đây ngân sách Nhà nước chủ yếu dựa vào thu Quốc doanh Từ cuối năm 1987 đến đầu năm 1980 nhà nước bắt đầu sửa đổi một số loại thuế: Thuế môn bài, thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế hàng hóa,… Để nguồn thu từ thuế dần dần thay cho nguồn thu quốc doanh về chi ngân sách giảm dần và chấm dứt chế dứt chế độ bao cấp qua giá hàng vật tư và giá bán lẻ hàng tiêu dùng Về xử lý thâm hụt ngân sách, nhà nước đã hạn chế phát hành tiền và từ năm 1992 đã chấm dứt phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách Thay vào đó là dựa chủ yếu vào nguồn vay ngân nước Cách xử lí đó đã góp phần quan trọng trong việc chặn đứng lạm phát, ổn định tình hình kinh tế xã hội Về hệ thống ngân hàng và chính sách tiền tệ Từ năm 1998 hệ thống ngân hàng được tổ chức lại thành hai cấp: Ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại

+ Trước hết là cải tiến công tác kế hoạch Kế hoạch trong thời kỳ bao cấp mang tính bắt buộc Nhà nước giao chỉ tiêu cho từng đơn vị kinh tế Nhà nước quản lý việc thực hiện các chỉ tiêu đó Hàng năm nhà nước xét duyệt việc hoàn thành kế hoạch Nếu vượt được thưởng, không hoàn thành bị phê bình gián tiếp Nhà nước xây dựng kế hoạch cho những mục tiêu lớn Điều tiết kinh tế bằng chính sách, không bằng kế hoạch, bằng các công cụ vĩ mô để dẫn nền kinh tế đi đúng mục tiêu đã định

+ Xóa bỏ bao cấp qua giá, tự do hóa giá cả, khôi phục quan hệ hàng hóa tiền tệ Trước đổi mới mọi giá trị hàng hóa đều do nhà nước quy định Hệ thống giá đó lạc hậu xa so với thị trường Đại hội VI đề ra là “Giá cả phải vận dụng tổng hợp các quy luật, trong đó quy luật giá trị có tác dụng trực tiếp Giá cả

Trang 9

phải phù hợp với giá trị đồng thời phải phù hợp với sức mua của đồng tiền…” Sau khi có chủ trương đổi mới, việc xây dựng kế hoạch có cải tiến căn bản chuyển từ kế hoạch tập trung mang tính pháp lệnh trực tiếp sang kế hoạch

II.1.3 Đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại :

Đại hội VI đã chỉ rõ : “ Cùng với việc mở rộng xuất nhập khẩu, tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn cần vận dụng nhiều hình thức đa dạng để phát triển kinh tế đối ngoại” Thực hiện chủ trương đó, Nhà nước đã ban hành chính sách

mở cửa để thu hút vốn và kĩ thuật nước ngoài : đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bước gắn nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, thị trường trong nước với thị trường quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng

và có cùng có lợi, bảo đảm độc lập, chủ quyền dân tộc, an ninh quốc gia

+ Về ngoại thương, cải cách ngoại thương được thực hiện theo hướng từng bước mở cửa và hội nhập quốc tế Nhà nước xóa bỏ bao cấp và bù lỗ trong kinh doanh xuất nhập khẩu đối với các doanh nghiệp nhà nước từ cuối năm

1987 Các doanh nghiệp này phải hạch toán kinh doanh sao cho hiệu quả Nhà nước bỏ nguyên tắc khích xuất khẩu Trong những năm 1986-1990 nhà nước nhiều lần giảm giá đồng độc quyền ngoại thương từ năm 1990 Điều chỉnh tỷ giá hối đoái để khuyến Việt Nam (VND) so với USD và giảm sự chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường

+ Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài.Năm 1987 nhà nước ban hành luật đầu tư nước ngoài sau đó luật này được sửa đổi và bổ sung nhiều lần

để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Nhà nước tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài như: Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, xây dựng các khu chế xuất, cơ sở hạ tầng thuận tiện Các hình thức và các lĩnh vực nước ngài từng bước được mở rộng…

Những chủ trương chính sách trên nhằm đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế và thu hút đầu tư của nước ngoài, kết hợp các nguôn lực bên trong và các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế

Trang 10

CHƯƠNG III KẾT QUẢ CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT

NƯỚC

Hơn 20 năm qua, kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện mô hình kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đạt được

những thành tựu đáng kể, làm thay đổi rõ tình hình đất nước.

- Về tốc độ tăng trưởng, trong những năm khởi đầu công cuộc đổi mới đất nước(1986-1991) tổng sản phẩm quốc nội tăng trưởng tương đối chậm Nhưng khi quá trình đổi mới diễn ra rộng khắp và đi vào thực chất thì tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt mức cao và ổn định kéo dài, mặc dù có lúc bị giảm sút do dự báo chủ quan và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

- Do tốc độ GDP cao nên GDP/người/năm cũng tăng lên rõ rệt, từ 289USD (năm 1995) lên 1024USD (năm 2008), cho thấy Việt Nam đang từng bước vượ qua rang giới của quốc gia đang phát triển có thu nhập thấp và đang vươn lên nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp ( theo quy ước chung của quốc tế và xếp loại các nước theo trình độ phát triển thì nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp là những nước có GDP/người từ 765 đến 3385USD)

- Cơ cấu thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu

• Trong GDP, xu hướng chung là tỷ trọng kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể giảm, trong khi tỷ trọng kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên Trước năm 1990, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gần như chưa có gì, nhưng đến nay đã chiếm trong GDP tương ứng là 8,9% và 15,9% Trong khi đó, tỷ trọng kinh tế Nhà nước đã giảm

từ 40,2% năm 1995 xuống còn 38,4% năm 2005; kinh tế tập thể giảm tương ứng từ 10,1% xuống còn 6,8%; kinh tế cá thể giảm từ 35,9% xuống còn dưới 30% Xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới, do những doanh nghiệp

Ngày đăng: 24/08/2021, 22:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS. TS – Nguyễn Duy Trí và PGS.TS – Phạm Thị Quý (biên soạn) – Giáo trình lịch sử kinh tế quốc dân. NXB Thống Kê Khác
2. Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) – Tiến trình lịch sử Việt Nam. NXB Giáo dục 2004 Khác
3. Tài liệu: Lịch sử 15 năm xây dựng và trưởng thành 26/3/1988 - 26/3/2003. NXB Văn hoá thông tin Khác
4.TS. Nguyễn Đăng Bằng (Chủ biên) – ThS. Trần Thị Hoàng Mai. Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam và nước ngoài Khác
5. www.youtemplates.com/show.asp 6. vi. wikipedia .org / Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w