1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN GIỮA KÌ MÔN TRIẾT

11 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 49,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích nội dung quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất và ngược lại? và vận dụng quy luật này vào phân tích tiến trình cách mạng ở Việt Nam? (Hoặc vận dụng quy luật phân tích một vấn đề trong thực tiễn đời sống và liên hệ với bản thân?) Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? và anh ( chị ) cho biết Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng quy luật này trong tiến trình lãnh đạo cách mạng ( xây dựng đất nước) Việt Nam như thế nào?

Trang 1

Câu 1:

Phân tích nội dung quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những

sự thay đổi về chất và ngược lại? và vận dụng quy luật này vào phân tích tiến trình cách mạng ở Việt Nam? (Hoặc vận dụng quy luật phân tích một vấn đề trong thực tiễn đời sống và liên hệ với bản thân?)

Trả lời:

A Nội dung quy luật từ những thay đổi dần về lượng dấn đến sự thay đổi

về chất và ngược lại.

I Nôị Dung Quy Luât

1.Phạm trù về Chất:

- Khái niệm: “Chất” là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan

vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng, làm cho sự vật, hiện tượng là nó mà không phải sự vật, hiện tượng khác

- Đặc điểm cơ bản của chất là nó thể hiện ính ổn định tương đối của sư vật, hiện tượng; nghĩa là khi nó chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác thì chất của nó vẫn chưa thay đổi

- Mỗi sự vật, hiện tượng không phải chỉ có một chất mà có nhiều chất

- Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính của nó Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự vật Sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản cũng chỉ mang tính tương đối

- Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của sự vật

-> Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật phụ thuộc vào sự thay đổi các yếu tố cấu thành sự vật lẫn sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố ấy

Vd: Tính lỏng của nước là tính quy định về chất của nước ( phân biệt

nước ở trạng thái hơi và rắn)

2 Phạm trù “ Lượng”

Trang 2

- Khái niệm:

+ “Lượng” là khái niệm dùng để chỉ định tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng

về mặt quy mô, trình độ phát triển, các yếu tố biểu hiện ở số lượng các thuộc tính, ở tổng số các bộ phận, ở đại lượng, ở tốc độ và nhịp điệu vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

+ Lượng còn biểu hiện ở kích thước dài hay ngắn, số lượng lớn hay nhỏ, tổng số ít hay nhiều, trình độ cao hay thấp, tốc độ vận động nhanh hay chậm, màu sắc đậm hay nhạt

- Đặc điểm cơ bản của lượng là tính khách quan vì nó là một dạng biểu hiện của vật chất, chiếm một vị trí nhất định trong không gian và tồn tại trong thời gian nhất định

- Trong sự vật, hiện tượng có nhiều loài lượng khác nhau, có lượng là yếu

tố quy định bên trong, có lượng chỉ thể hiện yếu tố bên ngoài của sự vật, hiện tượng

- Lượng của sự vật thường biểu hiện bằng con số và đại lượng đo lường

cụ thể: m, m2, m3, m/s,…

- Trong lĩnh vực xã hội và tư duy lượng được đo lường thông qua sự khái quát hóa, trừu tượng hóa

Vd: Nhiệt độ của nước có thể là 10 độ C, 30 độ C hay 1000 độ C

3.Phạm trù về độ

+ “Độ” là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất và quy định lẫn nhau giữa chất và lượng; là giới hạn tồn tại của sự vật, hiện tượng mà tỏng đó sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất; sự vật, hiện tượng vẫn là nó, chưa chuyển hóa sự vật, hiện tượng khác

- Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã làm thay đổi căn bản chất của sự vật

Vd: Dưới áp suất bình thường của không khí, sự tăng( giảm) nhiệt độ

trong khoảng từ0 độ C- 1000 độ C nước nguyên chất vẫn ở trạng thái lỏng

4.

Khái niệm về nút:

- Khái niệm: “Điểm nút” là điểm mà tại đó lượng biến đổi đã gây nên sự thay đổi căn bản, tập hợp những điểm nút gọi là đường nút

Trang 3

.- Qúa trình chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi

về chất

- Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất Giới hạn đó là điểm nút

Vd: Nhiệt độ của nước đó giảm xuống dưới 0 độ C nước thể lỏng chuyển

thành thể rắn và duy trì nhiệt độ đó từ 1000 độ C trở lên nước thể lỏng chuyển sang trạng thái hơi Như vậy điểm giới hạn 0 độ C, 1000 độ C là điểm nút

5.

Khái niệm về bước nhảy:

- Nhảy vọt là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hoá sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật vượt quá độ tới điểm nút gây ra

Vd:

+ Nước từ trạng tháu lỏng sang trang thái hơi, rắn

+ Khi 2 người mới gặp nhau thì họ chưa có tình cảm với nhau luôn mà chỉ có một chút cảm mến nhau (trừ tình yêu sát đánh) Sau khi quen biết nhau, họ đi chơi nơi nhau, nói chuyện, cùng nhau học, họ dần hiểu hơn

về nhau: tính cách, sự đáng yêu, của nhau Và để là người yêu của nhau thì họ sẽ qua một bước nữa đó là ngỏ lời yêu và nhận “ lời yêu” Đây được coi là bước nhảy trong mối quan hệ giữa hai người

*Các hình thức bước nhảy:

+ Bước nhảy đốt biến: là bước nhảy được thực hiện trong mét thời gian rất ngắn làm thay đổi về chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật + Bước nhảy dần dần: là bước nhảy được thực hiện từ từ , từng bước bằng cách tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất di

+ Bước nhảy toàn bộ: là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật

+ Bước nhảy cục bộ: là bươc nhảy lam thay đổi chất của những mặt , những yếu tố riêng lẻ của sự vật

II.Ý Nghĩa Phương Pháp Luận

+ Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹ dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất Do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải biết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật Trong hoạt động của mình, ông cha ta đã rút ra những tư tưởng sâu sắc như “tích tiểu thành đại”, “năng nhặt, chặt

Trang 4

bị”, “góp gió thành bão”,… Những việc làm vĩ đại của con người bao giờ cũng là sự tổng hợp của những việc làm bình thường của con người đó Phương pháp này giúp cho chúng ta tránh được tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, “đốt cháy giai đoạn” muốn thực hiện những bước nhảy liên tục

+ Quy luật của tự nhiên và quy luật của xã hội đều có tính khách quan Song quy luật của tự nhiên diễn ra một cách tự phát, còn quy luật của xã hội chỉ được thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người Do đó, khi đã tích luỹ đủ về số lượng phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy, phải kịp thời chuyển những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính chất tiến hóa sang những thay đổi mang tính chất cách mạng Chỉ có như vậy mới khắc phục được tư tưởng bảo thủ, trì trệ, “hữu khuynh” thường được biểu hiện ở chỗ coi sự phát triển chỉ là sự thay đổi đơn thuần về lượng

+ Trong hoạt động con người còn phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy Sự vận dụng này tùy thuộc vào việc phân tích đúng đắn những điều kiện khách quan và những nhân tố chủ quan, tùy theo từng trường hợp cụ thể, từng điều kiện cụ thể hay quan hệ cụ thể Mặt khác, đời sống xã hội của con người rất đa dạng, phong phú do rất nhiều yếu tố cấu thành, do đó để thực hiện được bước nhảy toàn bộ, trước hết, phải thực hiện những bước nhảy cục bộ làm thay đổi về chất của từng yếu tố

+ Sự thay đổi về chất của sự vật còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật Do đó, trong hoạt động phải biết cách tác động vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật trên cơ sở hiểu rõ bản chất, quy luật, kết cấu của sự vật đó Chẳng hạn, trên cơ sở hiểu biết đúng đắn về gen, con người có thể tác động vào phương thức liên kết giữa các nhân tố tạo thành gen làm cho gen biến đổi Trong một tập thể cơ chế quản lý, lãnh đạo và quan hệ giữa các thành viên trong tập thể ấy thay đổi có tính chất toàn bộ thì rất có thể

sẽ làm cho tập thể đó vững mạnh

B Vận dụng quy luật phân tích một vấn đề trong thực tiễn đời sống

và liên hệ với bản thân.

+ Trong thực tiễn đời sống hầu như ai trong chúng ta cũng đã phải trải qua quá trình 12 năm học từ học tiểu học đến trung học cơ sở đến hết trung học phổ thông Sau 12 năm học đó, mỗi người học sinh đều đã thu lại cho mình một lượng kiến thức nhất định từ hai lĩnh vực: khoan học tự nhiên và khoa học xã hội Bên cạnh đó, sau những giờ học văn hóa trên

Trang 5

lớp, mỗi học sinh chúng em cũng tự trang bị cho mình kỹ năng sống, những hiểu biết riêng của bản thân về xã hội Qua đó, thấy được học sinh, sinh viên phải rèn luyện để phát triển toàn diện về nhiều mặt, nhiều chất như: thể chất ( chiều cao, sức khỏe, cân nặng…); học tập ( kiến thức, kĩ năng, thái độ,…)

+ Trong quá trình đó, ta thấy rõ đượng rằng:

*Quá trình tích lũy về lượng: học sinh tích lũy tri thức hằng ngày, gộp thành một quá trình dài không phải ngày một ngày hai Là sự nỗ lực ý chí

từ bản thân mỗi học sinh và cả phía nhà trường và gia đình

*Quy luật lượng-chất thể hiện ở chỗ: Mỗi học sinh dần dần tích lũy cho mình tri thức trong một quá trình dài qua các bài học trên lớp kết hợp với việc tự học tại nhà Việc tích lũy tri thức được đánh giá qua các kì thi cuối

kì, cuối cấp, tốt nghiệp, kiểm tra

+ Quá trình học tập, tích lũy kiến thức là: Độ

+ Các kì kiểm tra, kì thi là: Nút

+ Việc vượt qua các kì thi là bước nhảy cho sự tiếp thu tri thức của học sinh bước sang giai đoạn mới, tức là có sự thay đổi về chất

+ Trải qua 12 năm học, học sinh có những bước nhảy qua nhiều điểm nút khác nhau nhưng điểm nút quan trọng nhất đời học sinh là kì thi THPTQG Việc vượt qua điểm nút này đánh dấu sự tích lũy đầy đủ về lượng và sự thay đổi về chất từ học sinh chuyển thành sinh viên Từ đó,

mở ra một quá trinhf phát triển về chất và lượng mới

Câu 2:

Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? và anh ( chị ) cho biết Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng quy luật này trong tiến trình lãnh đạo cách mạng ( xây dựng đất nước) Việt Nam như thế nào?

A.Phân tích nội dung quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

- Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người Phương thức sản xuất đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt

-Phương thức sản xuất bao gồm hai mối quan hệ cơ bản: con người quan hệ với giới tự nhiên, gọi là lực lượng sản xuất và con người quan hệ với nhau, gọi là quan hệ sản xuất

Trang 6

+ Lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên Con người với trình độ khoa học kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo của mình sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên nhằm cải biến những dạng vật chất của tự nhiên tạo ra những sản phẩm vật chất phục vụ cho nhu cầu con người Lực lượng sản xuất chính là sự thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động

Người lao động là con người biết sáng tạo, sử dụng công cụ lao động để sản xuất ra những vật phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người trong đời sống xã hội

Tư liệu sản xuất là cái mà con người sử dụng nó trong quá trình lao động sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Đây là yếu tố quan trọng không thể thiếu được của lực lượng sản xuất

- Tư liệu lao động là cái do con người sáng tạo ra như phươngtiện lao động (hệ thống giao thông vận tải, kho chứa, nhà xưởng, v.v.) và công cụ lao động Công cụ lao động được xem là yếu tố động và cách mạng, luônluôn được con người sáng tạo, cải tiến và phát triển trong quá trình sản xuất, nó là “thước đo” trình độ chinh chinh phục tự nhiên của loài người và là “tiêu chuẩn” để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau

- Đối tượng lao động bao gồm những cái có sẵn trong tự nhiên mà người lao động đã tác động vào nó và cả những cái đã trải qua lao động sản xuất, được kết tinh dưới dạng sản phẩm Sản xuất ngày càng phát triển, thì con người phải tìm kiếm, sáng tạo ra những đối tượng lao động mới, bởi những cái có sẵn trong tự nhiên ngày càng bị con người khai thác đến

lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này ở Việt Nam hiện nay

trình sản xuất

khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người

xuất (Quan hệ sở hữu), Quan hệ về tổ chức quản lý quá trình sản xuất, Quan hệ về phân phối sản phẩm (là sự thể hiện việc phân chia các lợi ích kinh tế từ sản xuất cho đến người tham gia sản xuất

quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho từng quan hệ sản xuất

Trang 7

trong từng xã hội Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ

về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng hư các quan hệ xã hội khác

xuất, đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sản xuất Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất do quan hệ sở hữu quyết định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu Tuy nhiên có trường hợp, quan hệ tổ chức và quản lý không thích ứng với quan hệ sở hữu, làm biến dạng quan hệ sở hữu

về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất chi phối, song nó kích thích trực tiếp đến lợi ích của con người, nên nó tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, và do đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển.Ba mặt trên của quan hệ sản xuất tác động lẫn nhau trong đó qua hệ sở hữu quyết định các mặt còn lại Đồng thời quan

hệ tổ chức quản lý và quan hệ phânphối tác động trở lại quan hệ sở hữu theo hai hướng tích cực và tiêu cực

- Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội

Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động

Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kĩ năng lao động của con người , trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất

Gắn liền với trình độ lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu

có tính chất cá nhân Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa

Trang 8

- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội

- Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động

- Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình

độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kĩ năng lao động của con người , trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất

- Gắn liền với trình độ lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất

xã hội hóa

- Sự vận động, phát triển quá trình sản xuẩt quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất mới

ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động và tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở nên không phù hợp Khi đó quan

hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kiềm hãm lực lượng sản xuất phát triển

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích sản xuất, tác

Trang 9

động đến thái độ con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phản công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ,

… và do đó tác đọng đến sự phát triển của lực lượng sản xuất.Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình ðộ phát triển của lực lýợng sản xuất là quy luật phổ biến tác Động trong toàn bộ quá trình lịch

sử nhân loại Sự thay thế phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công

xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ

tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của

hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất

4.Ý nghĩa phương pháp luận

+Trong thực tế muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu phát triển từ lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động

+Muốn xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phải căn cứ từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính tất yếu của nèn kinh tế, yêu cầu khách quan của quy luật kinh tế, chống tùy tiện, chủ quan duy ý chí

+Trong quá trình cách mạng Việt Nam, đặtc biệt trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạp quy luật này, đem lại hiệu quả to lớn trong thực tiễn

B.Anh ( chị ) cho biết Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng quy luật này trong tiến trình lãnh đạo cách mạng ( xây dựng đất nước) Việt Nam như thế nào?

Thời kì trước đổi mới ( trước năm 1986):

Lúc này, nước ta có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp và sự thẻ hiện quy luật quan hệ xã hội phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có biểu hiện sau:

+ Nước ta đã thiết lập một chế độ công hữu về tư liệu sản xuất một cách ồ ạt Trong khi đó, đang tạo địa bàn cho sự phát triển lực lượng sản xuất cho thấy đã vi phạm tính lịch sử cụ thể

Trang 10

+ Đồng thời, trong quá trình cải tạo nền sản xuất chỉ tập trung cải tạo quan hệ sản xuất, chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Cho thấy đã đi ngược lại với quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với phát triển của lực lượng sản xuất

+ Thực tế vận dụng quy luật này cho thấy chúng ta đã quá coi trọng vai trò của quan hệ sản xuất và cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất

đi trước để mở đường cho lực lượng sản xuất phất triển Việc áp dụng quan điểm ấy là hoàn toàn sai; minh chứng cho điều đó là lực lượng sản xuất trong thời gian đó thấp kém mà quan hệ sản xuất được duy trì ở trình độ cao Từ đó, gây nên mâu thuẫn giưuax yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với hình thức kinh tế- xã hội được

áp đặt một cách chủ quan ở nước ta Mâu thuẫn này đã gây ra hậu quả nặng nề với nền kinh tế nước ta: kinh tế chậm phát triển, sản xuất trì trệ, thiếu lương thực, nhập khẩu chiếm tới 4-5 phần xuất khẩu,nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế … Từ đó cho thấy làm trái với qui luật gây nên hậu quả nặng nề cho nền kinh tế đất nước, làm cho đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng Như vậy, quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ lượng lượng sản xuất

sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

Vận dụng quy luật vào thời kì đất nước hiện nay:

Mặc dù chất lượng nguồn lao động ngày càng được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển của đất nước.So với yêu cầu hiện nay lực lượng lao động có trình độ vẫn còn mỏng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật lành nghề còn thiếu nhiều, 75% lao động nước ta vẫn là lao động chưa qua đào tạo

Các loại máy móc, trang thiết bị được sử dụng rộng rãi trong các ngành kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Tuy nhiên nhìn chung công cụ lao động của nước ta vẫn còn lạc hậu so với thế giới Máy móc phục vụ cho sản xuất vẫn còn chậm cải tiến, chủng loại máy móc nhìn chung khá nghèo nàn

Như vậy, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển song ở các trình

độ không đều khiến cho nền kinh tế ước ta mặc dù đã phát triển theo hướng tích cực hơn trước nhưng vẫn chưa ổn định và còn nhiều hạn chế

Thực trạng các quan hệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay: Trước hết cần khẳng định: quan hệ sản xuất chúng ta thiết lập và xây dựng là quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường và theo định hướng xã

Ngày đăng: 01/01/2022, 08:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w