Tiểu luận giữa kì môn luật sở hữu trí tuệ bảo hộ CDĐL ở việt nam
Trang 1MỞ ĐẦU
Ngày 07/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổchức Thương mại thế giới (WTO) Sự kiện này được đánh giá là sẽ mở ra rất nhiều cơhội cho Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế song sự kiện này cũngđặt ra không ít khó khăn, thách thức và nông nghiệp được xem là lãnh vực sẽ phảichịu nhiều áp lực nhất Bước vào “sân chơi lớn” này, Việt Nam phải cam kết thựchiện những chính sách phải cắt giảm thuế quan và tạo điều kiện thuận lợi cho hànghoá của nước ngoài xâm nhập vào thị trường nội địa Hàng hoá từ các nước khác sẽtràn ngập thị trường Việt Nam trong đó không thể không kể đến các mặt hàng nôngsản của các nước như Trung Quốc, Thái Lan… Như vậy, vấn đề cạnh tranh hàng hóagiữa Việt Nam với nước ngoài, đặc biệt là hàng nông sản là một câu hỏi đặt ra khôngchỉ cho các nhà quản lí mà còn cho cả các doanh nghiệp Xây dựng và phát triểnthương hiệu nhằm nâng cao sức cạnh tranh được xem là một hướng đi đúng, trong đóxác lập quyền đối với CDĐL cho hàng nông sản chính là cách làm hiệu quả nhất.CDĐL chính là sự khẳng định về uy tín cũng như chất lượng đối với các sản phẩm.Việc phải xác lập bảo hộ CDĐL cho hàng hóa, phải làm cách nào để những CDĐL đóđược thừa nhận một cách chính thức đồng thời phải làm sao để có thể duy trì được uytín cũng như chất lượng của các sản phẩm sau khi được bảo hộ mà vẫn hài hoà hoá lợiích giữa các chủ thể cùng tham gia sản xuất, kinh doanh các sản phẩm mang CDĐL.Đây thực sự vẫn còn là một bài toán khó Hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng củaCDĐL cũng như nhận thức được những bất cập trong công tác xây dựng và quản lí
CDĐL của Việt Nam trong thời gian qua, nhóm em đã chọn cho mình đề tài “Bảo hộ CDĐL ở Việt Nam”.
Trang 2là một trong số những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp.
1.1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lí theo pháp luật quốc tế
Xét dưới góc độ pháp luật quốc tế, cho đến nay CDĐL đã được đề cập trong bađiều ước quốc tế là: Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp (viết tắt làCông ước Paris 1883), Thoả ước Madrid 1891 về chống chỉ dẫn sai lệch hoặc lừa dối
về nguồn gốc hàng hoá (viết tắt là Thoả ước Madrid 1891) và Thoả ước Lisbon 1958
về bảo hộ và đăng kí quốc tế tên gọi xuất xứ hàng hoá (viết tắt là Thoả ước Lisbon1958)
Công ước Paris 1883 cũng như Thoả ước Madrid 1891 đều không nhắc tớithuật ngữ CDĐL mà chỉ nhắc tới hai thuật ngữ chỉ dẫn nguồn gốc (Indication ofSource) và tên gọi xuất xứ (Apellations of Origin) Tuy nhiên, cả Công ước và Thoảước kể trên không đưa ra được khái niệm về hai thuật ngữ này mà chỉ nhắc tới chúngvới tư cách là đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ Đến năm 1958, Thoả ướcLisbon về bảo hộ và đăng kí quốc tế tên gọi xuất xứ của hàng hoá ra đời đã lần đầutiên đưa ra khái niệm về tên gọi xuất xứ hàng hoá Trong Thoả ước này, tên gọi xuất
xứ được hiểu là tên địa lí của một nước, một vùng hay một địa điểm cụ thể xác địnhmột sản phẩm có nguồn gốc chính tại nơi có điều kiện địa lí độc đáo và cần thiết đểtạo chất lượng đặc trưng của sản phẩm, bao gồm các yếu tố tự nhiên và con người.Nhìn chung, những hiệp định này không thể trở thành công cụ hữu hiệu để bảo hộCDĐL bởi chúng chỉ bao gồm những điều khoản chung chung và có số lượng thànhviên tham gia quá ít
Năm 1994, Hiệp định các vấn đề liên quan đến SHTT - TRIPS đã ra đời nhằmthiết lập thiết lập các tiêu chuẩn quy định về bảo hộ và thực thi sở hữu trí tuệ quốc tế,xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu đối với CDĐL Hiệp định này đã đưa ra khái
Trang 3niệm về CDĐL như sau: “CDĐL được hiểu là một chỉ dẫn nhằm xác định một sảnphẩm cón xuất xứ từ lãnh thổ của một quốc gia thành viên hoặc từ một vùng, một khuvực địa lí của nước đó, mà chất lượng, danh tiếng hay các đặc tính khác của sản phẩmchủ yếu do nguồn gốc địa lí này mang lại”.
1.1.2 Khái niệm chỉ dẫn địa lí theo pháp luật của Việt Nam
Năm 1995, Việt Nam đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm về tên gọi xuất xứ trong
Bộ Luật Dân sự 1995 như sau:
“Tên gọi xuất xứ hàng hóa là tên địa lí của nước, địa phương dùng để chỉ xuất
xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lí độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con.người.hoặc.kết.hợp.cả.hai.yếuttố.đó”.
1Khái niệm này tương đối.phù.hợp.với.Công.ước.Paris.1883 Trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO, Việt Nam cần phải bổ sung những quy định vềCDĐL Chính vì vậy, năm 2000 chúng ta đã đưa ra những quy định đầu tiên về CDĐLthông qua Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, CDĐL, tên thương mại và bảo
hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp Theo Nghị định này, CDĐL được hiểu là:
“ thông tin về nguồn gốc địa lí của hàng hoá đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh,dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc mộtquốc gia;
b) Thể hiện trên hàng hoá, bao bì hàng hoá hay giấy tờ giao dịch;
c) Liên quan tới việc mua bán hàng hoá nhằm chỉ dẫn ra rằng hàng hoá nóitrên có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặctrưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loạihàng hoá này có được chủ yếu do nguồn gốc địa lí tạo nên“
Quy định về CDĐL trong Nghị định 54 đã tương đối phù hợp với những quyđịnh trong Hiệp định TRIPS và chính thức được đưa vào Luật SHTT 2005 Trong luật
1
Trang 4này, “CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương,vùng lãnh thổ, hay quốc gia cụ thể”.
Những điều kiện để một CDĐL được bảo hộ không được đưa ra ngay trongđịnh nghĩa mà được quy định riêng tại điều 79 Điều khoản này quy định như sau:
“CDĐL được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Sản phẩm mang CDĐL có nguồn gốc địa lí từ khu vực, địa phương vùnglãnh thổ hoặc nước tương ứng với CDĐL;
b) Sản phẩm mang CDĐL có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu dođiều kiện địa lí của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tươngứng với CDĐL đó quyết định.”
Như vậy, có thể thấy rằng sản phẩm mang CDĐL là những sản phẩm có danhtiếng, có chất lượng đặc thù và những đặc tính đó chủ yếu do điều kiện địa lí của địaphương, khu vực hoặc nước tương ứng với CDĐL đó quyết định Danh tiếng, uy tíncủa sản phẩm liên quan chặt chẽ tới lịch sử của sản phẩm và được xác định thôngqua mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó bằng cách đánh giámức độ rộng rãi mà người tiêu dùng biết đến và lựa chọn sản phẩm đó Chất lượng,đặc tính của sản phẩm mang CDĐL được xác định bằng một số chỉ tiêu định tính,định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hoá học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khảnăng kiểm tra được bằng phương pháp kĩ thuật hoặc do chuyên gia thẩm định bằngcác phương pháp kiểm tra phù hợp
Các điều kiện địa lí liên quan đến CDĐL bao gồm cả yếu tố tự nhiên và yếu tố
về con người Các yếu tố này phải mang tính quyết định đối với danh tiếng, chấtlượng cũng như đặc tính của sản phẩm Yếu tố tự nhiên ở đây bao gồm các yếu tố vềkhí hậu, thuỷ văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác Yếu
tố con người bao gồm kĩ năng, kĩ xảo của người sản xuất kết hợp với quy trình sảnxuất truyền thống của địa phương Chính yếu tố con người góp phần không nhỏ trongviệc tạo nên nét đặc trưng của sản phẩm CDĐL
1.2 Phân biệt chỉ dẫn địa lí với một số đối tượng khác
1.2.1 Phân biệt chỉ dẫn địa lí với chỉ dẫn nguồn gốc
Chỉ dẫn nguồn gốc là bất kì dấu hiệu hay cách thức thể hiện nào dùng để chỉdẫn ra rằng một hàng hoá có nguồn gốc từ một quốc gia, một khu vực hay một nơi cụ
Trang 5thể Tuy nhiên, hàng hóa đó không nhất thiết phải có những đặc tính chất lượng đặcthù do yếu tố địa lí tạo nên Những chỉ dẫn này chỉ có giá trị về mặt quản lí chứ khôngmang lại một sự bảo đảm về mặt chất lượng của sản phẩm
Theo cách hiểu của Hiệp định TRIPS, CDĐL không chỉ chỉ ra nơi xuất xứ củahàng hoá mà nó còn thể hiện chất lượng, uy tín hoặc đặc tính riêng biệt của hàng hoá
có được do môi trường địa lí, bao gồm yếu tố tự nhiên cũng như yếu tố con ngườimang lại
1.2.2 Phân biệt chỉ dẫn địa lí với tên gọi xuất xứ
Tên gọi xuất xứ đã được định nghĩa trong Thoả ước Lisbon 1958 và địnhnghĩa này khá tương đồng với CDĐL của Hiệp định TRIPS Theo Thoả ước Lisbon
1958, tên gọi xuất xứ chỉ những sản phẩm có mối liên hệ chặt chẽ, khách quan với địaphương mà nó mang tên Điều này có nghĩa là cả nguyên liệu sản xuất và sản phẩmđều phải được làm ra từ một vùng lãnh thổ nhất định mà sản phẩm mang tên và chấtlượng hoặc đặc tính của sản phẩm có được là nhờ vào các yếu tố địa lí của vùng lãnhthổ đó Không giống như tên gọi xuất xứ, mối liên hệ giữa sản phẩm mang CDĐL vàđịa phương sản xuất được giảm nhẹ hơn Tất cả các khâu của quy trình sản xuất ra sảnphẩm không nhất thiết phải diễn ra tại khu vực địa lí mà sản phẩm mang tên, chẳnghạn như nguyên liệu sản xuất có thể nhập từ một nơi khác, nhưng sản phẩm vẫn duytrì được chất lượng đặc trưng vẫn đảm bảo được uy tín, danh tiếng của sản phẩm Nhưvậy, có thể thấy tên gọi xuất xứ hàng hoá chính là một dạng đặc biệt của CDĐL
Theo Điều 786 Bộ Luật Dân sự nước CHXHCN Việt Nam thì “Tên gọi xuất xứhàng hóa là tên địa lí của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước,địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thùdựa trên các điều kiện địa lí độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người,hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó.”
Theo Điều 7, Nghị định 63/CP của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu côngnghệ (SHCN): “Một tên gọi xuất xứ hàng hóa được bảo hộ phải là tên địa lí của mộtnước hoặc một địa phương là nơi mà hàng hóa tương ứng được sản xuất và hàng hóa
đó phải có tính chất, chất lượng đặc thù do yếu tố địa lí (tự nhiên, con người) củanước, địa phương đó quyết định”
Trang 6Quyền SHCN đối với tên gọi xuất xứ hàng hóa chỉ phát sinh trên cơ sở vănbằng bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọixuất xứ hàng hóa có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp, trừ trường hợp xuất hiện cácyếu tố làm mất tính đặc thù như quy định.
Quyền nộp đơn yêu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứhàng hóa gồm mọi tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm có tínhchất, chất lượng đặc thù tại địa phương có tên địa lí tương ứng với tên gọi xuất xứhàng hóa Quyền nộp đơn này không được chuyển giao
Các yếu tố thể hiện tính chất đặc thù của sản phẩm, hàng hóa mang tên gọi xuất
xứ hàng hóa rất đa dạng, có thể là đặc trưng về chất lượng (tính chất lí, hóa, sinh, cảmquan), về những thuộc tính khác của sản phẩm, đặc trưng về điều kiện tự nhiên (khíhậu, địa hình, thổ nhưỡng, thủy văn) về con người (bí quyết, công nghệ sản xuất, chếbiến truyền thông, kỹ năng, kỹ xảo) và gắn với một khu vực địa lí có ranh giới xácđịnh (bằng bản đồ) với địa danh cụ thể Các yếu tố đặc trưng phải có khả năng kiểmtra được vì đó là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong khâu kiểm soát việc sửdụng, vì vậy phải tìm ra phương pháp để thẩm định các yếu đó
Ví dụ: Nước mắm Phú Quốc, rượu vang Đà Lạt, cà phê Buôn Ma Thuột là têngọi xuất xứ hàng hóa đã được bảo hộ của Việt Nam
1.2.3 Phân biệt chỉ dẫn địa lí và nhãn hiệu hàng hoá
CDĐL chính là những cụm từ hay những biểu tượng giúp người ta nhận ra sảnphẩm có nguồn gốc từ một quốc gia, một vùng hay một địa phương nào đó nơi màdanh tiếng, chất lượng cũng như các đặc tính khác của sản phẩm do chính nguồn gốcđịa lí đó mang lại
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cánhân khác nhau Như vậy, nhãn hiệu có thể là chữ cái hoặc chữ số, hình ảnh hoặchình vẽ, hình khối hoặc sự kết hợp các yếu tố này Các dấu hiệu được bảo hộ dướihình thức nhãn hiệu chủ yếu nhằm phân biệt một sản phẩm hay một dịch vụ với mộtsản phẩm hay dịch vụ khác trên thị trường Nó không hề có sự bảo đảm về mặt chấtlượng hay các đặc tính cơ bản của sản phẩm gắn liền với nơi xuất xứ Chỉ có một công
ty hay một cá nhân có quyền sở hữu nhãn hiệu này Điều này lại hoàn toàn trái ngược
Trang 7so với CDĐL bởi tất cả các nhà sản xuất ở trong khu vực hay địa phương có CDĐLđều có quyền sử dụng nó nếu như họ có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn đã đề ra.
Ngoài ra, khái niệm nhãn hiệu hàng hoá thường liên quan đến việc sản xuấtriêng rẽ trong khi đó CDĐL lại liên quan đến việc sản xuất tập thể Việc bảo hộ mộtnhãn hiệu là tương đối đơn giản hơn so với việc bảo hộ một CDĐL Đối với CDĐL,vai trò của Nhà nước quan trọng hơn so với nhãn hiệu vì CDĐL chính là tài sản củaquốc gia và CDĐL mang lại nhiều lợi ích cho những nhà sản xuất sử dụng CDĐL đó
Một điểm khác biệt nữa là nhãn hiệu có thể tự do được hình thành trong khiCDĐL chỉ liên quan đến tên gọi địa lí hoặc truyền thống địa phương và cách gọi tênnày phải được dựa trên địa danh nơi sản phẩm ra đời Ví dụ, một doanh nghiệp tạiThái Nguyên không thể sử dụng tên gọi xuất xứ Shan tuyết Mộc Châu cho sản phẩmchè của mình vì sản phẩm chè sản xuất tại Thái Nguyên có các đặc tính về chất lượngkhông giống như chè sản xuất tại Mộc Châu Chính vì vậy mà CDĐL không thểchuyển nhượng được trong khi đó hàng ngày chúng ta vẫn đang sử dụng các sản phảmmang nhãn hiệu được li – xăng (license) Như vậy, những nhãn hiệu mang CDĐLkhông thể được bảo hộ nếu như việc sử dụng nhãn hiệu đó có thể gây ra sự hiểu nhầm
về nguồn gốc hàng hoá Thông thường, luật các nước đều loại bỏ những cụm từ về địa
lí ra khỏi các nhãn hiệu được đăng kí
Nhãn hiệu tạo thành một quyền SHTT cá nhân Quyền đối với nhãn hiệu nàyđược chuyển nhượng, chia tách và được hưởng sự bảo hộ trên lãnh thổ quốc gia hayquốc tế tuỳ theo hình thức đăng kí bảo hộ Bảo hộ nhãn hiệu là bảo hộ có hạn định,nghĩa là nhãn hiệu được bảo hộ từ khi đăng kí bảo hộ nhưng người sở hữu nó phảiđịnh kỳ đăng kí lại (thường là sau 10 năm) Trong khi đó, CDĐL có thể là quyền sởhữu tập thể trên cơ sở phải tuân thủ các quy trình kĩ thuật bắt buộc được xác định đốivới mỗi tên gọi được bảo hộ Quyền này là vô thời hạn, không thể chuyển nhượnghoặc chia tách nên có khả năng ngăn ngừa mọi sự chiếm đoạt quyền sở hữu Quyềnđối với CDĐL được Nhà nước bảo hộ một cách chính thức
Ngoài cách phân biệt như vậy, nhãn hiệu và CDĐL có thể kết hợp và thựchiện những chức năng tương hỗ hay bổ trợ cho nhau nhưng hoàn toàn không phải làđồng nhất Nếu như những điều kiện chung về đăng kí được tuân thủ và nếu việc đăng
kí này không vi phạm đến một CDĐL đã được bảo hộ thì một nhãn hiệu có thể mang
Trang 8những đặc điểm về địa lí và tính sở hữu tập thể giống CDĐL Mặc dù vậy, trường hợpđặc biệt này không thể hiện hoàn toàn mục tiêu của các nhãn hiệu so với các mục tiêuđặt ra trong khuôn khổ của các CDĐL được bảo hộ Về mặt nguyên tắc, một quy định
về quyền sử dụng một nhãn hiệu tập thể mang các đặc điểm đa dạng của sản phẩm tuỳtheo sự lựa chọn của chủ sở hữư nhãn hiệu, trong đó có thể có yếu tố địa lí Trái lại,các quy trình kĩ thuật bắt buộc của một CDĐL thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng cácđặc tính cơ bản của sản phẩm gắn liền với xuất xứ địa lí của nó
Mặt khác, mục tiêu “bảo đảm về xuất xứ” là mối quan tâm đặc biệt của hệthống các CDĐL được bảo hộ, trong đó việc theo dõi kiểm soát chất lượng đồng nhấtcủa sản phẩm được các cơ quan chức năng Nhà nước tiến hành Trong hệ thống nhãnhiệu tập thể, trách nhiệm kể trên chỉ giới hạn ở chủ sở hữu nhãn hiệu và trách nhiệmnày cũng hoàn toàn khác với trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc việc đảmbảo chính sách chung về chất lượng và xuất xứ sản phẩm
2 Vai trò, ý nghĩa của chỉ dẫn địa lí
2.1 Ý nghĩa về mặt kinh tế
2.1.1 Chỉ dẫn địa lí là công cụ bảo hộ dành cho người tiêu dùng và nhà sản xuất
Những sản phẩm mang CDĐL phải là những sản phẩm có chất lượng đặctrưng, có danh tiếng và uy tín Nhờ vậy, những sản phẩm này dễ dàng được người tiêudùng chấp nhận và ưa chuộng Đó chính là lí do vì sao những sản phẩm mang CDĐLhay bị giả mạo và bắt chước Tình trạng các hành vi giả mạo CDĐL là tương đối phổbiến và đã gây ra thiệt hại lớn cho các nhà sản xuất và nó có thể khiến cho người tiêudùng không còn tin týởng vào chất lýợng của sản phẩm do họ cung cấp Ví dụ nhýtrýờng hợp nýớc mắm Phú Quốc không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà ðýợc biết ðến ởnhiều nýớc trên thế giới, song danh tiếng này ðang khiến nýớc mắm Phú Quốc phảiðối mặt với với tình trạng bị làm giả, làm nhái ở mức báo động, dù sản phẩm đã đượccấp đăng bạ CDĐL và tên gọi xuất xứ từ năm 2001 Điển hình là nước mắm Phú Quốctranh chấp thương hiệu với Viethuong Trading Company Limited có trụ sở đặt tạiHồng Kông
Một khi CDĐL được bảo hộ một cách hiệu quả, hành vi giả mạo trên sẽ giảm
đi một cách đáng kể Nếu được giao quyền sử dụng CDĐL, những người sản xuất cóquyền ngăn cấm việc sử dụng CDĐL một cách trái phép bằngcách khởi kiện lên toà
Trang 9án Khi đó, bằng các công cụ pháp lí của mình, Nhà nước sẽ xử phạt những người cóhành vi vi phạm, đảm bảo lợi ích chính đáng cho các nhà sản xuất.
Không chỉ mang lại lợi ích cho các nhà sản xuất, việc bảo hộ CDĐL cũngmang lại lợi ích cho cả người tiêu dùng CDĐL giúp cho họ có thể nhận biết và muađược những sản phảm có nguồn gốc đáng tin cậy Những yêu cầu đối với việc bảo hộbuộc các nhà sản xuất phải cung cấp những thông tin đầy đủ về nguồn gốc xuất xứcũng như chất lượng của sản phẩm Nhờ đó, người tiêu dùng có thể hạn chế được việctiêu dùng các loại hàng giả, hàng nhái mà không phải lo lắng nhiều về vấn đề vệ sinh
an toàn thực phẩm khi sử dụng các sản phẩm có rõ nguồn gốc xuất xứ
2.1.2 Chỉ dẫn địa lí làm gia tăng giá trị cho các sản phẩm
Tại hội thảo về CDĐL được tổ chức ngày 22-4-2013, ông Laurent Lourdais,Chuyên gia tư vấn Tổng cục Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ủy ban châu Âucho rằng, CDĐL góp phần bảo vệ tên cho các sản phẩm có giá trị, duy trì và nâng caocác tiêu chuẩn thông qua một nguyên tắc tập trung, có giá cao hoặc duy trì được giá,góp phần cạnh tranh bình đẳng Đối với người tiêu dùng, CDĐL sẽ đảm bảo chấtlượng, nguồn gốc và tính riêng biệt của sản phẩm “Nhìn chung, các sản phẩm CDĐLđược bảo hộ có giá bán cao hơn so với các sản phẩm cùng loại không có CDĐL Ví dụnhư nước mắm Phú Quốc đã được đăng kí CDĐL tại EU nên sản phẩm này có giá báncao hơn so với khi chưa đăng kí bảo hộ”, ông Laurent Lourdais nói
Hoặc sản phẩm mật ong Mèo Vạc – Hà Giang sau khi đăng kí CDĐL đã tănggiá từ 300.000đ/l lên 600.000/đ/l; quýt Bắc Cạn khi có CDĐL và nhãn hiệu tập thểtháng 12/2012 giá lập tức tăng lên gấp đôi; hay như vải thiều Lục Ngạn - Bắc Giang
từ khi có CDĐL tháng 6/2008 giá bán được tăng lên đáng kể, từ khi đổ đống năm
2005 nay đã tiêu thụ mạnh
Bảo hộ CDĐL có thể giúp các nhà sản xuất gia tăng giá trị cho sản phẩm củamình bởi một khi người tiêu dùng biết chắc chắn hàng hóa mình định mua đặc sảnthực sự được đảm bảo về nguồn gốc và chất lượng thì họ sẽ sẵn sàng trả giá cao Nhưvậy, có thể thấy nhờ được bảo hộ, những người sản xuất có thể bán những sản phẩmmang CDĐL của mình với giá cao hơn rất nhiều Đây là một trong những động lựcthúc đẩy việc đăng kí CDĐL cho các sản phẩm tại các địa phương trong cả nước
2.1.2 Chỉ dẫn địa lí là công cụ hữu ích để thâm nhập thị trường
Trang 10Kể từ khi Hiệp định TRIPS có hiệu lực thì một sản phẩm được công nhận vàmang CDĐL sẽ được chấp nhận ở phạm vi quốc tế Vì vậy, CDĐL trở thành một công
cụ chiến lược trong thương mại và là tấm giấy thông hành cho các sản phẩm gắn liềnvới một vùng đất
Bảo hộ CDĐL mang lại nhiều lợi ích hơn hẳn so với bảo hộ nhãn hiệu hànghoá CDĐL là cái sẵn có trong khi nhãn hiệu hàng hoá phải nghiên cứu sáng tạo mới
có được Đăng kí bảo hộ nhãn hiệu ở bất kì một quốc gia nào trên thế giới đều phải trảmột khoản phí rất đắt mà không có sự bảo đảm rằng sản phẩm đó sẽ được người tiêudùng chấp nhận và lựa chọn Trong khi đó, bảo hộ CDĐL là bảo hộ rẻ nhất, ở mức caonhất, cao hơn cả những bảo hộ khác liên quan đến SHTT Bất kì một sản phẩm nàođược bảo hộ CDĐL đều đồng nghĩa với sự công nhận về chất lượng, uy tín của sảnphẩm
Những sản phẩm mang CDĐL thường có được sự nhận biết tốt hơn trên thịtrường do chúng mang những đặc tính riêng biệt Những sản phẩm mang đã được định
vị trên thị trường nên việc thực hiện các chính sách tiếp thị hay xúc tiến thương mạitrở nên dễ dàng và hiệu quả hơn rất nhiều Trong thời điểm cạnh tranh gay gắt nhưhiện nay, người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng các sản phẩm đặc biệt mang CDĐL
2.2 Ý nghĩa về mặt xã hội
2.2.1 Chỉ dẫn địa lí giúp bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống
Sản phẩm có CDĐL giúp liên kết với các phong tục truyền thống, thừa hưởngdanh tiếng của địa phương, quốc gia Sản phẩm này không phải là sản phẩm đượcsáng tạo mới, mà là sản phẩm được thừa nhận Nhãn CDĐL khẳng định giá trị củamột sản phẩm đã có sẵn và độc nhất Đặc biệt, CDĐL góp phần bảo vệ tên cho các sảnphẩm có giá trị, duy trì và nâng cao các tiêu chuẩn thông qua một nguyên tắc tậptrung, có giá cao hoặc duy trì được giá, góp phần cạnh tranh bình đẳng Đối với ngườitiêu dùng, CDĐL sẽ đảm bảo chất lượng, nguồn gốc và tính riêng biệt của sản phẩm.Nhìn chung các sản phẩm CDĐL được bảo hộ có giá bán cao hơn so với các sản phẩmcùng loại không có CDĐL Thực tế cho thấy, các chương trình bảo hộ có tác độngkinh tế-xã hội tích cực và quan trọng đối với nhiều vùng nông nghiệp và nông thôn xaxôi, nơi phần lớn các sản phẩm này được sản xuất và chế biến
Trang 11CDĐL cho phép duy trì và phát triển các hoạt động, các ngành chất lượng tạicác vùng nông thôn thông qua việc tôn vinh các giá trị văn hoá, kĩ năng và bí quyếttruyền thống của con người và nâng cao chất lượng sản phẩm
Khi việc sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm mang CDĐL đem lại hiệu quả kinh
tế cao sẽ khuyến khích người dân duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thốngcủa địa phương, tích cực sáng tạo hơn trong lao động Như vậy, nó sẽ khuyến khíchtính đa dạng và tính độc đáo trong sản xuất, góp phần bảo vệ môi trường, các nguồntài nguyên cũng như bảo vệ những nét văn hoá truyền thống, nghệ thuật ẩm thực, nghềthủ công đồng thời phát triển đa dạng sinh học
2.2.2 Chỉ dẫn địa lí giúp phát triển kinh tế nông thôn, giải quyết vấn đề di dân
CDĐL thường gắn với lãnh vực nông nghiệp, điều này đồng nghĩa với việc nó
gắn bó với các vùng nông thôn Trong nhiều trường hợp, việc đăng kí bảo hộ CDĐL
cho các sản phẩm mang sẽ cho phép nhà sản xuất duy trì và phát triển được sản xuất
vì thu được lợi nhuận nhiều hơn Nhờ vậy, họ có được nguồn thu nhập ổn định, đủ để
đảm bảo cho cuộc sống của gia đình Họ không phải chuyển ra thành thị kiếm việclàm Điều này cũng giúp giải quyết vấn đề di dân cơ giới, góp phần giữ vững trật tự anninh và ổn định xã hội
Ngoài khả năng mang lại thu nhập, nâng cao và cải thiện mức sống cho nôngdân, CDĐL cũng góp phần phát triển các hoạt động kinh tế khác ở vùng nông thôntrong đó phải kể đến hoạt động du lịch tại vùng có sản phẩn CDĐL, đặc biệt là du lịchsinh thái, văn hóa
2.2.3 Chỉ dẫn địa lí giúp phát triển hình ảnh quốc gia với bạn bè quốc tế
CDĐL là tài sản tập thể, thuộc sở hữu của quốc gia Với đặc điểm liên quantrực tiếp đến nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm nên khi xâm nhập vào thị trường quốc
tế, CDĐL thường gắn với hình ảnh của quốc gia Ví dụ như khi nhắc đến rượuBordeaux là chúng ta nhớ ngay đến nước Pháp hay như khi nhắc tới nước mắm PhúQuốc là nhắc tới Việt Nam Một quốc gia có thương hiệu mạnh nói chung và CDĐLnổi tiếng nói riêng thì khả năng cạnh tranh của nền kinh tế càng cao, vị thế của quốcgia càng được củng cố trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho việc phát triển văn hoá
xã hội, hợp tác giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế
3 Các phương thức bảo hộ chỉ dẫn địa lí
Trang 12Các phương thức bảo hộ ở đây có thể được chia thành 3 nhóm chính sau: bảo
hộ CDĐL hệ thống pháp luật riêng, bằng pháp luật về nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệuchứng nhận hoặc bằng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
3.1 Bảo hộ chỉ dẫn địa lí bằng pháp luật riêng
Tại nước ta, mặc dù không có được một đạo luật riêng về bảo hộ CDĐL Tất cảcác vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ được quy định chung trong Luật Sở hữu trí tuệ
2005 Tuy nhiên, mỗi đối tượng của sở hữu trí tuệ lại được quy định tại một phầnriêng và CDĐL được quy định tại mục 6 thuộc chương VII, phần thứ ba của luật này.Như vậy, có thể coi phương thức bảo hộ CDĐL tại Việt Nam là bảo hộ theo pháp luậtriêng
3.2 Bảo hộ chỉ dẫn địa lí bằng pháp luật về nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận
Khái niệm nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận được quy định khácnhau ở các nước Tuỳ thuộc vào luật quốc gia của mỗi nước, một nhãn hiệu tập thểhay nhãn hiệu chứng nhận có thể chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá và dịch vụ Như vậy,
ở một mức độ nào đó nó có thể thích hợp cho việc bảo hộ CDĐL
Thông thường, việc sử dụng một nhãn hiệu tập thể bị chi phối bởi các quy địnhphải được trình lên cơ quan sở hữu công nghiệp đồng thời nộp đơn đăng kí MộtCDĐL có được bảo hộ như một nhãn hiệu tập thể hay không hoàn toàn phụ thuộc vàoluật quốc gia của từng nước Một số nước không chấp nhận bảo hộ CDĐL dưới dạngnhãn hiệu tập thể
Tại Việt Nam, pháp luật cũng cho phép các sản phẩm gắn với địa danh cũng cóthể được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu chứng nhận hoặc nhãn hiệu tập thể Hiện nay,nước ta có một số sản phẩm gắn với địa danh được bảo hộ theo hình thức nhãn hiệutập thể bao gồm: vú sữa Lò Rèn – Vĩnh Kim – Châu Thành – Tiền Giang, xoài cátHoà Lộc – Tiền Giang, bánh đậu xanh Hải Dương…
3.3 Bảo hộ chỉ dẫn địa lí bằng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Việc sử dụng một CDĐL cho sản phẩm hoặc dịch vụ không xuất xứ từ vùngmang tên địa lí tương ứng có thể gây nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dùng Hơn thếnữa, việc sử dụng như vậy có thể coi là hành vi chiếm đoạt danh tiếng của người thật
sự có quyền sử dụng CDĐL này Theo luật chống cạnh tranh không lành mạnh của
Trang 13một số nước như Úc, Bungary, Canada, Cộng hoà Séc, Áo, Bỉ, Anh, Đan Mạch, Pháp,Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc…, các nhà sản xuất và kinh doanh có thể sử dụng cách này
để ngăn chặn việc sử dụng CDĐL một cách trái phép của các đối thủ cạnh tranh
Các nguyên tắc cơ bản sau thường được công nhận:
Thứ nhất, để được bảo hộ theo luật chống cạnh tranh không lành mạnh, CDĐLphải đáp ứng hai điều kiện: CDĐL phải đã có được một danh tiếng hoặc uy tín nhấtđịnh hay nói cách khác, người mua sản phẩm này phải nghĩ ngay đến xuất xứ của sảnphẩm khi nhìn thấy CDĐL
Thứ hai, việc sử dụng CDĐL trên sản phẩm, dịch vụ không xuất xứ từ vùngmang tên địa lí tương ứng phải làm cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn về xuất xứ thậtcủa sản phẩm, dịch vụ Ngoài ra theo luật của một số nước, bằng chứng thiệt hại hoặc
có nguy cơ thiệt hại phải trình cho cơ quan xét xử
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 đã quy định, quyền chống cạnh tranhlành mạnh là một đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ Điều 130 của Luật này đã chỉ
rõ các hành vi được xem là cạnh tranh không lành mạnh trong đó có hành vi sử dụngCDĐL gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thươngmại của hàng hoá, dịch vụ, gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chấtlượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấphàng hoá, dịch vụ Một tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại dohành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩmquyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ vàcác biện pháp hành chính theo quy định của Luật cạnh tranh
II Xác lập và quản lí chỉ dẫn địa lí
1 Xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lí
Xác lập quyền đối CDĐL chính là việc xác định các tính chất đặc thù, uy tín,danh tiếng của sản phẩm, các yếu tố tự nhiên, con người có ảnh hưởng đến các đặctrưng đó của sản phẩm rồi tiến hành đăng kí bảo hộ CDĐL Các nội dung chính cầntiến hành để xác lập quyền đối với CDĐL:
1.1 Xây dựng cơ sở khoa học, thực tiễn phục vụ việc đăng kí chỉ dẫn địa lí
-Xây dựng cơ sở khoa học, thực tiễn phục vụ việc đăng kí CDĐL
- Xác định các chỉ tiêu thể hiện chất lượng đặc thù của sản phẩm