BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN HUỲNH THỊ MINH THÚY THÀNH PHẦN, MẬT ĐỘ, VAI TRÒ TRUYỀN BỆNH CỦA VÉC TƠ SỐT RÉT Ở KHU VỰC NHÀ RẪY VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
HUỲNH THỊ MINH THÚY
THÀNH PHẦN, MẬT ĐỘ, VAI TRÒ TRUYỀN BỆNH CỦA VÉC TƠ SỐT RÉT Ở KHU VỰC NHÀ RẪY VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT CỦA NGƯỜI DÂN NGỦ RẪY TẠI HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THỰC NGHIỆM
Bình Định, năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
HUỲNH THỊ MINH THÚY
THÀNH PHẦN, MẬT ĐỘ, VAI TRÒ TRUYỀN BỆNH CỦA VÉC TƠ SỐT RÉT Ở KHU VỰC NHÀ RẪY VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT CỦA NGƯỜI DÂN NGỦ RẪY TẠI HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60420114
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Xuân Quang
Bình Định, năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự trợ giúp của các cán bộ khoa côn trùng, Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn và các cán bộ y tế địa phương tại nơi tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này Các số liệu trong luận văn là trung thực chưa hề được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả
Huỳnh Thị Minh Thúy
Trang 4hoàn thành luận văn
- Thầy TS Nguyễn Xuân Quang đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, động viên, trực tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Chú Phan Châu Do và các anh chị trong nhóm nghiên cứu đã chỉ bảo
và tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
- Các anh chị, bác sỹ, cử nhân, kỹ thuật viên Trung tâm Phòng chống Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng tỉnh, Trung tâm Y tế huyện huyện Khánh Vĩnh, Trạm Y tế xã Khánh Phú và xã Sơn Thái huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn
- Tất cả các quý thầy cô, bạn bè, anh chị và gia đình đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả
Huỳnh Thị Minh Thúy
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Cấu trúc của luận văn 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.1.1 Tình hình sốt rét trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình sốt rét ở Việt Nam 5
1.2 Những nghiên cứu về muỗi Anopheles 6
1.2.1 Phân loại muỗi Anopheles 7
1.2.2 Thành phần loài muỗi Anopheles trên thế giới và ở Việt Nam 7
1.2.3 Sự phân bố, sinh thái và mật độ muỗi sốt rét liên quan đến sinh thái rừng trên thế giới và ở Việt Nam 10
1.2.4 Nghiên cứu vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.3 Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy trên thế giới và ở Việt Nam 15
1.3.1 Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy trên thế giới 15
1.3.2 Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy ở Việt Nam 16
1.4 Phòng chống véc tơ sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam 17
1.4.1 Phòng chống véc tơ sốt rét trên thế giới 17
1.4.2 Phòng chống véc tơ sốt rét ở Việt Nam 18
Trang 61.5 Phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy trên thế giới và Việt Nam 20
1.5.1 Phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy trên thế giới 20
1.5.2 Phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy ở Việt Nam 22
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 24
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 27
2.4.2 Nghiên cứu về véc tơ sốt rét 27
2.4.3 Điều tra kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy 35
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 38
3.1 Thành phần, mật độ và vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét ở khu vực nhà rẫy ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 38
3.1.1 Thành phần muỗi Anopheles ở khu vực nhà rẫy 38
3.1.2 Mật độ muỗi Anopheles ở khu vực nhà rẫy 46
3.1.3 Thành phần, số lượng và tỷ lệ bọ gậy Anopheles ở địa điểm nghiên cứu 60
3.1.4 Vai trò truyền bệnh của các véc tơ sốt rét 61
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 65 3.2.1 Tình hình ngủ rẫy và phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy 66
Trang 73.2.2 Một số đặc điểm nhà rẫy tại các điểm nghiên cứu 72 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77 Kết luận 77
1 Thành phần, mật độ và vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét ở khu vực nhà rẫy tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 77
2 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy 77
Đề nghị 78
Trang 8ELISA Enzyme - Linked Immuno Sorbent Assay (Kỹ thuật hấp thụ
miễn dịch liên kết enzyme) ITIS Integrated Taxonomic Information System (Hệ thống phân
loại sinh vật quốc tế) KAP Knowledge-Attitude-Practice (Kiến thức-Thái độ-Thực hành)
KST-CT Ký sinh trùng - Côn trùng
KSTSR Ký sinh trùng sốt rét
MNNN Mồi người ngoài nhà rẫy
MNTN Mồi người trong nhà rẫy
MT-TN Miền Trung-Tây Nguyên
SVN Soi vách ngoài nhà rẫy
SVT Soi vách trong nhà rẫy
WHO World Health Oganization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thành phần loài Anopheles ở khu vực nhà rẫy tại các địa
điểm nghiên cứu
Bảng 3.5 Mật độ chung muỗi Anopheles thu thập bằng các phương
pháp ở khu vực nhà rẫy tại Khánh Vĩnh
47
Bảng 3.6 Mật độ muỗi Anopheles thu thập bằng các phương pháp ở
khu vực nhà rẫy tại Khánh Phú
50
Bảng 3.7 Mật độ muỗi Anopheles thu thập bằng các phương pháp ở
khu vực nhà rẫy tại Sơn Thái
52
Bảng 3.8 Diễn biến mật độ muỗi đốt người của Anopheles trong
đêm ở Khánh Phú
55
Bảng 3.9 Diễn biến mật độ muỗi đốt người của Anopheles trong
đêm ở Sơn Thái
58
Bảng 3.10 Thành phần, số lượng và tỷ lệ bọ gậy Anopheles tại các
điểm nghiên cứu
Trang 10khu vực nhà rẫy huyện Khánh Vĩnh
Bảng 3.14 Một số đặc điểm của người dân được phỏng vấn tại các
điểm nghiên cứu
Trang 11Hình 3.3 Đồ thị mật độ đốt người của một số muỗi Anopheles theo
thời gian tại Khánh Phú
57
Hình 3.4 Đồ thị mật độ đốt người của một số muỗi Anopheles theo
thời gian tại Sơn Thái
59
Hình 3.5 Nhà rẫy ở Khánh Phú 74 Hình 3.6 Nhà rẫy ở Sơn Thái 76
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bệnh sốt rét hiện nay đã và đang là một vấn đề cần được quan tâm đối với sức khỏe người dân trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, vì sốt rét là bệnh cấp tính nguy hiểm do ký sinh trùng sốt rét (KSTSR)
Plasmodium gây nên và được muỗi Anopheles truyền từ người bệnh sang
người lành Bệnh phổ biến ở các quốc gia nhiệt đới, cận nhiệt đới và nó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng con người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng, của quốc gia và của cả khu vực Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2015 có khoảng 3,2 tỷ người sống trong vùng sốt rét lưu hành và sự lan truyền sốt rét xảy ra tại 97 quốc gia, vùng lãnh thổ ở 6 khu vực trên thế giới, có khoảng 214 triệu
ca mắc sốt rét, 438.000 ca tử vong [63]
Các nước ở khu vực Đông Nam Á đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc phòng chống sốt rét (PCSR), một trong số đó là sốt rét rừng vì sốt rét rừng diễn biến phức tạp, nguồn KSTSR tiềm ẩn, mật độ véc tơ sốt rét cao… Do vậy, để đạt được mục tiêu đề ra trong chiến lược loại trừ sốt rét thì phải kiểm soát sốt rét rừng [63]
Tại Việt Nam, theo thống kê báo cáo của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng (Viện Sốt rét-KST-CT) Trung ương năm 2015, cả nước có 27.868 ca mắc sốt rét, 73 ca sốt rét ác tính và 6 ca tử vong sốt rét [43] Trong đó, nhiều tỉnh có mức lưu hành sốt rét cao Đặc biệt, miền Trung-Tây Nguyên (MT-TN) vẫn là khu vực có sốt rét cao nhất trong cả nước Năm 2014, MT-TN ghi nhận 14.450 ca mắc, chiếm gần 52% số ca mắc trên cả nước Số ca mắc tập trung chủ yếu ở nhóm dân cư đi rừng ngủ rẫy, giao lưu biên giới và sự di dân từ vùng không lưu hành đến vùng lưu hành sốt rét [39]
Trang 13Khánh Hòa là tỉnh có tình hình sốt rét diễn biến phức tạp hơn các tỉnh khác trong khu vực MT-TN Theo thống kê của Trung tâm PCSR KST-CT Khánh Hòa cho thấy, năm 2015, cả tỉnh có 767 bệnh nhân sốt rét chiếm 8,84% (767/7.644) và 756 lam máu nhiễm KSTSR chiếm tỷ lệ 11,63% (756/6.500) so với toàn khu vực Trong đó, huyện Khánh Vĩnh chiếm 65,71% (504/767) và 66,53% lam máu nhiễm KSTSR (503/756) so với toàn tỉnh [39]
Theo Báo cáo của Trung tâm PCSR tỉnh Khánh Hòa cũng cho thấy, số bệnh nhân sốt rét là người dân tộc thiểu số chiếm trên 80% Có tới 21,3% dân số
ở vùng sốt rét trọng điểm có hoạt động ngủ rẫy, trong đó có 15% là người thường xuyên đi rừng, ngủ rẫy và khai thác lâm, thổ sản [39]
Đặc thù của khu vực nhà rẫy thường xuyên có mật độ véc tơ sốt rét cao, nhà rẫy nằm rãi rác trên núi cao, vách nhà rẫy không kín nên việc phun tẩm hóa chất rất khó khăn Bên cạnh đó, diện tích nhà rẫy nhỏ, bên trong nhà rẫy còn có bếp nấu, thường đốt lửa ban đêm nên không đủ không gian để treo màn Vì vậy, thành phần loài, một số tập tính đốt mồi của véc tơ sốt rét cũng có thể có sự khác biệt với khu vực dân cư, làm cho việc phòng chống véc tơ sốt rét càng thêm khó khăn
Nhằm xác định thành phần, mật độ, vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles, cũng như đánh giá được kiến thức, thái độ, thực hành PCSR của người dân ngủ rẫy tại huyện Khánh Vĩnh là rất cần thiết và làm cơ sở dữ liệu
để xây dựng kế hoạch PCSR phù hợp và hiệu quả Vì vậy đề tài: “Thành
phần, mật độ, vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét ở khu vực nhà rẫy và kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định thành phần, mật độ và vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét ở khu vực nhà rẫy tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa
Trang 14- Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành PCSR của người dân ngủ rẫy tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa
3 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài các phần: Mở đầu, kết luận và đề nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục thì gồm 3 chương chính:
Chương 1 Tổng quan tài liệu
Chương 2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả và bàn luận
4 Ý nghĩa của đề tài
- Dựa vào kiến thức, thái độ, thực hành PCSR của người dân, cũng như tập quán ngủ rẫy của người dân để có phương hướng giảm tối thiểu sốt rét cho người dân
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình sốt rét trên thế giới
Sốt rét là bệnh cấp tính nguy hiểm do các loài thuộc giống Plasmodium
(P): P falciparum, P vivax, P malariae, P ovale, P knowlesi gây nên và lây
truyền từ người này sang người khác khi những người này bị muỗi Anopheles
mang thoa trùng (Sporozoites) sốt rét đốt Bệnh phổ biến ở các quốc gia nhiệt
đới và cận nhiệt đới Mặc dù, các tổ chức trên thế giới đã có nhiều nỗ lực trong tiêu diệt sốt rét, nhưng hiện nay trên thế giới vẫn còn khoảng 300-500 triệu ca sốt rét/năm và có ít nhất khoảng một triệu ca tử vong do sốt rét
Năm 1880, Charles Louis Alphonse Laveran (1845-1922), bác sỹ ngoại khoa quân đội Pháp, lần đầu tiên tìm thấy ký sinh trùng có trong máu bệnh nhân bị sốt rét ở Algeria Năm 1897-1898, Ronal Ross tìm ra và chứng minh
sự phát triển của KSTSR trong cơ thể muỗi Năm 1900, Mansen bằng thực nghiệm trên người tình nguyện, chứng minh vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles trong bệnh sốt rét [20] Những kết quả này đã mở đầu cho thời kì mới trong việc nghiên cứu về muỗi sốt rét cũng như các biện pháp PCSR Theo thông báo của WHO năm 2015, bệnh sốt rét lan truyền tại 97 quốc gia, vùng lãnh thổ ở các khu vực trên thế giới; năm 2015 có 214 triệu ca mắc sốt rét xảy ra trên toàn cầu và 438.000 ca tử vong, với 88% số ca tử vong xảy
ra tại khu vực Châu Phi, tiếp theo là 10% tại khu vực Đông Nam Á và 2% tại khu vực Địa Trung Hải Trong đó số trẻ em dưới 5 tuổi chết do sốt rét khoảng 453.000 ca chiếm tỷ lệ 78% số ca tử vong trên toàn thế giới Tổ chức Y tế thế giới ước tính có khoảng 3,2 tỷ người trên toàn cầu sống trong vùng sốt rét lưu hành, riêng khu vực Châu Á-Thái Bình Dương có gần 2 tỷ người [63] Cũng theo WHO tại khu vực Tây Thái Bình Dương, hiện nay có 10 quốc gia có sốt rét lưu hành bao gồm Campuchia, Trung Quốc, Lào, Malaysia, Papua New
Trang 16Guinea, Philippines, Triều Tiên, đảo quốc Solomon, Vanuatu và Việt Nam Tại khu vực này có khoảng 870 triệu người bị ảnh hưởng bởi sốt rét, trong đó
60 triệu người sống trong vùng có chỉ số mắc sốt rét lớn hơn 1/1.000 dân Ba quốc gia có sốt rét lưu hành nặng nhất là Papua New Guine (75%), Campuchia (26%) và đảo Solomon (12%), sốt rét đã giảm từ 350.000 ca năm
2000 xuống còn 221.000 ca năm 2011 giảm 42% [63]
1.1.2 Tình hình sốt rét ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Đông Nam Á thuộc cực Đông của bán đảo Đông Dương Chính vị trí địa lý này tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh sốt rét duy trì và phát triển quanh năm và cũng là một trong những quốc gia có số người mắc sốt rét cao với hơn 15 triệu người có nguy cơ mắc sốt rét [3] Các vùng lưu hành sốt rét bao gồm vùng rừng núi phía Bắc, ven dọc Trường Sơn, cao nguyên miền Trung, khu vực Đông Nam, Tây Nam và các miền Duyên hải
Trước năm 1992, tình hình sốt rét rất nghiêm trọng, hàng nghìn ca chết mỗi năm, tỷ lệ mắc sốt rét tăng và nhanh chóng bị kháng thuốc Năm 1991, dịch sốt rét xảy ra lớn nhất với hơn 1 triệu ca mắc và 4.646 ca tử vong Sau đợt dịch phát này, Chương trình kiểm soát bệnh sốt rét Quốc gia ra đời và đã đạt được nhiều kết quả đáng kể tỷ lệ mắc và tử vong sốt rét giảm liên tục qua các năm, nhưng hiện nay sốt rét vẫn còn là mối nguy hiểm đối với sức khỏe
và tính mạng của nhiều người, nhất là trẻ em
Theo ước tính của Bộ Y tế (2014), năm 2013 tỷ lệ mắc sốt rét giảm 37%
so với năm 2010 (0,39/0,62), số ca tử vong do sốt rét giảm 71,4% so với năm
2010 (6/21) và trên 21 triệu dân sống trong vùng sốt rét lưu hành tại 55 tỉnh, thành phố trên cả nước [2],[3] Năm 2011, số ca mắc sốt rét tại Việt Nam là 45.588 ca trong đó có 14 ca tử vong Đến năm 2015, số ca sốt rét đã giảm
Trang 17xuống còn 19.252 ca, trong đó có 3 ca tử vong (theo kết quả báo cáo của Viện Sốt rét-KST-CT Trung ương về PCSR ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015) Mặc dù các chỉ số sốt rét giảm mạnh nhưng chưa thật sự bền vững, do vậy tình hình sốt rét ở nước ta trong những năm tới vẫn tiềm ẩn nhiều nguy
cơ Dự báo sốt rét có thể gia tăng ở các vùng có sốt rét lưu hành đặc biệt là các tỉnh MT-TN là rất cao Vì khu vực này là cái nôi sốt rét so với miền Bắc, miền Nam và cũng là trung tâm của KSTSR kháng thuốc và muỗi kháng hóa chất [2],[3] Theo kết quả phân vùng dịch tễ sốt rét năm 2014, số dân sống trong vùng lưu hành sốt rét nặng và vừa ở khu vực MT-TN chiếm tỷ lệ cao so với các khu vực khác trên cả nước Năm 2014 khu vực MT-TN ghi nhận 14.450 ca mắc, 3 ca tử vong do sốt rét và không có dịch sốt rét xảy ra, so với năm 2013 số bệnh nhân sốt rét giảm 9,52% Số ca mắc sốt rét khu vực này tập trung chủ yếu ở nhóm dân di biến động như di cư tự do, hoạt động và ngủ lại trong rừng, giao lưu biên giới [39]
Theo thống kê báo cáo của Trung tâm PCSR-KST-CT Khánh Hòa cho thấy, năm 2015 số bệnh nhân sốt rét toàn tỉnh 767 ca chiếm tỷ lệ toàn khu vực
là 8,84% (767/7.644) Tuy nhiên sốt rét của tỉnh Khánh Hòa tập trung chủ yếu
ở huyện Khánh Vĩnh chiếm tỷ lệ 65,71% (504/767) so với toàn tỉnh Đây chính là những thách thức lớn để Khánh Hòa cũng như Việt Nam đạt được mục tiêu loại trừ sốt rét vào năm 2030
1.2 Những nghiên cứu về muỗi Anopheles
Từ khi xác định muỗi Anopheles là trung gian truyền bệnh sốt rét, nhiều công trình nghiên cứu về nhiều lĩnh vực liên quan đến muỗi Anopheles đã được các tác giả trên thế giới tiến hành và thu được nhiều thành tựu đáng kể Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về điều tra muỗi để xác định vai trò truyền bệnh và nghiên cứu về các biện pháp tiêu diệt muỗi, phòng chống muỗi đốt được tiến hành ở nhiều nơi
Trang 181.2.1 Phân loại muỗi Anopheles
Theo ITIS (Integrated Taxonomic Information System - Hệ thống phân loại sinh vật quốc tế) muỗi Anopheles được phân loại như sau:
Giới (Kingdom): Animalia Ngành (Phylum): Arthropoda Lớp (Class): Insecta
Bộ (Order): Diptera
Họ (Family): Culicidae Phân họ (Subfamily): Anophelinae
Giống (Genus): Anopheles
Họ muỗi (Culicidae) có khoảng 3200 loài, thuộc bộ 2 cánh (Diptera) Họ này chia thành 3 phân họ là: Toxorhynchitinae, Anophelinae và Culicidae Những giống có vai trò y học quan trọng nằm trong phân họ Anophelinae (như Anopheles) và phân họ Culicinae (như Aedes và Culex)
1.2.2 Thành phần loài muỗi Anopheles trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.2.1 Thành phần loài muỗi Anopheles trên thế giới
Đến nay, trên thế giới đã xác định được khoảng 420 loài thuộc giống Anopheles, 70 loài trong số chúng là véc tơ truyền bệnh sốt rét ở người trong điều kiện tự nhiên [63], trong đó có khoảng 40 loài là muỗi truyền bệnh chính tùy thuộc vào điều kiện từng vùng, từng khu vực Nghĩa là, mỗi loài
Anopheles có thể là véc tơ chính truyền bệnh sốt rét của vùng này, nhưng lại
không có vai trò truyền bệnh ở vùng khác (Hồ Đình Trung, 2009) [35]
Ở khu vực Châu Phi nhiệt đới (Nam Sahara) các véc tơ sốt rét chủ yếu
gồm: Anopheles (C) gambiae (An (C) gambiae), An (C) arabiensis, An (C)
funestus, An (C) melas Véc tơ thứ yếu gồm: An (C) merus, An (C) moucheti, An (C)nili, An (C)pharoensis s.l Ở khu vực Bắc Mỹ có véc tơ
chủ yếu: An pseudophunctipennis Tại khu vực Trung Mỹ có các véc tơ chủ
Trang 19yếu: An albimanus, An aquasalis, An darlingi Véc tơ thứ yếu: An aztecus,
An puncimaculata, An albitarsis, An aryritarsis Ở khu vực Nam Mỹ thì có
các véc tơ sốt rét gồm: An pseudophunctipennis, An punctimaculata, An
belltator, An crzii, An albimanus, An albimanus, An albitasis, An aquasalis, An darling, An nunezetovari s.l Véc tơ phụ là An argyritarsis,
An braziliensis, An benarrochi, An triannulatus
Ở khu vực Trung Nam Á như Bangladesh có 26 loài, trong đó véc tơ chủ
yếu là An balabacensis, An minimus, An philippinensis, An sundaicus Các véc tơ thứ yếu: An aconius, An annularis, An culicifacies, An fluviatilis, An
kochi, An maculatus, An pallidus, An ramsayi, An supictus, An vagus, An varuna Ở Ấn độ trên 40 loài, các loài chủ yếu: An culicifacies, An fluviatalis, An minimus, An philippinensis, An stephesi, An dirus, An subpictus Véc tơ thứ yếu: An maculates, An varuna, An hyrcanus, An annularis, An leucoshyrus Ở Nepan có các véc tơ chủ yếu là An aconitus,
An annularis, An fluviatalis, An maculatus Các véc tơ thứ yếu là An barbirostris, An hycanus, An varuna Ở phía Nam Bhoutan có các véc tơ
chính gồm An maculaus, An jeyporiensis, An annularis
Ở các nước khu vực vùng Đông Á và Châu Đại Dương như Trung Quốc:
Bắc vĩ tuyến 320 Bắc véc tơ chủ yếu An sinensi, An messae, giữa vĩ tuyến
250 và 320 Bắc các véc tơ An lesteri anthropophagus, An minimus, An
sinensis, Nam vĩ tuyến 250 Bắc các véc tơ chủ yếu An minimus, An dirus véc
tơ thứ yếu An jeyporiensis, An aconitus, An annularis,… (theo tác giả
Chow, năm 1949 Trung Quốc có 38 loài); Mianma: nước này có 4 vùng sốt
rét với 37 loài Anopheles Vùng đồi núi An dirus, An culicifacies, An
minimus, vùng ven biển An sundaicus, vùng đồng bằng có An aconitus, An
annularis, An philippinensis Malaysia: có 5 véc tơ chủ yếu là An maculatus,
An campestris, An sundaicus, An balabacecis, An letifer Các véc tơ khác
Trang 20An umbrosus, An donaldi (đã tìm thấy thoa trùng), An minimus, An
aconitus (không xác định là véc tơ) Indonesia: các véc tơ phân bố khác nhau
tùy theo từng khu vực: ở Java, Bali, Sumarta véc tơ chính là: An aconitus,
An sundaicus; ở Sulawesi đã xác định được 42 loài trong đó véc tơ chủ yếu là
An aconitus, An barbirostris, An flavirostris, An nigerrimus, An subpictus,
An tesselatus, An vagus Philippin: An flavirostris là véc tơ quan trọng nhất
Ở Mindanao An flavirostris là véc tơ chính; Papua New Guinea: theo
Spencen và cs (1974) có 20 loài Anopheles, trong đó véc tơ chính là An
farauti, An punctulatus Vanuatu: véc tơ chính là An farauti Quần Đảo
Salomon: véc tơ chính là An farauti, An koliensis, An punctulatus [20]
Ở khu vực Đông Dương: các véc tơ chính như An minimus, An dirus,
An maculatus có ở Lào, ở Campuchia có An minimus, An dirus, An sundaicus, ở Việt Nam có 3 véc tơ truyền bệnh chính như An dirus, An minimus, An epiroticus
1.2.2.2 Thành phần loài muỗi Anopheles ở Việt Nam
Việt Nam cho đến nay đã phát hiện được 64 loài Anopheles, 15 loài đã được xác định là véc tơ chính, véc tơ phụ và véc tơ nghi ngờ
- Các loài véc tơ chính ở Việt Nam
Véc tơ chính An minimus sống trong rừng núi, bìa rừng, savan; bọ gậy
sống ở thủy vực nước trong chảy chậm, có cây thủy sinh mọc hai bên bờ, muỗi phân bố ở khu vực rừng núi trên toàn quốc [14]
Véc tơ chính An dirus sống ở rừng rậm, bìa rừng, rừng thưa; bọ gậy
sống ở vũng nước đọng dưới bóng râm trong rừng (hốc cây, hốc đá, các vỏ đồ hộp,…) muỗi phân bố từ vĩ tuyến 17 trở vào nam [14]
Véc tơ chính vùng nước lợ: An sundaicus (nay là An enpiroticus) ở ven
biển vùng nước lợ miền Duyên hải Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long [14]
- Các loài véc tơ sốt rét phụ, nghi ngờ
Trang 21Véc tơ phụ là: An maculatus, An aconitus, An jeyporiensis (vùng đồi núi toàn quốc), An varruna, An jeyporiensis (miền Trung), An nimpe (nghi ngờ ở ven biển Nam bộ), An lesteri (nghi ngờ ở Đông Nam bộ), An sinensis,
An vagus, An subpictus, An campestris, An indefinitus (ven biển miền Bắc
và miền Nam), An culicifacies (nghi ngờ ở miền Bắc và MT-TN) [14]
Khu vực MT-TN theo Lê Khánh Thuận đã phát hiện được 48 loài, trong
đó có mặt 3 loài véc tơ chính của Việt Nam là An.minimus, An.dirus và An
epiroticus (trước đây gọi là An sundaicus) [29] Tại khu vực này đều phát
hiện ra sự có mặt của cả hai véc tơ chính gồm An dirus và An.minimus với
mật độ cao (Nguyễn Xuân Quang, 2013)[22] Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quang (2013) [22] ở tỉnh Gia Lai và Phú Yên cho biết khu vực nhà rẫy luôn
có mặt các véc tơ sốt rét chính và mật độ, tỷ lệ nhiễm KSTSR cao hơn nhiều
so với khu vực dân cư ổn định Nghiên cứu dịch tễ học sốt rét ở khu vực Đông Nam Á cũng đã đưa ra nhận xét mức độ lan truyền sốt rét thay đổi theo chiều hướng giảm dần từ rừng ra bìa rừng tới khu dân cư xa rừng
1.2.3 Sự phân bố, sinh thái và mật độ muỗi sốt rét liên quan đến sinh thái rừng trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.3.1 Sự phân bố, sinh thái và mật độ muỗi sốt rét liên quan đến sinh thái rừng trên thế giới
Các véc tơ sốt rét sống trong các hệ sinh thái rừng phản ánh khả năng thích nghi của véc tơ với hệ sinh thái rừng Độ lan truyền của bệnh sốt rét rừng có thể là do sự phong phú và mật độ véc tơ cao [56] Các loài véc tơ khác nhau và các loài anh em cùng khu phân bố có thể biến động theo mùa
[49],[52] Trong rừng rậm, đồi núi khu vực biên giới Thái Lan-Myanma, An
dirus đã được tìm thấy vào đầu mùa mưa trong khi loài An baimaii đã được
tìm thấy ở giai đoạn giữa mùa mưa [52] Tuy nhiên, phần phía Nam Thái Lan
ít có rừng, loài An cracens phổ biến hơn loài An baimaii vào đầu mùa mưa
Trang 22mặc dù vào cuối mùa mưa An scanloni phổ biến hơn An cracens [49],[52] Ở vùng núi nhiệt đới phía Tây Bắc Argentina, loài An argyritaris phong phú hơn loài An pseudopunctipennis và cả hai véc tơ đạt mức độ cao nhất vào mùa xuân [45] Trong số các loài thuộc phức hợp loài gambiae, loài An
gambiae s.s ít thích nghi với điều kiện nóng hơn so với loài An arabiensis
[57] Vào mùa khô, khi các quần thể véc tơ chính trong rừng (ví dụ An
gambiae s.s.) giảm thì véc tơ phụ (ví dụ An arabiensis) gia tăng đóng vai trò
lan truyền bệnh sốt rét Rừng nhân tạo bao gồm cả những khu vực rừng trồng lớn, rừng tái sinh cũng gây ra sự thay đổi môi trường sống và ảnh hưởng đến
sự phong phú của véc tơ sốt rét, dẫn tới sự thay đổi mô hình lan truyền bệnh sốt rét Chẳng hạn, sốt rét tăng do đồn điền cà phê ở Thái Lan [58], các đồn điền cọ ở Cameroon [59], Papua New Guinea [53] và Malaysia [44] và khu vực trồng cây ăn quả ở biên giới Thái Lan-Myanma và các khu vực Đông Nam Á khác [42],[56],[61]
Sự khác nhau về tập tính muỗi Anopheles ở Đông Nam Á có liên quan
đến rừng, đồi núi và các yếu tố khác cho ta thấy sự thay đổi hoạt động đốt
người vào đầu buổi tối của An dirus A (An dirus), An minimus A (An
minimus) và mức độ hoạt động ngoài nhà cao hơn tỉ lệ nghịch với khoảng
cách từ các khu rừng và đồi [42] An dirus thường đốt máu vào ban đêm tuy
nhiên ở những nơi ít ánh sáng mặt trời xuyên qua những tán cây vẫn quan sát thấy loài này đốt máu vào ban ngày [55]
Valérie Obbsomer và cs (2007) [62] cho rằng, sự có mặt của thường
xuyên muỗi An dirus làm cho sốt rét lưu hành nặng ở khu vực Châu Á Những nghiên cứu sự khác nhau một số tập tính sinh học của An dirus đã cho
thấy ảnh hưởng của môi trường, sự biến đổi tập tính có thể xác định khả năng thích nghi của véc tơ với môi trường đang thay đổi, điều này rất cần thiết để phòng chống véc tơ trong sự biến đổi phức tạp của môi trường
Trang 23Một nghiên cứu tại Ấn Độ của Rekha Saxena và cs (2014) [55] cho thấy, phá rừng ảnh hưởng đến thành phần véc tơ sốt rét Trong giai đoạn năm
2000-2009, độ che phủ rừng tại huyện Sonitpur bang Assam giảm 50% An
culicifacies s.l thay thế An minimus s.l., véc tơ sốt rét ở Đông Bắc Ấn Độ
được tìm thấy ELISA dương tính, do đó có thể có vai trò trong lan truyền sốt rét ở các khu vực bị tàn phá của huyện Sonitpur
1.2.3.2 Sự phân bố, sinh thái và mật độ muỗi sốt rét liên quan đến sinh thái rừng ở Việt Nam
Nghiên cứu sự phân bố, sinh thái của véc tơ sốt rét thì ở hai thí điểm Vân Canh (Bình Định) và Iakor (Gia Lai), của Lê Khánh Thuận và cs (2001) cho
biết, tại Vân Canh mùa sốt rét là tháng 4, 5 do quần thể An minimus đóng vai trò chính, còn tháng 10, 11 do quần thể An dirus đóng vai trò quan trọng Ở Tây Nguyên, mùa truyền bệnh sốt rét hầu như quanh năm, An minimus là véc
tơ truyền bệnh quan trọng [32]
Nguyễn Sơn Hải và cs (2003) [10], khi nghiên cứu tại Khánh Hòa, Phú
Yên cho biết, khu vực gần rừng, muỗi An dirus có số lượng đốt người cao nhất hơn 95% trên tổng số loài An dirus tìm mồi đốt bắt đầu ngay khi mặt
trời lặn, loài này có thời gian rình mồi, đậu trên tường vách cả mặt trong nhà
và ngoài nhà, tỷ lệ no máu tăng dần theo những giờ về sáng và tới sáng hầu
như 100% đều no máu Mật độ đốt người trung bình năm của An dirus trong
Trang 241.2.4 Nghiên cứu vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.4.1 Nghiên cứu vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét trên thế giới
Theo Mac Donald (1957) thì một loài Anopheles được xác định véc tơ sốt rét cần có các điều kiện sau: có thoa trùng trong tuyến nước bọt, ái tính với máu người (ưa đốt người), tần số đốt người cao, tuổi thọ đủ dài và có mật
độ cao ở mùa sốt rét Như vậy, để chứng minh vai trò truyền bệnh của một véc tơ, người ta phải chứng minh được chúng có mang mầm bệnh Có nhiều phương pháp xác định chúng mang mầm bệnh:
+ Mổ muỗi: Xác định muỗi đẻ hay chưa đẻ, số lần đẻ; các giai đoạn phát
triển của trứng muỗi; tìm nang bào ở dạ dày muỗi (Oocysts); quan trọng nhất
là xác định muỗi Anopheles đó có thoa trùng (sporozoites) trong tuyến nước bọt hay không Nếu mổ muỗi xác định có thoa trùng (sporozoites) trong tuyến
nước bọt thì kết luận đó là véc tơ truyền bệnh sốt rét [14] Ronal Ross (1901),
đã phát hiện thoa trùng (sporozoites) trong cơ thể muỗi Anopheles, và sau đó
cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi Anopheles đã áp dụng phương pháp mổ muỗi này
+ Gây nhiễm thực nghiệm: Manson (1900), bằng gây nhiễm thực nghiệm trên người tình nguyện, chứng minh vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles + Kỹ thuật ELISA (Enzyme - Linked Immunosorbenrt Assay) hỗ trợ mạnh cho việc xác định muỗi Anopheles nhiễm KSTSR trong cơ thể muỗi bằng phát hiện protein thoa trùng trong cơ thể muỗi [14] Kỹ thuật này giúp xác định muỗi Anopheles nhiễm KSTSR một cách đơn giản và cho phép xác định
kí sinh trùng đó là P falciparum hay P vivax (Wirtz, 1985; Wirtz, 1987).)
1.2.4.2 Nghiên cứu vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét ở Việt Nam
Việc xác định vai trò truyền bệnh của một loài muỗi Anopheles dựa theo những căn cứ: sự phù hợp dịch tễ học của phân bố bệnh sốt rét và sự phân bố
Trang 25muỗi theo không gian và thời gian; tính ưa đốt người của muỗi cao; muỗi phải sống đủ lâu để KSTSR hoàn thành sự phát triển trong muỗi và cuối cùng là tỷ
lệ nhiễm thoa trùng của muỗi trong tự nhiên Sự phát hiện thoa trùng KSTSR trong muỗi là bằng chứng xác thực về vai trò véc tơ của một loài muỗi Tuy nhiên, việc mổ muỗi xét nghiệm tìm ra thoa trùng ở tuyến nước bọt luôn là việc khó khăn về kỹ thuật, cũng như trong tự nhiên, xác suất phát hiện thoa trùng là rất nhỏ Hiện nay, kỹ thuật ELISA đã tạo điều kiện thuận lợi hơn
trong việc xác định muỗi nhiễm KSTSR
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò truyền bệnh của Anopheles Theo Nguyễn Xuân Quang và cs (2013) cho thấy, ở Xuân Lâm, Sông Cầu tỷ
lệ véc tơ sốt rét ở nhà rẫy nhiễm KSTSR 1,08%; trong đó An minimus nhiễm
1,96%; còn khu vực dân cư chưa phát hiện thấy muỗi nhiễm KSTSR Ở Chư
R’Căm, Krông Pa tỷ lệ véc tơ ở nhà rẫy nhiễm KSTSR 1,09%; trong đó An
dirus nhiễm 2,38%; còn khu vực dân cư chưa phát hiện thấy muỗi nhiễm
KSTSR Như vậy véc tơ sốt rét chính An dirus và An minimus có khả năng lan truyền SR ở khu vực nhà rẫy Trong đó chỉ số lan truyền của An minimus
ở Xuân Lâm, Sông Cầu (H = 0,0035) là tương đương với An dirus Chư
R’Căm, Krông Pa (H = 0,0031) [22]
Theo Trương Văn Có và cs (2005), cho thấy tại một số vùng trọng điểm
ở MT-TN, các véc tơ sốt rét nhiễm KSTSR trung bình là 2,23% [6] Theo Trần Thanh Hùng (2014), cho thấy tại điểm nghiên cứu 2 loài véc tơ chính
An dirus và An minimus có xu hướng đốt mồi cao; véc tơ thực hiện một chu
kỳ tiêu sinh khoảng 3,1-3,7 ngày, đồng thời cần trải qua khoảng 2,6-4,6 chu
kỳ tiêu sinh mới có thể truyền KSTSR tùy theo chủng KSTSR, tuổi thọ trung
bình quần thể chung của véc tơ là 6,1 ngày, An dirus là 9,1 ngày, An minimus
là 6,1 ngày, tỷ lệ nhiễm KSTSR bằng phương pháp ELISA của An dirus ở xã
Chư R’Căm (Krông Pa) chiếm tỷ lệ 2,38%, An minimus và các véc tơ phụ
Trang 26chưa thấy phản ứng dương tính với phương pháp này Chỉ số truyền nhiễm
của véc tơ truyền bệnh chính An dirus là 1,04 cao hơn so với thời gian trước
Chỉ số lan truyền véc tơ sốt rét ở sinh cảnh bìa rừng xã Chư R’Căm (Krông
Pa): véc tơ chính An dirus có tỷ lệ nhiễm 2,38%, chỉ số lan truyền là 1,04;
sinh cảnh khu dân cư chưa phát hiện thấy muỗi nhiễm KSTSR [16]
1.3 Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy trên thế giới
Những kiến thức có được của người dân về bệnh sốt rét sẽ tác động trực tiếp đến việc thực hành của họ trong thực hành phòng chống căn bệnh này Rất nhiều nghiên cứu của nhiều nhóm tác giả được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành PCSR của người dân giúp chương trình PCSR trên thế giới cũng như tại Việt Nam đạt được hiệu quả
Năm 1996 Vundule và Mharakurwa đã tiến hành đánh giá kiến thức, thực hành về bệnh sốt rét trên cộng đồng dân vùng nông thôn ở Zimbabwe cho thấy, có khoảng 82% người được hỏi trả lời không có bất cứ biện pháp nào để bảo vệ mình khỏi bị sốt rét và thực hiện các biện pháp phòng ngừa có
sự liên quan đến kiến thức có được về bệnh sốt rét của người dân [45]
Tại Ấn Độ (2007) khi phỏng vấn 450 người dân tại ngôi làng Jaisalmer, Rajasthan cho kết quả 1/3 số người được hỏi đã không thực hiện điều trị khi mắc sốt rét cũng như không tham gia các hoạt động phòng chống véc tơ, vì họ cho rằng việc bị muỗi đốt không có hại cũng như sốt rét là một bệnh nhẹ Thói quen ngủ ngoài trời, ngủ chung giường với trẻ em, cảm giác khó chịu và ngạt thở khi nằm trong màn hoặc bất kỳ biện pháp bảo vệ nào khác cũng góp phần vào sự lây lan của bệnh sốt rét ở khu vực này [44]
Trang 271.3.2 Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân ngủ rẫy ở Việt Nam
Tại Việt Nam, theo Ron P Marchand (2001) Chương trình Quốc gia PCSR của Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt ở thời điểm hiện tại Tuy nhiên, công tác PCSR vẫn rất khó khăn trong việc bảo vệ cho người dân thường xuyên ngủ lại rừng, rẫy nên tỷ lệ nhiễm sốt rét ở đây cao hơn ở thôn bản [21] Ngủ rẫy là thói quen canh tác phổ biến hiện nay của đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên và các huyện miền núi Trung Bộ.Trong các dịp mùa đồng bào thường kéo cả nhà lên nhà rẫy chỉ được làm tạm bợ để làm ăn và thu hoạch nên khả năng nhiễm bệnh sốt rét cao
Nhiều cộng đồng người dân tộc của các tỉnh Khánh Hòa, Quảng Nam, Bình Định, Gia Lai,…vẫn còn hoạt động nương rẫy, làm nhà rẫy và ở đó trong mùa vụ Một số khác vào rừng khai thác lâm thổ sản, chặt cây, tìm vàng Trong năm 2013-2014, tại khu vực MT-TN đã có một số điểm tình hình sốt rét biến động, nguyên nhân chủ yếu tập trung vào nhóm đối tượng đi rừng, ngủ rẫy như: xã Khánh Sơn, Khánh Phú, Sơn Thái (Khánh Hòa); xã Chư R’Căm, Ia Mlah, Đăk P’Ling, Đăk Tơ Pang (Gia Lai)
Nghiên cứu của Lê Xuân Hùng (2007) về thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và biện pháp can thiệp sốt rét ở biên giới Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2006 cho thấy, tỷ lệ hiểu biết của người dân về bệnh sốt rét chỉ từ 63,3% đến 64,5% và số hộ dân có đủ màn nằm còn thấp từ 57% đến 65% [13]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quang (2012) qua phỏng vấn cho thấy những người đi rừng, ngủ rẫy trả lời đã từng mắc sốt rét đều chiếm tỷ lệ cao ở 3 khu vực nghiên cứu: Chư Mo Ray (Kon Tum) là 71,3%; Kon Ka Kinh (Gia Lai) là 82,4% và Ea Sô (Đăk Lăk) là 81% [23]
Nghiên cứu về tỷ lệ bệnh sốt rét và hiệu quả của võng có bọc võng tẩm hóa chất diệt muỗi trong PCSR cho người đi rừng, ngủ rẫy tại Vĩnh Linh,
Trang 28Quảng Trị của Hồ Văn Hoàng và cs.(2010) cho thấy, tỷ lệ nhiễm KSTSR ở người đi rừng, ngủ rẫy chiếm 7,44%, sau 5 tháng áp dụng biện pháp can thiệp thì tỷ lệ nhiễm ở nhóm can thiệp là 3,12%, thấp hơn so với nhóm chứng [12] Nghiên cứu về thực trạng mắc sốt rét và các yếu tố liên quan đến bệnh sốt rét của người dân đi rừng, ngủ rẫy tại huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận của Chế Ngọc Thạch (2010) cho thấy người đi rừng, ngủ rẫy mắc sốt rét cao nhất vào các tháng (11, 12 và 01) trong năm; người đi rừng, ngủ rẫy có nguy
cơ mắc sốt rét cao gấp 5,03 lần những người không đi rừng ngủ rẫy Nghiên cứu còn cho thấy có nhiều yếu tố gây khó khăn trong việc áp dụng các biện pháp PCSR cho nhóm đối tượng đi rừng ngủ rẫy như: 75% trả lời diện tích nhà rẫy nhỏ không có chỗ treo màn; 54,8% trả lời không đủ màn [27]
Nghiên cứu của Tạ Thị Tĩnh (2003) tại xã Khánh Trung, Khánh Vĩnh, Khánh Hòa thì người dân đi làm rẫy có nguy cơ mắc sốt rét cao gấp 1,6 lần so với người không đi làm rẫy và việc cấp thuốc để người dân mang theo tự điều trị khi đi rừng ngủ rẫy đã giảm tỷ lệ mắc sốt rét ở nhóm đi rừng, ngủ rẫy [34] Nghiên cứu của Annette Erhart (2004) về sốt rét rừng ở Suối Kiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam cho thấy hoạt động đi rừng và ngủ trong rừng là yếu tố nguy cơ chính mắc bệnh sốt rét [50]
Nghiên cứu của Lê Khánh Thuận (2000) cho thấy, có 77,4% đối tượng này đã từng bị sốt rét, chỉ có 57,1% người khi vào rừng mang theo màn [30] Như vậy, kiến thức, thái độ, thực hành của người dân còn thấp cần phải
áp dụng biện pháp bảo vệ cho đối tượng thường xuyên hoạt động và ngủ tại rẫy để giảm nguy cơ mắc và tử vong ở nhóm đối tượng này
1.4 Phòng chống véc tơ sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Phòng chống véc tơ sốt rét trên thế giới
Lan truyền tự nhiên của bệnh sốt rét là mối quan hệ của ba yếu tố: véc tơ sốt rét (muỗi Anopheles), tác nhân gây bệnh (KSTSR), khối thụ cảm (con
Trang 29người) diễn ra trong môi trường phù hợp và quan hệ tương hỗ với những điều kiện của môi trường (Gilles, 1993; Nguyễn Tuyên Quang, 1996) Do đó, để PCSR phải cắt đứt mối liên hệ giữa một trong ba yếu tố trên Dựa trên cơ sở trên có thể sử dụng các biện pháp phòng chống sốt rét như sử dụng hóa chất diệt véc tơ truyền bệnh sốt rét, bảo vệ người lành (khối cảm thụ), chuẩn đoán
và điều trị sốt rét đối với những người đã mắc sốt rét
Nghiên cứu biện pháp phòng chống véc tơ sốt rét trên thế giới gồm các biện pháp kiểm soát véc tơ được áp dụng diệt muỗi hoặc bọ gậy, làm giảm mật độ muỗi, xua muỗi để ngăn cản sự tiếp xúc giữa người với véc tơ nhằm hạn chế mức thấp nhất khả năng truyền bệnh của véc tơ Một bước ngoặc trong phòng chống véc tơ là việc phát hiện và tổng hợp thành công hóa chất, tiếp theo, một loạt các hóa chất diệt côn trùng khác được phát hiện và tổng hợp gồm nhóm lân hữu cơ, nhóm clo hữu cơ, nhóm carbamat, nhóm pyrthroid Do đó, kiểm soát được bệnh sốt rét làm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong trên toàn cầu
Hiện nay, chiến lược kiểm soát muỗi truyền bệnh sốt rét trên toàn cầu đang áp dụng có hiệu quả nhất đó là sử dụng hóa chất diệt côn trùng để tẩm màn và phun tồn lưu trong nhà Đây là hai biện pháp chính chống lại muỗi sốt rét đốt người trong nhà và giúp làm giảm lan truyền sốt rét Nhờ hai biện pháp này mà chúng ta đã cứu sống hàng triệu người trên thế giới mỗi năm Theo WHO (2015), năm 2013 thì có 136 triệu màn được cấp; năm 2014, có hơn
189 triệu màn LLIN Đồng thời có khoảng 116 triệu người trên thế giới đã được bảo vệ bằng biện pháp phun tồn lưu trong nhà năm 2014 [63]
1.4.2 Phòng chống véc tơ sốt rét ở Việt Nam
Cũng giống như các nước khác ở Đông Nam Á tại Việt Nam lan truyền sốt rét có mối liên hệ chặt chẽ với rừng và nhà rẫy Nghiên cứu của Annette Erhart và cs (2004) [48] về sốt rét rừng ở xã Suối Kiết (Tánh Linh, Bình
Trang 30Thuận) cho thấy, những người thường xuyên hoạt động và ngủ trong rừng có nguy cơ mắc sốt rét cao hơn 4 lần so với những người không thường xuyên làm việc và ngủ trong rừng Tại xã Đắk Ơ (Phước Long, Bình Phước) những người làm việc và ngủ trong rừng có nguy cơ nhiễm sốt rét cao hơn khoảng 2 lần so với những người khác Tương tự, nghiên cứu tại Bình Thuận, Chế Ngọc Thạch (2010) cũng cho biết, người đi rừng ngủ rẫy có nguy cơ mắc sốt rét cao gấp 5,03 lần so với những người không đi rừng ngủ rẫy và tỷ lệ nhiễm KSTSR của người đi rừng, ngủ rẫy là 69,3% [27]
Hiện nay, phần lớn số ca mắc sốt rét tập trung chủ yếu ở khu vực nhà rẫy
ở trong rừng và luôn có mặt véc tơ chính với mật độ cao Do vậy, nhiều biện pháp can thiệp nhà rẫy được thực hiện đã giảm tình trạng mắc sốt rét Nhiều biện pháp phòng chống muỗi được áp dụng, tuy nhiên hai biện pháp phòng chống véc tơ được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả nhất là phun chất tồn lưu
và màn tẩm hóa chất Hóa chất được sử dụng rộng rãi là hóa chất thuộc nhóm Pyrethroid như: phun hóa chất Fendona cho vùng có tỷ lệ nằm màn dưới 80%, tẩm màn cho vùng có tỷ lệ nằm màn trên 80% Bên cạnh biện pháp phòng chống muỗi cần phải phối hợp các biện pháp bảo vệ người lành và cấp thuốc
và điều trị cho người bệnh
Nghiên cứu của Lục Nguyên Tuyên (2005) [37] về tình hình sốt rét ở nhóm đi rừng ngủ rẫy và một số biện pháp can thiệp tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa cho thấy bằng truyền thông PCSR kết hợp với phun nhà rẫy và tẩm màn làm giảm tỷ lệ nhiễm KSTSR ở người ngủ rẫy từ 29,8% còn 7,7% Nguyễn Xuân Thiện và cs (2005) [28], nghiên cứu thực trạng mắc sốt rét và áp dụng một số biện pháp PCSR cho đối tượng đi rừng ở Vĩnh Linh, Quảng Trị cho thấy nhóm những người đi rừng có tỷ lệ nhiễm KSTSR là 8,2%, và sau khi áp dụng biện pháp quản lí bệnh nhân kết hợp tẩm màn thì làm giảm 64% bệnh nhân sốt rét và giảm 78% tỷ lệ nhiễm KSTSR
Trang 31Trương Văn Có và cs (2007), đánh giá hiệu quả tẩm màn hóa chất ICON 2,5 CS tại xã Iakor (Gia Lai) cho thấy, mật độ véc tơ sốt rét trú đậu trong nhà và vào nhà tìm mồi đốt máu giảm Mật độ Anopheles bắt được bằng bẫy đèn giảm đáng kể có ý nghĩa thống kê (15,5 c/đ/đ xuống còn 1,8 c/đ/đ [7] Tuy nhiên cũng cần đánh giá mức độ nhạy cảm và kháng của Anopheles đối với hóa chất sau một thời gian sử dụng Nghiên cứu của Nguyễn Xuân
Quang và cs ở khu vực MT-TN giai đoạn 2011-2015 cho thấy, An maculatus
đã kháng với hóa chất Lambdacyhalothrin 0,05% (ICON), Deltamethrin 0,05%, Permethrin 0,75% và Alphacypermethrin 30mg/m2 (Fendona); An
aconitus, An minimus ở Bình Thuận có thể kháng với Alphacyhalothrin
30mg/m2, Lambdacyhalothrin 0,05% và Deltamethrin 0,05%; các loài véc tơ
An aconitus, An dirus, An minimus ở các tỉnh khác vẫn còn nhạy với hóa
chất Lambdacyhalothrin 0,05%, Deltamethrin 0,05%, Permethrin 0,75% và Alphacypermethrin 30mg/m2 [24]
1.5 Phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy trên thế giới
Ngày nay, bệnh sốt rét đã được khống chế và đẩy lùi một cách đáng kể
so với những năm của thập kỷ 90, tuy nhiên sốt rét vẫn là bệnh có mức lưu hành cao, gây tỷ lệ mắc và tử vong cao ở nhiều quốc gia trên thế giới Công tác PCSR vẫn được tiếp tục với nhiều khó khăn và thử thách [20]
Khó khăn về kỹ thuật chuyên môn: P faciparum kháng choloroquine và
đa kháng với hóa liệu pháp chống sốt rét Muỗi Anopheles kháng hóa chất diệt côn trùng, thay đổi sinh lý sinh thái, trú ẩn ngoài nhà, nhưng đốt người
trong nhà Kể từ năm 1960 , khi P faciparum kháng choloroquine được công
bố tại Nam Mỹ (Brasil), Đông Dương (Thái Lan, Việt Nam) thì hiện tượng kháng lan rộng ngày càng nhanh Về kháng hóa chất diệt muỗi Anopheles, năm 1946 chỉ có 2 loài Anopheles kháng DDT, nhưng đến năm 1991 có đến
Trang 3255 loài kháng hóa chất, trong đó có 53 loài kháng DDT, 27 loài kháng phốt pho hữu cơ, 17 loài kháng với Carbamate và có 10 loài kháng với Pyrethroids,
16 loài cho thấy kháng với 3 hoặc 4 loại hóa chất Hiện tượng kháng Anopheles xuất hiện ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ
Khó khăn về kinh tế-xã hội: Ở các nước có lưu hành sốt rét, đặc biệt là quốc gia chậm phát triển và đang phát triển thu nhập thấp nên thiếu kinh phí cho PCSR Sự biến động dân cư, kinh tế mới, du canh du cư, làm cho các người này không được bảo vệ nên tình hình sốt rét trở nên nghiêm trọng hơn
Hệ thống y tế: thiếu cơ sở y tế và cán bộ làm công tác vệ sinh phòng dịch, PCSR ở địa phương Cán bộ cơ sở y tế còn nhiều khó khăn trong chẩn đoán và điều trị, đặc biệt khi gặp những trường hợp bệnh sốt rét có triệu chứng lâm sàng không điển hình thì rất khó khăn trong việc chẩn đoán và ra quyết định điều trị
Theo báo cáo của WHO năm 2013, việc PCSR gặp trở ngại ở giai đoạn 2005-2012, sự sụt giảm trong việc mở rộng các biện pháp phòng chống để kiểm soát muỗi, đặc biệt là trong việc tiếp cận và cung cấp màn tẩm hóa chất diệt muỗi Điều này chủ yếu là do thiếu kinh phí mua màn ngủ của một số quốc gia có lan truyền bệnh sốt rét Việc cung cấp thuốc sốt rét thông qua các dịch vụ y tế công cộng đã tăng lên đáng kể, nhưng việc tiếp cận với điều trị, đặc biệt là điều trị ACT (Artemisinin Combination Tearapy) còn khó khăn Cũng theo WHO, ở vùng tiếp cận Sahara Châu Phi, tỷ lệ dân số được tiếp cận với màn tẩm hóa chất diệt muỗi vẫn chưa đạt đến 50% vào năm 2013 Chỉ có 70 triệu chiếc màn chống muỗi mới được chuyển giao cho các nước lưu hành sốt rét vào năm 2012, thấp hơn mức tối thiểu là 150 triệu chiếc cho nhu cầu tối thiểu hàng năm để đảm bảo cho tất cả mọi người có nguy cơ được bảo vệ Việc sử dụng bộ test chẩn đoán sốt rét không còn nhiều trở ngại và nó được tiếp tục sử dụng mở rộng trong những năm gần đây Từ năm 2000-2012,
Trang 33tỷ lệ người bị nghi ngờ sốt rét đã được sử dụng test để chẩn đoán nhanh trong khu vực y tế cộng đồng tăng từ 44% đến 64% trên toàn cầu Việc tiếp cận và
sử dụng phương pháp điều trị phối hợp với Artemisin theo khuyến cáo của WHO đã tăng lên với số lượng các liệu trình điều trị cho các nước từ 76 triệu vào năm 2006 lên đến 331 triệu vào năm 2012 Mặc dù đạt được những tiến
bộ nhưng vẫn còn hàng triệu người không được tiếp cận việc chẩn đoán và điều trị đảm bảo chất lượng [63]
Tóm lại có thể nói nguyên nhân chính làm cho sốt rét nặng và bền vững
ở vùng núi là véc tơ sốt rét có khả năng truyền bệnh cao, tuổi thọ dài, có tập tính trú đậu và đốt mồi ngoài nhà nên ít chịu tác động của hóa chất diệt muỗi Trong khi đó, các cộng đồng dân cư địa phương chủ yếu là dân tộc thiểu số có đời sống kinh tế thấp, tập quán lạc hậu và hiểu biết về PCSR còn hạn chế Ngoài ra, việc di cư từ vùng không có sốt rét lưu hành tới vùng rừng núi góp phần làm cho diễn biến sốt rét càng phức tạp
1.5.2 Phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy ở Việt Nam
Theo báo cáo năm 2015, cả khu vực MT-TN ghi nhận 7.644 ca mắc, 15 trường hợp sốt rét ác tính, một ca tử vong do sốt rét và không có dịch sốt rét xảy ra So với năm 2014, số bệnh nhân sốt rét giảm 47,2%, KSTSR giảm 48,2%, sốt rét ác tính giảm 67,4%, véc tơ sốt rét giảm 66,7% Số ca mắc khu vực này chủ yếu là nhóm dân biến động như di cư tự do, hoạt động và ngủ lại trong rừng, giao lưu biên giới Trong đó, sốt rét nhà rẫy hiện nay đang nổi lên một vấn đề lớn đối với những người thường làm việc và ngủ qua đêm trong nhà rẫy Đây chính là thách thức lớn để Việt Nam đạt được mục tiêu loại trừ sốt rét vào năm 2030 [39]
Hoạt động đi rừng, ngủ rẫy là một trong những thách thức cho PCSR ở một số vùng Hiện nay, tình hình sốt rét ở Việt Nam ổn định, tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét tuy có giảm, nhưng nguy cơ gia tăng sốt rét tiềm ẩn còn cao ở
Trang 34một số vùng, đặc biệt tại các vùng có người dân đi rừng, ngủ rẫy Vì vấn đề bảo vệ cho người dân ngủ rẫy rất khó khăn do khu vực nhà rẫy thường có mật
độ véc tơ truyền bệnh cao, nhà rẫy nằm rãi rác trên núi cao nên việc đi phun tẩm hóa chất rất khó khăn, người dân chưa có ý thức PCSR như họ không mang màn theo khi ngủ, người dân chưa đủ màn để mang đi ngủ tại nhà rẫy
Cơ sở y tế không quản lí được người dân đi ngủ rẫy vì nhà rẫy quá xa bản làng, khi bị sốt rét người dân không được phát hiện và điều trị kịp thời
Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra hiệu quả PCSR cho các đối tượng ngủ rẫy, nhưng cũng đồng thời khuyến cáo cần phải có các nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn để có những biện pháp PCSR khác nhau phù hợp với từng vùng, từng nơi có những yếu tố dịch tễ sốt rét, yếu tố véc tơ, cũng như yếu tố tập quán ngủ rẫy của người dân khác nhau; đặc biệt là ở MT-TN – nơi mà đa số người dân địa phương vẫn còn tập tính đi rừng, ngủ rẫy
Như vậy, hiện nay ở MT-TN, việc nghiên cứu muỗi Anopheles và các véc tơ sốt rét, cũng như nghiên cứu về kiến thức, thái độ thực hành PCSR cho người dân ngủ rẫy là rất cần thiết
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Muỗi Anopheles (Diptera: culicidae)
Người dân ngủ rẫy ở hai xã Sơn Thái và Khánh Phú, Khánh Vĩnh, Khánh Hòa
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
có Đỉnh Hòn Giao (2.062 m) là đỉnh núi cao nhất tỉnh Khánh Hòa Do nằm ở thượng nguồn của sông Cái Nha Trang, huyện Khánh Vĩnh có mật độ sông suối cao hơn so với các huyện khác trong tỉnh với mật độ sông suối trung bình 0,65 km/km2 Khánh Vĩnh có 87.198,99 ha đất rừng, độ che phủ thường xuyên chiếm 75% diện tích tự nhiên của huyện với tổng trữ lượng gỗ lên đến
10 triệu m3, trong đó 9 triệu m3 tập trung ở rừng rậm và rừng trung bình
Trang 36Do vị trí huyện Khánh Vĩnh nằm phía tây tỉnh Khánh Hòa nên chịu sự ảnh hưởng gió Lào từ phía Tây thổi vào làm khí hậu khô hanh Ở đây thường
có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa ngắn, từ giữa tháng 9 đến tháng 12 dương lịch, tập trung chủ yếu vào tháng 10 và tháng 11 hàng năm, lượng mưa chiếm trên 50% lượng mưa trong năm Những tháng còn lại
Trang 37phương tiện giao thông và chủ yếu là đi bộ và phải mất hàng giờ đi bộ mới tới khu vực rẫy của người dân Vào mùa hè, người dân thường dẫn con cái vào nhà rẫy để tiện chăm sóc Và đây là những đối tượng dễ mắc sốt rét nhất Khu
vực này là địa điểm tiến hành điều tra muỗi và bọ gậy Anopheles
Điểm nghiên cứu xã Sơn Thái: Xã Sơn Thái thuộc huyện miền núi
Khánh Vĩnh, nằm ở phía tây của huyện với nhiều dãy núi cao Do địa hình nhiều núi nên có nhiều khe suối chảy Mặc dù diện tích rừng tự nhiên đã thay đổi nhiều so với trước đây nhưng diện tích rừng ở đây còn nhiều hơn so với các xã khác trong huyện Xã có hai thôn gồm thôn Giang Biên và thôn Bố Lang, giao thông đi lại của hai thôn rất khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa Hiện nay, do diện tích canh tác của đồng bào thiếu nên nhiều hộ gia đình dân tộc T’rin vào trong rừng sâu để phát rừng lấy đất canh tác nông nghiệp, một số hộ vào rừng sâu khai thác gỗ và các lâm sản khác Do vậy, thời gian làm việc và ngủ lại trong rừng kéo dài vài ngày cho đến vài tháng tùy theo công việc Do sống tạm bợ nên hầu như không có nhà cố định mà là các lán, trại, nhà rẫy,… Đây là địa điểm tiến hành điều tra muỗi và bọ gậy Anopheles
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra số lượng, mật độ muỗi và bọ gậy Anopheles ở khu vực nhà rẫy tại 2 xã Khánh Phú và Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa theo các quy trình của WHO (1994) và Viện Sốt rét-KST-CT Trung ương (2011)
- Định loại muỗi Anopheles bằng hình thái
- Xác định vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét bằng kỹ thuật ELISA để xác định muỗi Anopheles nhiễm KSTSR
- Mô tả các loại hình nhà rẫy và tập quán ngủ rẫy của người dân
- Điều tra kiến thức, thái độ, thực hành PCSR của người dân ngủ rẫy tại
2 xã Khánh Phú và Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa bằng phỏng vấn theo bộ câu hỏi soạn sẵn để xác định
Trang 382.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu ngang mô tả
- Nghiên cứu phân tích trong phòng thí nghiệm
Mỗi điểm nghiên cứu tiến hành điều tra muỗi Anopheles trong 4 đợt:
2.4.2.2 Kỹ thuật điều tra muỗi Anopheles
Theo quy trình Viện Sốt rét-KST-CT Trung ương (2011) và WHO (1994), có các kỹ thuật điều tra sau:
Kỹ thuật bẫy đèn CDC trong nhà và ngoài nhà rẫy ban đêm:
Đặc tính, dựa vào đặc tính nhiều loài muỗi về đêm bị thu hút bởi một số nguồn sáng khác nhau Mục đích là cung cấp dẫn liệu về thành phần loài, một số chỉ số (mật độ, tập tính…) để xác định phân bố và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng chống véc tơ, đánh giá biến động theo không gian và thời gian về kích thước quần thể các loài muỗi Anopheles
Trang 39+ Bẫy đèn trong nhà rẫy ban đêm (BĐTN): Đặt 2 đèn bẫy trong nhà suốt
đêm từ 18 giờ tối đến 6 giờ sáng hôm sau Các bẫy đèn đặt ở vị trí cao 1,5m
so với mặt đất sàn nhà và gần nơi người dân thường ngủ
+ Bẫy đèn ngoài nhà nhà rẫy ban đêm (BĐNN): Đặt 2 bẫy đèn ngoài
nhà dân suốt từ 18 giờ tối đến 6 giờ sáng hôm sau Các bẫy đèn đặt ở vị trí cao 1,5m so với mặt đất, treo bẫy đèn ở các cành cây hoặc những giá thể quanh nhà, nơi kín gió và tránh xa chuồng gia súc
Cách tiến hành treo bẫy: bẫy được đánh dấu rõ ràng khi treo từng hộ gia đình để không bị nhầm lẫn với những hộ khác kể cả bẫy (trong và ngoài nhà rẫy), bẫy đèn được treo cách xa các nguồn ánh sáng khác, tốt nhất là không bị các ánh sáng khác làm ảnh hưởng trong thời gian treo bẫy Bẫy được treo cách mặt đất hoặc mặt sàn khoảng 1,5 m cách vị trí ngủ khoảng 0,5 m Lắp nguồn điện pin cho bẫy chạy thời gian bắt đầu từ 18 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau Đến 6 giờ sáng hôm sau tiến hành thu bẫy để thu thập muỗi Cần ghi lại đầy
đủ các thông tin nhà được đặt bẫy
Kỹ thuật mồi người trong và ngoài nhà rẫy:
Mục đích, nhằm xác định thành phần loài, mật độ, tập tính, Anopheles đốt
người tại địa điểm nghiên cứu suốt đêm và mùa phát triển của muỗi trong năm
+ Mồi người trong nhà rẫy ban đêm (MNTN): thời gian tiến hành mồi
bắt đầu từ 18 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau (thời gian mồi bắt muỗi trong 1 tiếng thì mồi liên tục 45 phút sau đó nghĩ giải lao 15 phút và hết thời gian nghỉ thì tiếp tục mồi bắt muỗi lại giờ tiếp theo và cứ thế cho tới 6 giờ sáng hôm sau) Trong 1 đêm có 3 người mồi chia làm 3 ca và thực hiện như vậy trong 4 đêm cho mỗi điểm điều tra, vị trí mồi muỗi: chọn nơi kín gió, yên tỉnh
để ngồi, cách cửa sổ được mở gần nơi mồi để muỗi bay vào
+ Mồi người ngoài nhà rẫy ban đêm (MNNN): điểm mồi người ngoài
nhà nằm gần nhà mồi muỗi trong nhà đã được chọn để bắt muỗi Vị trí ngồi
Trang 40mồi muỗi, cách nhà khoảng 30-50 m tùy thuộc vào địa hình xung quanh nhà mồi Không ngồi cạnh chuồng gia súc (cách 100 m trở lên) Thời gian mồi từ
18 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau (như mồi trong nhà) Số người mồi cũng giống như MNTN, vị trí mồi muỗi: chọn nơi kín gió, yên tỉnh để ngồi
Người làm mồi bắt muỗi ở tư thế ngồi, quần được xăn lên quá gối để 2 chân lộ ra, ngồi yên chờ muỗi đến đốt để bắt Sau 1-2 phút dùng đèn pin soi một lần để kiểm tra xem có muỗi hay không, khi soi đèn xem không nên soi đèn trực tiếp vào để tránh làm muỗi kích động bay đi mất Khi phát hiện có muỗi một tay cầm đèn pin soi, một tay cầm ống tube chuyên dụng khéo léo chụp lên muỗi đang đậu trên chân, khi đã chụp được muỗi thì dùng ngòn tay trỏ cầm tube lựa tư thế đúng bịt đầu ống tube đang úp muỗi khi thấy muỗi đã vào trong ống tube thì đưa ra và dùng bông bịt đầu tube lại và ghi lại thời gian bắt muỗi
Kỹ thuật soi muỗi trên tường vách trong nhà rẫy ban đêm:
Mục đích của phương pháp này là xác định thành phần loài, mật độ các loài Anopheles, có tập tính đậu rình mồi trước khi đốt mồi hoặc đậu nghỉ tạm thời sau khi đốt máu Đánh giá tác dụng của hóa chất phun tẩm trong nhà
Thời gian tiến điều tra theo giờ mồi muỗi ban đêm, mỗi giờ soi 10 phút trên tường, mái nhà thấp, trên màn… những nơi mà muỗi có thể đậu để rình
mồi Kỹ thuật bắt muỗi, tay phải cầm đèn pin tay trái cầm tube soi vào các vị
trí vách trong, ngoài mà muỗi có thể đậu, khi thấy muỗi dùng tube ở tay phải bắt muỗi, lựa tư thế thuận lợi, nhẹ nhàng để bắt muỗi, khi bắt được muỗi dùng bông đậy ống tube lại và tiếp tục soi
Kỹ thuật soi muỗi trong nhà rẫy ban ngày (SNN):
- Nhằm xác định thành phần loài, mật độ, tập tính muỗi Anopheles tiêu
máu trong nhà; nhằm xác định vị trí, độ cao, giá thể nơi muỗi trú đậu tiêu máu Bắt muỗi trú đậu trong nhà rẫy ban ngày thời gian từ 6 giờ đến 10 giờ trong 4 ngày cho mỗi điểm nghiên cứu, mỗi điểm chọn 10 nhà phân bố đều ở