Tâm lý học tư pháp là tâm lý học chuyên ngành về hoạt động tư pháp, nghiên cứu các hiện tượng, các đặc điểm và các quy luật tâm lý biểu hiện trong quá trình thực hiện tội phạm, trong điều tra, truy tố xét xử và thi hành án, đồng thời soạn ra các phương pháp tâm lý để sử dụng trong hoạt động tư pháp.
Trang 1TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP
Câu 1 Mục đích của việc sử dụng các phương pháp tác động tâm lý trong hoạt động tư pháp.
1 Khái niệm:
* Khái niệm “Tâm lý học tư pháp”: Là một ngành khoa học nghiên cứu các cấu
trúc tâm lý của hoạt động tư pháp, các hiện tượng tâm lý, đặc điểm tâm lý và các quy luật tâm lý của các chủ thể tham gia vào hoạt động tư pháp Với các phương pháp tác động tâm lý nhằm nhận thức sự thật khách quan của các vụ án hình sự, giải quyết đúng đắn các vụ án và giáo dục cải tạo người phạm
* Phương pháp tác động tâm lý: Là cách thức sử dụng các phương tiện giao tiếp
tác động đến người khác nhằm hình thành hoặc thay đổi tâm lý của họ, phù hợp với mục đích giải quyết vụ án và cải tạo người phạm tội, trong khuôn khổ của pháp pháp luật
2 Mục đích:
- Xác định sự thật khách quan về vụ án trong quá trình điều tra, xét xử
- Khắc phục những động cơ tiêu cực, khơi dậy những động cơ tích cực ở những người tham gia tố tụng, tạo điều kiện cho việc xác lập chứng cứ thông qua lời khai của họ được nhanh chóng, chính xác và khách quan
- Tăng tính tích cực trong hoạt động của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
- Thay đổi tâm lý của đối tượng bị tác động nhằm thu thập thông tin
- Giáo dục, cải tạo, cảm hóa người phạm tội
- Nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động tư pháp, bảo vệ quyền con người, hạn chế
vi phạm pháp luật dẫn đến làm tổn thương con người trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự
Trang 2Câu 2 Các phương pháp tác động tâm lý
1 Khái niệm:
Phương pháp tác động tâm lý: Là cách thức sử dụng các phương tiện giao tiếp
tác động đến người khác nhằm hình thành hoặc thay đổi tâm lý của họ, phù hợp với mục đích giải quyết vụ án và cải tạo người phạm tội, trong khuôn khổ của pháp luật
2 Các phương pháp tác động tâm lý:
1 Phương pháp Truyền đạt thông tin:
* Khái niệm: Là phương pháp mà chủ thể tác động đưa ra các thông tin có liên
quan đến các vấn đề mà người bị tác động đang quan tâm, nhằm tác động đến tư duy, tình cảm, ý chí của họ Từ đó làm thay đổi thái độ và hình vi của họ
* Phương pháp này được sử dụng trong các trường hợp sau:
- Cần làm tăng hiểu biết, kiến thức cho người bị tác động
- Cần thay đổi hướng tư duy của người bị tác động khi họ cung cấp thông tin không đúng sự thật
- Cần làm thay đổi xúc cảm tình cảm, trạng thái tâm lý, quan điểm, lập trường của người bị tác động
- Cần khôi phục lại trí nhớ về những tình tiết mà người bị tác động quên hoặc nhầm lẫn
* Khi sử dụng phương pháp này cần phải chú ý các yếu tố sau:
- Điều kiện truyền đạt thông tin.
- Phương thức truyền đạt thông tin
- Hình thức truyền đạt thông tin (dạng câu khẳng định và câu phủ định )
- Xác định trình tự và tốc độ truyền đạt thông tin
VD: Gợi ý về địa điểm, đồ vật cụ thể có liên quan, nói về tình trạng, suy nghĩ
người thân của chủ thể
Trang 32 Phương pháp Thuyết phục:
* Khái niệm: Là dùng những lời lẽ để phân tích, giải thích cho người bị tác động
nhằm giúp họ nhận rõ đúng, sai, phải, trái, về các vấn đề có liên quan tới họ Từ đó làm cho họ thay đổi cách nhìn nhận và thay đổi thái độ
* Thuyết phục là quá trình bao gồm các bước:
- Trình bày các chứng cứ nhất định
- Truyền đạt thông tin xác nhận tính đúng đắn của các chứng cứ đã đưa ra
- Sự nghi ngờ khi nghe và sự phản đối của người bị tác động
- Trình bày các chứng cứ mới có chú ý tới sự phản đối
- Nhắc lại các chứng cứ riêng biệt của thông tin nhằm mục đích tác động đầy đủ đến quá trình tư duy của người bị tác động
* Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý tới các yếu tố:
- Chủ thể tác động phải có khả năng, trình độ nghiệp vụ
- Phải phân tích đầy đủ các mặt lợi, hại, tốt xấu của các vấn đề, các sự kiện
- Phải tính đến đặc điểm tâm lý, tính cách, khí chất của người bị tác động
VD: Dùng những lời nói quan tâm, tình cảm để thuyết phục họ.
3 Phương pháp Đặt vấn đề và thay đổi vấn đề tư duy:
* Khái niệm: Là phương pháp đưa ra những vấn đề cụ thể dưới dạng câu hỏi để
kích thích, định hướng và phát triển or thay đổi quá trình tư duy của đối tượng bị tác động, từ đó tác động ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của họ
VD: Thẩm phán đặt ra câu hỏi, đương sự tư duy nhớ lại tình tiết.
* Phương pháp này được dùng trong các trường hợp sau:
- Giúp người cung cấp thông tin nhớ lại tình tiết bị quên
VD: Các câu hỏi gợi mở, tạo sự liên tưởng.
- Thay đổi thái độ, quan điểm, lập trường của đối tượng bị tác động
VD: Đặt ra câu hỏi bắt buộc phải trả lời.
Trang 4- Trường hợp khai báo ko đúng: Liên tiếp đặt ra câu hỏi về nhiều vấn đề khác nhau
để đối tượng bị tác động bị giao động dẫn đến mâu thuẫn trong lời khai
VD: Bị Can đưa ra chứng cứ ngoại phạm.
* Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý tới các yếu tố:
- Sử dụng nhiều câu hỏi khác nhau: Nghi vấn, phủ định, khẳng định
- Ngữ điệu câu nói phải phù hợp với câu hỏi
- Thể hiện thái độ biểu cảm cùng với câu hỏi
4 Phương pháp Ám thị gián tiếp:
- Là phương pháp dùng lời nói, hành vi, cử chỉ làm cho đối tượng tiếp nhận thông tin thiếu sự kiểm soát và phê phán
VD: Tự nhiên có 1 người hỏi, tại sao lại làm như vậy? Sao bạn lại lấy tiền của
tôi?, làm cho đối tượng tiếp nhận thông lúng túng và mất kiểm soát.
- Người tiếp nhận thông tin lúng túng, thậm chí thiếu sự kiểm soát dẫn đến bộc lộ những HV thật
- Ám thị phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Độ tuổi
VD: Trẻ em là đối tượng dễ bị ám thị nhất
+ Trạng thái tâm lý: Hồi hộp, lo âu
+ Đặc điểm nhân cách: Những người yếu đuối, nhút nhát
- Có 2 loại ám thị: trực tiếp, gián tiếp
5 Phương pháp Mệnh lệnh:
- Là phương pháp cưỡng chế tâm lý, đòi hỏi đối tượng phải thực hiện, không phụ thuộc vào ý muốn của họ để nhằm giáo dục và cải tạo họ
- Nếu không có cưỡng chế thì không thể cải tạo được người phạm tội vì vậy việc
áp dụng phương pháp là cần thiết
- Chỉ sử dụng khi có cơ sở pháp lý chặt chẽ
VD: Lệnh khám xét, bắt giữ…
Trang 5- Áp dụng trong hoạt động cải tạo người phạm tội.
VD: Nề nếp trại giam, khuôn mẫu HV.
6 Phương pháp Giao tiếp tâm lý có điều khiển:
- Là phương pháp sử dụng các giao tiếp tâm lý trong hoạt động tư pháp để đạt các
mục đích tác động
- Sử dụng, thiết lập, điều khiển giao tiếp tâm lý trong quá trình tố tụng, chủ thể tác động nhằm đạt mục đích:
+ Xác định sự thật khách quan của vụ án
+ Giáo dục, cảm hóa cá nhân bị can, bị cáo, phạm nhân, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn
Câu 3 Đặc điểm của “hoạt động nhận thức” trong giai đoạn điều tra các vụ
án hình sự.
1 Khái niệm:
Hoạt động nhận thức là quá trình tâm lý phản ánh hiện thức khách quan và bản thân con người thông qua các cơ quan cảm giác và dựa trên những hiểu biết vốn liếng kinh nghiệm đã có của bản thân
2 Đặc điểm:
- Khi nhận thức trong giai đoạn điều tra thì ĐTV phải luôn luôn chủ động để phân tích các nguồn thông tin Nếu có nhiều thông tin về vụ án thì ĐTV cần đề ra những giả thiết, kiểm tra kỹ càng các giả thiết này và xác minh vụ án một cách chắc chắn
- Mục đích: Thu thập, xác minh các thông tin như: Động cơ, mục đích, diễn biến, hậu quả của tội phạm Từ đó ĐTV xây dựng lại diễn biến vụ án
VD: Nạn nhân chết trong căn hộ nhưng chưa rõ nguyên nhân.
- Hoạt động nhận thức trong hoạt động điều tra mang tính bị động vì các vụ án thường xảy ra trước khi cơ quan điều tra tiến hành điều tra, người phạm tội tạo ra các thông tin giả, khai báo không trung thực
Trang 6- Hoạt động nhận thức mang tính gián tiếp.
- Phương thức thu thập thông tin có 2 cách:
+ Trực tiếp: Thông qua quan sát
VD: Thu thập chứng cứ qua lời khai của người phạm tội, nạn nhân
+ Gián tiếp: Thông qua sự mô tả
=> ĐTV phải đặt ra rất nhiều giả thuyết khác nhau để làm sáng tỏ nội dung vụ án
- Đặc điểm của hoạt động nhận thức trong giai đoạn điều tra vụ án của điều tra viên được thể hiện ở sự tập trung thần kinh cao độ trong quá trình điều tra:
+ Căng thẳng trong hoạt động tư duy
+ Tiếp xúc với người phạm tội, bị hại, làm người chứng…
+ Tri giác của các đối tượng gây căng thẳng (như xác chết…)
+ Các tình tiết bất ngờ bị đảo lộn (Bị Can bỏ trốn, tự sát)
- Hoạt động nhận thức bị hạn chế về thời gian theo quy định của PL
- Quá trình nhận thức của quá trình tâm lý phức tạp sẽ có những hạn chế nhất định, thể hiện rất rõ trong từng giai đoạn nhận thức đó là sự căng thẳng trong tâm lý ĐTV Nên đòi hỏi ĐTV phải có sự chuẩn bị tâm lý
Câu 4 Đặc điểm của “hoạt động thiết kế” trong giai đoạn xét xử.
1 Khái niệm:
Hoạt động thiết kế là tổng hợp các thao tác tư duy,tưởng tượng nhằm xác lập kế hoạch, hành động để đạt các mục đích đã dự định trong họat động xét xử
2 Đặc điểm:
- Dự đoán các tình huống có thể xảy ra, lập kế hoạch xét xử, ra các quyết định cụ thể về vụ án
- Tòa án phải xét xử vụ án liên tục
- Trong quá trình nghị án các thành viên hội đồng ra quyết định theo nguyên tắc độc lập, kết quả là ý chí tập thể
- Một bản án cần thỏa mãn các mục đích: Trừng trị, giáo dục và răn đe
Trang 7- HĐXX xem xét, cân nhắc các tình tiết như: Thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải…
- Hoạt động ra quyết định trong hoạt động xét xử chịu sự tác động từ điều kiện ngoại cảnh
- Hoạt động thiết kế của Tòa án luôn được phối hợp thực hiện một cách liên tục là: + Làm sáng tỏ, kiểm tra kỹ toàn bộ chứng cứ có liên quan tới vụ án
+ Chú ý lắng nghe ý kiến của tất cả những người tham gia thẩm vấn
+ Từng thành viên của HĐXX đưa ra ý kiến cá nhân của mình về vụ án
+ Thảo luận tập thể, đi đến kết luận thống nhất để đưa ra bản án, quyết định đúng đắn
Câu 5 Nghiên cứu hồ sơ vụ án có ảnh hưởng đến nhận thức về vụ án của thẩm phán như thế nào.
- Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án giúp cho Thẩm phán dễ dàng xác định được mô hình
về vụ án và hành vi phạm tội cũng như mối quan hệ giữa chúng Vì kết luận của tài liệu điều tra mới chỉ mang tính chất sơ bộ, nó có thể thay đổi vì những lý do khác nhau như thay đổi lời khai của người làm chứng, người bị hại Do vậy Thẩm phán phải nghiên cứu và kiểm tra lại hồ sơ vụ án một cách khách quan
VD: Trong trường hợp cần thiết Tòa án có thể yêu cầu cung thêm tài liệu chứng cứ
mới và mời thêm người làm chứng
- Nghiên cứu hồ sơ vụ án giống như một hoạt động nhận thức về vụ án Lượng thông tin mà Thẩm phán sử dụng trong quá trình xét xử vụ án hình sự thường là ít hơn so với lượng thông tin được thu thu thập bởi Điều tra viên Cho nên cần nghiên cứu, xác định sơ bộ nhưng tài liệu có liên quan đến vụ án sẽ giúp Thẩm phán tập trung chú ý hơn vào những chứng cứ cần thiết
- Hoạt động nghiên cứu hồ sơ vụ án của Thẩm phán là quá trình nhận thức những chứng cứ mang tính gián tiếp cao hơn so với nhận thức của các Điều tra viên Bởi
Trang 8vì đối với các vụ án hình sự, Thẩm phán không tiếp xúc trực tiếp với vụ án mà chỉ tiếp nhận chứng cứ thông qua Điều tra viên
- Do nhận thức tài liệu về vụ án gián tiếp qua Điều tra viên, nên quá trình hình thành mô hình tư duy về vụ án của Thẩm phán phức tạp hơn Nhưng nó cũng tạo điều kiện thuận lợi đối với Thẩm phán là ít bị ảnh hưởng hơn nhiều bởi yếu tố xúc cảm so với Điều tra viên Do đó, họ bình tĩnh hơn để nhận thức các chứng cứ và mối liên hệ giữa chúng để sau đó nghiện cứu các chứng cứ một cách khách quan hơn
- Trong thời gian ngắn Thẩm phán phải giải quyết nhiều nhiệm vụ tư duy khác nhau, nhất là tại phiên toà, nên tư duy của Thẩm phán rất căng thẳng, Thẩm phán phải nghiên cứu kỹ càng và chặt chẽ những thông tin có trong hồ sơ vụ án
- Đồng thời trong gian ngắn Thẩm phán phải nghiên cứu, đánh giá chứng cứ và nguồnchứng cứ trong hồ sơ vụ án, đối chiếu chứng cứ với mô hình tư duy chung, chuẩn bị thực hiện hoạt động thiết kế - đó là ra bản án, ra quyết định
Câu 6 Những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của bị can trong giai đoạn điều tra.
1 khái niệm:
- Tâm lý là tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, nó gắn
liền và điều hành mọi hành vi, hoạt động của con người
- Bị can là người có hành vi vi phạm PL xâm phạm đến QHXH đc Luật HS bảo vệ
và bị khởi tố hình sự về hành vi đó do cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo quy định của PLTTHS
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của bị can trong giai đoạn điều tra:
Bị can thường có trạng thái tâm lý rất căng thẳng và phức tạp Trạng thái tâm lý đó gây ảnh hưởng lớn đến hành vi và thái độ của Bị can, bao gồm các yếu tố sau:
- Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của Bị can ở mức độ nguy hiểm hay không nguy hiểm cho xã hội
Trang 9- Các tình huống Bị can bị bắt và giam giữ: Là trường hợp bị bắt quả tang khi thực hiện hành vi phạm tội hay là bất ngờ bị bắt
- Có thể Bị can có chỗ dựa từ bên ngoài như người có chức vụ, quyền hạn và đặc biệt là những vụ án tham nhũng
- Những chứng cứ, chứng minh về hành vi phạm tội của bị can mà cơ quan điều tra thu thập thu được
- Những thiếu sót tâm lý - xã hội của cá nhân
- Đặc điểm nhân cách của Bị can
- Những kinh nghiệm tiếp xúc của Bị can với cơ quan điều tra
- Thái độ, phong cách và năng lực hỏi cung Bị can của ĐTV
- Lượng thông tin về quá trình điều tra vụ án mà bị can nắm bắt được
- Sự nhận thức của Bị can về tội lỗi của mình đến đâu
Câu 7 Phân tích tâm lý của nguyên đơn khi khởi kiện vụ án dân sự.
Những đặc điểm tâm lý của nguyên đơn khi khởi kiện vụ án dân sự:
1 Về mặt ý chí:
- Khi khởi kiện nguyên đơn hoàn toàn có sự tự do về ý chí
- Khi các bên có phát sinh tranh chấp hoặc bị vi xâm phạm, các bên được tự do lựa chọn phương thức để bảo vệ quyền và lợi ích của mình theo các nguyên tắc như bình đẳng, tự nguyện và thoả thuận
- Họ có thể tự thoả thuận với nhau để giải quyết vấn đề Khi các bên không thể tự thoả thuận được với nhau thì họ sẽ lựa chọn phương thức khởi kiện vụ việc ra toà án
- Do đó sự tự do ý chí, tự do định đoạt nên sẽ làm cho tâm lý của nguyên đơn trở nên tích cực, chủ động và linh hoạt hơn Việc tham gia vào hoạt động tố tụng hoàn toàn do ý muốn chủ quan và do họ tự định đoạt Thậm chí khi đã khởi kiện, nguyên đơn vẫn có quyền rút đơn khởi kiện, thay đổi yêu cầu, có quyền tự hòa giải
Trang 102 Về trạng thái tâm lý:
- Nguyên đơn trong giai đoạn khởi kiện, có sự căng thẳng về tâm lý Bởi việc khởi kiện là sự lựa chọn cuối cùng của cá nhân về biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
- Sự lựa chọn đó chỉ xảy ra khi thương lượng giữa các bên không giải quyết theo con đường thoả thuận Họ phải nhờ đến cưỡng chế nhà nước để bảo vệ cho quyền
và lợi ích của mình
- Nguyên đơn có những căng thẳng nhất định vì chưa biết có được như mong muốn hay không khi khởi kiện
- Bên cạnh đó, các quyền và lợi ích bị xâm hại làm cho đương sự có những tổn thất nhất định về vật chất cũng như về tinh thần
- Nguyên đơn có những xúc cảm tiêu cực như: thất vọng, chán nản, bực bội, khó chịu Tất cả những yếu tố đó gây nên trạng thái tâm lý căng thẳng, bức xúc ở nguyên đơn
3 Về nhận thức và hành vi:
- Khi khởi kiện, Nguyên đơn có sự chủ động và định hướng trong nhận thức và hành vi
- Nguyê đơn là người có quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm hay bị tranh chấp và
họ đã khởi kiện ra Tòa bảo vệ quyền lợi cho họ Do đó, xét về mặt tâm lý, khi khởi kiện bị đơn, nguyên đơn hoàn toàn chủ động và họ sẽ có tâm lý tích cực hơn so với
bị đơn
- Nguyên đơn có những mục đích cụ thể và hiểu rằng khởi kiện là điều kiện giúp họ
có thể đạt được các mục đích cụ thể khi bị xâm phạm