1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thuc trang cong chung chung thuc

37 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thời điểm xã hội có sự phân chia giai cấp, con người bắt đầu xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, nhu cầu trao đổi, lưu thông hàng hóa từ những hàng hóa, tài sản mang tính chất giản đơn đến những tài sản, hàng hóa có giá trị lớn cần có người đứng ra bảo đảm các giao dịch giữa con người với con người trong xã hội được tôn trọng. Giai đoạn đầu, công chứng là một nghề tự do trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi thiết lập các văn tự, khế ước và công chứng viên sơ khai là những người có kinh nghiệm, có uy tín, có kiến thức, được tôn trọng và cử ra để giữ nhiệm vụ làm chứng cho các chủ thể tham gia vào giao dịch

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO THỰC TẬP

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG - THỰC

TIỄN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRỊNH TUẤN ANH

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mộng Thùy Lớp: DH34LK02

Mã số sinh viên: 030734180101 Khóa học: 2018 – 2022

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Hồ Xuân Thắng

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2021

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Ngân hàng

Hồ Chí Minh, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho em, đó chính là những nền tảng cơ bản, những hành trang vô cùng quý giá Đặc

biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy Hồ Xuân Thắng, cảm ơn thầy đã quan tâm, giúp

đỡ em giải quyết những thắc mắc và hướng dẫn cụ thể để hoàn thành bài báo cáo này

Bên cạnh đó em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh đã trực tiếp giúp đỡ, tạo điều kiện cho em thực tập và hoàn thành bài báo cáo Các anh chị đã tạo cơ hội giúp em có thể nhìn nhận và hiểu

rõ hơn về môi trường làm việc thực tế của một văn phòng công chứng mà khi ngồi trên ghế nhà trường em chưa biết được, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tìm hiểu, trau dồi và thu thập thông tin phục vụ cho việc hoàn thành bài báo cáo này

Trong quá trình thực tập và làm báo cáo vì chưa có nhiều kinh nghiệm nên bài báo cáo sẽ không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét của quý thầy, cô cũng như các anh chị trong văn phòng để kiến thức của em ngày càng hoàn thiện và rút ra kinh nghiệm hữu ích để có thể áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả trong tương lai

Kính chúc mọi người luôn dồi dào sức khỏe gặp nhiều niềm vui, hạnh phúc

và thành công trong công việc

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÔNG CHỨNG 5

1 Khái niệm công chứng 5

2 Đặc điểm của công chứng 9

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CÔNG CHỨNG Ở VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRỊNH TUẤN ANH 12

1 Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh 12

1.1 Thông tin chung 12

1.2 Lĩnh vưc công chứng : 12

1.3 Cơ cấu tổ chức 13

2 Thực trạng công tác công chứng ở văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh 13

2.1 Thực trạng 13

2.2 Nhận xét: 15

3 Ưu điểm, nhược điểm 15

3.1 Ưu điểm 15

3.2 Nhược điểm 17

CHƯƠNG III: NHỮNG HẠN CHẾ, VƯỚNG MẮC TRONG PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG VÀ HƯỚNG GIẢI PHÁP GỢI Ý TỪ HƯỚNG NHÌN CỦA SINH VIÊN TIẾP CẬN 18

1 Những hạn chế, vướng mắc trong pháp luật công chứng 18

2 Giải pháp 26

2.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về công chứng 26

2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng tại văn phòng công chứng 31

LỜI KẾT 34

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 4

Danh mục bảng biểu:

Bảng thống kê số 1……….…………22 Bảng thống kê số 2……….…………23

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Từ thời điểm xã hội có sự phân chia giai cấp, con người bắt đầu xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, nhu cầu trao đổi, lưu thông hàng hóa từ những hàng hóa, tài sản mang tính chất giản đơn đến những tài sản, hàng hóa có giá trị lớn cần có người đứng ra bảo đảm các giao dịch giữa con người với con người trong xã hội được tôn trọng Giai đoạn đầu, công chứng là một nghề tự do trong

xã hội, phục vụ cho nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi thiết lập các văn tự, khế ước và công chứng viên sơ khai là những người có kinh nghiệm, có

uy tín, có kiến thức, được tôn trọng và cử ra để giữ nhiệm vụ làm chứng cho các chủ thể tham gia vào giao dịch

Thực tiễn thực hiện cho thấy tranh chấp trong xã hội ngày càng tăng, vụ việc càng phức tạp, trong đó có nguyên nhân là do không có chứng

cứ xác thực Do vậy, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật là cần thiết, song cũng cần phải tăng cường hơn nữa các biện pháp, công cụ tổ chức thực hiện pháp luật Công chứng là một hoạt động quan trọng, một thể chế không thể thiếu được của Nhà nước pháp quyền Thông qua hoạt động công chứng và các công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, phòng ngừa tranh chấp, tạo ra sự

ổn định trong quan hệ dân sự, tài sản Mặt khác, về phương diện nhà nước thì văn bản công chứng tạo ra một chứng cứ xác thực, kịp thời mà không ai có thể phản bác, chối cãi, trừ trường hợp toà án tuyên bố là vô hiệu Bởi vậy, văn bản công chứng là công cụ pháp lý quan trọng của Nhà nước pháp quyền Công chứng phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Để không ngừng học hỏi, rèn luyện bản thân, tuyên truyền pháp luật và góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật công chứng , em xin lựa chọn chủ đề “Hoàn thiện các quy định về pháp luật công chứng” tại văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh làm đề tài báo cáo của mình

Trang 6

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ

BẢN CỦA CÔNG CHỨNG

1 Khái niệm công chứng

Xác định rõ khái niệm công chứng có vai trò lý luận quan trọng cũng như trong thực tiễn Căn cứ vào khái niệm công chứng, chúng ta không chỉ có thể xác định được phạm vi, nội hàm của việc công chứng mà đặc biệt còn xác định được mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng, quyền hạn và nghĩa vụ của những cá nhân, tổ chức được giao chức năng quản lý nhà nước về công chứng

Hoạt động công chứng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta Hoạt động chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Tiêu biểu là sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng, được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies Tuy vậy phải đến năm 1987, thuật ngữ “công chứng mới bắt đầu được sử dụng một cách rộng rãi và phổ biến Cho đến nay, thuật ngữ “công chứng” mới bắt đầu trở thành phỏ biến không chỉ trong các từ điển, tài liệu luật học

mà còn trong các văn bản quy phạm pháp luật

Về mặt xã hội, theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Công chứng là

“việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Theo quan điểm của Dương Khánh trong Luận án tiến sĩ Luật học “Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước

ta hiện nay” đã đưa ra quan điểm của mình về khái niệm công chứng là:

“Hoạt động bổ trợ tư pháp theo nghĩa rộng và cung cấp chứng cứ cho hoạt động của tòa án theo nghĩa hẹp nhằm góp phần bảo đảm quyền lợi, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội; có tác dụng góp phần chủ động phòng ngừa các tranh chấp và vi phạm pháp luật, cung cấp tài liệu

Trang 7

Về mặt pháp lý, theo từ điển The Law Dictionary, công chứng được định

nghĩa là “Một hành vi được thực hiện bởi một công chứng viên mang tính chất xác

nhận tính xác thực của chữ ký trên văn bản pháp lý Thông thường các văn bản

Theo Luật Công chứng 2005 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, công chứng được định nghĩa là “Hành vi được thực hiện bởi một tổ chức công chứng, theo yêu cầu của một thể nhân, pháp nhân hoặc tổ chức khác và tuân theo thủ tục luật định, nhằm xác nhận tính xác thực và hợp pháp của một hành vi pháp lý có tính chất dân sự hoặc sự kiện, tài liệu pháp lý” (Điều 2, Luật Công chứng 2005 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)2

Tại Việt Nam, thuật ngữ “công chứng” lần đầu được giải thích tại Thông tư

số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước như sau:

“Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa

vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Đến năm 1991, thuật ngữ “công chứng” được nghiên cứu sửa đổi để đưa ra một cách ngắn gọn hơn trong Nghị định số 45/HĐBT của HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ chức và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng ngày 15/06/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng:

1 The Law Dictionary, https://dictionary.thelaw.com/notarize/ [truy cập ngày 19/12/2021]

2 AsianLII, Laws of the People's Republic of China, http://www.asianlii.org/cn/legis/cen/laws/nlotproc440/

[truy cập ngày 19/12/2021]

Trang 8

“Công chứng là việc chứng nhận xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngữa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ

Kế thừa và phát triển tinh thần của Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991, tại Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, khái niệm “Công chứng” đã được bổ sung và làm rõ vai trò của Công chứng nhà nước bên cạnh chức năng công chứng của Uỷ ban nhân dân:

“Công chứng là việc chứng nhận xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Uỷ ban Nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu”

Cũng chính từ khái niệm này, từ giai đoạn này, Phòng công chứng nhà nước, tiền thân của các phòng công chứng ngày nay, đã ra đời Đây được coi là bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển của nền công chứng Việt Nam, đánh dấu cho một quá trình phát triển công chứng Việt Nam theo định hướng xã hội hóa

Theo thời gian, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, thuật ngữ “công chứng” cũng không ngừng thay đổi theo từng kỳ để phù hợp và được ghi nhận qua các Nghị định, Nghị quyết khác nhau của Chính phủ Năm 200, khái niệm công

chứng được đưa ra là “việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp

đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự,

thương mại và quan hệ xã hội khác và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này” Đáng chú ý, tại khái niệm này đã có sự phân định rõ khái niệm

công chứng và chứng thực, điều mà các quan điểm, khái niệm trước đây chưa làm

Trang 9

đồng”, còn hành vi chứng thức lại chỉ mang nội hàm là “xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân” Như vậy, theo khái niệm nêu trên,

hành vi công chứng chính là việc xác lập giá trị pháp lý cho văn bản, hợp đồng; còn hành vi chứng thực đơn thuần là việc sao lại các văn bản, hợp đồng mà thôi

Năm 2006, năm với dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển công chứng khi Luật Công chức đầu tiên được thông qua đưa ra khái niệm về công chứng một

cách hoàn chỉnh Theo đó, công chứng là việc “Công chứng viên chứng nhận tính

xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” (Khoản 21, Điều 2)

Ngày nay, khái niệm này một lần nữa được sửa đổi mô tả để phù hợp với những quy định mới về chứng thực chữ ký và bản dịch tại Luật Công chứng 2014

có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015, cụ thể Khoản 22, Điều 2 quy định:

“ Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công

chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”

Như vậy, có thể thấy ở các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước, trong bối cảnh nền kinh tế, văn hóa và xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu giao dịch dân sự của người dân cũng ngày càng tăng cả về số lượng và tính phức tạp Chính điều đó đã phần nào tác động vào khái niệm công chứng, khiến khái niệm này có những thay đổi nhất định Sự thay đổi này cũng thể hiện quan điểm của nhà nước ta về công chứng thêm rõ ràng và cụ thể hơn, nhưng xét về bản chất và mục đích của hành vi thì vẫn giữ nguyên không thay đổi Nội hàm của khái niệm công chứng là tạo nên một loại chứng cứ viết, có giá trị pháp lý cao vì các hợp đồng, giấy tờ này được chứng nhận tính xác thực của nó do những người có thẩm quyền công chứng, chứng nhận nên nó mang dấu ấn của công quyền và trở thành “công chứng thư” Về ngoại diên, khái niệm công chứng bao hàm các loại giấy tờ, hợp

Trang 10

đồng mà theo quy định của pháp luật bắt buộc phải công chứng, hoặc cá nhân tổ chức tự nguyện công chứng để những giấy tờ này trở thành một chứng cứ pháp lý

Vì lẽ đó, chúng ta có thể hiểu công chứng là hoạt động xác nhận tính xác thực và hợp pháp của những văn bản mang tính pháp lý như hợp đồng, mà bắt buộc phải công chứng theo quy định pháp luật hoặc cá nhân, tổ chức có nhu cầu tự nguyện yêu cầu công chứng do Công chứng viên của một tổ chức thực hiện

2 Đặc điểm của công chứng

Thứ nhất, công chứng là hành vi do Công chứng viên thực hiện Nói cách

khác, chủ thể công chứng luôn luôn là Công chứng viên Theo quy định tại Luật Công chứng 2014 thì Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật Công chứng, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, chịu trách nhiệm tiếp nhận hoặc lập các hợp đồng, giao dịch theo yều cầu của người yêu cầu công chứng đảm bảo cho các hợp đồng, giao dịch sau khi được chứng nhận có giá trị pháp lý như một văn bản của cơ quan công quyền

Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh số 452500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ

Công chứng của Cộng hòa Pháp, công chứng viên được định nghĩa là “viên chức

công, được bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó, các bên phải hoặc muốn đem lại tính xác thực giống như các văn bản của các cơ quan công quyền và để đảm bảo ngày, tháng chắc chắn, lưu giữ và cấp các bản sao văn bản công chứng”

Theo quy định tại Quy chế công chứng năm 1834 của Vương quốc Anh,

công chứng viên được định nghĩa là: “viên chức được bổ nhiệm để thực hiện các

hành vi công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập chứng thư và các giấy tờ khác có liên quan đến việc: chuyển nhượng hoặc xác lập giấy tờ khác”

Tại Việt Nam, trong giai đoạn Pháp thuộc, các công chứng viên (les

notaites) là những người “được nhà lập pháp tin cậy trong việc lập các chứng thư

công chính, vì sự tuyển nhiệm của họ phải tuân theo những điều kiện khó khăn;

Trang 11

Như vậy, đặc trưng đầu tiên của hoạt động công chứng là phải do công chứng viên thực hiện Đặc điểm này nhằm phân biệt hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực, vốn là hành vi không chỉ do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng mà con do người đại diện của cơ quan hành chính công thực hiện

Thứ hai, nội dung của hoạt động công chứng là xác định tính xác thực, tính

hợp pháp của hợp đồng, giao dịch Nói cách khác, nội dung của hoạt động công chứng là chứng nhận các hợp đồng và lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của công dân, tổ chức và chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật

Có thể thấy từ khái niệm được ghi nhận trong Luật Công chứng 2014, có 02 loại hợp đồng, giao dịch Loại đầu tiên là những hợp đồng, giao dịch bắt bưộc phải công chứng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Loại còn còn lại là những hợp đồng, giao dịch không bắt buộc phải công chứng theo quy định pháp luật hiện hành nhưng cá nhân, tổ chức giao kết tự nguyện yêu cầu công chứng khi thấy cần thiết để đảm bảo tính an toàn cho giao dịch Trong đó, loại hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định bắt buộc phải công chứng là những hợp đồng, giao dịch trong trường hợp mang tính chất phức tạp và dễ xảy ra tranh chấp hoặc trong

trường hợp nhà nước cần kiểm soát và quản lý đối tượng của giao dịch Trong trường hợp các bên không thực hiện công chứng, hậu quả tất yếu diễn ra là hợp đồng, giao dịch dân sự đó sẽ bị vô hiệu theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự

2015, cụ thể:

“1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc

bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định

2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng kí hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó”

Thứ ba, văn bản công chứng mang giá trị chứng cứ Như đã đề cập ở trên,

văn bản công chứng là những hợp đồng hoặc giao dịch khác có yêu cầu công chứng

Trang 12

viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp mà theo quy định của pháp luật văn bản này phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng Tại Việt Nam thời Pháp thuộc, văn bản công chứng được quy định dưới danh từ

“chứng thư công chính” là “loại chứng thư ghi nhận một hành vi pháp lý, do một

người công lại có thẩm quyền lập ra theo những hình thức luật dịnh”

Bàn về giá trị chứng cứ của văn bản công chứng, học giả Vũ Văn Mẫu cho rằng:

“Lẽ dĩ nghiên, chứng thư công chính có tín lực hơn tư thự chứng thu, đối với

các người kết ước cũng như đối với các người đệ tam

Trên nguyên tắc muốn đánh đổ tín lực của chứng thư công chính, không phải chỉ dẫn phản chứng là đủ; cần phải theo một thủ tục khó khăn và nguy hiểm: thủ tục đăng cáo giả mạo (inscription de faux) Thủ tục này không những khó khăn, lâu dài, mà còn nguy hiểm, vì nếu nguyên đơn thua kiện, sẽ bị phạt về hình sự Vì vậy, ít khi người ta dám dùng đến thủ tục này, trừ khi chắc chắn là được kiện về vụ giả mạo”

Ngày nay, các văn bản công chứng vẫn có giá trị chứng cứ rất lớn trong hoạt động giao thương thường ngày cũng như tố tụng Việc các bên có một văn bản công chứng là một nền tảng vô cùng chắc chắn để bảo vệ bên bị thiệt hại, yếu thế trong trường hợp phát sinh tranh chấp giữa các bên

Trang 13

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CÔNG CHỨNG Ở VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRỊNH

TUẤN ANH

1 Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh

1.1 Thông tin chung

- Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh được thành lập theo quyết định số 252/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng ngày 17/02/2016, do Công chứng viên

Trịnh Tuấn Anh làm Trưởng Văn phòng

- Đội ngũ nhân sự năng động, vững chuyên môn, tận tình và

tràn đày nhiệt huyết, VPCC Trịnh Tuấn Anh tự tin với chất lượng dịch vụ của mình và luôn đặt ra phương châm khách hàng là mục tiêu để phát triển

Trang 14

o Văn bản khai nhận thừa kế

o Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

o Văn bản từ chối di sản thừa kế

1.3 Cơ cấu tổ chức

- Đội ngũ cán bộ nhân viên của Văn phòng gồm 05 người trong đó:

+ 01 Công chứng viên: Trịnh Tuấn Anh

+ 03 chuyên viên:

 Bùi Thị Nguyệt

 Mai Phương Nam

 Đào Duy Khánh

+ 01 Kế toán: Nguyễn Văn Thông

- Phương châm làm việc : Thuận lợi - nhanh chóng - hiệu quả - đúng pháp luật

- Cán bộ, nhân viên của Văn phòng hầu hết có trình độ Đại học, nhiều người đã qua đào tạo nghề công chứng

2 Thực trạng công tác công chứng ở văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh

Trang 15

4 Văn bản cam kết tài

Nguồn: báo cáo hằng năm

Bảng 1: hoạt động công chứng tại văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh trong

Trang 16

10 Văn bản phân chia

thừa kế

Nguồn: báo cáo hằng năm

Bảng 2: hoạt động công chứng tại văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh trong tháng 10/2021 và tháng 11/2021 ( thời gian tham gia thực tập )

2.2 Nhận xét:

Do nhận thức về pháp luật của người dân ngày một nâng cao cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu giao dịch, thực hiện các thủ tục hành chính của người dân ngày càng tăng lên nên những năm gần đây người dân tìm đến các phòng công chứng để công chứng hợp đồng mua bán, vay, mượn, thế chấp, cầm cố tài sản; hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất; hợp đồng cho thuê, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất; thỏa thuận phân chia, nhập và xác nhận tài sản của vợ, chồng; di chúc, khai nhận di sản, thỏa thuận phân chia di sản, từ chối nhận di sản, nhận lưu giữ di chúc; hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền… ngày càng nhiều

3 Ưu điểm, nhược điểm

liệu) thì việc chứng nhận các hợp đồng giao dịch ngày càng tăng Bên cạnh đó là

sự gia tăng về chứng nhận hợp đồng mua bán, tặng cho tài sản Đặc biệt việc chứng nhận văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế cũng gia tăng đáng kể

Từ đó cho thấy công chứng ngày càng có vị trí quan trọng, nhân dân ngày càng tin tưởng vào công chứng

Hơn nữa công chứng là để xác lập về mặt pháp lý trong quan hệ giao dịch

này thì việc xác lập đủ tạo ra chứng cứ xác thực, chứng cứ đáng tin cậy hơn

Trang 17

bất kỳ loại giấy tờ nào khác.Những chứng cứ này giúp cho người dân bảo vệ được quyền lợi của mình khi xảy ra tranh chấp trong giao lưu dân sự, kinh tế thương mại Nó là căn cứ, là cơ sở pháp lý khi vụ việc được đưa ra xét xử để bác bỏ lập luận của đối phương

Có thể nói hoạt động công chứng đã và đang tác động mạnh mẽ tới đời sống nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích của họ

- Công chứng bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân tiến tới ổn định xã hội:

Vì nó tạo ra chứng cứ xác thực (trừ Quyết định của Toà án) nên tạo hành lang pháp

lý an toàn cho các giao dịch làm hạn chế rủi ro đến với người dân trong các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại

- Tạo ra sự tin tưởng và nâng cao uy tín đối với bạn hàng, thuận lợi cho công việc kinh doanh của người dân Đặc biệt khi xảy ra tranh chấp nó luôn là tấm lá chắn bảo vệ quyền lợi của bên bị hại, thiết lập trật tự ổn định xã hội

- Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh giảm tải thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh:

Từ khi thành lập văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh đến nay văn phòng đã công chứng cho hàng nghìn hợp đồng, giao dịch mỗi năm và đã góp phần

giảm tải cho các phòng công chứng trên địa bàn tỉnh

- Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh đang đặt mục tiêu trở thành một trong những văn phòng công chứng hàng đầu được tin tưởng tín nhiệm trong việc cung cấp dịch vụ công chứng phục vụ nhân dân đảm bảo

- Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh được đầu tư đầy đủ về trang thiết bị cũng như cơ sở vật chất, có phòng làm việc cho công chứng viên, nhân viên, phòng tiếp người yêu cầu công chứng và kho lưu giữ hồ sơ công chứng đảm bảo theo quy định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng

- Công chứng viên và nhân viên của Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh có cung cách phục vụ lịch sự, chu đáo, thuận tiện cho người dân khi đến thực hiện các hợp đồng, giao dịch và đã tạo được niềm tin cho nhân dân Trong quá trình hoạt

Trang 18

động, để phòng ngừa rủi ro, Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn Anh đã thực hiện việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

- Việc ghi chép sổ sách quản lý, theo dõi chưa thật sự chặt chẽ, tìm tài liệu sẽ mất khá nhiều thời gian

- Do đội ngũ công chứng viên chủ yếu là người mới được bổ nhiệm, nhiều công chứng viên thuộc đối tượng được miễn qua lớp đào tạo nghề công chứng nên khi thực hiện công tác hành nghề và quản lý hoạt động của Văn phòng gặp nhiều khó khăn và hạn chế Mặt khác công tác tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật,

kỹ năng hành nghề cho công chứng viên thời gian qua chưa được quan tâm nên trong những năm qua nghiệp vụ của đội ngũ công chứng viên chưa được cải thiện nhiều Đặc biệt hiện nay, qua một số năm hoạt động đã xảy ra thực tiễn tại các Văn phòng công chứng vì chạy theo số lượng hợp đồng nên có nhiều sai sót, đặc biệt là

sự thiếu chuyên nghiệp của đội ngũ công chứng viên dẫn đến chất lượng pháp lý của các hợp đồng giảm sút, một bộ phận các tổ chức tín dụng (đặc biệt là các tổ chức tín dụng cổ phần) chỉ tín nhiệm việc ký kết các hợp đồng tín dụng tại các Phòng công chứng

Ngày đăng: 30/12/2021, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w