1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang

123 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Công Tác Thanh Toán Xuất Nhập Khẩu Theo Phương Thức Tín Dụng Chứng Từ Tại Chi Nhánh Ngân Hàng Ngoại Thương Nha Trang
Trường học Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam
Chuyên ngành Tín Dụng Xuất Nhập Khẩu
Thể loại Đề Tài
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 837,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là tại Việt Nam, khi mà hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng mở rộng ra với các nước trên thế giới, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu phát triển mạnh, các nhà xuất khẩu mu

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định

hướng XHCN và hội nhập quốc tế, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đạt được sự phát triển đáng kể, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế -

xã hội theo các mục tiêu định hướng của Đảng và Nhà nước

Là một doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình Tổng Công ty 90, 91 Ngân hàng Ngoại thương được xem là Ngân hàng thương mại phục vụ đối ngoại lâu đời nhất tại Việt Nam, là Ngân hàng thương mại đầu tiên tại Việt Nam quản lý vốn tập trung, là trung tâm thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng của trên 100 Ngân hàng trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, và cũng là Ngân hàng thương mại đầu tiên tại Việt Nam hoạt động kinh doanh ngoại tệ, luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trên thị trường ngoại

tệ liên ngân hàng

Thanh toán quốc tế được xem là lĩnh vực hoạt động mạnh nhất tại Ngân hàng Ngoại thương, một lĩnh vực góp phần thúc đẩy mở rộng quan hệ quốc tế cũng như tăng cường hoạt động đầu tư và xuất nhập khẩu của Việt Nam với các nước

Trong các phương thức thanh toán quốc tế thì hiện nay phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay Đặc biệt là tại Việt Nam, khi mà hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng mở rộng ra với các nước trên thế giới, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu phát triển mạnh, các nhà xuất khẩu muốn đảm bảo hơn trong việc thanh toán khi đã thực hiện việc giao hàng, còn các nhà nhập khẩu thì mong muốn nhận được hàng hoá đúng như yêu cầu trong hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận khi đã thanh toán đầy đủ Rõ ràng họ cần đến một phương thức thanh toán có thể đảm bảo được lợi ích hai chiều như vậy Và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có thể thực hiện được điều này Tuy nhiên, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ không phải không có những nhược điểm

mà không phải lúc nào cũng có thể khắc phục được

Nhận thức được tầm quan trọng của phương thức này, em đã chọn đề

Trang 2

tài: Thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Nha Trang

1 Mục đích nghiên cứu:

Vận dụng những kiến thức đã được học tại trường vào thực tiễn để hiểu biết sâu hơn về các phương thức thanh toán quốc tế, đặc biệt là về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và thực trạng hoạt động tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang - Khánh Hòa Trong phạm vi đề tài của em, em chỉ tập trung nghiên cứu về quy trình thanh toán phương thức tín dụng chứng từ như quy trình thanh toán xuất khẩu và nhập khẩu, số liệu được thu thập từ năm 2003-2005

3 Phương pháp nghiên cứu:

Bằng việc thu thập các thông tin liên quan tới Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng như chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang,

từ đó thống kê, phân tích các dữ liệu có được Bên cạnh đó em kết hợp thêm một số phương pháp phỏng vấn, quan sát để làm rõ đề tài nghiên cứu của mình

4 Nội dung và kết cấu đề tài:

Nội dung của đề tài gồm 4 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận chung

Chương II: Tình hình hoạt động của ngân hàng Ngoại Thương chi nhánh

Nha Trang trong thời gian qua Chương III: Thực trạng công tác thanh toán bằng phương thức L/C tại chi

nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang

Chương IV: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán tín dụng

chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Nha Trang

Trang 3

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

I Phương thức tín dụng chứng từ I.1 Khái niệm và phân loại phương thức tín dụng chứng từ

I.1.1 Khái niệm

- Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, mà trong đó một

ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người

mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này

ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng

- Phương thức tín dụng chúng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng đáp ứng những nhu cầu của khách hàng, cam kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả hoặc chấp nhận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều kiện quy định trong thư tín dụng được thực hiện đầy đủ Như vậy, thư tín dụng được coi là:

Một phương tiện thanh toán Một khi đã thỏa thuận thời hạn của hợp đồng thương mại, tín dụng thư kèm chứng từ được chọn như hình thức thanh toán có liên quan đến nhiệm vụ độc lập với các nhiệm vụ quy định tại hợp đồng nói riêng

Một hình thức tín dụng bằng chữ ký mà một ngân hàng dành cho một khách hàng mua, trong đó người bán phải xuất trình chứng từ

Qua khái niệm trên về phương thức tín dụng ta thấy có liên quan đến các bên sau:

v Người xin mở L/C (Applicant for the credit): Thông thường là

người mua, tổ chức nhập khẩu

v Người hưởng lợi (Beneficiary): Là người bán, người xuất khẩu

Trang 4

v Ngân hàng mở thư tín dụng (Ngân hàng phát hành - The issuing bank): Là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ở bên nước người nhập khẩu,

nó cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên xuất khẩu và nhập khẩu thoả thuận, lựa chọn và được quy định trong hợp đồng, nếu chưa có sự quy định trước người nhập khẩu có quyền lựa chọn

v Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The advising bank ): Là ngân

hàng phục vụ người xuất khẩu, thông báo cho người bán biết thư tín dụng đã

mở Đây có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành Ngân hàng này thường ở nước người xuất khẩu

v Ngoài ra còn có thể có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này:

· Ngân hàng xác nhận (The confirming bank): Là ngân hàng xác nhận

trách nhiệm của mình sẽ cùng với ngân hàng mở thư tín dụng, bảo đảm việc trả tiền cho người xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán Ngân hàng xác nhận có thể là ngân hàng thông báo thư tín dụng hay là một ngân hàng khác do người xuất khẩu yêu cầu, thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế

· Ngân hàng thanh toán (The paying bank ): Có thể là ngân hàng mở

thư tín dụng hoặc có thể là ngân hàng khác được ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình thanh toán trả tiền cho người xuất khẩu hay chiết khấu hối phiếu

· Ngân hàng thương lượng (Negotiating bank ): Là ngân hàng đứng ra

thương lượng bộ chứng từ và thường cũng là ngân hàng thông báo L/C Trường hợp L/C thương lượng tự do thì bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể là ngân hàng thương lượng Tuy nhiên, cũng có trường hợp L/C quy định thương lượng tại một ngân hàng nhất định

· Ngân hàng chuyển nhượng (Transfering bank), ngân hàng chỉ định (nominater bank), ngân hàng hoàn trả (Reimbursing bank), ngân hàng đòi

Trang 5

tiền (Claiming bank), ngân hàng chấp nhận (Accepting bank), ngân hàng chuyển chứng từ (Remitting bank) Tất cả được giao trách nhiệm cụ thể trong thư tín dụng

I.1.2 Phân loại tín dụng chứng từ

Các loại thư tín dụng thường thấy trong thanh toán quốc tế gồm có :

1 Thư tín dụng huỷ ngang (Revocable L/C)

- Là thư tín dụng sau khi đã được mở thì ngân hàng mở L/C và người mở L/C có thể tự ý sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C

- Loại thư tín dụng này ít được sử dụng trong thực tế vì thực ra đây chỉ là một lời hứa trả tiền chứ không phải là cam kết trả tiền, nó không ràng buộc ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo với người thụ hưởng Nó có thể thay đổi hoặc hủy ngang vào bất cứ thời điểm nào

2 Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C )

- Là loại thư tín dụng sau khi đã mở ra thì ngân hàng mở L/C không được sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ trong thời gian hiệu lực của thư tín dụng và phải có trách nhiệm thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu

- Nếu trong thư tín dụng không ghi chữ IRREVOCABLE thì vẫn được coi là không thể huỷ bỏ được

- Loại thư tín dụng này được áp dụng rộng rãi nhất trong thanh toán quốc

tế

Đây là loại thư tín dụng đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu

3 Thư tín dụng không huỷ ngang có xác nhận (Confirming Irrevocable L/C)

- Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang và được một ngân hàng khác

uy tín hơn đứng ra bảo đảm việc trả tiền theo thư tín dụng đó cùng với ngân hàng mở L/C Điều đó có nghĩa là ngân hàng xác nhận chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho người xuất khẩu, nếu như ngân hàng mở thư tín dụng không trả tiền được do mất khả năng thanh toán, bị phá sản v.v…Do đó L/C này quyền lợi tổ chức xuất khẩu đảm bảo hơn

Trang 6

- Nguyên nhân sử dụng loại L/C này là do người xuất khẩu không hoàn toàn tin tưởng vào ngân hàng mở L/C, hoặc tình hình kinh tế, chính trị bấp bênh ở nước người nhập khẩu và giá trị hợp đồng tương đối lớn nên phải yêu cầu một ngân hàng có uy tín hơn xác nhận vào thư tín dụng đó Người xuất khẩu được tùy ý chọn ngân hàng xác nhận

- Trong L/C này trách nhiệm của ngân hàng xác nhận nặng hơn ngân hàng mở L/C Do đó để bảo đảm, ngân hàng xác nhận sẽ yêu cầu ngân hàng

mở L/C phải ký quỹ trước và phải trả tiền thủ tục phí xác nhận thường rất cao Thông thường ngân hàng mở sẽ nhờ ngân hàng thông báo đóng luôn vai trò là ngân hàng xác nhận

4 Thư tín dụng không thể hủy ngang không xác nhận( Unconfirmed Irrevocable L/C)

- Thư tín dụng không hủy ngang được coi là không có xác nhận khi được thông báo cho người hưởng thụ qua ngân hàng phục vụ người xuất khẩu và không có một sự cam kết nào thêm về phía ngân hàng này

- Với loại thư tín dụng này, ngân hàng phát hành là đơn vị duy nhất chịu trách nhiệm đối với người hưởng thụ để thanh toán hay chấp nhận đối với các hối phiếu, nếu người này xuất trình chứng từ phù hợp với thư tín dụng

5 Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable without recowese L/C)

- Là loại L/C không thể huỷ ngang trong đó quy định ngân hàng mở L/C sau khi đã thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu thì không được quyền truy đòi lại tiền lại tiền với bất cứ trường hợp nào

- Đối với loại L/C này, người xuất khẩu được ghi trên hối phiếu hàng chữ: “ không được truy đòi người phát phiếu ”, nhất là đối với hối phiếu trả tiền có kỳ hạn

6 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)

- Là thư tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó quy định quyền của Ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay

Trang 7

nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần Chi phí chuyển nhượng do người chuyển nhượng đầu tiên chịu

7 Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C)

Là loại L/C không thể huỷ bỏ sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ, và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng trị giá hợp đồng được thực hiện

- Có 3 cách tuần hoàn: Tuần hoàn tự động, tuần hoàn bán tự động, và tuần hoàn hạn chế

+ L/C tuần hoàn tự động là L/C tự động có giá trị như cũ, không cần

có sự thông báo của ngân hàng mở L/C cho người xuất khẩu biết

+ L/C tuần hoàn hạn chế là L/C mà chỉ khi nào ngân hàng mở L/C thông báo cho người xuất khẩu biết thì L/C kế tiếp mới có giá trị hiệu lực + L/C bán tự động là L/C mà sau khi L/C trước sử dụng xong hoặc hết hạn hiệu lực, nếu sau một vài ngày mà ngân hàng mở L/C không có ý kiến

gì về L/C kế tiếp và thông báo cho người hưởng lợi L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ

- Loại thư tín dụng này thường được sử dụng khi các bên tin cây lẫn nhau, mua hàng thường xuyên, định kỳ, khối lượng lớn và trong thời gian dài Ngoài ra L/C tuần hoàn còn có thể được chia làm hai loại:

+ Loại L/C tuần hoàn có tích lũy: Là loại L/C cho phép chuyển kim ngach L/C trước vào L/C sau và cứ như vậy cho đến L/C cuối cùng

+ Loại L/C tuần hoàn không tích lũy: Là loại L/C tuần hoàn không cho phép chuyển số dư của L/C trước vào L/C sau

8 Thư tín dụng giáp lưng (back to back L/C):

Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, được mở ra sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình hưởng, người xuất khẩu dùng L/C này

để thế chấp mở một L/C khác cho người hưởng lợi khác hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầu

Trang 8

L/C này có một số điểm khác so với L/C ban đầu là:

- Số chứng từ của L/C giáp lưng nhiều hơn L/C gốc

- Kim ngạch L/C giáp lưng nhiều hơn L/C gốc, khoản chênh lệch này do người trung gian hưởng, dùng để trả chi phí mở L/C giáp lưng và phần hoa hồng

của họ

- Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng sớm hơn L/C gốc

- Nghiệp vụ thư tín dụng giáp lưng rất phức tạp, nó đòi hỏi hải có sự kết hợp khéo léo và chính xác các điều kiện của L/C gốc với L/C giáp lưng, nhất

là các vấn đề có liên quan đến vận đơn và các chứng từ hàng hoá khác

9 Thư tín dụng dự phòng (standby L/C )

Là loại thư tín dụng được mở nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà nhập khẩu trong trường hợp đơn vị xuất khẩu không giao hàng theo đúng hợp đồng Đơn vị nhập khẩu yêu cầu đơn vị xuất khẩu mở một thư tín dụng dự phòng qui định rằng nếu đơn vị xuất khẩu không thực hiện hợp đồng, ngân hàng mở tín dụng dự phòng sẽ thanh toán tiền đền bù thiệt hại cho đơn vị nhập khẩu

Ngoài ra thư tín dụng dự phòng còn được sử dụng trong đấu thầu quốc tế và đầu tư quốc tế sử dụng phổ biến ở Mỹ, Nhật… và một số nước mà các ngân hàng không thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh

10 Thư tín dung đối ứng (Reciprocal L/C)

Là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu có hiệu lực khi thư tín dụng đối ứng với nó đã được mở ra, nghĩa là khi nhận được L/C do nhà nhập khẩu mở thì nhà xuất khẩu phải mở L/C đối ứng thì L/C đó mới có giá trị Trong L/C ban đầu thường phải ghi: “L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở một L/C đối ứng” và trong L/C đối ứng phải ghi: “L/C đối ứng với L/C số:… mở ngày:… qua ngân hàng” Thư tín dụng này thường được sử dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng

Trang 9

11 Thư tín dụng với điều khoản đỏ (Red clause L/C)

Là loại thư tín dụng có điều khoản đặc biệt, trước đây được ghi bằng mực đỏ ở điều khoản đặc biệt này Thông thường trong điều khoản đặc biệt, người mở L/C cho phép tổ chức xuất khẩu được quyền tháo khoán trước một

số tiền nhất định trước khi giao hàng

12 Thư tín dụng có điều khoản T/TR (Telegraphic transfer Reimbursement )

- Là loại thư tín dụng thông thường nhưng trong thư có quy định: Cho phép Ngân hàng phuc vụ người hưởng lợi sau khi kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ, phù hợp với điều kiện đã quy định trong L/C thì được phép điện đòi tiền Ngân hàng mở L/C hay một Ngân hàng chỉ định trong thư tín dụng

13 L/C có thể chuyển nhượng được (Irrevocable Transferable L/C)

Là loại L/C không thể huỷ bỏ, trong đó quy định quyền được chuyển nhượng một phần hay toàn bộ trị giá L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên Tuy nhiên, việc chuyển nhượng chỉ được phép tiến hành một lần Do đó, nó không thể được chuyển nhượng theo yêu cầu của người hưởng lợi thứ hai cho bất kỳ người hưởng lợi nào khác Trong trường hợp người thứ hai không giao hàng hoặc không giao đúng hạn hàng hay chứng từ không hoàn hảo, thì người hưởng lợi thứ nhất phải chịu trách nhiệm

về phía bên xuất khẩu theo hợp đồng đã ký Và chi phí chuyển nhượng cũng

do người hưởng lợi đầu tiên thanh toán

- L/C này được sử dụng khi mua hàng qua các đại lý, mua hàng qua trung gian, hàng do các công ty con, chi nhánh giao nhưng công ty mẹ là người hưởng lợi

- Mục đích của thư tín dụng này là nhằm giúp cho các nhà xuất khẩu tiến hành các dịch vụ xuất khẩu mà không cần đến vốn của mình Cụ thể như trong trường hợp nhà xuất khẩu không đủ tiền mua hàng hóa từ một nhà cung cấp để bán hàng đó cho một người mua cuối cùng, nhà xuất khẩu này yêu cầu nhà nhập khẩu đề nghị Ngân hàng mở phát hành một thư tín dụng không huỷ

bỏ chuyển nhượng cho nhà xuất khẩu hưởng

Trang 10

I.2 Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ trong xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại

I.2.1 Quy trình mở thư tín dụng:

Sơ đồ 1 Biểu diễn phương thức tín dụng chứng từ:

Bước 1: Căn cứ vào hợp đồng mua bán ngoại thương (hoặc hoá đơn chào

hàng) tổ chức nhập khẩu viết đơn xin mở tín dụng gởi đến ngân hàng phục vụ mình (nơi đơn vị mở tài khoản ngoại tệ) để yêu cầu Ngân hàng mở một thư tín dụng cho người bán, người xuất khẩu hưởng

Khi viết đơn xin mở thư tín dụng đơn vị nhập khẩu cần chú ý đến nhưng điểm sau:

- Viết đúng nội dung theo mẫu đơn xin mở thư tín dụng do Ngân hàng mở thư tín dụng ấn hành

- Tổ chức xuất khẩu cần phải thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa ra những điều kiện ràng buộc bên xuất khẩu vào thư tín dụng, làm thế nào để vừa đảm bảo được quyền lợi của mình, vừa để bên xuất khẩu có thể chấp nhận được

- Khi viết đơn xin mở thư tín dụng, đơn vị phải tôn trọng những điều kiện trên hợp đồng tránh tình trạng mâu thuẫn trái ngược nhau Tuy nhiên,

Ngân hàng thông

báo Ngân hàng mở

(4) NH-DV

(3) L/C (9) (5)

(2) L/C (6) (7)

Trang 11

khi cần điều chỉnh hợp đồng thì cũng có thể thay đổi một số nội dung đã ký trên hợp đồng

- Đơn xin mở thư tín dụng sẽ được viết tối thiểu là hai bản Sau khi Ngân hàng đóng dấu, ký xác nhận và gởi trả lại cho đơn vị một bản

- Đơn xin mở tín dụng là cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề tranh chấp giữa người xin mở thư tín dụng với Ngân hàng mở thư tín dụng và là cơ

sở để Ngân hàng viết thư tín dụng gởi cho bên xuất khẩu

Bên cạnh đơn xin mở thư tín dụng, tổ chức nhập khẩu còn phải gởi kèm theo đơn các chứng từ quan trọng sau đây:

- Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp

- Giấy phép nhập khẩu lô hàng hoặc quota nhập

- Hợp đồng thương mại

Bước 2: Căn cứ vào yêu cầu xin mở thư tín dụng của tổ chức nhập khẩu

và các chứng từ có liên quan Nếu đồng ý Ngân hàng trích tài khoản đơn vị mở tài khoản tín dụng (ký quỹ 100 % trị giá thư tín dụng trong trường hợp thanh toán ngay hoặc X % trị giá thư tín dụng trong trường hợp thanh toán có kỳ hạn) Sau

đó, Ngân hàng viết thư tín dụng gởi cho tổ chức xuất khẩu thông qua Ngân hàng thông báo tại nước xuất khẩu Việc mở thư tín dụng qua bên xuất khẩu có thể thực hiện bằng đường hàng không bưu chính hoặc bằng diện tích(telex ), bằng hệ thống Swift

Bước 3: Khi nhận được thông báo này, Ngân hàng thông báo sẽ kiểm tra

tính chân thật bề ngoài của L/C và thông báo cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, và khi nhận được bản gốc thư tín dụng, thì chuyển ngay cho người xuất khẩu Nếu Ngân hàng thông báo từ chối thông báo L/C thì phải báo ngay quyết định đó cho ngân hàng phát hành, không được chậm trễ

I.2.2 Quy trình thanh toán thanh toán thư dụng chứng:

Bước 4: Tổ chức xuất khẩu nhận được thư tín dụng do Ngân hàng

thông báo gửi đến, tiến hành kiểm tra, dịch thuật, đối chiếu với hợp đồng

Trang 12

mua bán ngoại thương đã ký trước đây Đây là khâu quan trọng đối với tổ chức xuất khẩu vì thư tín dụng có thể giống hợp đồng và cũng có thể khác hợp đồng nhưng khi thanh toán thì phải thực hiện điều khoản của tín dụng

Vì vậy sau khi kiểm tra chặt chẽ L/C nếu đồng ý thì tiến hành cho bên nhập khẩu nếu không đồng ý thì đề nghị bên nhập khẩu điều chỉnh hoặc bổ sung thêm cho đến khi hoàn chỉnh thì mới giao hàng

Những nội dung quan trọng cần kiểm tra trên thư tín dụng:

- Thời gian mở L/C: Thông thường L/C được bên nhập khẩu mở trước

ngay giao hàng một thời gian nhất định, để bên xuất khẩu có đủ thời gian cần thiết chuẩn bị hàng hoá gửi đi Nếu L/C được mở sớm thì có lợi cho bên xuất khẩu để gửi hàng đi Nhưng ngược lại, nếu bên nhập khẩu mở sớm quá trước ngày giao hàng thì vốn của họ bị ứ đọng vì khi mở L/C tổ chức nhập khẩu phải ký quỹ một phần hay toàn bộ giá trị kim ngach L/C Vì vậy thời gian

mở L/C cần phải hợp lý cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu

- Ngân hàng mở L/C: Ngân hàng mở L/C là ngân hàng cam kết, bảo

đảm việc thanh toán cho tổ chức xuất khẩu, vì vậy tổ chức xuất khẩu cần xem xét người đảm bảo (Ngân hàng mở L/C) có uy tín hay không, trách nhiệm cam kết thanh toán có rõ ràng, cụ thể không…

- Loại thư tín dụng: Thư tín dụng có nhiều loại: thư tín dụng có thể huỷ

bỏ (Revocable letter of credit), thư tín dụng không thể huỷ bỏ (Irrevocable letter of credit), thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận (confirmed irrevocable letter of credit), thư tín dụng chuyển nhượng ( Transferable letter

of credit)…

- Thời hạn hiệu lực: Tất cả thư tín dụng đều quy định ngày cuối cùng có

hiệu lực cho việc xuất trình chứng từ để thanh toán

Nếu tổ chức xuất khẩu sau khi giao hàng, xuất trình bộ chứng từ thanh toán vượt qua ngày giá trị cuối cùng của thư tín dụng thì sẽ không chấp nhận thanh toán

- Kim ngạch thư tín dụng : Được định mức bằng một số tiền nhất định

Trang 13

Theo UCP 500: Trừ khi một tín dụng quy không được giao hàng nhiều hơn hay ít hơn số lượng hàng quy định, thì một dung sai 5% hơn hoặc kém có thể được chấp nhận, miễn là lúc nào số tiền của các lần thanh toán cũng không được vượt quá số tiền của tín dụng Dung sai này không được áp dụng khi tín dụng quy định số lượng tính bằng một số đơn vị bao kiện hoặc một số đơn vị chiếc

- Địa điểm nhận hàng: Thông thường hàng hoá được gửi trên tàu từ một

cảng nước xuất khẩu đến một hay nhiều cảng do nhà nhập khẩu quy định trong thư tín dụng

- Bộ chứng từ thanh toán: Tổ chức xuất khẩu cần cẩn thận, nghiên cứu

tổ chức nhập khẩu yêu cầu xuất trình những chứng từ loại nào, ai cấp, bao nhiêu bản Tự thấy khả năng có thể đáp ứng đầy đủ được hay không

- Điều kiện về hàng hoá : Số lượng, chất lượng, quy cách hàng hóa

- Điều kiện về các loại phí như phí xác nhận, phi gửi chứng từ…

Như vậy, tổ chức xuất khẩu khi nhận được thư tín dụng cần hết sức thận trọng kiểm tra, phân tích từng điều khoản để tiến hành giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán phù hợp với thư tín dụng Chỉ cần sai một chi tiết nhỏ trong L/C thì sẽ không được thanh toán

Bước 5: Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, tổ chức lập bộ chứng

từ thanh toán theo đúng điều khoản trong thư tín dụng xuất trình cho Ngân hàng thông báo để yêu cầu thanh toán

Bước 6: Ngân hàng thông báo kiểm tra trên bộ mặt chứng từ một

cách cân rthận và hợp lý Nếu kiểm tra thấy không phù hợp thì yêu cầu nhà xuất khẩu sửa đổi và bổ sung cho phù hợp Khi bộ chứng từ đã phù hợp với những điều khoản, điều kiện đã ghi trong L/C, thì chuyển bộ chứng từ cho Ngân hàng mở thư tín dụng Thời gian kiểm tra chứng từ là hai ngày làm việc

Bước 7: Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy

phù hợp với những điều kiện và điều khoản đã ghi trong L/C thì tiến hành trả

Trang 14

tiền(Hoặc chấp nhận thanh toán đối với L/C trả chậm) cho nhà xuất khẩu Nếu không phù hợp thì Ngân hàng từ chối thanh toán (hoặc từ chối chấp nhận thanh toán đối với L/C trả chậm) và gửi trả lại bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu Thời gian kiểm tra tại Ngân hàng mở L/C là bảy ngày làm việc Nếu quá bảy ngày làm việc mà không thông báo gì về phía Ngân hàng mở L/C thì đương nhiên coi như Ngân hàng đồng ý thanh toán (hoặc chấp nhận thanh toán đối với L/C trả chậm) và có nhiệm vụ phải thông báo cho nhà xuất khẩu bằng phương tiện nhanh nhất

Bước 8: Ngân hàng mở L/C chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu

và ghi nợ trên tài khoản của nhà nhập khẩu và báo có cho Ngân hàng thông báo

Bước 9: Ngân hàng thông báo L/C ghi có vào tài khoản của nhà xuất

khẩu hoặc gửi hối phiếu đã chấp nhận thanh toán cho nhà xuất khẩu hoặc chiết khấu hối phiếu này theo yêu cầu của nhà xuất khẩu

I.3 Các ưu, nhược điểm khi sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

I.3.1 Đối với nhà xuất khẩu ( người hưởng lợi):

v Ưu điểm:

- Nhà xuất khẩu được đảm bảo nhận được số tiền tương ứng với hàng hóa

mà họ đã cung ứng nếu xuất trình bộ chứng từ hợp lệ Phương thức này bảo

vệ người bán tránh được những rủi ro do những nguyên nhân bất khả kháng ngoài ý muốn hay lừa đảo từ đối tác

- Nhà xuất khẩu có thể được ngân hàng tài trợ xuất khẩu, do đó có vốn kịp thời để thu mua nguyên vật liệu để chế biến hàng hóa xuất khẩu

- Nhà xuất khẩu được chiết khấu bộ chứng từ, vì vậy thu hồi vốn nhanh chóng trước khi hàng hóa đến nơi để tiếp tục tham gia chu trình sản xuất kinh doanh mới

- Bằng sự bảo đảm, cam kết của ngân hàng thông qua việc phát hành thư tín dụng không hủy ngang, người bán không cần phải dựa vào thiện chí hay năng

Trang 15

lực của người mua để đạt được sự thanh toán

- Được ngân hàng khống chế bộ chứng từ không sợ mất quyền sở hữu về hàng hóa hay tốn chi phí vận chuyển hàng nếu làm đúng theo yêu cầu của L/C

- Thủ tục phí và phí thanh toán cao

- Đối với phương thức này, đòi hỏi nhà xuất khẩu phải có kiến thức chuyên môn, đặc biệt phải hiểu biết về các quy định trong việc thanh toán quốc tế như về UCP, ISBP…Vì việc thanh toán có thể bị trì hoãn hay bị từ chối khi

bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình có bị bất hợp lệ hay không Hay do không có kinh nghiệm trong buôn bán quốc tế, nhà xuất khẩu không phát hiện ra bẫy của người mở thư tín dụng, các điều khoản mập mờ, khó thực hiện, để nhằm lợi dụng sự không hợp lệ của bộ chứng từ để trì hoãn việc thanh toán hoặc ép giảm giá khi giá hàng hóa đó trên thị trường giảm

- Nhà xuất khẩu có thể gặp rủi ro do tình hình kinh tế, chính trị, luật pháp ở nước nhà nhập khẩu dẫn đến không thanh toán được tiền hàng hoặc do ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán

I.3.2 Đối với nhà nhập khẩu ( người mở L/C ):

Trang 16

kinh doanh quốc tế vì với khoảng cách vận chuyển xa thì dễ bị đọng vốn nếu phải ký quỹ toàn bộ giá trị của L/C

- Được ngân hàng giúp kiểm tra toàn bộ chứng từ

- Nếu bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình bất hợp lệ, thì nhà nhập khẩu

có quyền trì hoàn việc thanh toán hoặc nhà nhập khẩu cũng có thể dễ dàng lợi dụng việc đó để ép giảm giá đối với nhà xuất khẩu

v Nhược điểm:

- Thủ tục phí và các chi phí thanh toán cao

- Nhà nhập khẩu cũng phải cẩn trọng khi làm đơn xin mở L/C, phải đưa ra những điều kiện vừa để cho nhà xuất khẩu có thể thực hiện được vừa để đảm bảo được quyền lợi của mình

- Nhà nhập khẩu cũng như nhà xuất khẩu phải có trình độ hiểu biết về kỹ thuật ngoại thương để cân nhắc nên đưa những điều khoản nào vào hợp đồng vừa đảm bảo quyền lợi cho nhà nhập khẩu vừa để nhà xuất khẩu có thể chấp nhận được

- Nhà nhập khẩu phải gánh chịu những rủi ro do chọn nhầm đối tác kinh doanh, chẳng hạn: Nhà xuất khẩu cố tình giao hàng không đúng như quy định trong L/C (thiếu về số lượng, kém về phẩm chất, sai về quy cách, v.v…) hay gian lận trong thương mại bằng việc lập chứng từ khống mà không thực hiện việc giao hàng

I.3.3 Đối với ngân hàng:

Trang 17

v Nhược điểm:

- Một khi L/C không hủy ngang được phát hành, ngân hàng phải có trách nhiệm trong việc thanh toán đối với nhà xuất khẩu

- Rủi ro khi gặp phải những khách hàng (nhà nhập khẩu) kinh doanh không

có hiệu quả, ngân hàng không thu hồi được vốn do đã đứng ra trả thay cho khách hàng (nhưng khách hàng lại không chịu nhận nợ vay bắt buộc với ngân hàng)

- Khi gặp phải những bộ chứng từ giả mạo, nhưng trong phạm vi và khả năng của mình, ngân hàng lại không phát hiện ra được thì ngân hàng cũng phải chịu trách nhiệm

- Khi ngân hàng đóng vai trò là ngân hàng xác nhận, nhưng lại không xác định được uy tín của ngân hàng phát hành, thì nếu việc thanh toán đã được thực hiện xong nhưng ngân hàng phát hành không có khả năng thanh toán thì ngân hàng cũng phải tự chịu trách nhiệm

I.4 Một số rủi ro trong việc thực hiện thanh toán theo phương thức L/C

Thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng phổ biến

do những ưu điểm, đảm bảo an toàn trong việc thanh toán Tuy nhiên, khi sử dụng phương thức thanh toán này không phải không gặp những rủi ro và bất cập Dưới đây xin được trình bày một số rủi ro thường gặp đối với các bên tham gia vào phương thức thanh toán này:

I.4.1 Đối với người Xuất khẩu

Tình trạng chứng từ xuất trình lần đầu luôn bị từ chối vì sai sót luôn xảy

ra thường xuyên đến nỗi nhà xuất khẩu khẳng định rằng sai sót chứng từ là một phần tất yếu của giao dịch L/C và ngược lại giao dịch bằng L/C luôn ẩn chứa rủi ro sai sót chứng từ Trong L/C luôn có các quy định về các loại chứng từ xuất trình, đòi hỏi phải phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C, nếu chỉ một chứng từ không phù hợp thì bộ chứng từ sẽ bị từ chối thanh toán hoặc bị các nhà nhập khẩu lợi dụng để trì hoãn việc thanh toán hay ép giảm giá

Trang 18

Trong thực tế đã có nhiều nhà xuất khẩu Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa nói riêng ,than phiền rằng thanh toán theo phương thức L/C vừa nhiêu khê, vừa tốn kém Nhiêu khê là vì chứng từ xuất trình theo L/C phải phù hợp nghiêm ngặt với các điều kiện và điều khoản của L/C- một công việc đòi hỏi nhiều công sức nhưng không phải lúc nào cũng hoàn hảo Còn tốn kém thì không thể nói trước được, ngoài phí thông báo hoặc tu chỉnh L/C, nhà Xuất khẩu còn bị khấu trừ phí sai sót, các khoản phí liên quan đến việc xử lý chứng từ sai sót, phần lãi vay/chiết khấu mà nhà Xuất khẩu phải trả cho ngân hàng trong thời gian chờ thanh toán…Đó là chưa kể đến những sai sót chứng từ có thể trở thành cái cớ để nhà Nhập khẩu thương lượng giảm giá hoặc từ chối thanh toán hẳn khi giá hàng hóa giảm mạnh

Nguyên nhân của những sai sót chứng từ xuất trình L/C có thể kể ra như sau:

- Do thiếu hiểu biết một cách đầy đủ về những quy định chứng từ của UCP -500

- Do không có quy trình nội bộ đầy đủ: không có sự phối hợp đồng bộ giữa các phòng ban

- Do nhà xuất khẩu chủ quan cho rằng thanh toán theo L/C là chắc chắn

sẽ được thanh toán mà đôi khi không quan tâm đến việc kiểm tra L/C một cách cẩn thận

- Nhà Xuất khẩu quá tin vào người mua: Lòng tin của nhà Xuất khẩu đôi khi cũng bị đặt nhầm chỗ khi họ tin rằng người mở L/C sẽ không lợi dụng những sai sót chứng từ để từ chối thanh toán Chính sai lầm này đã dẫn đến việc họ không mấy quan tâm tới việc cần phải lập chứng từ phù hợp một cách nghiêm ngặt

Để giải quyết được rủi ro này và giúp nhà Xuất khẩu có thể lập chứng từ phù hợp với với L/C, tránh được những sai sót Sau đây là các bước để thực hiện quy trình xử lý L/C xuất khẩu:

Trang 19

Bước 1: Tổ chức và cùng phối hợp với các phòng ban để thực hiện hoạt động xuất khẩu

Bước 2: Đàm phán các điều kiện L/C: Nên đưa ra hoặc chấp nhận những điều kiện mà mình có khả năng thực hiện

Bước 3: Kiểm tra L/C: Nhà XK nên yêu cầu tu chỉnh nếu L/C không đúng với các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng

Bước 4: Lập kế hoạch tuân thủ: Nhà xuất khẩu phải có kế hoạch thực hiện giao hàng, lập chứng từ, xuất trình chứng từ và tổ chức thực hiện

Bước 5: Lập và chuẩn bị các chứng từ: Cần có đội ngũ cán bộ nhân viên

đủ năng lực, trình độ hiểu biết để thực hiện công việc này

Bước 6: Tự kiểm tra chứng từ trước khi xuất trình: Để ngăn ngừa những lỗi mà người mua có thể dựa vào đó để từ chối hoặc kéo dài thời gian thanh toán

Bước 7: Xuất trình chứng từ kịp thời: Xuất trình đúng thời gian quy định

Bước 8: Kiểm soát và giám sát thường xuyên: Nhà xuất khẩu phải giám sát tiến độ thực hiện và và kiểm soát những yếu tố có thể gây trì hoãn việc lập và xuất trình chứng từ kịp thời Nhà xuất khẩu phải liên hệ với người mua và ngân hàng người mua về việc gia hạn những thời hạn cuối cùng và luôn ghi nhớ những thời hạn cuối cùng đó để có kế hoạch và thực hiện phù hợp

b) Rủi ro khi trong L/C quy định cần sự cấp phép của một tổ chức trung gian thứ ba: Điều này có nghĩa là, khi nhà xuất khẩu xuất hàng sang một nước khác thì cần phải có sự chấp nhận của một tổ chức trung gian

c) Khi ngân hàng thanh toán rơi vào những trường hợp bất khả kháng như chiến tranh, đình công, nổi loạn, khởi nghĩa, lụt lội, động đất, hảo hoạn,.v.v…Nếu L/C hết hạn giữa lúc đó, Ngân hàng không chịu trách nhiệm thanh toán những bộ chứng từ gửi vào dịp đó Và như vậy thì nhà xuất khẩu

sẽ không được thanh toán trong khi hàng hóa đã giao xong

Trang 20

d) Chiết khấu chứng từ: Trường hợp chiết khấu truy đòi, người xuất khẩu phải cam kết hoàn trả số tiền mà Ngân hàng Ngoại thương đã chiết khấu trong trường hợp ngân hàng mở nước ngoài đã từ chối thanh toán e) Rủi ro khi có những hạn chế ngoại hối của nước người mua

I.4.2 Rủi ro đối với người mua/nhà nhập khẩu:

a) Toàn bộ giao dịch từ việc người mua làm đơn xin mở L/C cho người Xuất khẩu hưởng đến việc xuất trình bộ chứng từ của người Xuất khẩu, việc kiểm tra L/C và thanh toán L/C đều được thực hiện trên cơ sở các chứng từ chứ không hề biết đến hàng hoá như thế nào, chất lượng, mẫu mã ra sao, có đúng với yêu cầu của hợp đồng hay không

Khi Ngân hàng mở L/C kiểm tra chứng từ thấy phù hợp với các điều kiện, điều khoản của L/C thì tiến hành thanh toán và buộc người mua phải trả tiền hoặc nếu không có khả năng thanh toán thì ký chấp nhận nợ Nhưng thực tế khi nhận hàng thì hàng hóa lại không đúng như quy định trong hợp đồng, không đúng như quy định trong L/C về chất lượng, mẫu mã, hàng không đạt tiêu chuẩn…

b) Người xuất khẩu phối hợp với Ngân hàng thông báo lừa đảo để lấy tiền của nhà nhập khẩu Sau khi lấy được tiền, nhà xuất khẩu sẽ tự giải thể, phá sản hoặc bỏ trốn Nhà xuất khẩu chỉ bằng cách lập một bộ chứng từ hoàn hảo gửi cho Ngân hàng mở L/C thông qua Ngân hàng thông báo xin thanh toán, và Ngân hàng mở L/C chỉ kiểm tra xem bộ chứng từ có phù hợp với quy định của L/C hay không, nếu phù hợp thì tiến hành thanh toán Nhưng thực tế là không có hàng hóa vận chuyển về nước người mua, hoặc hàng giả, hàng xấu

c) Rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa: Trong quá trình vận chuyển hàng hóa, thì có thể xảy ra các rủi ro như mất mát, hư hỏng hàng hoá

do phát sinh hỏa hoạn, thiên tai, chiến tranh…

d) Rủi ro khi đất nước người nhập khẩu có các sự kiện như chiến tranh, đình công, bạo loạn… Những sự kiện này đều có tác động đến việc thực hiện

Trang 21

yêu cầu đối với Ngân hàng và việc nhận hàng hóa khi hàng về

e) Rủi ro khi có những biến động tỷ giá ngoại tệ: Khả năng xảy ra những

biến động không lường trước được của tỷ giá hối đoái dẫn đến những tác động bất lợi cho các hoạt động kinh doanh quốc tế, sự biến động về kinh tế

dẫn đến sự thay đổi của tỷ giá đồng tiền giữa các nước

I.4.3 Rủi ro đối với Ngân hàng

a) Ngân hàng Phát hành:

- Rủi ro về kỹ thuật nghiệp vụ: Là những rủi ro hình thành do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quá trình thanh toán, như sự khác biệt giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung L/C hay việc các bên tham gia thực hiện sai một khâu trong quy trình nghiệp vụ thanh toán hoặc trái với điều khoản quy định của UCP 500

- Khi các quy tắc thực hành thống nhất về thanh toán quốc tế UCP 500

do Phòng Thương mại Quốc tế ban hành và luật pháp Quốc gia có những mâu thuẫn Trong trường hợp này, việc áp dụng theo bên nào phải tuỳ thuộc vào luật pháp của từng nước

Có thể nhận thấy xung đột giữa quy tắc thực hành thống nhất và pháp luật Việt Nam trong trường hợp trả tiền thư tín dụng cho nước ngoài Giả sử theo UCP 500 thì phải trả ngay nhưng ngược lại theo luật pháp nước ta thì không trả tiền Điều này đưa đến hai trường hợp:

+ Trường hợp 1: Ngân hàng sẽ theo lệnh của cơ quan Nhà nước là không trả tiền Điều này đã dẫn đến hậu quả là cả hệ thống Ngân hàng Thương mại Viêt Nam bị mất uy tín trên thế giới và bị xếp vào loại kém trong thanh toán quốc tế Từ đó, khi Ngân hàng Thương mại Việt Nam

mở L/C, phát hành bảo lãnh hoặc bị từ chối hoặc phải có Ngân hàng thứ ba (Ngân hàng có uy tín trên thế giới) xác nhận với phí xác nhận cao nhất

+ Trường hợp 2: Ngân hàng sẽ theo UCP 500 là thanh toán tiền: Trong trường hợp này, Ngân hàng sẽ bị doanh nghiệp nhập khẩu trong nước kiện vì cố ý làm trái gây hậu quả cho các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 22

- Rủi ro khi có những biến động tỷ giá ngoại tệ: Sự biến động về kinh tế dẫn đến sự biến động của tỷ giá đồng tiền giữa các nước Do Ngân hàng thực hiện chức năng trung tâm thanh toán của các đối tác tham gia hoạt động xuất nhập khẩu nên mức độ rủi ro này rất lớn so với các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu khác

- Rủi ro về việc nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản đây là rủi ro nặng nề nhất cho Ngân hàng Phát hành vì Ngân hàng buộc phải thanh toán cho người xuất khẩu trong khi không thể thu hồi được vốn từ phía người mua

- Rủi ro do việc nhà nhập khẩu phối hợp với phía nước ngoài để hợp pháp hóa việc chuyển tiền ra nước ngoài, hay tìm cách vay được tiền của ngân hàng bằng các chứng từ, hợp đồng ngoại, L/C rồi tìm cách chiếm đoạt hoặc chiếm dụng một thời gian Trong mọi trường hợp xảy ra, ngân hàng mở L/C nếu trả tiền đều bị thiệt hại

b) Ngân hàng xác nhận: Việc xác nhận của Ngân hàng được ràng buộc

trách nhiệm của Ngân hàng xác nhận vào nghĩa vụ thanh toán L/C khi có tranh chấp giữa hai bên Rủi ro đối với Ngân hàng xác nhận xảy ra khi không nắm vững được năng lực tài chính của Ngân hàng mở và xác nhận theo yêu cầu của họ để rồi cuối cùng phải nhận trách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàng mở do Ngân hàng mở mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản

c) Ngân hàng chiết khấu: Cũng như Ngân hàng phát hành, Ngân hàng

chiết khấu có thể gặp những rủi ro nếu như không thực hiện chính xác nghiệp vụ cũng như tuân thủ các quy định của UCP

d) Khi bị lừa đảo bằng thư bảo lãnh giả mạo: Tình trạng bọn tội phạm

sử dụng thử bảo lãnh ngân hàng giả mạo để lừa đảo những nhà đầu tư mất cảnh giác tin rằng có thể kiếm được những khoản lợi to lớn bằng cách mua

đi bán lại các công cụ tài chính này Một số thư bảo lãnh ngân hàng giả mạo được phát hiện trong đó có những thư bảo lãnh mạo danh các ngân hàng Việt Nam phát hành

Trang 23

Để tăng thêm tính chân thực và tính pháp lý của thư bảo lãnh ngân hàng giả mạo, bon tội phạm tìm cách chuyển thư bảo lãnh qua hệ thống ngân hàng, bằng cách gọi điện hoặc fax thư tra soát đến ngân hàng, xưng danh là một công ty X hoặc Y nào đó đang chờ thư bảo lãnh của một ngân hàng Z nào đó Một bản sao thư bảo lãnh giả mạo thường được phát hành dưới dạng điện SWIFT MT760 hoặc MT799 cũng được gửi kèm qua fax hoặc email Giá trị bảo lãnh của những thư bảo lãnh ngân hàng giả mạo này thường lớn, khoảng từ hàng chục triệu đến hàng trăm triệu USD hoặc tương đương Điều kiện thanh toán thường là ngân hàng phát hành cam kết không hủy ngang và thanh toán vô điều kiện theo lệnh của người nắm giữ bảo lãnh hợp pháp Về số tiền thanh toán, thư bảo lãnh ngân hàng giả mạo thường nêu rằng việc thanh toán sẽ được thực hiện đầy đủ, không thanh toán bù trừ, không khấu trừ phí các loại hoặc không giữ lại các khoản tiền thuế theo yêu cầu của bất kỳ chính phủ hoặc cơ quan chức năng nào của chính phủ… Còn một số các yếu tố để có thể nhận biết thư tín dụng ngân hàng giả mạo, các nhân viên ngân hàng cũng như các nhà đầu tư nên cần chú ý tới như về thời hạn thanh toán, về luật điều chỉnh, về điều kiện chuyển nhượng

I 5 Cơ sở pháp lý để thực hiện thanh toán theo phương thức L/C

I.5.1 Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ UCP - 500

Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ UCP - 500 do Phòng Thương Mại Quốc tế (ICC) ban hành không phải là văn bản luật, mà là tập hợp các tập quán, quy ước và thực tiễn ngân hàng trong thanh toán quốc tế Khác với luật quốc gia và công ước quốc tế, văn bản quy tắc này không được

tự động áp dụng để điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế mà mang tính pháp lý tùy ý Nghĩa là các Bên tham gia có quyền lựa chọn áp dụng hay không áp dụng Nhưng một khi đã đồng ý áp dụng, có nghĩa là đã chấp nhận UCP - 500, thì các quy tắc sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các Bên tham gia

Trang 24

UCP - 500 bao gồm 7 phần, trong đó có 49 điều:

Phần A: Các điều khoản chung và định nghĩa:

Điều 1:Việc áp dụng UCP Điều2: Định nghĩa tín dụng Điều 3: Tín dụng và Hợp đồng Điều 4: Chứng từ và hàng hóa hoặc dịch vụ Điều 5: Lệnh cấp và sửa đổi tín dụng

Phần B: Hình thức và thông báo tín dụng

Điều 6: Tín dụng huỷ ngang và không hủy ngang Điều 7: Nghĩa vụ của ngân hàng thông báo Điều 8: Hủy ngang tín dụng

Điều 9: Nghĩa vụ của ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận Điều10: Các loại tín dụng

Điều 11: Chuyển điện và thông báo sơ bộ thư tín dụng Điều 12: Lệnh không đầy đủ hoặc không ro ràng

Phần C: Nghĩa vụ và trách nhiệm

Điều 13: Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ Điều 14: Chứng từ có sai sót và thông báo Điều 15: Phủ nhận hiệu lực của chứng từ Điều 16: Phủ nhận chuyển điện

Điều 17: Bất khả kháng Điều 18: Phủ nhận hành động của bên được lệnh Điều 19: Cách thức thanh toán giữa các ngân hàng

Phần D: Chứng từ

Điều 20: Sự không ro ràng đối với bên lập chứng từ Điều 21: Người lập hoặc nội dung không cụ thể của chứng từ Điều 22: Ngày tháng trên chứng từ và trên tín dụng

Điều 23: Vận đơn đường biển Điều 24: Vận đơn đường biển không chuyển nhượng

Trang 25

Điều 25: Vận đơn của bên thuê tàu Điều 26: Chứng từ vận tải bằng phương tiện Điều 27: Chứng từ vận tải hàng không Điều 28: Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy Điều 29: Giấy biên nhận phát hàng vào bưu điện

Điều 30: Chứng từ vận tải do bên gửi hàng làm Điều 31: “Xếp lên boong tàu”, “người thuê tàu xếp lên tàu và đếm”, tên của người gửi hàng

Điều 32: Chứng từ vận tải sạch Điều 33: Chứng từ vận tải nhờ thu cước hoặc đã trả cước Điều 35: Các loại bảo hiểm

Điều 36: Bảo hiểm mọi loại rủi ro Điều 37: Các hoá đơn thương mại Điều 38: Các chứng từ khác

Điều 44: Gia hạn ngày hết hiệu lực Điều 45: Thời gian trình nộp chứng từ Điều 46: Các thuật ngữ chung sử dụng cho việc vận chuyển hàng Điều 47: Thuật ngữ về ngày tháng dùng cho thời gian vận chuyển

Phần F: Tín dụng chuyển giao

Điều 48: Tín dụng chuyển giao

Phần G: Chuyển tiền thu được

Điều 49: Chuyển tiền được thanh toán

I.5.2 Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế ISBP

Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế ISBP dùng để kiểm tra chứng từ

Trang 26

trong thanh toán tín dụng chứng từ Đây là kết quả của 2 năm rưỡi làm việc của Nhóm công tác đặc biệt thuộc Uỷ ban Ngân hàng của Phòng thương mại quốc tế (ICC) Văn bản này đã được toàn thể Uỷ ban Ngân hàng thông qua tại cuộc họp ở Rome tháng 10/2002 và cũng trong thời gian này, Uỷ ban đã

bỏ phiếu nhất trí coi văn bản này là tài liệu chính thức của ICC ISBP như người ta thường gọi là sự bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP - 500 – Quy tắc của ICC về tín dụng chứng từ đang được sử dụng rộng rãi

ISBP không sửa đổi cho UCP mà nó giải thích chi tiết và rõ ràng hơn cách áp dụng các Quy tắc của UCP trong giao dịch hàng ngày Nhờ vậy, nó

sẽ giảm sự cách biệt không cần thiết giữa những quy tắc chung quy định trong các Quy tắc của UCP và công việc hàng ngày của những người thực hiện thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Thông qua việc sử dụng ISBP, những người kiểm tra chứng từ có thể thực hiện các công việc của mình phù hợp với tập quán mà đồng nghiệp của họ đang sử dụng trên toàn thế giới Nhờ đó sẽ giảm đi đáng kể một số lượng chứng từ bị từ chối thanh toán do có sự khác biệt khi xuất trình lần đầu tiên

I.5.3 Một số thông tin về bản dự thảo UCP - 600

Uỷ ban ngân hàng ICC đang làm việc để thông qua lần cuối bản sửa đổi UCP - 500 Bản quy tắc mới được gọi là UCP - 600, dự kiến sẽ được Uỷ ban Ngân hàng ICC thông qua trong tháng 10/2006 sau 3 năm chuẩn bị, và nếu không có gì thay đổi, UCP - 600 sẽ được ấn hành trong tháng 1/2007 và sẽ chính thức có hiệu lực áp dụng từ ngày 1/7/2007 UCP - 600 sẽ có nhiều thay đổi chủ yếu cho bản quy tắc chi phối các giao dịch bằng thư tín dụng trị giá hàng tỷ đô la hàng năm

UCP - 600 có nhiều thay đổi so với UCP - 500, có các điều khoản mới mà các ngân hàng, các nhà xuất khẩu và các luật gia sẽ cần phải biết Bản dự thảo có một số đặc điểm sau:

1 Hệ thống các quy tắc ngắn gọn hơn với 39 điều so với 49 điều của UCP -

500

Trang 27

2 Có những định nghĩa mới về các điều khoản như “ trả đúng hẹn” và” chiết khấu”

3 Thay điều khoản “thời gian hợp lý” bằng một số ngày xác định để kiểm tra

dịch vụ tài chính trong xu thế hội nhập, các NHTM ở nước ta đang thực hiện

đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ Đây cũng là một tất yếu khách quan có tính cấp bách của quá trình tiếp tục cơ cấu lại các NHTM Song, mở rộng dịch vụ gì được coi là có hiệu quả, cần được tập trung nhiều hơn là vấn

đề phải có chiến lược cụ thể của từng ngân hàng Và hoạt động thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ đang có sức cạnh tranh mạnh mẽ, bên cạnh việc phát triển tài khoản cá nhân, phát triển đối tượng sử dụng thẻ,…Định hướng chiến lược kinh doanh đó còn được dựa trên sự phát triển của thị trường thanh toán quốc tế ở nước ta hiện nay

Trong những năm gần đây, cùng với các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, du lịch quốc tế, người Việt Nam đi xuất khẩu lao động, làm

ăn và sinh sống ở nước ngoài, du học và chữa bệnh,…tăng trưởng mạnh, thì các nhu cầu thanh toán, chuyển tiền cũng gia tăng Bởi sự gia tăng của thị trường đó, nên có thể thấy rằng, đây là lĩnh vực cạnh tranh sôi động của các NHTM, kể cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh và các NHTM trong nước Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng, đến nay các NHTM

Trang 28

trong nước, đặc biệt là các NHTM Nhà nước vẫn đang chiếm tỷ trọng thị phần chi phối trong lĩnh vực thanh toán quốc tế

Theo số liệu của các NHTM thu thập được cho thấy, hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB) đang dẫn đầu toàn ngành về hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu (XNK) , kinh doanh ngoại tệ, chuyển tiền và kiều hối Số liệu thực tế của thời gian gần đây như sau, nhất là năm 2005 Doanh

số thanh toán xuất nhập khẩu và chuyển tiền của VCB năm 2005 cho các tổ chức kinh tế đạt trên 20,73 tỷ USD, tăng 17,6% và chiếm xấp xỉ 29% thị phần của cả nước, trong đó doanh số thanh toán xuất khẩu là 10 tỷ USD, tăng 34%; doanh số thanh toán nhập khẩu là 10,67 tỷ USD, tăng 5,2% Tổng lượng điện chuyển đi và đến của các giao dịch chuyển tiền quốc tế qua mạng SWIFT tăng 4,2% so với năm 2004, đạt bình quân trên 70.000 điện/tháng Đứng thứ hai trong hệ thống NHTM Việt Nam về hoạt động thanh toán quốc tế có thể thấy đó là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT Việt Nam) Riêng năm 2005, tổng doanh số thanh toán XNK của NHNo&PTNT Việt Nam tăng 20,8% so với năm 2004; trong

đó thanh toán hàng xuất đạt 2.308,9 triệu USD, tăng 83%; doanh số thanh toán hàng nhập là 3.476 triệu USD, bằng 99,9% so với năm 2004 Doanh số thanh toán XNK biên giới đạt 9.428 tỷ đồng, tăng 22,4%; trong đó doanh số thanh toán hàng nhập khẩu đạt 2.126 tỷ đồng, tăng 26% và doanh số thanh toán hàng xuất đạt 7.302 tỷ đồng, tăng 21,3% so với năm 2004 Thu phí nghiệp vụ thanh toán biên giới Việt Nam – Trung Quốc đạt 11,2 tỷ đồng, tăng 30,2% Đây là NHTM dẫn đầu về thanh toán khu vực biên giới, chủ yếu

là buôn bán tiểu ngạch khu vực biên giới phía Bắc với Trung Quốc

Đứng thứ ba về hoạt động thanh toán đó là ngân hàng Công thương Việt Nam Trong năm 2005, doanh số thanh toán hàng nhập khẩu đạt 3,1 tỷ USD, tăng 38%; doanh số thanh toán hàng xuất khẩu đạt trên 2,0 tỷ USD, tăng 21% Doanh số chi trả kiều hối đạt 370 triệu USD, tăng 41% và chiếm gần 10% tổng lượng kiều hối chính thức chuyển về Việt Nam trong năm 2005

Trang 29

Song khối NHTM cổ phần cũng đang vươn lên cạnh tranh mạnh mẽ trong lĩnh vực thanh toán quốc tế Đứng đầu trong lĩnh vực này đó là các NHTM cổ phần: Á Châu, Đông Á, Eximbank, Sacombank, Techcombank,…Chỉ riêng NHTM cổ phần Đông Á trong năm 2005 đã đạt doanh số thanh toán quốc tế hơn 1.150 triệu USD và chi trả kiều hối hơn 680 triệu USD

Hoạt động thanh toán quốc tế của hệ thống NHTM mở rộng cho phép hạn chế tình trạng đô la hóa trong xã hội Hệ thống NHTM cũng thu hút được khối lượng lớn vốn ngoại tệ đầu tư cho các dự án của nền kinh tế Cung cầu vốn ngoại tệ cho các nhu cầu đầu tư, thanh toán luôn luôn được đảm bảo

là tiền đề quan trọng để ổn định tỷ giá Hoạt động này càng phát triển cũng chứng tỏ năng lực và kinh nghiệm kinh doanh theo thông lệ quốc tế của các NHTM Việt Nam không ngừng được nâng lên Nguồn thu nhập của các NHTM Việt Nam cũng đa dạng hơn với xu hướng tăng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro Vì vậy, các NHTM cần có cơ chế kiểm soát và quản lý chặt chẽ các giao dịch để giảm thiểu tổn thất trong kinh doanh có thể gặp phải Thường xuyên giám sát

và bảo đảm việc tuân thủ nghiêm túc các hạn mức rủi ro trong giao dịch, bảo mật trong giao dịch Đồng thời các NHTM cũng phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ và phòng ngừa rủi ro đạo đức cho đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp trong khâu nghiệp vụ nói trên

Các NHTM cần tham khảo kinh nghiệm lẫn nhau về điều chuyển và sử dụng ngoại tệ tiền mặt sao cho có hiệu quả nhất trong điều kiện chưa có đầu mối điều hòa lĩnh vực này

III Quyền lợi và trách nhiệm của các Ngân hàng trong phương thức tín dụng chứng từ

v Ngân hàng mở L/C (Issuing bank) (Ngân hàng phát hành):

- Căn cứ vào đơn xin mở L/C của người nhập khẩu mở L/C và tìm cách thông báo L/C đó cùng với việc gửi bản gốc L/C cho người xuất khẩu phải

Trang 30

thông qua một ngân hàng đại lý của nó ở nước người xuất khẩu Không loại trừ, ngân hàng này gửi thẳng bản gốc L/C cho người xuất khẩu

- Sửa đổi, bổ sung những yêu cầu của người xin mở L/C của người xuất khẩu đối với L/C đã được mở nếu có sự đồng ý của họ

- Kiểm tra chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến, nếu xét thấy các chứng từ đó phù hợp với những điều quy định trong L/C và không mâu thuẫn lẫn nhau thì hoàn trả cho ngân hàng uỷ quyền (ngân hàng chiết khấu) số tiền mà ngân hàng này đã trả, hoặc cam kết sẽ trả cho người hưởng lợi Đồng thời, tiếp nhận bộ chứng từ

- Khi kiểm tra chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến, ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra bên ngoài của chứng từ xem có phù hợp với L/C hay không, và không chịu trách nhiệm về kiểm tra tính chất pháp lý của chứng từ, tính chất xác thực của chứng từ, v.v…Mọi sự tranh chấp về tính chất bên trong của các chứng từ là do người nhập khẩu và người xuất khẩu tự giải quyết

- Nếu trong trường hợp chứng từ bất hợp lệ, người hưởng sẽ mất quyền khi họ không thực thi nghĩa vụ của mình (lập bộ chứng từ không đúng theo L/C yêu cầu), đồng thời ngân hàng có thể tùy theo từng hoàn cảnh, điều kiện

và tình huống để ngân hàng quyết định từ chối hay tiếp xúc với người mở để chấp nhận chứng từ bất hợp lệ:

+ Nếu Ngân hàng phát hành chỉ làm dịch vụ đơn thuần trong giao dịch thư tín dụng (người mở đã đảm bảo đủ tiền để thanh toán) thì việc chấp nhận chứng từ bất hợp lệ là việc của người mở Rủi ro phát sinh từ sự bất hợp

lệ của chứng từ do người mở gánh chịu

+ Nếu Ngân hàng phát hành đã cấp tín dụng cho khách hàng mình (bằng nhiều cách khác nhau) thì việc định đoạt chứng từ bất hợp lệ được giải quyết theo 2 trường hợp:

Trường hợp 1: Ngân hàng sẽ tiếp xúc với người mở để hỏi ý kiến

về việc chấp nhận hay từ chối chứng từ bất hợp lệ nếu hoạt động kinh doanh

Trang 31

của người mở vẫn bình thường Người mở vẫn có quyền từ chối và không thanh toán

Trường hợp 2: Ngân hàng sẽ từ chối chứng từ bất hợp lệ mà không cần có ý kiến của người mở nếu khách hàng có dấu hiệu thua lỗ, phá sản, mất khả năng thanh toán… Ngân hàng dùng quyền được phép của mình để tránh những hậu quả xấu phát sinh từ khách hàng

- Ngân hàng phát hành phải có trách nhiệm trong việc thông báo cho phía xuất trình chứng từ về sự bất hợp lệ của chứng từ, bằng điện tín (Telex, Swift) trong vòng 7 ngày làm việc kể từ ngày nó nhận được chứng từ Nội dung thông báo phải nói cụ thể tất cả các bất hợp lệ mà nó phát hiện Đồng thời, xác nhận chứng từ bị từ chối

- Ngân hàng phải có nghĩa vụ trả tiền, kể cả lãi suất chậm trả, điện phí có liên quan cho ngân hàng chiết khấu, tính từ ngày đầu tiên của việc đòi tiền đến ngày số tiền được trả

- Ngân hàng được miễn trách trong trường hợp ngân hàng rơi vào đúng các bất khả kháng như chiến tranh, đình công, nổi loạn, lụt lội, động đất, hỏa hoạn, v.v…Nếu L/C hết hạn giữa lúc đó, ngân hàng cũng không chịu trách nhiệm thanh toán những bộ chứng từ gửi đến vào dịp đó, trừ khi đã có những quy định dự phòng

- Mọi hậu quả phát sinh do lỗi của mình, ngân hàng mở L/C phải chịu trách nhiệm Ngân hàng được hưởng một khoản thủ tục phí mở L/C từ 0,125% đến 0,5% trị giá của L/C

v Ngân hàng thông báo (advising bank):

- Khi nhận được điện thông báo L/C của ngân hàng mở L/C, ngân hàng này sẽ chuyển toàn bộ nội dung L/C đã nhận được cho người xuất khẩu dưới hình thức văn bản

- Ngân hàng thông báo chỉ chịu trách nhiệm chuyển nguyên văn bức điện

đó, chứ không chịu trách nhiệm phải dịch, diễn giải các từ chuyên môn ra tiếng địa phương Nếu ngân hàng thông báo sai những nội dung điện đã nhận

Trang 32

được thì ngân hàng phải chịu trách nhiệm

- Khi nhận được bộ chứng từ thanh toán của người xuất khẩu chuyển tới, ngân hàng phải chuyển ngay và nguyên vẹn bộ chứng từ đó tới ngân hàng mở L/C

- Ngân hàng không chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh ra do sự chậm trễ và/hoặc mất mát chứng từ trên đường đi đến ngân hàng mở L/C, miễn là chứng minh rằng mình đã gửi nguyên vẹn và đúng hạn bộ chứng từ

đó qua bưu điện

- Một thư tín dụng có thể được thông báo cho người hưởng lợi thông qua một ngân hàng thông báo mà không có sự cam kết gì, nhưng ngân hàng thông báo nếu đồng ý thông báo thư tín dụng, thì phải kiểm tra với sự cẩn thận thích đáng tính chân thật bề ngoài của thư tín dụng mà mình thông báo Nếu ngân hàng từ chối thông báo thư tín dụng thì phải thông báo ngay cho ngân hàng

mở L/C

- Nếu ngân hàng thông báo không thể xác minh được tính chân thật bề ngoài của thư tín dụng mà mình phải thông báo, thì ngân hàng không được chậm trễ phải thông báo ngay cho ngân hàng mà các chỉ thị đã nhận được từ ngân hàng đó, để biết rằng nó không có khả năng xác minh được tính chân thật của bề ngoài của thư tín dụng Và nếu nó đồng ý thông báo thư tín dụng thì phải thông báo cho người hưởng lợi rằng nó không thể xác minh được tính chân thật của thư tín dụng

- Tương tự, trong trường hợp ngân hàng thông báo nhận được những chỉ thị không đầy đủ, không rõ ràng thì đều phải phải báo ngay cho ngân hàng mà

nó nhận được chỉ thị (NH phát hành) về việc làm của mình và yêu cầu ngân hàng đó xác nhận lại các chỉ thị trên như yêu cầu ngân hàng phát hành xác nhận lại ngay các bức điện nhiễu loạn, hoặc những điều khoản tín dụng không

rõ ràng

v Ngân hàng thanh toán (paying bank /negotiating bank ): Có thể là ngân

hàng mở L/C và có thể là một ngân hàng khác do ngân hàng mở L/C uỷ nhiệm

Trang 33

- Trách nhiệm của ngân hàng trả tiền giống như ngân hàng mở L/C khi nhận được bộ chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến

v Ngân hàng xác nhận (confirm bank ) :

- Khi thư tín dụng được xuất trình tại ngân hàng xác nhận thì ngân hàng này phải thực hiện việc thanh toán cho người hưởng lợi thay ngân hàng phát hành

- Đòi hỏi các chứng từ xuất trình cho ngân hàng xác nhận phải phù hợp với các điều kiện quy định trong thư tín dụng

+ Nếu thư tín dụng quy định trả tiền ngay thì ngân hàng xác nhận trả tiền ngay + Nếu thư tín dụng quy định trả tiền sau thì phải trả tiền đúng hạn như quy định trong thư tín dụng

- Chứng từ xuất trình không phù hợp với quy định của thư tín dụng, ngân hàng xác nhận sẽ từ chối thanh toán, những nó cũng có quyền chấp nhận chứng từ đó

- Ngân hàng xác nhận chấp nhận chứng từ bất hợp lệ, có nghĩa ngân hàng này có thể xác nhận một sửa đổi và bị ràng buộc tính từ ngày sửa đổi đó Tuy nhiên, ngân hàng xác nhận có thể thông báo một sửa đổi cho người hưởng lợi mà không phải xác nhận sự sửa đổi đó và nếu như thế, nó phải thông báo cho ngân hàng phát hành và người hưởng lợi một cách không chậm trễ

v Ngân hàng chuyển nhượng (Transfering bank ):

- Khi được người hưởng lợi thứ nhất yêu cầu chuyển nhượng cho phía thứ ba Ngân hàng có quyền nhận hay từ chối

- Ngân hàng không có trách nhiệm gì về hệ quả phát sinh do hành động chuyển nhượng của mình vì đơn giản nó chỉ là Ngân hàng được chỉ định Ngân hàng không bị ràng buộc về việc thanh toán, chấp nhận hay chiết khấu chứng từ của người hưởng lợi thứ hai xuất trình tại nó

- Ngân hàng phải kiểm tra kỹ nội dung của thư tín dụng, nhằm đảm bảo việc chuyển nhượng có giá trị thực hiện Thư tín dụng có những điều bất hợp

lý, không logic hoặc gây khó khăn cho việc thực hiện thì Ngân hàng không sẵn sàng chuyển nhượng hoặc chỉ chuyển nhượng khi thư tín dụng đã được sửa đổi

- Ngân hàng chuyển nhượng hết nghĩa vụ khi đã chuyển nhượng thư tín dụng theo yêu cầu của người hưởng lợi thư nhất

Trang 34

CHƯƠNG II:

TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG NHA TRANG

TRONG THỜI GIAN QUA

I GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VÀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG NHA TRANG

I.1 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập vào ngày 01/04/1963, tiền thân là Cục đối ngoại của Ngân hàng Nhà nước, là ngân hàng liên tục giữ vai trò chủ lực trong hệ thống Ngân hàng Nhà Nước Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được Nhà nước xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt, là thành viên của hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, thành viên Hiệp hội Ngân hàng Châu Á

Trong những năm 1963 – 1989, đây là giai đoạn nền kinh tế đất nước phát triển hết sức khó khăn do những điều kiện lịch sử vốn có của nó Trong giai đoạn này một trong những nhiêm vụ đặt ra cho ngân hàng Ngoại thương là phải bằng mọi cách điều khiển cán cân thanh toán quốc tế, bảo đảm an toàn vốn ngoại hối của đất nước, phục vụ kháng chiến chống Mỹ và vượt qua cấm vận của nước ngoài Kết quả nghiệp vụ kinh doanh lúc đó đã tích luỹ được

35 triệu USD lãi ròng, Ngân hàng Ngoại thương đã trở thành trung tâm thanh toán quốc tế, nội tiếp, nhận, ký nhận vay nợ viện trợ của Ngân hàng Thế giới (WB),ODA, …và trở thành đại lý cho chính phủ trong quan hệ thanh toán vay nợ viện trợ Trong suốt thời kỳ khó khăn đó, Ngân hàng Ngoại thương không chỉ thực hiện chức năng trung tâm thanh toán xuất nhập khẩu và tín dụng quốc tế mà còn được Nhà nước giao quản lý toàn bộ vốn ngoại tệ của đất nước

Từ những năm 1990 đến nay, ngân hàng Ngoại thương đã đổi mới chính

Trang 35

sách cho vay, huy động vốn và trở thành ngân hàng thương mại quốc doanh

có nguồn vốn lớn nhất nước Việt Nam Là ngân hàng thương mại phục vụ đối ngoại lâu đời nhất Việt Nam, Vietcombank luôn được biết đến như một ngân hàng có uy tín nhất trong các lĩnh vực tài trợ, thanh toán xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh ngân hàng và các dịch vụ tài chính, nghiệp vụ thẻ tín dụng

Liên tiếp trong 8 năm liền (1996-2003) được công nhận là ngân hàng có chất lượng dịch vụ tốt nhất về thanh toán SWIFT theo tiêu chuẩn quốc tế Và

5 năm liền (2000-2004) được tạp chí “The Banker” một ngân hàng có tiếng trong giới tài chính quốc tế của Anh quốc bình chọn là “ Ngân hàng tốt nhất của Việt Nam”

Hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát triển thành một hệ thống gồm 25 chi nhánh trong nước, 29 chi nhánh cấp 2 Ngoài ra còn có các công ty trực thuộc gồm 1 công ty tài chính và 3 văn phòng đại diện nước ngoài, 1 công ty chứng khoán, 1 công ty cho thuê tài chính, 1 công ty quản lý

nợ và khai thác tài sản Trong những năm qua, bằng những nỗ lực vượt bậc

và được sự ủng hộ của đông đảo khách hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã giữ vững là Ngân hàng thương mại có mức tăng trưởng vào bậc nhất

ở Việt Nam

I.2 Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang

I.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang

Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha trang là một trong 25 chi nhánh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập theo quyết định số 175/NH Quyết định ngày 19 tháng 12 năm 1984 của Tổng giám đốc Ngân hàng

Nhà nước Việt nam, uỷ quyền thực hiện đầy đủ những chức năng, nhiệm

vụ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Vietcombank Nha Trang rất vinh

Trang 36

dự được đóng trụ sở trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, phục vụ cho khu vực kinh

tế Nam Trung Bộ (Khánh Hòa- Phú Yên – Ninh Thuận – ĐakLak)

Từ ngày thành lập đến năm 1990, Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang với trọng trách là ngân hàng đối ngoại duy nhất tại khu vực Nam Trung Bộ thực hiện các nghiệp vụ đổi tiền, chuyển tiền, chi trả kiều hối, mở

& quản lý tài khoản ngoại tệ của các công ty XNK, người không cư trú, cho vay ngoại thương các đơn vị xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế với các nước XHCN và ngoài khối XHCN

Năm 1990, cũng là năm đổi mới của ngành ngân hàng, hệ thống ngân hàng 2 cấp hình thành và vận hành theo cơ chế mới: Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Thương mại Các chức năng kinh doanh của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn được mở rộng và đa dạng hơn Vietcombank không còn độc quyền thực hiện các nghiệp vụ đối ngoại như trước kia Để tồn tại và phát triển, Chi nhánh đã đề ra nhiều hướng hoạt động kinh doanh từ đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng, tăng cường các biện pháp huy động vốn đến đa dạng hoá các hình thức tín dụng…

Năm 2002 đã đánh dấu sự trưởng thành của Vietcombank Nha Trang, là năm đầu tiên hoạt động của Chi nhánh đã khởi sắc Tổng nguồn vốn đến 31/12/2002 đạt 690.892 triệu đồng, trong đó vốn tiền đồng là 354.681 triệu đồng và 21.823 ngàn USD Nguồn vốn huy động từ khách hàng đạt 397.283 triệu đồng, chiếm 57,5% tổng nguồn vốn Công tác huy động vốn tăng trưởng đều với tốc độ tăng bình quân trên 10%/ năm; nguồn vốn vay được hỗ trợ từ Trung ương là 225.374 triệu đồng, chiếm 32,6 % tổng nguồn vốn Quan trọng nhất là dư nợ tín dụng hiện hành đã đạt được 360 tỷ đồng, trong

đó nợ lành mạnh đạt 339 tỷ đồng gấp 1,6 lần so với năm 2001 và 2,6 lần so với năm 2000, đạt 112% so với kế hoạch VCBTW giao Doanh số cho vay

cả năm là 1.477 tỷ đồng doanh số thu nợ 1.557 tỷ đồng

Hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ cũng góp phần quan trọng trong doanh thu tại Chi nhánh, với thu nhập lên đến 2 tỷ VNĐ hàng năm Doanh số

Trang 37

mua ngoại tệ bình quân khoảng 100 triệu USD cùng các loại ngoại tệ khác từ các đơn vị xuất khẩu, từ chi trả kiều hối, thu ngoại tệ và các nguồn khác giúp Chi nhánh đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh nhập khẩu của các đơn vị tại ngân hàng, ngoài ra còn hỗ trợ một phần cho Vietcombank TW

Vốn là Ngân hàng có thế mạnh trong lĩnh vực thanh toán xuất nhập khẩu, Chi nhánh đã cố gắng nâng cao chất lượng, tiếp tục củng cố uy tín trong quan hệ với khách hàng Do sự mở rộng hoạt động của các ngân hàng khác trên địa bàn nên thị phần có bị chia sẻ, tuy nhiên Chi nhánh vẫn duy trì là ngân hàng chiếm ưu thế trên địa bàn với kim ngạch XNK năm 2002 đạt 140 triệu USD chiếm 46,5 % tổng kim ngạch XNK toàn tỉnh

Vietcombank Nha Trang có trụ sở đóng trên địa bàn là một trong những trung tâm du lịch của cả nước, vì vậy các dịch vụ ngân hàng phát triển mạnh,

đa dạng với các sản phẩm phục vụ khách hàng trong và ngoài nước: Thu hồi ngoại tệ, thanh toán thẻ VISA, MASTER, DINER CLUB, AMEX, JCB, thanh toán séc du lịch, dịch vụ chuyển tiền trong nước và quốc tế Chi nhánh

đã mở rộng các cơ sở chấp nhận thẻ đạt 37 đơn vị, tăng 45% so với cùng kỳ năm trước Dịch vụ rút tiền tự động ATM nâng cao chất lượng và tiện ích của dịch vụ chuyển tiền và thanh toán qua ngân hàng, chỉ trong vòng 1 năm

số lượng thẻ do ngân hàng phát hành đã lên đến 831 thẻ ATM Tổng thu phí phát hành thẻ và thanh toán thẻ (thẻ tín dụng quốc tế và thẻ ATM) là 711 triệu đồng, tăng 40 % so với cùng kỳ năm trước

Cùng với một đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và được đào tạo lành nghề, dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng đối ngoại, với hệ thống trang thiết bị tin học tiên tiến, Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang tin tưởng rằng sẽ đủ quyết tâm và nghị lực tìm ra những giải pháp và hướng đi tích cực thích hợp đưa Vietcombank Nha Trang ngày càng phát triển hơn nữa để đáp ứng kịp thời tình hình kinh tế ngày càng phát triển của Tỉnh nhà

I.2.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng của các phòng ban

a) Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Ngân hàng:

Trang 38

Từ ngày thành lập với khoảng 20 cán bộ công nhân viên ban đầu chủ yếu

từ phòng ngoại hối Ngân hàng Nhà Nước chuyển sang Qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, Chi nhánh đã lớn mạnh không ngừng Bộ máy tổ chức của chi nhánh khi mới thành lập chỉ có vài phòng ban chuyên môn chính là

Kế toán thanh toán, Hành chính quản trị, Tín dụng thì nay để đáp ứng yêu cầu kinh doanh, bộ máy tổ chức đã phát triển thành 7 phòng:

· Bộ phận kiểm tra nội bộ

§ Chi nhánh cấp 2 –Cam Ranh

§ Các phòng giao dịch

Trang 39

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của chi nhánh Ngân hàng

Ngoại Thương

b) Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cá nhân, các phòng ban, các

bộ phận:

- Giám đốc: Trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm công việc của các

cơ quan, thông qua các Phó giám đốc phụ trách các chuyên đề để tiến hành thực hiện mục tiêu kinh doanh và trực tiếp chỉ đạo một số công việc: Tổ chức cán bộ, kế hoạch tổng hợp, kiểm tra kiểm soát nội bộ, các chi nhánh cấp 2, các phòng giao dịch, vi tính

Giám đốc

P.Giao dịch

Ngân quỹ

TT quốc

tế

Hành chính nhân sự

Kiểm tra nội bộ

Tổ vốn CN cấp

II

Trang 40

- Phó giám đốc phụ trách tín dụng: Trực tiếp chỉ đạo công tác tín

dụng, các dịch vụ của phòng kinh doanh dịch vụ, phòng thanh toán xuất nhập khẩu, phòng thẻ

- Phó giám đốc phụ trách kế toán ngân quỹ và công tác hành chính:

Chỉ đạo và theo dõi khâu hạch toán kế toán, theo dõi quản lý chi tiêu, quản lý tài sản, giám sát thực thi các chế độ kế toán, kho quỹ,… và theo dõi quản lý lao động

- Phòng thanh toán xuất nhập khẩu: Phòng có chức năng tham mưu

cho Ban Giám đốc những biện pháp nâng cao hiệu quả và chất lượng trong công tác thanh toán quốc tế, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán với nước ngoài theo thông lệ quốc tế và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ liên quan của Ngành, quan hệ với các ngân hàng nước ngoài

Ngày đăng: 31/08/2014, 17:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Biểu diễn phương thức tín dụng chứng từ: - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Sơ đồ 1. Biểu diễn phương thức tín dụng chứng từ: (Trang 10)
Sơ đồ 2: Cơ  cấu tổ chức bộ máy quản lý của chi nhánh Ngân hàng  Ngoại Thương. - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Sơ đồ 2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương (Trang 39)
Bảng 1: Tình hình huy động vốn và nguồn vốn tại NHNT Nha Trang - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Bảng 1 Tình hình huy động vốn và nguồn vốn tại NHNT Nha Trang (Trang 58)
Bảng 2: Công tác sử dụng vốn trong 3 năm(2003-2005)  Tỷ giá: 15.875VNĐ/USD      ĐVT: Triệu VNĐ-ngàn USD - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Bảng 2 Công tác sử dụng vốn trong 3 năm(2003-2005) Tỷ giá: 15.875VNĐ/USD ĐVT: Triệu VNĐ-ngàn USD (Trang 60)
Bảng 3: Cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế năm 2005 - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Bảng 3 Cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế năm 2005 (Trang 62)
Bảng 4:  Cơ cấu cho vay theo ngành hàng năm 2005 - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Bảng 4 Cơ cấu cho vay theo ngành hàng năm 2005 (Trang 63)
Bảng 5: Tình hình thu nhập chi phí trong 3 năm 2003-2005: - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Bảng 5 Tình hình thu nhập chi phí trong 3 năm 2003-2005: (Trang 66)
Bảng 6: Kết quả thu chi trong 3 năm 2003-2005 - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Bảng 6 Kết quả thu chi trong 3 năm 2003-2005 (Trang 68)
Sơ đồ 3. Quy trình thanh toán L/C xuất khẩu - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Sơ đồ 3. Quy trình thanh toán L/C xuất khẩu (Trang 75)
Bảng 7: Biểu phí thư tín dụng xuất khẩu - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Bảng 7 Biểu phí thư tín dụng xuất khẩu (Trang 87)
Sơ đồ 4:. Quy trình thanh toán L/C nhập khẩu - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Sơ đồ 4 . Quy trình thanh toán L/C nhập khẩu (Trang 88)
Hình thức khác  0,08%/tháng - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Hình th ức khác 0,08%/tháng (Trang 95)
Bảng 10: Doanh số xuất khẩu trong 3 năm 2003-2005 - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Bảng 10 Doanh số xuất khẩu trong 3 năm 2003-2005 (Trang 99)
Bảng 11: Tỷ trọng L/C xuất khẩu trong TTXK - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Bảng 11 Tỷ trọng L/C xuất khẩu trong TTXK (Trang 101)
Bảng 12: Doanh số thanh toán nhập khẩu trong 3 năm 2003-2005 - thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang
Bảng 12 Doanh số thanh toán nhập khẩu trong 3 năm 2003-2005 (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w