Tổng giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường Hiện nay các nhà kinh tế môi trường cho rằng để đánh giá một hệ sinh thái trước hết phải có quan điểm nhìn nhận có tính tổng hợp bởi lẽ thực
Trang 1Phần mở đầu
1 Đặt vấn đề
Hiện nay vấn đề môi trường đang là vấn đề được sự quan tâm của toàn thế giới Thế giới cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu gây ra Theo báo cáo của Liên hợp quốc thì Việt Nam là một trong năm quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Cùng với nỗ lực chung của cả thế giới trong việc làm chậm lại quá trình này, Việt Nam đang làm tất cả để giảm thiểu đến mức thấp nhất những ảnh hưởng sẽ phải đối mặt trong tương lai
Việt Nam là nước có bờ biển dài 3260km với hệ thống rừng ngập mặn(RNM) phong phú và đa dạng RNM có vai trò hết sức quan trọng đối với việc phòng hộ và đời sống nhân dân vùng ven biển Chúng không chỉ cung cấp một lượng lớn gỗ, củi, than, hoá chất, vbiển; chống xói lở bờ biển; hạn chế tác hại của sóng, gió, bão; giảm thiểu các thiệt hại do triều cường và sóng thần Ngoài ra, rừng phòng hộ ven biển còn
là nơi bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển ngành thuỷ sản,du lịch và bảo vệ môi trường
Vườn quốc gia(VQG) Xuân Thủy là VQG đầu tiên của Việt Nam được Quốc tế công nhận theo công ước Ramsar, là thành viên thứ 50 của công ước Ở đây lưu giữ rất nhiều loại động thực vật đặc trưng đặc biệt là nơi lưu trú của loài cò mỏ thìa- loài được ghi trong sách đỏ thế giới Chính vì vậy mà VQG Xuân Thủy có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam và có giá trị sinh thái Bên cạnh
đó nơi đây cũng là điểm đến thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng Với đề tài được lựa chọn nghiên cứu là:
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH(TCM-TRAVEL COST METHOD) XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ CỦA VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY, HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
Để xác định giá trị giải trí do RNM Xuân Thủy mang lại là cần thiết để có những biện pháp khai thác du lịch hợp lí kết hợp bảo tồn- vừa có ý nghĩa khoa học và vừa thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại VQG Xuân Thủy.
- Lượng giá giá trị giải trí của VQG Xuân Thủy thông qua phương pháp TCM
- Đề xuất giải pháp phát triển du lịch
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giá trị giải trí của VQG Xuân Thủy
- Phạm vi nghiên cứu: VQG Xuân Thủy
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng trong chuyên đề bao gồm những phương pháp sau:
Trang 2- Phương pháp thu thập số liệu.
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp chi phí du hành TCM
- Phương pháp xử lí số liệu bằng phần mềm excel
Trong đó phương pháp chi phí du hành(TCM) là phương pháp chính được sử dung trong quá trình làm chuyên đề Phương pháp này dựa trên những thông tin thu thập được từ du khách thông qua bảng hỏi
Trang 3Chương I: Tổng quan về phương pháp chi phí du lịch
1.1 Chất lượng môi trường
1.1.1 Khái niệm chất lượng môi trường
Có thể hiểu chất lượng môi trường là sự kết hợp của các yếu tố hữu hình, được tạo ra dưới tác động của tất cả những thành phần môi trường tự nhiên và những hoạt động của con người, đem lại những hiệu quả nhất định về mặt thẩm mỹ Giá trị thẩm
mỹ của cảnh quan là đối tượng để thưởng thức, thư giãn và để khám phá – một nội dung rất quan trọng của hoạt động du lịch, vốn được hiểu là hoạt động có mục đích cơ
bản là “đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng” của con người.
Trong mối quan hệ với các thành phần môi trường khác, chất lượng môi trường mang lại tính chất phát sinh bởi nó được tạo thành từ các thành phần môi trường liên quan Tuy nhiên, chất lượng môi trường có tính độc lập tương đối Sự độc lập tương đối này thể hiện ở chỗ chất lượng của cảnh qun môi trường không được đánh giá theo chất lượng của các thành phần môi trường cơ bản mà được đánh giá trên cơ sở sở cảnh quan và chỉ căn cứ vào yếu tố hữu hình tác động lên giác quan con người, được đánh giá ở sự hài hòa khả năng ấn tượng và tạo cảm xúc Tác động từ những biến đổi của chất lượng môi trường lên hoạt động du lịch thường mang tính trực tiếp, mạnh mẽ và nhanh chóng Do vậy, việc bảo vệ chất lượng môi trường cần được coi là một trong những nội dung quan trọng của công tác bảo vệ môi trường du lịch
Để bảo vệ hiệu quả chất lượng môi trường, cần nhận thức được đầy đủcác yếu tố hình thành và tác động len chất lượng môi trường Chất lượng môi trường trước hết được tạo thành bởi các yếu tố tự nhiên không cần có sự xếp đặt của bàn tay con người như: các dạng địa hình, đất nước, cây cỏ, chim muông, các hiện tượng thời tiết… Những yếu tố tác ddoognj luôn bao gồm yếu tố thiên nhiên và con người
Với tư cách là sự kết hợp của toàn bộ những yếu tố hữu hình, bất ký một hoạt động nào tại khu, tuyến điểm du lịch cũng có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường, bao gồm cả hoạt động xây dựng Thậm chí trong một số trường hợp, chính những hoạt động nhằm tạo cảnh quan nhân tạo lại làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên và làm
sy giảm tíh hấp dẫn của khu, tuyến hoặc điểm du lịch
1.1.2 Tổng giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường
Hiện nay các nhà kinh tế môi trường cho rằng để đánh giá một hệ sinh thái trước hết phải có quan điểm nhìn nhận có tính tổng hợp bởi lẽ thực chất của một hệ thống môitrường hay hệ sinh thái bản thân nó đã có tính tổng hợp, cụ thể đó là tổng giá trị kinh tế (TEV: Total economic value) Minh họa qua sơ đồ sau:
Trang 4TEV
IDUV
NUV
EXVV BV
OV DUV
TEV = UV+NUV = (DU + IDUV) + (OV + BV + EXV)
=
Hình 1.1: Sơ đồ tổng giá trị kinh tế
Nguồn: Giáo trình kinh tế môi trường
Sự phân biệt đầu tiên và quan trọng nhất đó là giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng
UV (Use values): Giá trị sử dụng của một loại hàng hoá là tính chất có ích, công dụng củahàng hoá đó có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó cho việc sản xuấthoặc cho sự tiêu dùng cá nhân, là những giá trị bắt nguồn từ lợi ích của xã hội do sử dụng hoặc có tiềm năng sử dụng một tài nguyên môi trường nhất định hay các dịch vụ của
nó Nói cách khác giá trị sử dụng được hình thành từ việc thực sự sử dụng môi trường
Nó bao gồm:
DUV (Direct use values): Giá trị sử dụng trực tiếp là các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trực tiếp cung cấp mà chúng ta có thể tính được về giá cả và khối lượng trên thị trường Một cá nhân có thể trực tiếp thưởng thức nguồn tài nguyên bằng cách tiêu dùng nó Ví dụ: giá trị cảnh quan của một công viên hay một khu rừng
IUV (Indirect use values): Giá trị sử dụng gián tiếp là những giá trị chủ yếu dựa trên chức năng của hệ sinh thái và môi trường, hay nói cách khác đây là các chức năng môi trường cơ bản gián tiếp hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế và lợi ích của mọi người Ví dụ một khu vực bảo vệ lưu vực sông hay tầng ôzôn bảo vệ trái đất khỏi tia cực tím Tuy nhiên sự khác nhau giữa giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp chỉ mang tính chất tương đối
Trang 5 OV (Option values): Giá trị tuỳ chọn là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn Đây là giá trị do nhận thức của con người đặt ra trong hệ sinh thái Giá trị này không có tính thống nhất chung và cũng phải được tính về mặt tiền tệ theo tínn chất lựa chọn của nó Ví dụ bảo tồn một khu vực tự nhiên là một lựa chọn cho chúng ta khả năng biến đổi nó trong tương lai hay giữ lại nó dựa vào những thông tin thu thập về giá trị tương đối của khu vực tự nhiên
NUV (Non use values): Giá trị phi sử dụng thể hiện các giá trị phi phưong tiện nằm trong bản chất của sự vật, không liên quan đến việc sử dụng thực tế hoặc thậm chí việc lựa chọn sự vật này Tuy nhiên thay vào đó những giá trị này thường liên quan nhiều về mặt lợi ích của con người Gía trị phi sử dụng bao gồm:
BV (Bequest values): Giá trị tuỳ thuộc hay giá trị để lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong một hàm nhiều biến và có thể có sự thay đổi trên cơ sở phát hiện của khoa học cũng như nhận thức của con người Một số người cho rằng giá trị tuỳ thuộc là giá trị của việc để lại các giá trị sử dụng và phi sử dụng cho con cháu
EXV (Existen values): Giá trị tồn tại xuất phát từ nhận thức của con người về tài nguyên và môi trường mà người ta cho rằng sự tồn tại của một cá thể hay một giống loài nào đó có ý nghĩa về mặt kinh tế không chỉ trước mắt mà cả lâu dài buộc người ta phải duy trì giống loài đó bằng mọi giá Trong việc tính toán này thì việc xác lập tiền tệ là khó khăn nhưng việc xác lập nhận thức về mặt giá trị là rất dễ dàng
Dưới đây là ví dụ về tổng giá trị kinh tế đối với khu rừng miền núi
DUV: Lớn nhất là gỗ củi, các động vật, giá trị phi gỗ (mộc nhĩ, nấm hương…), tất cả những giá trị đó khi chúng ta lượng giá chúng đều có khả năng xác định dễ dàng nhờ giá thị trường
IDUV: Duy trì nguồn nước ngầm, chống lũ quýet, chống xói mòn đất → khó lượng hóa hơn rất nhiều
OV: Tuỳ thuộc vào đặc trưng của từng khu vực mà có sự lựa chọn khác nhau
Ví dụ ở các khu rừng miền núi phía bắc, giá trị tuỳ chọn có thể là giá trị của các loại cây gỗ lim, sến, táu nhưng trong khi đó các khu rừng ở Tây Nguyên có giá trị tuỳ chọn Cẩm Lai, tuỳ thuộc vào tính chất sinh thái của từng khu vực
BV: Giá trị này phụ thuộc vào tính đặc trung của từng hệ sinh thái mà các nhà kinh tế sinh thái cần thiết phải đưa ra đánh giá tính phụ thuộc của nó Ví dụ đối với hệ sinh thái của khu vực xung quanh hồ Ba Bể, khu vực xung quanh rừng Nà Hang, duy trì khu rừng này là chỗ dựa của loài voọc mũi hếch.Việc lượng giá các giá trị này hết sức khó khăn, nó còn tuỳ thuộc vào cách tiếp cận của từng chuyên gia
EXV: Gía trị tồn tại giống hệ sinh thái rừng ngập mặn, là những giá trị có được nhờ duy trì hệ sinh thái của thế hệ trước để lại cũng như việc chúng ta phải đầu tư duy
Trang 6trì nó để mang lại lợi ích cho tương lai Ví dụ: rừng miền núi, tính chất nguyên sinh của rừng, ví dụ cây trò chỉ của rừng Cúc Phương
Như vậy, việc tính toán giá trị kinh tế của hệ sinh thái dựa trên quan điểm tổng hợp người ta đã đưa ra giá trị TEV, đây là cơ sở cho các nhà kinh tế học môi trường đưa ra phương pháp tiếp cận đánh giá nhằm lượng hoá các giá trị môi trường phục vụ cho việc hoạch định chính sách duy trì, bảo tồn đầu tư phát triển, đảm bảo tính bền vững
1.2 Định giá giá trị hàng hóa chất lượng môi trường
1.2.1 Sự cần thiết phải định giá giá trị hàng hóa chất lượng môi trường
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường khi mà tất cả các loại hàng hóa đều được đem lên cân, đong, đo đếm và được định giá thông qua cung cầu trên thị trường thì hàng hóa chất lượng môi trường cũng ngày càng khẳng định vai trò cuả nó trong hệ thống nền kinh tế Và việc định giá nó là cần thiết bởi các lý do sau:
Chất lượng môi trường trước hết nó là một loại hàng hóa bởi nó có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Như chúng ta đã biết các nhu cầu thiết yếu để duy trì
sự sống của con người đó là: ăn, mặc, ở Hàng hóa chất lượng môi trường thỏa mãn không chỉ những nhu cầu thiết yếu đó mà còn thỏa mãn vô số những nhu cầu khác của con người thông qua việc cung cấp không gian sống, các điều kiện sống, cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt (giá trị)
…Đồng thời việc phục hồi chất lượng môi trường là do lao động sản xuất của con người (hao phí lao động xã hội)- giá trị sử dụng Như vậy cần định giá hàng hóa chất lượng môi trường để tránh gây ra thất bại trên thị trường
Trong quá khứ người ta thường chưa chú trọng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên vì người ta cho rằng tài nguyên thiên nhiên là thứ “thiên nhiên ban tặng” nên trong quá trình khai thác và sử dụng người ta không tính toán lượng sử dụng và cũng không quan tâm đến thiệt hại trong quá trình khai thác gây ra như việc cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm hay lượng thải phát sinh sau đó Việc định giá môi trường là một cách nhắc nhở con người quan tâm và bảo vệ môi trường Đồng thời qua định giá cũng
đo được tốc độ sử dụng hết nguồn tài nguyên và dự báo cho con người mức độ khan hiếm nguồn tài nguyên càng gia tăng trong tương lai
Khi đánh giá được chất lượng môi trường cũng như những thiệt hại của một hoạt động kinh tế gây ra cho môi trường sẽ góp phần tạo công bằng trong việc ra quyết định Định giá góp phần thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền tức là qua định giá môi trường chúng ta sẽ xác định được đối tượng gây ô nhiễm phải trả bao nhiêu tiền cũng như có cơ sở cho việc xác định mức đền bù thiệt hại một cách cụ thể
và rõ ràng
Trang 7Phương pháp đánh giá có sử dụng hàm cầu
Phương pháp đáp ứng liều lượng
Phương pháp chi phí thay thế
Phương pháp dựa vào hàm sản xuất
Phương pháp chi phí cơ hội
Phương pháp đánh giá có sử dụng hàm cầu
Phương pháp chi phí du lịch (TCM) Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM)
Khi môi trường đã được định giá tức là giá trị của nó đã bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng sẽ được lượng hóa, từ đó sẽ có tính thuyết phục cao hơn trong việc giáo dục nâng cao nhận thức của người dân cũng như có những chỉ dẫn trong việc quy trình thực hiện về mặt kinh tế đúng đắn hơn
Nếu tiến hành lượng giá một cách cẩn thận thì sẽ tạo ra được một cơ sở an toàn
và hợp lý hơn, qua đó có phương cách sử dụng môi trường cẩn thận hơn, tránh lãng phí, thất thoát các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tóm lại việc định giá hàng hóa chất lượng môi trường là một việc làm cần thiết nhằm mục đích đưa ra những giải pháp tối ưu hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
1.2.2 Sử dụng phương pháp chi phí du lịch để đánh giá giá trị hàng
hóa chất lượng môi trường
Có nhiều phương pháp để lượng giá giá trị hàng hóa chất lượng môi trường
Trong đó phương pháp chi phí du lịch là phương pháp phù hợp hơn cả trong việc đánh giá giá trị cảnh quan tại VQG Xuân Thủy Vì thế tôi đi sâu tìm hiểu về phương pháp này
1.2.2.1 Khái niệm
Được hiểu là phương pháp dựa trên cơ sở của những điểm du lịch có sức hấp dẫn đối với du khách, thường là những điểm có chất lượng môi trường tốt Và để đánh giá chất lượng môi trường đó người ta dựa vào chi phí du lịch để đánh giá Chính vì vậy về nguyên tắc đối với phương pháp này thì nhu cầu về giải trí bằng nhu cầu về chất lượng môi trường tại khu vực cần đánh giá Đây là phương pháp đánh giá gián tiếp Trong đó đặc biệt chú ý đến nguyên tắc của phương pháp:
Trang 8Số lần đi
Vùng dưới đường cầu = Lợi ích của giải trí = Lợi ích của khu vực tự nhiên theo giả định
Chi phí đi lại
Đường cầu về giải trí
Là phương pháp phổ biến nhất trên thế giới trong lượng giá giá trị cảnh quan
Được xây dựng trên giả định chi phí mà người tiêu dùng phải bỏ ra để được tiêu
dùng một loại hàng hóa được xem là sự thay thế cho giá trị của hàng hóa đó
Chi phí bỏ ra bao gồm: chi phí đi lại, chi phí thời gian, chi phí cơ hội,…
1.2.2.2 Các cách tiếp cận
ITCM (Phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân): Cách tiếp cận này xác định
mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịch hàng năm của một cá nhân với chi phí du
lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra
Vi = f (TCi, Si)
Trong đó:
- Vi là số lần đến địa điểm du lịch của cá nhân i trong một năm
- TCi là chi phí du lịch của cá nhân i
- Si là các nhân tố khác có ảnh hưởng đến cầu du lịch của cá nhân, ví dụ: thu
nhập, chi phí thay thế, tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn…
Hàm cầu được thông qua chi phí đi lại và số lần đi như sau:
Đơn vị quan sát của ITCM là các cá nhân đến thăm điểm du lịch, giá trị giải trí
của mỗi cá nhân diện tích phía dưới đường cầu của họ, vì vậy tổng giá trị giải trí của
khu du lịch được tính bằng cách tổng hợp các đường cầu cá nhân
Theo Georgiou et al, 1997 “ITCM yêu cầu phải có sự dao động trong số lần đến
địa điểm du lịch của một cá nhân hàng năm để ước lượng ra hàm cầu” Vì vậy, cách
tiếp cân ITCM sẽ gặp phải khó khăn khi sự dao động là quá nhỏ hoặc khi các cá nhân
Nhu cầu về giải trí = Nhu cầu về chất lượng môi
trường tại khu vực cần đánh giá
Trang 9không đi đến địa điểm du lịch một vài lần trong năm Do đó nếu mọi du khách đến địa điểm du lịch chỉ một lần trong năm thì khó có thể chạy hàm hồi quy
Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân chỉ phù hợp cho các khu du lịch mà du khách đến nhiều lần trong năm như công viên hay vườn Bách Thảo…
ZTCM (Phương pháp chi phí du lịch theo vùng): Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát tới vị trí nghiên cứu với tổng chi phí du lịch của vùng xuất phát
Vi = V(TCi, POPi, Si)
Trong đó:
- Vi là số lần viếng thăm từ vùng i tới điểm du lịch
- POPi là dân số vùng i
- Si là các biến kinh tế - xã hội, ví dụ: thu nhập trung bình của mỗi vùng
Thông thường biến phụ thuộc được biểu hiện dưới dạng (Vi / POPi hay tỷ lệ tham quan trên 1000 người dân – VR)
Áp dụng ZTCM thì diện tích xung quanh điểm du lịch sẽ được chia thành nhiều các vùng với khoảng cách khác nhau tới điểm du lịch Vì vậy đơn vị quan sát cuả ZTCM là vùng ZTCM sử dụng tỷ lệ số lần viếng thăm của mỗi vùng tới điểm du lịch (VR) là hàm của chi phí du lịch Bởi vậy số lần một cá nhân tới điểm du lịch không ảnh hưởng đến hàm
Tuy nhiên ZTCM cũng có những hạn chế riêng của nó Theo Georgiou et al
1997 “ Mô hình chi phí du lịch theo thống kê không hiệu quả vì nó tổng hợp dữ liệu tứ
số lượng lớn các cá nhân thành một vài vùng quan sát Thêm vào đó mô hình chi phí
du lịch theo vùng coi tất cả các cá nhân đến từ một vùng có các chi phí du lịch như nhau trong khi điều này không phải cũng đúng
Tuy nhiên ZTCM vẫn được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và nhiểu quốc gia khác trên thế giới và nó cũng được sử dụng để lượng giá giá trị cảnh quan VQG Cát
Bà, lý do áp dụng sẽ được giải thích rõ ở chương III
1.2.3 Các bước tiến hành
Bước 1: Chọn vị trí cần đánh giá chất lượng môi trường mà vị trí đó phải đảm bảo điều kiện phải có nhiều du khách lui tới
Bước 2: Xây dựng bảng hỏi, hệ thống câu hỏi để điều tra khách du lịch, trong đó những thông tin cơ bản của bảng hỏi cần phải được thể hiện thông qua các yếu tố ràng buộc, trong đó những yếu tố cơ bản được xác định qua 2 yếu tố:
Trang 10- Quãng đường khách du lịch tới vị trí đánh giá là bao xa, thường được phân dạng theo vùng và tính theo km, tâm của vùng để xác định bán kính chính là vị trí mà
ta cần đánh giá
- Hàng năm khách du lịch thường lui tới vị trí đánh giá bao nhiêu lần
Phiếu điều tra cần các thông tin sau:
Họ từ đâu tới (thành phố nào, nước nào)
Số khách trên một phương tiện chuyên chở tới (ô tô, máy bay, xe máy)
Thời gian đi đến và ở tại địa điểm
Tần suất du lịch, thời gian của chuyến đi
Thu nhập của khách
Chi phí du lịch trực tiếp (ăn, ở, đi lại)
Mục đích đi du lịch và sở thích du lịch của khách
Bước 3: Phân loại những người thường đi tới vị trí đánh gía Việc phân loại này
về cơ bản chúng ta căn cứ vào yếu tố khoảng cách, và đương nhiên phải chia theo vùng và những người cùng khoảng cách thì ta ghép vào một nhóm
Bước 4: Việc ước tính chi phí đi lại và số lần đi tới khu vực nghiên cứu của từng nhóm trên cơ sở đã phân nhóm ở bước 3
Chi phí của mỗi chuyến đi
P = e + f + ac + OC + ct
e (entrance fee): phí vào cổng
f (food and drink): chi phí ăn uống
ac (accommodation): chi phí nghỉ ngơi
OC (opportunity cost): chi phí cơ hội hay chi phí thời gian
ct (cost of transport): chi phí phương tiện giao thông
Trong đó việc xác định chi phí cơ hội hay chi phí phương tiện giao thông là khó khăn hơn so với các loại chi phi khác
Tính tỷ lệ tham quan trên 1000 dân ở mỗi vùng, là tổng lượt tham quan mỗi năm từ mỗi vùng chia cho dân số của vùng với đơn vị nghìn
Bước 5: Xác định mối quan hệ giữa các chi phí đi lại và số lần lui tới vị trí đánh giá, đây là cơ sở để chúng ta xây dựng hàm cầu