1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chính sách tài khóa

9 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 123,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách tài khóa: là các chính sách của Chính phủ nhằm tác động lên các định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa.. b.Chính

Trang 1

CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

2008 – 2010

Thực hiện : SV Trịnh Hồng Thái , Trường ĐHKT–ĐHQGHN

Mã SV : 10050571

I. Lý thuyết chính sách tài khóa

1. Một số khái niệm:

a Chính sách tài khóa: là các chính sách của Chính phủ nhằm tác động lên các

định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ

và thuế khóa

b.Chính sách tài khóa thu hẹp:là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít đi

thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả 2 Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó, hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng

c.Chính sách tài khóa mở rộng: là chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ

hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả 2 Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng

2. Ý nghĩa của việc thực hiện chính sách tài khóa:

Nội dung cơ bản của Chính sách tài khóa là kiểm soát thu chi ngân sách do những khoản thu chi này có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, lạm phát và nhiều chỉ số kinh tế

vĩ mô khác Vì thế, Chính sách tài khóa được coi là một trong những chính sách quan trọng đối với việc ổn định và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô Một Chính sách tài khóa

Trang 2

những nguyên nhân cơ bản của lạm phát, một sự nới lỏng Chính sách tài khóa đều gây áp lực tăng giá cả hàng hóa dịch vụ trên hai kênh là thúc đẩy tăng tổng cầu và tài trợ thâm hụt

II. Thực tế chính sách tài khóa 2008-2010

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cuối năm 2007 đã làm cho nền kinh tế Việt Nam nói riêng và các nước khác trên thế giới nói chung chịu ảnh hưởng nặng nề Có thể nói, giai đoạn từ năm 2006 đến nay là giai đoạn chứng kiến nhiều diễn biến phức tạp của nền kinh tế Việt Nam Từ giai đoạn tăng trưởng nhanh (năm 2006 đến cuối năm 2007), đến giai đoạn rơi vào suy thoái (cuối năm 2007 đến đầu năm 2009) và bắt đầu chứng kiến sự phục hồi từ quý II năm 2009 đến nay Song song với những thay đổi phức tạp của nền kinh tế thì hàng loạt chính sách vĩ mô đã được đưa ra, trong đó không thể không kể đến các chính sách tài khóa đã được đưa vào thực hiện nhằm ổn định và tăng trưởng kinh tế

A, Năm 2008 : Chính sách tài khóa thắt chặt – mở rộng

Từ nửa cuối năm 2007 đến nửa đầu năm 2008, chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá được điều chỉnh theo hướng thắt chặt để đối phó với lạm phát, mà đỉnh cao là việc nâng lãi suất cơ bản lên 14%/năm vào tháng 6/2008.Từ cuối năm 2008, nguy cơ lạm phát cao tạm thời lắng xuống Để từng bước phục hồi kinh tế, tạo đà cho tăng trưởng GDP, Chính phủ chủ trương nới lỏng hơn chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá

Trang 3

Chủ trương cắt giảm 10% chi thường xuyên trong dự toán ngân sách nhà nước bằng cách tiếp tục rà soát lại chi ngân sách, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cắt giảm, đình hoãn các dự án đầu tư chưa thực sự cấp bách và dự án đầu tư không có hiệu quả; không tăng chi ngoài dự toán, dành nguồn kinh phí cho bảo đảm an sinh xã hội; xem xét điều chỉnh giảm mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu nhằm bình ổn thị trường, hạn chế nhập

siêu.Tiết kiệm ít nhất là 10% trong việc sử dụng điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng, dầu Đình hoãn xây dựng trụ sở các cơ quan, xây dựng hội trường, nhà bảo tàng, nhà văn hóa đã bố trí trong kế hoạch năm 2008 nhưng chưa khởi công.Thực hiện việc thay đổi toàn bộ việc sử dụng phần mềm bản quyển mã nguồn đóng sang xử dụng phần mềm mã nguồn mở mang lại lợi ích to lớn cho việc tiết kiệm ngân sách của chính phủ

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách nhà nước năm 2008 ước tính tăng 26,3% so với năm 2007 Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 22,3% so với năm 2007

Hầu hết các chính sách thuế đều được sửa đổi, bổ sung theo hướng bãi, miễn, giảm nhiều sắc thuế, như: giảm thuế TNDN từ 28% xuống còn 25%; điều chỉnh, bổ sung thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế Tài nguyên Tăng cường các chính sách ưu đãi thuế đối với các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, công nghệ cao, những địa bàn khó khăn; Đồng thời, có chính sách miễn, giảm thuế khi các doanh nghiệp, hộ kinh doanh gặp khó khăn do suy giảm kinh tế… Nhờ đó, đã khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu và bảo đảm an sinh xã hội

Đánh giá

Trong năm 2008 Chính Phủ đã thực hiện nhiều chính sách tài khóa tích cực Điều này

là một trong những nguyên nhân giúp nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng ổn định, đạt

Trang 4

được những thành tựu khả quan Tuy nhiên, bên cạnh đó chính sách tài khóa cũng đã bộc

lộ một vài vấn đề cần lưu ý như:

Việc thiếu đồng bộ giữa các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong giai đoạn

từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008 đã tạo ra áp lực gây nên gia tăng lạm phát và làm lãi suất tăng cao

Để hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế, Chính phủ đã tăng chi tiêu công dẫn đến bội chi ngân sách, điều này là cần thiết nhưng việc chi đầu tư không minh bạch làm cho tình trạng tham nhũng gia tăng, có nhiều công trình đầu tư thiếu hiệu quả, đầu tư dàn trải gây lãng phí

B, Giai đoạn 2009 – 2010 : chính sách tài khóa mở rộng

1. Năm 2009

Kinh tế Việt Nam cũng hứng chịu những tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, đặc biệt tại thời điểm đầu 2009

Ý thức được tính chất nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng, Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng ban hành những chính sách kích thích kinh tế qui mô lớn Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30/2008/NQ-CP, đề ra các giải pháp hỗ trợ phát triển kinh tế, trong đó Chính sách tài khóa được nới lỏng

a) Chi tiêu chính phủ:

Quí I/2009, Chính phủ Việt Nam đã công bố gói kích cầu tài chính bao gồm trợ cấp bằng tiền mặt (một lần) cho các hộ nghèo, tăng chi hạ tầng cơ sở, giảm thuế, hỗ trợ lãi suất cho các khoản tín dụng vốn hiện hành, bảo lãnh tín dụng đối với các khoản vay giành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.Hai gói kích thích kinh tế qui mô lớn bao gồm:

- Gói kích cầu đầu tiên trị giá khoảng 1 tỷ USD hỗ trợ lãi suất:

Trang 5

Chính phủ dự tính nếu dùng 17.000 tỷ đồng để hỗ trợ 4% lãi suất cho doanh nghiệp trong gói kích cầu thứ nhất thì sẽ bơm ra nền kinh tế khoảng 420.000 tỷ đồng vào cuối năm nay Tính đến ngày 10/4, khoảng 218.420 tỷ đồng đã được bơm vào nền kinh tế, như thế

có nghĩa còn 202.000 tỷ đồng nữa tiếp tục được triển khai trong thời gian cuối năm 2009

- Gói kích cầu thứ hai trị giá 8 tỷ USD, gồm các nội dung: tăng chi đầu tư; tăng chi

an sinh xã hội, giảm thuế

Gói kích cầu thứ 2 cũng hỗ trợ doanh nghiệp 4% lãi suất nhưng thời hạn cho vay được nới rộng lên tối đa 24 tháng Việc hỗ trợ lãi suất được thực hiện từ 1/4/2009 đến

31/12/2011 Mục đích của gói kích cầu lần thứ hai là tạo ra nguồn vốn dài hơi hơn cho doanh nghiệp

b, Thuế

Chương trình cắt giảm thuế:Bộ Tài chính đã nhanh chóng hướng dẫn thi hành các ưu đãi trong lĩnh vực thuế, phí và thủ tục:

- Giảm thuế VAT cho một loạt các mặt hàng;

- Giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quí IV/2008 và cả năm 2009;

- Miễn trừ thuế thu nhập cá nhân trong nửa đầu năm 2009 Trên thực tế đã có trên 125.500 lượt doanh nghiệp và khoảng 937.000 đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân được hưởng các ưu đãi về chính sách thuế Tổng số thuế miễn, giảm, giãn khoảng 20.000 tỷ đồng (Bộ Tài chính 2009)

2. Năm 2010

Sang đến năm 2010, khi nền kinh tế đã có những bước hồi phục tương đối rõ nét, chính sách của Bộ Tài chính tập trung vào việc tiếp tục thực hiện các chính sách kích

Trang 6

hết sức chú trọng các giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát bằng việc thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt hơn vào cuối năm 2010

 Cắt giảm đầu tư công

 Chi tiêu ngân sách hợp lý, tránh thất thoát

 Cắt giảm đầu từ công

 Phát triển sản xuất công, nông nghiệp

 Bảo đảm cân đối cung-cầu hàng hóa

 Tiết kiệm

 Tăng cường quản lý thị trường

 Thực hiện chính sách về an ninh, xã hội

Thực hiện quyết định số 12/2010/QĐ-TT ngày 12 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

3. Nhận xét giai đoạn 2009-2010

Việc thực hiện các chính sách kích thích kinh tế của Bộ Tài chính còn thể hiện rất rõ trong cán cân ngân sách năm 2009 và 2010 Dưới tác động của gói kích thích kinh tế, thâm hụt ngân sách năm 2009 lên tới 6,9%/GDP

Chính sách kích thích kinh tế trong năm 2009 nửa đầu năm 2010 đã thu được những

Trang 7

quí sau cao hơn quí trước nền kinh tế có khẳ năng bước ra khỏi giai đoạn thu hẹp của một chu kỳ kinh tế Cải thiện các thủ tục hải quan điện tử, hiện đại hóa thu Ngân sách Nhà Nước nhằm giảm thiểu chi phí, thời gian cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu

Bộ Tài chính xác định nhiệm vụ năm 2011 là tăng cường phối hợp đồng bộ, chặt chẽ chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ và các chính sách khác nhằm tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu kinh tế - xã hội

Đánh giá:

Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách tài khóa, trong đó đặc biệt là các gói kích cầu, giảm thuế Các giải pháp trên

đã phát huy được tác dụng của mình khi đã có các dấu hiệu cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang dần phục hồi Tuy nhiên, trong việc thực hiện các gói kích cầu và giảm thuế vẫn có có những điều cần nhìn nhận lại Cụ thể:

 Gói kích cầu

Trong gói kích cầu lần 1 Chỉ 20% doanh nghiệp được hưởng hỗ trợ lãi suất, gây ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh.Gói kích cầu trị giá 1 tỷ USD để giảm lãi suất, hỗ trợ các doanh nghiệp bị thua lỗ Điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả tiếp tục tồn tại, đồng thời do tính không minh bạch tạo điều kiện cho hiện tượng tham nhũng tồn tại

ICOR là một chỉ số cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳ

nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốnđầu tư trong kỳ đó

ICOR được tính bằng công thức sau:

ICOR = (Kt-Kt-1) / (Yt-Yt-1) Trong đó K là vốn, Y là sản lượng, t là kỳ báo cáo, t-1 là kỳ trước

Trang 8

Chỉ số ICOR của VN luôn cao hơn mức trung bình của thế giới và các nước trong khu vược đang đặt ra vấn đề lớn trong việc minh bạch đầu tư, chi tiêu công của chính phủ

Gói kích cầu số 2 trị giá 8 tỷ USD bắt đầu được áp dụng trong năm 2009 tuy nhiên đây lại là năm có chỉ cố ICOR cao kỷ lục Đây là điều khiến chúng ta cần nhìn nhận, rút ra những bài học để có thể ứng phó kịp thời và hiệu quả hơn nếu tiếp tục xảy ra khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam

 Thuế

Việc hoãn thuế thu nhập cá nhân cũng có vấn đề sau: đa phần những người bị đanh thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam là những người có thu nhập cao và có

Trang 9

cho giảm nguồn thu ngân sách vừa tạo điều kiện cho những người có thu nhập cao sử dụng hàng ngoại, điều này làm giảm tác dụng của chính sách tài khóa

mà Chính phủ đã đưa ra

Ngày đăng: 24/12/2021, 20:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w