Chính sách tài khóa là gì và vì sao nó là công cụ quan trọng để quản lý những biến động kinh tế Chính sách tài khóa mở rộng và thắt chặt Chính sách tài khóa, tác động số nhân, và cách thức tác động này bị ảnh hưởng bởi các nhân tố ổn định tự động Ngân sách chính phủ và những biến động kinh tế Tại sao một khoản nợ công lớn có thể là một mối quan tâm Tại sao các khoản nợ ẩn ngầm của chính phủ cũng gây nên mối quan tâm
Trang 1Chính sách Tài khóa
2
Nội dung chương này:
Chính sách tài khóa là gì và vì sao nó là công cụ quan trọng để
quản lý những biến động kinh tế
Chính sách tài khóa mở rộng và thắt chặt
Chính sách tài khóa, tác động số nhân, và cách thức tác động
này bị ảnh hưởng bởi các nhân tố ổn định tự động
Ngân sách chính phủ và những biến động kinh tế
Tại sao một khoản nợ công lớn có thể là một mối quan tâm
Tại sao các khoản nợ ẩn ngầm của chính phủ cũng gây nên mối
quan tâm
Trang 23
Ngân sách chính phủ và tổng chi tiêu
Chính sách tài khóa (Fiscal policy) là việc sử dụng thuế,
chuyển nhượng chính phủ, hay chi mua hàng hóa và dịch vụ của
chính phủ để dịch chuyển đường tổng cầu
Chính sách tài khóa mở rộng và thắt chặt
Chính sách tài khóa mở rộng có thể thu hẹp hố cách suy
thoái
Chính sách tài khóa
mở rộng làm tăng AD
Trang 35
Chính sách tài khóa mở rộng và thắt chặt
Chính sách tài khóa thắt chặt có thể ngăn chặn hố cách lạm
phát
Chính sách tài khóa
thắt chặt làm giảm AD
Inflationary gap
6
Độ trễ của chính sách tài khóa
Có những độ trễ (lags) khá lớn
Nhận dạng hố cách suy thoái/lạm phát thông qua thu thập
và phân tích dữ liệu kinh tế cần thời gian
Chính phủ phát triển một kế hoạch hành động cần thời
gian
Thực hiện kế hoạch hành động cần thời gian
Độ trễ trong và độ trễ ngoài
Trang 47
Chính sách tài khóa và số nhân
Chính sách tài khóa có tác động số nhân (multiplier effect )
đối với nền kinh tế
Chính sách tài khóa mở rộng kéo theo sự gia tăng GDP thực lớn
hơn mức tăng ban đầu của tổng chi tiêu được tạo ra bởi chính
sách
Ngược lại, chính sách tài khóa thắt chặt dẫn đến sự sụt giảm
GDP thực lớn hơn mức giảm ban đầu của tổng chi tiêu tạo ra bởi
chính sách
Chính sách tài khóa và số nhân
Độ lớn dịch chuyển đường AD phụ thuộc loại chính sách tài
khóa
Số nhân đối với thay đổi chi tiêu chính phủ, 1/(1 − MPC), lớn
hơn số nhân đối với thay đổi thuế hay chuyển nhượng, MPC/(1
− MPC ), bởi vì phần lớn của bất kỳ thay đổi thuế hay chi
chuyển nhượng bị hấp thu bởi tiết kiệm
Thay đổi chi mua của chính phủ có tác động mạnh hơn
Trang 59
Cách thức thuế tác động đến số nhân
Các quy tắc quản lý thuế và một số điều luật chi chuyển nhượng
như là các nhân tố ổn định tự động (automatic stabilizers),
làm giảm độ lớn của số nhân và tự động làm giảm độ lớn của các
biến động của chu kỳ kinh tế
Ngược lại, chính sách tài khóa tùy nghi (discretionary fiscal
policy) nổi lên từ các hành động tự tiện của các nhà chính sách
hơn là từ chu kỳ kinh tế
10
Cân bằng ngân sách (The Budget Balance)
Thặng dư và thâm hụt gắn như thế nào với việc phân tích của
chính sách tài khóa?
Có phải thâm hụt bao giờ cũng tốt và thặng dư là xấu?
Trang 611
Ngân sách có nên được giữ cân bằng?
Hầu hết các nhà kinh tế không tin chính phủ nên bị buộc phải
duy trì một ngân sách cân bằng mỗi năm bởi vì điều này sẽ hủy
hoại vai trò của thuế và chi chuyển nhượng như là các yếu tố bình
ổn tự động
Song các nhà chính sách quan tâm về thâm hụt quá mức đôi lúc
cảm thấy rằng các quy tắc nghiêm ngặt đang ngăn trở—hay ít
nhất đang định ra một giới hạn trên đối với tình trạng thâm hụt là
cần thiết
Hàm ý dài hạn của chính sách tài khóa
Thâm hụt ngân sách triền miên có những hệ quả dài hạn bởi vì
chúng kéo theo gia tăng nợ công (public debt)
Trang 713
Nợ chính phủ theo % GDP
14
Các trục trặc nổi lên do Nợ chính phủ
Điều này có thể là một trục trặc vì 2 lý do:
Nợ công có thể lấn át (crowd out) chi tiêu đầu tư, từ đó
làm giảm tăng trưởng kinh tế dài hạn
Và trong những trường hợp cực đoan, tăng nợ có thể dẫn
đến tình trạng vỡ nợ chính phủ (government default), kết
quả từ sự náo loạn kinh tế và tài chính
Trang 815
Thâm hụt và Nợ trong thực tế
Một thước đo được sử dụng rộng rãi của sức khỏe tài khóa là tỷ lệ
Nợ trên GDP (debt–GDP ratio) Con số này có thể duy trì ổn
định hay giảm ngay cả đối mặt với thâm hụt ngân sách vừa phải
nếu GDP tăng lên theo thời gian
Các khoản nợ ẩm ngầm (Implicit Liabilities)
Các khoản nợ ẩn ngầm (Implicit liabilities) là những hứa
hẹn chi tiêu được đưa ra bởi chính phủ mà chúng có ảnh hưởng
như một khoản nợ mặc dù thực tế là chúng không được bao gồm
trong số liệu thống kê nợ thông thường