Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu Làm rõ hơn các cơ quan trong bộ máy nhà nước Lê sơ, làm nền tảng, vận dụng vào công tác quản lý hành chính địa phương hiện nay..
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 1
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 1
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 1
3.1 Đối tượng nghiên cứu 1
3.2 Phạm vi nghiên cứu 1
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 2
4.1 Cơ sở lý luận 2
4.2 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 2
NỘI DUNG 3
Chương 1: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NHÀ LÊ SƠ VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 1428-1460 3
1.1 Giới thiệu sơ lược nhà Lê sơ 3
1.2 Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ giai đoạn 1428-1460 3
1.2.1 Chính quyền trung ương 3
a) Vua 3
b) Tả, Hữu Tướng quốc và các quan đại thần 3
c) Cơ quan cố vấn 3
d) Các bộ 4
Trang 2e) Các cơ quan khác 4
1.2.2 Chính quyền địa phương 4
1.3 Nhận xét tổ chức bộ máy nhà nước thời kỳ đầu Lê sơ 4
Chương 2: TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI LÊ SƠ GIAI ĐOẠN 1460-1527 5
2.1 Tổ chức bộ máy nhà nước giai đoạn từ Lê Thánh Tông trở về sau 5
2.2 Nguyên nhân và nguyên tắc cải cách chính quyền trung ương và địa phương của Vua Lê Thánh Tông 5
2.2.1 Nguyên nhân cải cách chính quyền trung ương và địa phương của vua Lê Thánh Tông 5
2.2.2 Nguyên tắc cải cách chính quyền trung ương và địa phương của Vua Lê Thánh Tông 6
a) Nguyên tắc tập quyền 6
b) Nguyên tắc tản quyền 6
c) Nguyên tắc giám sát 7
d) Nguyên tắc thi tuyển công khai 7
2.3 Những điểm có thể rút ra cho công tác quản lý hành chính ở nước ta hiện nay 8
2.4 Nhận xét bộ máy nhà nước dưới thời vua Lê Thánh Tông 8
KẾT LUẬN 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta trải qua nhiều triều đại phong kiến với bề dày lịch sử, dựng nước và giữ nước hào hùng, những tinh hoa văn hóa được đúc kết từ quá trình lịch sử lâu dài và
là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam Đặc biệt dưới thời Lê sơ, đất nước phát triển cực thịnh, thời kỳ vĩ đại, hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam Qua chủ đề
“Trình bày và lý giải về tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê Sơ’’, chúng ta có thể hiểu rõ hơn cách thức tổ chức bộ máy nhà nước và những cải cách tiến bộ của Lê Thánh Tông thời kỳ ấy Đây chính là lý do, tôi chọn chủ đề trên làm đề tài cho bài tiểu luận của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ hơn các cơ quan trong bộ máy nhà nước Lê sơ, làm nền tảng, vận dụng vào công tác quản lý hành chính địa phương hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa và giải thích cách thức tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung : Luận văn đi sâu nghiên cứu về tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu về các cơ quan trong bộ máy nhà nước, chính sách, cách thức quản lý hành chính nhà nước của các vua thời đó
- Về thời gian: 1428- 1527
Trang 44 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được dựa trên cơ sở lý luận của các tài liệu lịch sử được để lại và các nghiên cứu khoa học về lịch sử
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận, tài liệu lịch sử liên quan đến chủ đề Kết hợp với các phương pháp khác như: khái quát hóa, lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp,… để làm sáng tỏ vấn đề
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện nội dung thời kỳ lịch sử nước ta
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài, nhất là phần tổ chức bộ máy nhà nước, cải cách của Lê Thánh Tông có giá trị rất lớn vào việc áp dụng xây dựng công tác quản lý hành chính ở nước ta hiện nay
Trang 5NỘI DUNG Chương 1: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NHÀ LÊ SƠ VÀ TỔ CHỨC BỘ
MÁY NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 1428-1460 1.1 Giới thiệu sơ lược nhà Lê sơ
Nhà Lê sơ (nhà Hậu Lê ), là giai đoạn đầu của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê bắt đầu từ năm 1428 đến 1459 Nhà Lê sơ được thành lập sau khi Lê Lợi phát động Khởi nghĩa Lam Sơn đánh bại nhà Minh Ông đổi tên Giao Chỉ( tồn tại khi nội thuộc nhà Minh), trở về là Đại Việt Giai đoạn này gồm các đời vua: Lê Thái Tổ ( 1428-1433), Lê Thái Tông( 1434-1442), Lê Nhân Tông( 1453-1459), Lê Nghi Dân( 1954)
1.2 Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ giai đoạn 1428-1460
1.2.1 Chính quyền trung ương
a) Vua
Tất cả quyền hành tối cao của bộ máy nhà nước khi đó đều tập trung vào triều đình, đứng đầu là Nhà Vua Vua là người có quyền lực tối cao trong vương quốc
b) Tả, Hữu Tướng quốc và các quan đại thần
Tướng quốc thực hiện chức năng giống như Tể tướng Bao gồm
Tả, Hữu Tướng quốc đứng đầu về mặt hành chính, giúp Vua quản lý toàn bộ đội ngũ quan lại trong nước
Các quan đại thần như Tư không, Tam thái, Tam thiếu,…tiếng nói của họ rất quan trọng, là những người có công lao rất lớn với triều đình, mặc dù năng lực quản lý đôi khi rất hạn chế Ngoài ra còn chia làm hai ban văn( Đại hành khiển và Hành khiển 5 đạo đứng đầu), ban võ( 6 quân ngự tiền)
Trang 6c) Cơ quan cố vấn
Gồm các cơ quan như Tam sanh, Chính sự viện, Nội mật viện là
cơ quan có chức năng cố vấn cho Vua trong việc chính sự, cũng có quyền lực rất lớn
d) Các bộ
Thời kỳ này đã có 3 bộ là Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Hộ, là cơ quan chuyên môn quan trọng giúp Nhà Vua trong việc quản lý đất nước
e) Các cơ quan khác
Các cơ quan có chức năng văn phòng( giúp Vua soạn thảo các chiếu, chế biểu,…),…Các cơ quan có chức năng tư pháp, giám sát( giám sát các chức quan và các cơ quan khác trong triều đình Ngoài ra, còn có các cơ quan chuyên môn như: Quốc sử viện ( ghi chép các bộ chính sử của triều đình), Quốc tử giám ( trường chuyên đào tạo Nho học), Thái sử viện ( trông coi sắp xếp các bài vị trong việc cúng tế trong triều),…
1.2.2 Chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương thời kỳ đầu Lê sơ gồm: 5 đạo ( Đông đạo, Bắc đạo, Tây đạo, Nam đạo, Hải Tây đạo); lộ( trấn,phủ); châu; huyện và xã
1.3 Nhận xét tổ chức bộ máy nhà nước thời kỳ đầu Lê sơ
Nhà nước vẫn mang tính hành chính quân quản, quý tộc thân vương, phân tán quyền lực Do vừa trải qua cuộc chiến tranh giành độc lập, nên tổ chức bộ máy hành chính nhà nước nặng về quân sự
để phục vụ cho công tác quốc phòng, trị an, bộ máy nhà nước thường do các quan võ nắm giữa, các chức quan thường được trao cho những đại công thần lập công sau trận chiến, mặc dù năng lực
Trang 7còn hạn chế, tổ chức các cơ quan còn khá cồng kềnh, nhiều khâu, nhiều giai đoạn, lỏng lẻo, không thống nhất, hoạt động phân tán, kém hiệu quả Nhìn chung, tổ chức chính quyền trung ương thời kỳ đầu Lê sơ vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng của bộ máy nhà nước thời Trần rất đậm nét Vì lúc đó nhà Lê mới giành được đất nước nên chưa
đủ thời gian để thực hiện những bước thay đổi lớn
Chương 2: TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI LÊ SƠ GIAI ĐOẠN
1460-1527 2.1 Tổ chức bộ máy nhà nước giai đoạn từ Lê Thánh Tông trở về sau
Giai đoạn này bắt đầu khi Lê Tư Thành( tức Lê Thánh Tông: 1460-1497) lên ngôi vua và kết thúc năm 1527, với sự kiện Mạc Đăng Dung phế bỏ Lê Cung Hoàng, lập nên nhà Mạc
Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ dần được hoàn thiện, đến đời vua Lê Thánh Tông là hoàn chỉnh nhất:
Thứ nhất, ở chính quyền trung ương Đứng đầu triều đình là vua
Để tập trung quyền lực vào vua, vua Lê Thánh Tông bãi bỏ các chức
vụ cao cấp nhất như: tướng quốc, đại tổng quản, đại hành khiển Vua trực tiếp nắm mọi quyền hành, kể cả chức Tổng chỉ huy quân đội Giúp việc cho vua có các quan đại thần Ở triều đình có 6 bộ và các
cơ quan chuyên môn 6 bộ là: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công, đứng đầu mỗi bộ là Thượng thư; các cơ quan chuyên môn gồm Hàn lâm viện, Quốc sử viện, Ngự sử đài
Trang 8Thứ hai, ở chính quyền địa phương Thời vua Lê Thánh Tông, đổi chia 5 đạo thành 13 đạo thừa tuyên, đứng đầu mỗi đạo là 3 ti phụ trách 3 mặt khác nhau (đô ti, thừa ti và hiến ti) Dưới đạo thừa tuyên
là phủ, châu, huyện, xã
2.2 Nguyên nhân và nguyên tắc cải cách chính quyền trung ương và địa phương của Vua Lê Thánh Tông
2.2.1 Nguyên nhân cải cách chính quyền trung ương và địa phương của vua Lê Thánh Tông
Thứ nhất, trước khi lên ngôi, vua Lê Thánh Tông đã trải qua giai đoạn sống gần gũi với cuộc sống đời thường của dân chúng Ông đã thấy được những điểm tốt, xấu cùng tồn tại trong xã hội Khi lên ngôi, Lê Thánh Tông thấy được những bất cập trong bộ máy cầm quyền, bộ máy mang nặng tính quý tộc không còn phù hợp Những năm đầu thời Lê sơ còn mang nặng “ hơi hướng’’ của thể chế quân chủ quý tộc nhà Trần, của việc trọng đãi các quý tộc hoàng tộc và các bậc “khai quốc công thần’’
Thứ hai, từ sau cuộc chinh phục Chăm pa trước năm 1471, cương giới nước Đại Việt được mở rộng xuống phía Nam Yêu cầu quản lý một đất nước có lãnh thổ, khát vọng Đại Việt thành một quốc gia hùng mạnh, đủ sức đối trọng với các nước khác
Thứ ba, bất ổn đã được loại bỏ, xây dựng chính quyền từ quân sự sang dân sự nhằm gắn liền lợi ích của nhà nước với lợi ích của nhân dân
Do đó, Lê Thánh Tông đã tiến hành cải cách hành chính từ trung ương đến địa phương, những bài học của các triều đại trước về
tổ chức chính quyền địa phương sao cho phát huy hiệu quả nhất Bên cạnh giữ lại những mặt tích cực của các triều đại trước, đồng thời, loại bỏ các điểm không tốt
Trang 92.2.2 Nguyên tắc cải cách chính quyền trung ương và địa phương của Vua Lê Thánh Tông
a) Nguyên tắc tập quyền
Đầu tiên là tinh giản quan chế, Lê Thánh Tông cho bãi bỏ những chức quan và cơ quan làm nhiệm vụ trung gian giữa Nhà Vua với triều đình Các chức quan như Tả, Hữu Tướng Quốc, Tam Tư, có quyền lực rất lớn, đe dọa tới quyền lực của vua, các cơ quan đóng vai trò cố vấn cho Vua về những việc trọng đại như Chính sự, Nội mật viện, Trung thư sảnh khiến cho quyền lực của Nhà Vua bị chia sẻ đều
bị Lê Thánh Tông loại bỏ Chức Đại hành khiển lãnh đạo Hành khiển của 5 đạo, được coi như chức quan đứng đầu về hành chính ở các địa phương cũng bị thay thế Trong triều đình, chỉ còn lại những chức quan đại thần mặc dù phẩm cao tước hậu như Tam Thái, Tam Thiếu, Thái úy, Thiếu úy là còn tồn tại Tuy nhiên, các chức quan này cũng
bị Lê Thánh Tông vô hiệu hóa bằng cách không cho kiêm nhiệm các công việc quan trọng nên trong thực tế họ là những viên quan chỉ có hàm phẩm cao mà thôi, còn không thễ can dự vào việc hành chính của triều đình
b) Nguyên tắc tản quyền
Tản quyền có nghĩa là một công việc không tập trung vào một
cơ quan, một chức quan mà sẻ chia cho nhiều cơ quan, nhiều chức quan cùng đảm trách Mỗi cơ quan, mỗi chức quan là đảm nhiệm một nhiệm vụ, một lĩnh vực nhất định và hoạt động độc lập Mục đích để tránh tập trung quyền hạn vào một cơ quan, một chức quan, tránh tình trạng lạm quyền đe dọa tới sự ổn định của nhà nước, giới hạn quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ, đề cao vai trò trách nhiệm của từng cá nhân
Tính tản quyền thể hiện rõ nhất ở việc xóa bỏ các cơ quan trung gian thành lập ra các cơ quan mới, 6 bộ, 6 tự, 6 khoa, đảm trách
Trang 10những công việc cụ thể, thể hiện tính chuyên môn hóa Trong đó vai trò giải quyết các công việc hành chính của triều đình chủ yếu được giao cho 6 bộ Tách 6 bộ ( Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) ra khỏi Thượng thư sảnh để lập ra 6 cơ quan riêng cai quản các mặt hoạt động của nhà nước Mỗi bộ có một Thượng thư phụ trách, chịu trách nhiệm trước Nhà Vua Ngoài ra còn thể hiện ở việc thành lập 13 đạo
để thu hẹp bớt quyền hành của chính quyền địa phương và xóa bỏ một số đơn vị trung gian Lê Thánh Tông cho cải tổ việc quản lý địa phương bằng cách trao quyền phụ trách ở một đạo cho 3 cơ quan Chia tách và quy định rõ từng loại xã và người đứng đầu từng xã,… tính tản quyền còn thể hiện ở nhiều vấn đề, lĩnh vực khác trong quản
lý hành chính
c) Nguyên tắc giám sát
Nhà Vua tăng cường và đề cao công tác thanh tra, giám sát quan lại bằng cách lập 6 khoa tương ứng với 6 bộ, để mỗi khoa cùng với Ngự sử đài giám sát hoạt động của bộ tương ứng, đàn hặc quan lại của bộ mắc lỗi Ngay cả Bộ Lại- Bộ đứng đầu nhà nước và chịu trách nhiệm thăng bổ, bãi miễn quan lại, nếu làm sai nguyên tắc cũng bị Lại khoa bắt bẻ, tố giác,… để đảm bảo trách nhiệm của từng
cá nhân,…
d) Nguyên tắc thi tuyển công khai
Lê Thánh Tông đặc biệt coi trọng nhân tài, ngoài các cách tuyển chọn quan lại giống các triều đại trước như tiến cử, bảo cử, tập ấm,… thì hầu như quan chức ở thời Lê sơ đều xuất thân từ con đường khoa
cử, nó trở thành phương thức lựa chọn quan lại chủ yếu ở thời kì này, Việc tuyển chọn quan lại rất được chú trọng, được quy định chặt chẽ bằng cách quy định rõ ở một số điều, chương của Bộ luật Hồng Đức,
…Quan lại còn phải trải qua giai đoạn thử việc và sát hạch để kiểm
Trang 11tra năng lực Áp dụng chính sách luân chuyển công tác và chế độ hồi
tỵ để làm trong sạch đội ngũ quan lại chống trình trạng tham nhũng
2.3 Những điểm có thể rút ra cho công tác quản lý hành chính ở nước ta hiện nay
Đầu tiên, là việc chia, tách, đổi lại các đơn vị hành chính Biện pháp này không những có ý nghĩa lớn trong việc tổ chức lại công tác quản lý hành chính thành một hệ thống quy cũ và thống nhất mà còn có tác dụng xóa bỏ, thay đổi địa giới và địa phận cũ của những người có thế lực trong bộ máy nhà nước, tránh tập trung quyền lực vào một người Chúng ta đã kế thừa những thành tựu đó khi chia thành cơ quan lập pháp là Hội đồng nhân dân các cấp, cơ quan hành chính là Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan tư pháp là Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp Biện pháp thực thi tăng cường giám sát với cấp đạo là việc đặt ra cơ quan giám sát của trung ương, có trách nhiệm giám sát hoạt động của quan lại, cũng như cơ quan nhà nước Đây là biện pháp tăng cường mạnh mẽ sự kiểm soát của trung ương với địa phương Hiện nay, chúng ta chưa có cơ quan nào thực sự có quyền hành như thế Thông qua đó giúp chúng ta có những bài học lịch sử quý báu trong công cuộc tổ chức quản lý hành chính ở nước ta trong thời kỳ mới hiện nay
2.4 Nhận xét bộ máy nhà nước dưới thời vua Lê Thánh Tông
Cuộc cải cách chính quyền của Lê Thánh Tông chủ yếu tập trung tăng cường quyền lực của Nhà Vua và khiến cho bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả hơn Xây dựng một chính quyền trung ương vững mạnh, thể hiện quyền lực nằm trong tay Nhà Vua và triều đình trung ương mới có thể thực hiện các công việc của triều đình, của đất nước, tạo cơ sở để triển khai các công việc xuống các địa phương Với những biện pháp trên, Lê Thánh Tông đã xây dựng được một thiết chế quân chủ tập trung quyền lực vào tay Nhà Vua, hạn chế sự
Trang 12tham chính của quý tộc, hoàng tộc, loại bỏ khả năng lộng quyền của triều thần
KẾT LUẬN
Qua cách sắp xếp, tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ cho thấy
bộ máy nhà nước ở thời kỳ này được hoàn thiện nhất so với các triều đại phong kiến trước đó Đặc biệt đến thời vua Lê Thánh Tông, tổ chức bộ máy chính quyền hoàn chỉnh và đầy đủ hơn so với thời kỳ đầu Lê sơ, như triều đình có đầy đủ các bộ, các tự, các khoa và các
cơ quan chuyên môn, các đơn vị hành chính, tổ chức chặt chẽ hơn,
và có phân công trách nhiệm rõ ràng Trong bối cảnh đất nước vừa trải qua thời gian dài của cuộc chiến tranh, bộ máy hành chính nhà nước yếu kém về nhiều mặt Với tài trí hơn người, tầm nhìn xa trong rộng, ông đã kiên quyết thực hiện cuộc cải cách hành chính Dù là cải cách, nhưng Nhà Vua vẫn giữ lại những mặt tích cực của các triều đại trước, loại bỏ các điểm không tốt như những bất cập của bộ máy cầm quyền, quý tộc thân vương, quyền lực bị phân tán, rời rạc, không thống nhất Ông đã áp dụng các nguyên tắc như tập quyền, quyền lực tập trung vào tay Nhà Vua, tính tản quyền, không tập trung quá nhiều quyền lực vào một chức quan, một cơ quan Đồng thời, thực hiện nguyên tắc giám sát, trong ngoài kiềm chế, ràng buộc lẫn nhau, trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và rất coi trọng người tài, ông rất chú trọng trong việc tuyển chọn quan lại, không cho hoàng tộc các chức vụ thực quyền mà trọng dụng những