ảnh hởng của văn minh ấn Độ đối với quá trình hình thành và phát triển của một số quốc gia “ấn Độ hóa ở” ở Đông Nam á cổ trung đại...6 1.1.. Những ảnh hởng của văn hóa ấn Độ đến Đông Nam
Trang 1Trờng đại học vinh
khoa lịch sử
=== ===
lê thị trung
Khóa luận tốt nghiệp đại học
đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nớc của một số quốc gia “ ấn độ hóa ” ở đông
nam á cổ trung đại
chuyên ngành lịch sử thế giới
Vinh - 2009
Trang 2Trờng đại học vinh
khoa lịch sử
=== ===
lê thị trung
Khóa luận tốt nghiệp đại học
đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nớc của một số quốc gia “ ấn độ hóa ” ở đông
nam á cổ trung đại
Trang 3Mục Lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1 ảnh hởng của văn minh ấn Độ đối với quá trình hình thành và phát triển của một số quốc gia “ấn Độ hóa ở” ở Đông Nam á cổ trung đại 6
1.1 Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh ấn Độ 6
1.1.1 Khái quát về lịch sử ấn Độ cổ trung đại 6
1.1.2 Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh ấn Độ 10
1.1.2.1 Tôn giáo ấn Độ 10
1.1.2.2 Văn học, nghệ thuật 14
1.1.2.3 Chữ viết 16
1.1.2.4 Những thành tựu về khoa học - kỹ thuật 17
1.2 ảnh hởng của văn minh ấn Độ đối với sự hình thành và phát triển của một số quốc gia “ấn Độ hóa” ở ở Đông Nam á cổ trung đại 18
1.2.1 Quá trình lan toả và xâm nhập của văn minh ấn Độ đến khu vực Đông Nam á 18
18 1.2.1.2 Quá trình lan toả của văn minh ấn Độ đến khu vực Đông Nam á 25
1.2.2 Sự hình thành và phát triển của một số quốc gia “ấn Độ hóa” ở ở Đông Nam á 29
1.2.2.1 Quá trình hình thành 29
1.2.2.2 Thời kỳ phát triển của một số nớc Đông Nam cổ trung đại 32
Trang 4Chơng 2 Đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nớc của một số quốc gia
“ấn Độ hóa ở Đông Nam ” ở á cổ trung đại 43
2.1 Khái niệm “ấn Độ hóa” ở 43
2.2 Tổ chức bộ máy nhà nớc của một số quốc gia “ấn Độ hóa” ở ở Đông Nam á cổ trung đại 44
2.2.1 Chân Lạp 46
2.2.2 Phù Nam 49
2.2.3 Campuchia 52
2.2.4 Lào 54
2.2.5 Chămpa 57
2.2.6 Inđônêxia 60
2.3 Một vài đặc điểm cơ bản của các quốc gia “ấn Độ hóa” ở ở Đông Nam á cổ trung đại 63
3.3.1 Vơng quyền kết hợp với thần quyền - thấm đẫm tinh thần phật giáo 63
3.3.2 Tính thích nghi, phù hợp của tổ chức bộ máy nhà nớc của một số quốc gia “ấn Độ hóa” ở 68
Kết luận 76
Tài liệu tham khảo 79 Phụ lục
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Đông Nam á là một khu vực địa lý - lịch sử - văn hóa lâu đời Trớc đâykhu vc này đợc nhìn nhận là “ngã t đờng” ở, “ống thông gió” ở hay hành lang -cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Tây á, Địa Trung Hải Còn ĐôngNam á ngày nay, không chỉ là một khu vực đông dân c, giàu tiềm năng, màcòn đợc đánh giá là một khu vực phát triển năng động của thế giới Khôngphải ngẫu nhiên mà khu vực này đạt đợc những thành tựu to lớn nh vậy mà nó
đã có cả một quá trình vận động lâu dài Trong quá trình đó, các nớc trongkhu vực đã diễn ra sự giao lu, tiếp xúc với các nớc trong khu vực cũng nh vớicác nớc trên thế giới
Ngày nay, ngời ta biết đến Đông nam á không chỉ là một khu vực đangbớc những bớc dài trên con đờng phát triển chung, mà ngời ta quan tâm đến
nó vì nơi đây còn là một cái nôi của nhân loại, một nơi đang lu giữ những dấu
ấn của lịch sử loài ngời thời cổ đại Các quốc gia Đông Nam á cũng đã trảiqua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, liên tục trong suốt chiều dài lịch
sử Để có đợc những quốc gia, dân tộc, những vùng lãnh thổ nh ngày nay thìcông cuộc kiến tạo đất nớc của các quốc gia này cũng đã gặp phải nhiều khókhăn và thử thách
Đông Nam á nằm giữa trung tâm của hai nền văn minh lớn của thế giới
là văn minh Trung Hoa và văn minh ấn Độ Cho nên, ngay từ những ngày đầulập quốc khu vực này đã chịu ảnh hởng sâu sắc của hai nền văn hóa đó Nhng
do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau mà hầu hết cácquốc gia Đông Nam á thời cổ trung đại đã chịu ảnh hởng nhiều mặt, sâu sắchơn của nền văn minh sông ấn nh văn minh ấn Độ đợc truyền vào Đôngnam á bằng con đờng hòa bình, thẩm thấu từ từ lâu dài, hay văn hóa ấn Độvào Đông Nam á theo gót chân của các giáo sỉ và thơng nhân Bên cạnh đó do
có sự tơng đồng về cơ tầng văn hóa nông nghiệp cổ xa Cho nên, c dân ĐôngNam á đã sớm tiếp nhận nó Văn hóa ấn Độ đã có tác động lớn đến quá trìnhhình thành và phát triển của hầu hết các quốc gia ở đây Những ảnh hởng củavăn hóa ấn Độ là rất to lớn và sâu sắc Cho nên nhiều nhà nghiên cứu gọinhững nớc này là những nớc “ấn Độ hóa” ở
Nh vậy, ảnh hởng của văn hóa ấn Độ đến Đông Nam á là rất lớn
Nh-ng c dân ở đây đã tiếp thu sáNh-ng tạo nhữNh-ng ảnh hởNh-ng ấy để kiến tạo cho mình
Trang 6một nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc của mỗi quốc gia Những ảnhhởng của văn minh ấn Độ đến Đông Nam á là rất lớn Điều đó đã thu hút sựquan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài khu vực, từ x a cho
đến nay Những ảnh hởng của văn hóa ấn Độ đến Đông Nam á đợc biểuhiện trên nhiều mặt, nhng ở đây do sự hạn hẹp của thời gian và dựa trên cơ
sở những thành tựu của các công trình nghiên cứu tr ớc đây, những nguồn tài
liệu thu thập đợc, chúng tôi xin chọn đề tài: Đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nớc của một số quốc gia “ấn Độ hóa ” ở để làm khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử vấn đề
Văn minh ấn Độ là một nền văn minh rực rỡ, toả sáng thời kỳ cổ trung
đại và còn đợc lu giữ cho đến ngày nay Những thành tựu của nền văn minh ấy
đã từng đợc nhiều dân tộc trên thế giới ngỡng mộ Hào quang của nó, khôngchỉ lan toả sang những khu vực xung quanh mà nền văn minh ấy còn ảnh hởng
đến nhiều vùng đất xa xôi khác, khu vực Đông Nam á cũng không là mộtvùng đất ngoại lệ Khu vực này đã chịu ảnh hởng rất lớn của văn hoá ấn Độ
Về vấn đề ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đến khu vực Đông Nam á đã
đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả quan tâm, chú ý Do đó đã có nhiềucông trình ra đời nh sau:
“Lịch sử Đông Nam á” ở của G.E.D.Hall, đã khái quát khá đầy đủ về quátrình hình thành và phát triển của các quốc gia ở Đông Nam á thời kỳ cổtrung đại cho đến những năm 50 của thế kỷ XX
“Lịch sử vơng quốc Chămpa” ở của Lơng Ninh đã đi sâu tìm hiểu về vơngquốc còn nhiều “bí ẩn” ở này trên nhiều lĩnh vực
Trong cuốn “Văn hoá Đông Nam á” ở tác giả Mai Ngọc Chừ đã nêu mộtcách tổng quat về văn hoá các nớc Đông Nam á, ảnh hởng của văn hoá TrungQuốc - văn hoá ấn Độ đối với các quốc gia này, Tác giả đã nêu lên việc các nớc
Đông Nam á đã tiếp thu có chọn lọc - sáng tạo những tinh hoa văn hoá của hainền văn minh Trung - ấn để xây dựng cho dân tộc mình một nền văn hoá riêng
“Đất nớc Căm-pu-chia lịch sử và văn minh” ở của nhóm tác giả PhạmViết Trung, Đỗ Văn Nhung và Chiêm Tế đã khái quát về lịch sử và nền vănminh Campuchia từ thời Phù Nam, Chân Lạp, Ăngko
Ngoài ra còn có những tác phẩm khác nghiên cứu về Đông Nam á nh:
“Lịch sử các quốc gia cổ đại ở khu vực Viễn Đông chịu ảnh hởng của vănhoá ấn Độ” ở của Cedes; “Những thành tựu chủ yếu của văn hoá ấn Độ, văn
Trang 7hoá Trung Quốc cổ đại và ảnh hởng của nó đối với văn hoá Đông Nam á” ở;
“Lịch sử trung đại thế giới” ở, Tập II (phần Phơng Đông), do Lơng Ninh (chủbiên); “Lợc sử inđônêxia” ở của Võ Văn Nhung bên cạnh đó còn có cả một
hệ thống những luận văn, luận án và nhiều bài nghiên cứu trên các tạp chíkhác nhau
Các tài liệu tơng đối phong phú, đa dạng nhng chủ yếu chỉ xoay quanhcác nền văn hoá lớn là văn hoá Trung Hoa và ấn Độ đó là những chuyênkhảo lịch sử,văn hoá, những vấn đề về ảnh hởng, giao lu văn hoá giữa các nềnvăn hoá lớn này với các nớc khác, các khu vực bên ngoài một cách tổng quáttrên nhiều lĩnh vực
Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn đi sâu tìm hiểu lĩnh vực chính trị để
từ đó rút ra một vài đặc điểm nổi bật về tổ chức bộ máy nhà nớc ở một sốquốc gia đợc gọi là các nớc “ấn Độ hóa” ở ở Đông Nam á thời kỳ cổ trung đạidới tác động ảnh hởng của văn minh ấn Độ
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn này là đặc điểm tổ chức bộ máy nhànớc của một số quốc gia “ấn Độ hóa” ở ở Đông Nam á thời kỳ cổ trung đại
Những vấn đề về lịch sử ấn Độ và ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối vớicác nớc trên thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Nam á là hết sức sâu sắc Tuynhiên, do sự hạn hẹp của thời gian và để đi sâu làm rõ một vấn đề nên trong đềtài này chúng tôi chỉ đề cập đến đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nớc của một sốquốc gia “ấn Độ hóa” ở ở Đông Nam á cổ trung đại Với mong muốn sẽ tiếpcận đợc vấn đề này một cách cụ thể, rõ nét và toàn diện hơn
4 Mục đích và phơng pháp nghiên cứu
Lịch sử của một số quốc gia Đông Nam á cổ trung đại đợc đề cậpkhông nhiều trong các tài liệu Cho nên, ngày nay đây là một trong những khuvực thu hút sự quan tâm của nhiều học giả Trên cơ sở những nguồn tài liệutiếp cận đợc chúng tôi muốn tổng hợp lại để góp phần nhỏ bé của mình vàoquá trình tìm hiểu về các vấn đề ở Đông Nam á Cụ thể ở đây là chúng tôi tìmhiểu về: đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nớc của một số quốc gia “ấn Độ hóa” ở
Từ đó chúng tôi rút ra một số đặc trng cơ bản của các quốc gia này
Đây là một vấn đề rất quan trọng Do vậy khi đi sâu tìm hiểu vấn đề nàythể hiện trên từng mặt, còn phải nhận biết những nét sáng tạo và sự tiếp thu cóchọn lọc của mỗi dân tộc Do đó, đề tài này chúng tôi kết hợp giữa ph ơng
Trang 8pháp phân tích, tổng hợp và khái quát Mặc dù vậy công việc của chúng tôikhông phải là sự lắp ghép máy móc, sao chép từ những tài liệu có sẵn mà trêncơ sở các nguồn tài liệu tiếp cận đợc chúng tôi suy ngẫm, khái quát lại mộtcách có hệ thống tạo thành bài viết của mình Các nguồn tài liệu đó là cơ sở đểchúng tôi thực hiện đề tài này.
5 Bố cục
Đề tài này ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung chính đợc tập trung trong 2 chơng chủ yếu sau:
Chơng 1 ảnh hởng của văn minh ấn Độ đối với quá trình hình
thành và phát triển của một số quốc gia “ấn Độ hóa” ở ở
Đông Nam á cổ trung đại
Chơng 2 Đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nớc của một số quốc gia
“ấn Độ hóa” ở ở Đông Nam á cổ trung đại
Trang 9Chơng 1
ảnh hởng của văn minh ấn độ đối với quá trình hình thành và phát triển của một số quốc gia
“ấn độ hóa” ở đông nam á cổ trung đại
1.1 những thành tựu chủ yếu của nền văn minh ấn độ
1.1.1 Khái quát lịch sử ấn Độ cổ - trung đại
ấn Độ nằm ở Nam á, hiện nay là nớc lớn thứ 7 trên thế giới và có dân
số thứ 2 thế giới (sau Trung Quốc) Tên gọi ấn Độ - Indian, Hinđuxtan, đây làtên gọi do ngời BaT và ngời Hi Lạp lấy tên sông ấn (Inđu) để gọi tên nớc này.Còn tên gọi truyền thống mà c dân ấn Độ gọi là Bharat ấn Độ cổ đại rộng lớnhơn ấn Độ ngày nay, bao gồm bán đảo Hinđuxtan Nghĩa là bao gồm lãnh thổcủa 5 nớc hiện nay, đó là, ấn Độ, Pakixtan, Butan, Nêpan, Banglađet ấn Độ
đợc chia làm 3 miền rõ rệt, đó là vùng thuộc dãy Hymalaya, vùng đồng bằngsông Hằng, sông ấn và vùng cao nguyên Đêcan Nhà nớc ấn Độ cổ đại ra đời
từ rất sớm, đầu tiên là sự xuất hiện của nền văn minh sông ấn, gắn liền với vaitrò của ngời Đraviđa Chính họ là chủ nhân của nền văn minh này
Cho đến đầu thế kỷ XIX, hầu nh ngời ta cha biết gì về thời kỳ tiền sử
và sơ sử của ấn Độ Đầu thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu, khai quật đãxác định, ngay từ thời xa xa nhất, ở ấn Độ đã có con ngời c trú Trớc khi ấn
Độ bớc vào thời kỳ Nhà Nớc cổ đại đã xuất hiện một nền văn minh đô thị rực
rỡ Đó là văn minh sông ấn tồn tại từ đầu thiên niên kỷ III (TCN) đến thiênniên kỷ II (TCN) Đây là nền văn minh cổ xa và đạt đợc những thành tựu rực
rỡ nhất, là một trong những thời kỳ quan trọng của lịch sử ấn Độ Nó đặt nềnmóng đầu tiên và ảnh hởng tới sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá sau này
Tiếp đến là thời kỳ Vêđa, đây là thời kỳ mà lịch sử ấn Độ đợc phản ánhtrong kinh Vêđa Trong kinh, ngoài việc học tập những nghi lễ chúc tụng thầnlinh là việc phản ánh những hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị của ấn Độ từgiữa Thiên niên kỷ II (TCN) đến Thiên niên kỷ I (TCN)
Đây là thời kỳ lịch sử diễn biến quan trọng, phức tạp, phản ánh nhiềumặt của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị ấn Độ Đó là qúa trình xâm nhậpcủa ngời Arian qua quá trình hình thành chế độ đẳng cấp Vacna và tôn giáoBalamôn Cùng với đẳng cấp và tôn giáo ấy, công xã nông thôn xuất hiện, tạocho lịch sử ấn Độ trì trệ, kéo dài Đó là cội rễ dẫn đến sự chia cắt và luôn bị
đế quốc bên ngoài xâm lợc, thống trị
Trang 10Cho đến nửa đầu Thiên niên kỷ thứ I (TCN), ở Bắc ấn Độ đã xuất hiệnnhiều vơng quốc nhỏ, giữa các vơng quốc ấy thờng xuyên xung đột lẫn nhau.Thế kỷ VI (TCN), Bắc ấn có chừng 16 quốc gia, trong đó có 2 quốc gia lớntranh giành ảnh hởng là Magađa và Vôgađa Chẳng bao lâu, Magađa đã chinhphục đợc một vùng rộng lớn từ núi Hymalaya ở phía Bắc đến núi Vicia ở phíaNam.
Từ thế kỷ VI (TCN) đến năm 28 (TCN) tồn tại vơng triều Magađa, trảiqua nhiều vơng triều, trong đó vơng triều Môria là thời kỳ hng thịnh nhất
Thế kỷ VI (TCN), đạo Phật ra đời Vơng quốc Magađa muốn đấu tranhchống thế lực tăng lữ Bàlamôn đã tăng cờng quyền lực quốc gia, đã dựa vàolực lợng Phật giáo ngày càng mạnh Thời Asôca, đạo Phật đợc tôn làm quốcgiáo
Asôca mất năm 236 (TCN), vơng quốc Magađa nhanh chóng suy yếu,
đất nớc bị chia cắt, bị ngoại tộc xâm lợc và thống trị Mãi đến thế kỷ IV, ấn
Độ mới đợc thống nhất và cờng thịnh dới vơng triều mới
Lịch sử ấn Độ thời phong kiến đợc quy định từ sau Công nguyên đếnthế kỷ XVII với 4 thời kỳ sau:
- Thời kỳ hình thành chế độ phong kiến với vơng triều Gúpta (đầu côngnguyên đến thế kỷ VII)
-Thời phong kiến phân tán (từ thế kỷ VII đến XII)
- Thời kỳ vơng triều Hồi giáo Đêli thống trị (từ thế kỷ XIII đến thế kỷXV)
- Thời kỳ thống trị của Môgôn (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII)
Đến thế kỷ XIX, ấn Độ thành thuộc địa của Anh, bắt đầu từ đây ấn Độbớc vào thời kỳ cận đại
Văn minh ấn Độ đợc cấu thành bởi các yếu tố sau đây:
* Về đời sống kinh tế
Xuyên suốt lịch sử cổ - trung đại ấn Độ là sự phát triển của nền kinh tế
tự nhiên, tự cung, tự cấp, kinh tế nông nghiệp Trong các làng xã, tế bào kinh
tế, xã hội ấn Độ, ngời nông dân thờng ở trong những nếp nhà rơm rạ cổtruyền Đã bao đời ngời nông dân ấn Độ thờng vất vả với ba vụ gặt chínhcùng 3 loại cây ngũ cốc riêng
Bên cạnh đó, ấn Độ là nớc có truyền thống lâu đời về thủ công nghiệp.Ngay từ thời Harappa, Môhengrô - Đarô, đã có một số nghề thủ công truyềnthống phát triển cao nh đúc đồng, chạm khắc đá, nghề kim hoàn, nghề mộc
Trang 11Dệt là nghề thủ công truyền thống của ấn Độ, đây là nghề rất nổi tiếng, ngời
ấn Độ cũng nổi tiếng với nghệ thuật làm đồ trang sức
Thơng nghiệp: Ngay từ thời cổ xa, ấn Độ cũng đã có sự giao lu buônbán với những trung tâm kinh lớn nh Ba t, Hi lạp, Trung quốc
* Về chính trị - xã hội
Ngay từ thời cổ xa, nét nổi bật về chế độ chính trị - xã hội ấn Độ, đó là
sự xuất hiện sớm và tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn Đồng thời là sựtồn tại của chế độ đẳng cấp Theo nghiên cứu của C Mác thì công xã nôngthôn ở ấn Độ đợc coi là điển hình nhất Sự xuất hiện của công xã nông thôn
đóng vai trò tích cực đốí với sự phát triển của xã hội Nhng sự tồn tại dai dẳngcủa nó lại trở thành yếu tố tiêu cực cho sự phát triển xã hội Sự tồn tại củacông xã nông thôn làm cho kinh tế hàng hoá kém phát triển và duy trì nềnkinh tế tự nhiên mang tính tự cấp, tự túc Với một khuôn khổ chật hẹp và đóngkín của công xã nông thôn nên đã cản trở sự phát triển mọi mặt và bảo tồnnhững tập tục lạc hậu một cách lâu dài, dai dẳng
* Về chế độ đẳng cấp
ở ấn Độ, chế độ đẳng cấp xuất hiện sớm, ngay từ trong thời kỳ Vănminh sông Hằng và vào loại khắc nghiệt nhất Nó đợc gọi là chế độ đẳng cấpVacna Theo chế độ này, c dân tự do ấn Độ đợc phân thành 4 đẳng cấp cóquyền lợi kinh tế, xã hội hoàn toàn khác nhau
- Đứng đầu là đẳng cấp tăng lữ Bàlamôn
- Đẳng cấp thứ hai, là tầng lớp vơng công, vũ sĩ Ksatơria
- Đẳng cấp thứ ba, là những ngời bình dân Arial (đẳng cấp Vaixia)
- Còn bộ phận dân bản địa bị chinh phục gọi là Xuđra
Một bộ phận c dân tận cùng của xã hội nh Xanđala, Paria đợc xếp rangoài đẳng cấp, thân phận của họ đợc coi nh nô lệ Họ không có một quyềnlợi kinh tế, chính trị nhỏ nhoi nào
* Về gia đình
ở ấn Độ gia đình cũng đợc coi là tế bào của xã hội Nhng điều hết sức
đặc bịêt của ấn Độ trong giai đoạn đầu là vai trò, vị trí của ngời phụ nữ hếtsức quan trọng Nhng kể từ khi đạo Hồi xâm nhập thì vai trò của ngời phụ nữ
bị hạ thấp về nhiều mặt
* Về nhà nớc
Giống nh các quốc gia cổ đại phơng Đông khác, nhà nớc ấn Độ cổ đại
là nhà nớc quân chủ theo ý thức cha truyền con nối Nhng trong đó vai trò của
Trang 12ngời hành đạo là rất lớn Đây là một trong những yếu tố chi phối, làm cho xãhội ấn Độ thêm phức tạp.
1.1.2 Những thành tựu chủ yếu của nền Văn minh ấn Độ
Văn minh ấn Độ là một trong những nền Văn minh cổ xa nhất của loàingời Nó đã đạt đợc nhiều thành tựu rất quan trọng, đợc thể hiện trên nhữnglĩnh vực sau
1.1.2.1 Tôn giáo ấn Độ
ấn Độ đợc coi là quê hơng của nhiều tôn giáo lớn, đó là đạo Bàlamôn(sau đó đợc bổ sung chuyển đổi thành đạo Hinđu), đạo Phật, đạo Giai na, đạoXích Ngoài ra, ấn Độ còn tiếp thu một số tôn giáo khác từ bên ngoài vào nh
đạo Hồi, đạo Do Thái Nét đặc biệt ở ấn Độ là các tôn giáo này kết hợp chặtchẽ với triết học, nó trở thành những con đờng chuyển tải t tởng
* Đạo Bàlamôn
Trong thời kỳ đầu của Vêđa, tín ngỡng c dân bản địa mang nhiều dấuvết của tín ngỡng nguyên thuỷ Nhng dần dần, với sự phân hoá ngày càng sâusắc trong xã hội thì các tín ngỡng dân gian ấy dần dần đợc tập hợp thành mộttôn giáo đợc gọi là đạo Bàlamôn
Đạo Bàlamôn không có ngời sáng lập, tổ chức của nó cũng không chặtchẽ Đây là tôn giáo đa thần, trong đó cao nhất là thần Brama, đợc coi là thầnsáng tạo ra thế giới Nhng cũng có nơi coi thần Siva là thần cao nhất Cũng cónhững nơi quan niệm thần cao nhất là thần Visnu (thần bảo vệ, thần ánh sáng,thần sắc đẹp) Do sự thiếu thống nhất nh vậy, nên dần dần các tăng lữ đạoBàlamôn đã nêu ra quan niệm mặc dù là ba nhng thực chất là một Ngoài ra,một số động vật khác cũng đợc coi là đối tợng sùng bái của đạo Bàlamôn nhvoi, bò Một trong những nguyên lý của đạo Bàlamôn là thuyết luân hồi Ng-
ời ta giải thích rằng, linh hồn của con ngời thực chất là một bộ phận của thầnBrama tạo ra, mà thần Brama lại tồn tại vĩnh viễn, nên mặc dù con ngời dù cósống, có chết thì linh hồn vẫn tồn tại mãi mãi, nó tồn tại từ kiếp này sang kiếpkhác Những ai thực hiện đúng luật lệ của đạo thì kiếp sau sẽ đợc đầu thai làmngời cao quý Còn những ai đợc coi là tà đạo thì kiếp sau sẽ bị đầu thai làmchó, ngựa
Xét về mặt xã hội, đạo Bàlamôn là công cụ bảo vệ đắc lực cho chế độ
đẳng cấp ở ấn Độ Mà trong đó thực chất là bảo vệ quyền lợi cho tầng lớptăng lữ, quý tộc Bàlamôn Tôn giáo này thịnh hành trong xã hội ấn Độ mãicho đến thế kỷ VI (TCN) khi đạo Phật xuất hiện mới bắt đầu lụi tàn
Trang 13Đến khoảng cuối thế kỷ VII, đạo Phật bắt đầu suy sụp ở ấn Độ thì đạoBàlamôn dần đợc phục hồi Nó đợc bổ sung thêm một số đối tợng để sùng bái,
bổ sung thêm một số luật lệ cũng nh nghi thức để tế lễ Từ đây nó đợc khoácmột cái tên mới đó là ấn Độ Giáo hay Hinđu giáo Bắt đầu từ thế kỷ VIII trở
đi, nó bắt đầu phát triển mạnh mẽ
ấn Độ giáo ra đời và phát triển đợc coi là tôn giáo hết sức đặc biệt Bởivì tôn giáo này nó không ảnh hởng ra ngoài biên giới Đối tợng sùng bái của
nó vẫn chủ yếu là 3 vị thần: Brama đợc biểu hiện bằng bốn cái đầu để nói rằngthần có thể nhìn thấy tất cả; thần Siva đợc biểu hiện có mắt ở trán; Thần Visnu
đợc quan niệm là đã từng giáng trần 9 lần với hình thức là các con vật nh cá,lợn Ngoài ba vị thần nói trên một số động vật khác nh hổ, rắn, bò, khỉ cũng đợc coi là thần của đạo Hinđu Trong đó quan trọng nhất là thần khỉ vàthần bò
* Đạo Giaina
Theo truyền thuyết ngời sáng lập ra đạo Giaina là một ngời xuất thân từtầng lớp Satơria Ông đợc các tín đồ gọi là Mihariva Đạo Giaina xuất hiện vàothế kỷ VI (TCN), nghĩa là cùng thời với sự xuất hiện của đạo Phật Tôn giáonày chủ trơng không thờ thợng đế vì họ cho rằng vũ trụ không do đấng hoácông nào tạo ra Mà đó là cái có sẵn, tự nhiên nhng họ lại chủ trơng thờ cácthần thánh huyền thoại Họ quan niệm rằng vạn vật đều có linh hồn, vì vậy họcũng thừa nhận thuyết luân hồi
Xét về giới luật, đạo Giaina có 5 điểm cơ bản sau:
- Không giết bất cứ sinh vật nào
- Tuỵêt đối không đợc nói dối
- Không đợc lấy bất cứ vật gì của ngời khác nếu không đợc coi là vậtban tặng
- Không đợc dâm dục
- Không đợc tích trữ của nhiều mà phải sống khổ hạnh
Theo quan niệm của đạo Giaina về thế giới, nhân sinh nh vậy, tôn giáonày đã kịch liệt chống lại Vêđa Từ đó chống lại luôn hình thức cúng bái của
đạo Bàlamôn và đạo Hinđu sau này
Cũng giống nh Phật giáo, sau một thời kỳ phát triển tôn giáo này phânthành 2 phái: Phái áo Trắng và phái áo Trời
Do đạo luật của nó quá khắt khe và lại đợc sinh cùng thời với đạo Phật,tôn giáo đợc coi là mở Do đó các tín đồ theo tôn giáo này không đông đảo
Trang 14Hiện nay ở ấn Độ có khoảng 0,7% dân số theo tôn giáo này, chủ yếu tậptrung ở miền Tây Nam của đất nớc.
* Đạo Phật
Đạo Phật là một trong 3 tôn giáo lớn nhất trên thế giới hiện nay Điều
đặc biệt, mặc dù ấn Độ là quê hơng của phật giáo, nhng nay số tín đồ theo
đạo Phật ở ấn Độ rất ít (chiếm khoảng 1% dân số) mà chủ yếu là ở các quốcgia Đông Nam á Trong đó một số quốc gia lấy đạo Phật làm quốc giáo nhCampuchia, Chămpa
Xét về hoàn cảnh ra đời, đạo Phật ra đời trong bối cảnh khi mà ba đẳngcấp bên dới nó là đẳng cấp vơng công, vũ sỹ, cũng nh đẳng cấp bình dân đangngày càng chiếm u thế trong xã hội Họ đang đấu tranh chống lại Bàlamôngiáo
Mọi tôn giáo đều nêu lên vấn đề giải thoát Tuy nhiên, mỗi tôn giáo cónhững cách giải thoát riêng của mình Đức phật đã đa ra một giải pháp giảithoát cho chúng sinh thật là độc đáo và hấp dẫn Đó là thuyết “Tứ diệu đế” ở.Bao gồm:
- Khổ đế: Đời là bể khổ Con ngời có 8 nỗi khổ gọi là “Bát khổ” ở
- Tập đế: chân lý về nguyên nhân của cái khổ, mà nguyên nhân sâu xanhất là con ngời có quá nhiều ham muốn
- Diệt đế: Con ngời có thể tiêu diệt đợc cái khổ
- Đạo đế: con đờng để giải thoát mọi cái khổ là con ngời phải thực hiện
“Bát chính đạo” ở
Xét về mặt thế giới quan, đạo Phật đề cập đến “Vô tạo giả” ở, “Vô ngã” ở,
“Vô thờng” ở, có nghĩa nó vừa mang t tởng triết học duy vật vừa mang t tởngduy tâm
Xét về mặt xã hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp, bởiphật quan niệm rằng nguồn gốc xuất thân con ngời không phải là điều kiện để
đợc cứu vớt, mà tất cả những ai tuân theo phật, hành đạo đúng lời phật dạy thìcũng đều đợc lên cõi Niết bàn Nh thế, có nghĩa chủ trơng của đạo Phật làkhông phải dựa vào luật pháp để trị nớc Không đợc chuyên quyền, độc đoán
mà yếu tố có tính chất cơ bản nhất để xã hội bình yên đó chính là tính thiệncủa mỗi ngời
Về quá trình phát triển, cùng với quá trình phát triển của lịch sử, dầndần đạo Phật phân thành 2 phái: Phái Tiểu thừa và phái Đại thừa Nếu nh pháiTiểu thừa chủ trơng giữ nguyên giáo lý nguyên thuỷ, thì phái Đại thừa chủ tr-
Trang 15ơng bổ sung một số giáo lý nhằm phù hợp với một số điều kiện và hoàn cảnhmới.
Nếu nh phái Tiểu thừa chủ trơng thừa nhận một vị phật duy nhất đó làThích Ca Mâu Ni, thì phái Đại thừa lại thừa nhận thêm nhiều vị phật khác nh:Phật Thích Ca, Phật Adida, Phật Di Lặc
Nếu nh phái Tiểu thừa phát triển dần về phía Nam ấn, sau đó truyềnsang đảo Srilanca để từ đó đến với các nớc Đông Nam á Thì phái Đại thừa lạiphát triển về phía Bắc ấn sau đó truyền sang khu vực Trung á, từ khu vựcTrung á ảnh hởng đến Trung Quốc, từ Trung Quốc truyền sang Nhật Bản,Triều Tiên và Đại Việt
Nếu điện thờ của phật Tiểu thừa tĩnh lặng và chỉ thờ một vị Phật tổ làThích Ca Mâu Ni thì phái Đại thừa ngoài Phật tổ còn thờ nhiều vị phật khác vàcả Bồ Tát, La Hán nữa Cho nên, ngôi chùa của phái Đại thừa nhộn nhịp, đôngvui hơn
Có thể nói rằng, trong những ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối với ĐôngNam á thì Phật giáo có tác động mạnh nhất, để lại những dấu ấn sâu sắc trong
đời sống tinh thần, trong tâm thức, phong tục tập quán và nếp sống đạo đứccủa họ
1.1.2.2 Văn học, nghệ thuật
- ấn Độ thời cổ - trung đại đã có một nền văn học phong phú, đa dạng
ở đây văn học, tôn giáo và triết học tồn tại song song bên nhau, có mối quan
Kinh Vêđa gồm 4 bộ sau:
+ Ring Vêđa: ca tụng các thần linh
+ Yajuya Vêđa: các thể thức tế tự
+ Sama Vêđa: những khúc ca cầu nguyện
+ Acthava Vêđa: những câu thần chú
ở ấn Độ hiện đang còn lu giữ 2 bộ sử thi Ramayana và Mahabharata đồ
sộ Ngời ấn Độ tự hào về 2 bộ sử thi này Ngoài giá trị văn học to lớn nó còn
đợc coi là bộ bách khoa toàn th về đời sống chính trị, xã hội và văn hoá ấn Độ
Trang 16truyền thống Ngời ta ví hai bộ sử thi này với Iliát và Ôđixê của Hi Lạp nhngquy mô lớn hơn nhiều.
Mahabharata gồm 11 vạn câu thơ đôi, chia làm 18 cuốn, gấp 7 lần tổng
số của 2 bộ Iliát và Ôđixê gộp lại Nội dung chính của tác phẩm phản ánhcuộc chiến tranh xảy ra trong dòng họ Bharat Bộ sử miêu tả đời sống xã hộihồi đó, cảnh ăn chơi cung đình, những mối tình éo le Mahabharata ca ngợisức mạnh tinh thần nhất là về đạo đức, bổn phận, bài học cho ngời đời: ởhiền gặp lành, ác giả ác báo T tởng hoà bình thấm đợm trong toàn bộ tácphẩm
Nội dung chính miêu tả cuộc chiến tranh, chiếm cả tác phẩm và còn lànhững câu chuyện ngụ ngôn mang tính chất triết học Đây là bản tổng kết sâusắc, cô đọng quan điểm triết học, tôn giáo, đạo đức, là cuốn kinh của đạoHindu Các lãnh tụ phong trào giải phóng dân tộc ở ấn Độ đều nghiên cứu tácphẩm này, tìm đợc lý tởng phụng sự triết lý qua nó Mahabharata tồn tại quahơn 20 thế kỷ, đợc ngời ấn Độ truyền khẩu từ đời này qua đời khác
Ramayana là tác phẩm lớn thứ 2, tác phẩm kể lại công đức - sự nghiệpcủa Rama - một nhân vật lý tởng của đẳng cấp quý tộc Kasatơrya, một hoáthân thứ 7 của thần Visnu ở trần gian để khuyên thiện trừ ác Ramayana có
ảnh hởng sâu rộng trong nhân dân ấn Độ qua nhiều thời kỳ lịch sử
Nếu Mahabharata nói lên ớc vọng tâm linh cao cả mang tính tôn giáo,triết học thì Ramayana thể hiện tâm hồn trong sạch, yêu thơng hết mình, chechở và an ủi khổ đau cho con ngời, đó là giá trị nhân văn của sử thi
Hai tác phẩm trên là niềm tự hào, là nguồn cảm hứng vô tận của cácnhà thơ, nhà văn, nghệ sỹ ấn Độ cổ đại và cho đến bây giờ
Tuy chịu ảnh hởng của tôn giáo, các nghệ sỹ vẫn thể hiện chủ nghĩanhân đạo cao cả, đề cao t tởng tự do, miêu tả cuộc sống con ngời với nội tâmcủa nó: Sự lo lắng, nổi buồn vui, tình yêu lứa đôi, chống lại lễ giáo khắt khe,lên án bản chất giả dối lừa gạt của giai cấp thống trị
Đại biểu cho các nhà văn, nhà thơ này là nhà thơ Bơhaxa, Sudơvaba và
đặc biệt là Kaliđasa ngôi sao sân khấu và văn học ấn Độ Ông là tác giả củanhiều vở kịch nổi tiếng nh “Lòng dũng cảm của Unavasi” ở, “Truyện mời ônghoàng” ở Trong đó vở kịch “Sơkutila” ở là niềm tự hào của nhân dân ấn Độ trongsuốt 15 thế kỷ qua
Trang 17Ngoài ra, còn nhiều tác phẩm chính luận, có giá trị về các đề tài kinh tế,xã hội nh “Luận về đạo pháp” ở, “Luận về lạc thú” ở, “Luận về chính trị” ở hay
“Luật manu” ở
Ngôn ngữ biểu đạt trong văn học ấn Độ là chữ Phạn (Sancrit) Đó làngôn ngữ có nguồn gốc từ ngữ hệ ấn - âu và có quan hệ mật thiết với ngônngữ Ba T - arập
Hiện nay, ở ấn Độ có 10 ngôn ngữ chính thức đợc thừa nhận, tiếng Anh
là ngôn ngữ quốc gia bổ sung
Nghệ thuật ấn Độ rất phong phú, đa dạng Trớc thời Asôka thế kỷ IIITCN các công trình khác hầu nh không còn dấu tích đến ngày nay Đến thời
kỳ Asôka ngời ta đã bắt đầu xây dựng nhiều công trình bằng đá nh những cột
đá, những tháp mộ (Stupa) Những cột đá thờng cao khoảng 1m20 đến 1m50,trên đầu các cột đá có khắc hình một con vật (nh s tử ở cột Sornath, bò đực
cổ học ấn Độ, tiến sỹ S.R.Rao đã khám phá đợc sự bí ẩn của loại chữ này
Đến khoảng thế kỷ V (TCN), ở ấn Độ xuất hiện một loại chữ khác gọi
là chữ Kharosthi Đây là loại chữ phỏng theo chữ viết của vùng Lỡng Hà Sau
đó lại xuất hiện chữ Brami, một loại chữ đợc sử dụng rộng rãi Trên cơ sở chữBrami, ngời ấn Độ lại đặt ra chữ Đêvanagari có cách viết đơn giản thuận tiệnhơn Đó là thứ chữ mới để viết tiếng Xancrit Hiện nay ở ấn Độ và Nêpan vẫndùng loại chữ này
1.1.2.4 Những thành tựu về khoa học - kỹ thuậ t
Cũng giống nh ở Trung Quốc và các nền văn minh khác, ngay từ rấtsớm, ấn Độ đã có những phát minh quan trọng trong lĩnh vực khoa học, tựnhiên
- Thiên văn:
Trang 18+ Ngời ấn Độ sớm nhận biết đợc 5 hành tinh Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ, cũng nh quy luật vận hành của một số sao Từ rất sớm, ngời ấn Độ quanniệm quả đất cũng nh mặt trăng là hình cầu Họ cũng đã sớm làm ra lịch, lịchcủa họ mỗi năm chia làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày, mỗi ngày có 30 giờ
-và cứ 5 năm nhuận một lần
- Toán học:
+ Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, đóng góp lớn nhất của ngời
ấn Độ là việc phát hiện ra chữ số và số không Một nhà toán học ngời Pháp đãnói về cách viết chữ số của ngời ấn Độ nh ngời ấn Độ đã dạy cho chúng tacác phép toán tài tình ấy chỉ dùng có 10 ký hiệu mà biểu hiện đợc mọi số l-ợng Mỗi chữ số đều nói lên một trị số nhất định ở vị trí cố định Đó là mộtphát minh thần diệu, cực kỳ quan trọng Chẳng qua, ngày nay chúng ta dùng
nó mãi mà quen đi, trông nó đơn giản quá rồi không thấy cái chân giá trị của
nó nữa Nhng cũng chính vì cái tính chất đơn giản đó của các số chữ mà môntoán học ngày nay có thể xếp thành hàng đầu trong các phát minh có lợi nhấtcho loài ngời Thành tựu vẻ vang đó của ngời ấn Độ thời cổ đáng đợc mọi ng-
ời khâm phục và biết ơn
+ Ngời ấn Độ đã sớm tìm ra chữ số Pi, (=3,14) Ngoài ra, các kiếnthức về hình học của ngời ấn Độ cũng rất phát triển
- Vật lý:
+ Từ rất sớm, ngời ấn Độ quan niệm rằng vật chất đợc cấu tạo từ mộtyếu tố mà họ gọi là Anu (phần tử nhỏ nhất Ngày nay ngời ta cũng tìm ra vậtchất đợc cấu tạo từ nguyên tử) Sự khác nhau giữa sự vật này với sự vật khác là
do cách sắp xếp khác nhau giữa các Anu (phần tử nhỏ nhất)
- Về y học:
+ Về lĩnh vực này, ngời ấn Độ cũng đã thu đợc nhiều thành tựu Ngaytrong bộ Vêđa rất nhiều loại bệnh đợc nêu lên cùng với các loại thuốc để chữatrị Ngời ấn Độ đã biết phẫu thuật từ rất sớm để chữa bệnh, ví nh chắp xơng
sọ, cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai
Tất cả những thành tựu văn hoá trên, là cơ sở hết sức quan trọng để từ
đó phát huy ảnh hởng của mình đến các khu vực khác trên thế giới, trong đó
đáng kể nhất là khu vực Đông Nam á
1.2 ảnh hởng của văn minh ấn Độ đối với quá trình hình thành và phát triển của một số quốc gia “ấn Độ hóa” ở
Đông Nam á cổ trung đại
Trang 191.2.1 Quá trình lan toả và xâm nhập của văn minh ấn Độ đến khu vực
Đông Nam á
1.2.1.1 Vài nét khái quát về Đông Nam á
Đông Nam á là một khu vực rộng, trải ra trên một phần trái đất, từkhoảng 92 kinh độ Đông đến 140 kinh độ Đông và khoảng 25 vĩ độ Bắc chạyqua xích đạo đến 15 vĩ độ Nam, rất không thuần nhất về điều kiện tự nhiên.Phía Bắc giáp với Trung Quốc; phía Tây giáp ấn Độ - hai nền văn minh lớn vàrực rỡ nhất của thế giới cổ trung đại; phía Đông là ấn Độ Dơng và hai mặt
Đông, Nam là Thái Bình Dơng rộng lớn bao bọc Đông Nam á bao gồm haivùng lãnh thổ khác nhau rõ rệt: một phần lục địa gồm các nớc Mianma, TháiLan, Lào, Campuchia, Việt Nam; một bộ phận là hải đảo gồm các nớcMalaixia, Inđônêxia, Brunây, Xinggapo, Philippin, Đông Timo - hai phần này
ôm lấy một vùng biển ở giữa tạo thành một thứ kiểu nh Địa Trung Hải thuận
đờng trao đổi, buôn bán, giao lu văn hoá Vùng biển này gọi là biển Đông
ở Đông Nam á có những yếu tố địa lý quan trọng là đất, sông, biển,gió mùa và khí hậu nhiệt đới
Đất đai ở Đông Nam á có nhiều loại khác nhau Tuy nhiên có 2 loại đấtchính có giá trị rất lớn đối với nông nghiệp Đó là, đất phù sa trầm đọng trêncác vùng hạ lu, đặc biệt là trên châu thổ của các dòng sông lớn Bởi vì phầnlớn các chất dinh dỡng của cây hoà tan đợc đã bị sự thẩm thấu hoặc sự xóimòn cuốn đi, trôi theo các dòng sông trên các vùng châu thổ thờng cực kỳmàu mỡ Hơn nữa loại đất này lại nằm trong những vùng của lục địa, thuận lợicao nhất cho canh tác, vì điều kiện địa hình và vị trí gần biển; loại đất phìnhiêu thứ 2 nằm ở ngoài Inđônêxia và Philippin, nơi mà núi lửa hãy còn phun
và tạo ra những loại đất cực kỳ màu mỡ nh ở một số vùng trên đảo Sumatơra,miền đông và miền Trung Giava, phần lớn Bali và Longbok và rải rác một vàinơi trên đảo Célébec và Philippin
Sông nớc có một địa vị đặc biệt quan trọng trong đời sống của c dân
Đông Nam á Năm dòng lớn ở lục địa Đông Nam á là sông Hồng, sôngMêkông, sông Mê Nam (Chao Phaya), sông Salween, sông Iraoađi, đã tạo nênnhững đồng bằng châu thổ phì nhiêu màu mỡ hiếm thấy, các dòng sông lạichắp nối liên kết giữa đồng bằng và biển rộng Con ngời Đông Nam á thờngsinh sống gần các dòng sông, suối Hai bên các dòng sông lớn thờng phát hiện
đợc các di chỉ của ngời xa Sông cũng là con đờng giao thông quan trọng từ xa
đến nay ở Đông Nam á Thuyền là phơng tiện di chuyển chính chứ không
Trang 20phải là xe cộ Thực chất theo các nhà nghiên cứu thì c dân Đông Nam á buổi
đầu không biết tự mình chế tạo bánh xe
Biển ở Đông Nam á, ngoài việc là cái kho quý báu, nguồn thực phẩm(cá, tôm, cua, rong ); nguồn quặng (dầu, thiếc ), còn có tác động nh thể mộtchất kết dính giữa hai miền lục địa- hải đảo, giữa các vùng duyên hải vớinhau ở đây cũng là nơi gặp gỡ hội tụ của nhiều luồng giao thơng quan trọngtrên thế giới từ cổ chí kim trong suốt thời kỳ lịch sử Biển ở đây không hề làdải ngăn cách mà trái lại còn làm chức năng gạch nối giữa các c dân trongvùng; Từ buổi đầu lịch sử họ đã mợn gió mậu dịch, gió mùa để đi lại, về mùa
đông (từ tháng 1) thì nơng theo gió tây nam mà đi lên, mùa hè (từ tháng 7)theo gió đông bắc mà xuôi xuống Mặt khác, biển Đông lại là con đờng biểnngắn nhất đi từ ấn Độ sang Trung Quốc, các quần đảo Đông Inđônêxia, nhất
là quần đảo Malắcca đã nổi tiếng một thời là nơi sản xuất hơng liệu là niềmmơ ớc và sức hấp dẫn đối với bao thế hệ thơng nhân thế giới từ Âu sang á, dùsao đi lại trong khu vực Đông Nam á này bằng đờng biển cũng dễ dàng gấpbội lần băng qua rừng rậm hiểm trở trên các đảo Cho nên, từ xa ngời Makasar
và ngời Bugi ở Nam Célébes đã nổi danh là những ngời đi biển tài ba nhấttrong vùng hải đảo
Mọi hoạt động nông nghiệp trên đồng bằng hay hàng hải, trên biển rộng
đều gắn liền với một nhân tố cực kỳ quan trọng đó là khí hậu, mà trong đó đặcbiệt nổi bật nhất là chế độ gió mùa ở Đông Nam á có thể phân biệt rõ rànghai loại hình khí hậu lớn và hai loại hình khí hậu nhỏ Tạo cho khí hậu ĐôngNam á phân thành hai mùa rõ rệt, mùa khô lạnh mát và mùa ma tơng đốinóng ẩm nên Đông Nam á thờng đợc gọi là khu vực nằm trong khu vực Châu
á gió mùa
Chính gió mùa và khí hậu biển đã làm cho những khu vực nh Hà Nội,Mandalay, Cancutta, đáng lẽ có thể khô cằn đã trở nên xanh tốt và trù phú;hoặc làm cho các khu vực gần xích đạo đáng lẽ “chỉ có rừng cây rậm rạp, cdân tha vắng và lạc hậu” ở nh kiểu Châu Phi xích đạo thì lại có những đô thị
đông đúc và thịnh vợng nh Kualalumpur, Xinhgapo, Giacacta,
Những điều kiện đó làm cho Đông Nam á thích hợp với sự sinh trởngcủa một số loài cây cỏ nhất định, Đông Nam á trở thành quê hơng của nhữngcây gia vị, cây hơng liệu đặc trng (hồ tiêu, sa nhân, quế, trầm hơng, hồi, ) vàcây lơng thực đặc trng là cây lúa nớc (Oriza Sativa) Nh thế, Đông Nam á làmthành một khu vực thực vật - dân tộc học tơng đối riêng biệt
Trang 21Nhìn chung, những điều kiện tự nhiên của Đông Nam á tỏ ra rất thuậnlợi cho những bớc đi đầu tiên của con ngời Những mùa ổn định với khí hậukhông quá gay gắt về cả nhiệt độ và lợng ma, địa bàn sinh tụ nhỏ và phongphú, kết hợp rừng-suối, đồi-ruộng đã tạo nên những không gian lý tởng chocon ngời thời ấy Không phải ngẫu nhiên mà con ngời đã in dấu vết sinh sống
và phát triển của mình trên khu vực này từ những thời gian rất xa xôi
Về c dân - ngôn ngữ
Những di vật, di tích văn hoá đá cũ đã biết ở Đông Nam á chứng tỏrằng rất có thể trên khu vực này đã diễn ra quá trình chuyển biến từ vợn thànhngời vợn Còn sự xuất hiện ngời (Homo), quá trình Spiens hoá cùng với sựxuất hiện sớm nhất đợc biết cho đến ngày nay của HomoSpiens thì các nghiêncứu gần đây đã chứng minh rõ ràng Vì vậy việc xét xem Đông Nam á cóphải là một cái nôi của loài ngời hay không, trớc đây còn là một hy vọng thìnay đang ngày càng có nhiều khả năng trở thành hiện thực hơn nữa dờng nh
từ giai đoạn Spiens hoá hay bầy ngời nguyên thuỷ Đông Nam á đã đi tiênphong trong lịch sử loài ngời Sự xuất hiện ngời hiện đại ở thời đá cũ hậu kỳ điliền với sự hình thành các chủng tộc Vấn đề chủng tộc ở Đông Nam á đã đợcquan tâm và giải đáp từ lâu, nhng đến nay những lời giải đáp vẫn cha hoàntoàn thuyết phục đợc những ý kiến khác nhau
Trong ba đại chủng của loài ngời hình thành ở giai đoạn này, những cdân Đông Nam á mang trong mình những mức độ khác nhau những yếu tốcủa hai đại chủng Mongoloid (da vàng) và Australoid (da đen), trớc đây thờng
đợc gọi là vàng phơng Nam (hay Mongoloid phơng Nam), gần đây có ý kiếnnên gọi là tiểu chủng Đông Nam á; tiểu chủng này lại chia thành các nhómnhỏ nh sau:
- Nhóm Nam á: Gồm đại bộ phận ngời Đông Nam á với đại diện cácnhóm chủ yếu là Tày, Thái, Việt, Lào, Giava, Sunđa, họ là các tộc ngời ở
đồng bằng và ven biển Hình thái tiêu biểu của nhóm loại hình Nam á thờnggặp ở các tộc ngời phía Bắc Đông Nam á Hiện nay có nhiều ý kiến muốnthay từ Nam á bằng Đông Nam á vì Nam á thờng dùng để chỉ vùng ấn Độ
Những nhóm dân c ở phía Nam Đông Nam á do lai tạp với nhiều thànhphần c dân khác nên không điển hình bằng và do đó ngời ta có xu hớng táchriêng họ thành nhóm Nam Đảo (Austronesian)
- Nhóm Nam Đảo: Chủ yếu là ngời Mã Lai, phân bố ở các đảo lớn nhỏnằm trên Thái Bình Dơng đến phía Nam của Đông Nam á Họ có nớc da sẫm
Trang 22hơn, pha trộn giống mạnh hơn và nói một thứ tiếng phân bố rộng rãi từMađagascar, qua bán đảo Mã Lai, Inđônêxia và Hawai.
- Nhóm Inđônêsian: Gồm những tộc ít ngời, sinh sống chủ yếu ở cácmiền rừng núi hay sâu trên hải đảo, nh ngời Khạ ở Lào, ngời Batak ở Sumatra,ngời Dayaka ở Kalimantan (Bornéo cũ) Inđônêsian là c dân cổ ở Đông Nam
á, ngời Việt cổ cũng thuộc nhóm này ở Lào có 60 bộ lạc ngời Khạ ở ThợngLào và Hạ Lào, họ có nớc da sẫm màu và có ánh vàng Hiện nay ngơiInđônêsian phân bố tản mạn ở nhiều miền nội địa thuộc các nớc Đông Nam á(Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin, )
- Nhóm Vedoid: C trú khá phổ biến trong c dân bản địa ở Inđônêxia vàmột số ít hơn ở phía Nam bán đảo Đông Dơng với độ biến dị khá rộng rãi trên
đặc điểm hình thái, nh ngời Toea, ngời Mamak, Orangbatin ở Sumatơra, ngờiXenoi ở Malắcca
- Nhóm Negrito: phân bố nhiều nơi ở Đông Nam á, điển hình nh ngờiTapiro ở sờn Nam các dãy núi trung tâm New Ghine, ở Philippin, ở Malaixia
và phía Nam bán đảo Đông Dơng, ở các cụm đảo Andaman, Nicôbar Hiệnnay dự đoán ở Đông Nam á có khoảng 60 ngàn ngời Negrito
Những c dân thuộc các nhóm tộc của tiểu chủng Đông Nam á lại phânthành những tộc ngời nói những ngôn ngữ khác nhau Vấn đề ngôn ngữ cũng
đang đợc nghiên cứu Hiện nay có thể phân những ngôn ngữ thành 5 dòng là:
- Dòng Nam á (Austro - Asiatic) hay còn gọi là Môn - Khơmer
- Dòng Việt - Mờng (có tác giả còn ghép chúng vào dòng Nam á)
- Dòng Thái, hay ghép là Tày - Thái, hoặc ghép Thái - Kađai
- Dòng Nam đảo (Austronesian) hay Mã Lai - Đa Đảo polynesian)
(Malayo Dòng Tạng (Malayo Miến (Tibeto (Malayo Burman) là một nhánh của Sino (Malayo Tibetan(Hán- Tạng)
Các quốc gia Đông Nam á gồm nhiều dân tộc, tộc ngời Vì vậy, mỗiquốc gia có nhiều tiếng nói khác nhau, nhng mỗi quốc gia đều có một tiếngnói chung thống nhất của mình Tiếng nói đó hoặc gắn với dân tộc chủ thể củaquốc gia nh các nớc Đông Nam á lục địa, hoặc mới hình thành trong thời kỳhiện đại nh các nớc Đông Nam á hải đảo ở mỗi nớc Đông Nam á ngày nay
đều có mặt hầu nh đủ thành phần những nhóm tộc ngời chủ yếu, nói nhữngngôn ngữ khác nhau
Trang 23Đông Nam á không phải là nơi đã sáng tạo ra chữ viết Vì không sángtạo ra chữ viết nên c dân Đông Nam á đã phải vay mợn chữ viết của bênngoài Nói chung, hầu hết các nớc Đông Nam á đều đã vay mợn chữ viết của
ấn Độ, Arập rồi chữ Latinh Các nớc đến nay còn sử dụng chữ cái ấn Độ là:Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia,
- Trong tiếng nói chính thức của Mianma là tiếng Miến, đợc 2/3 c dântrong nớc thể hiện Về cơ bản đó là ngôn ngữ đơn âm tiết, nhng nó lại vay m-
ợn nhiều từ đa âm tiết của tiếng Pali và tiếng Anh Chữ Miến ra đời vào thế kỷ
XI, chịu ảnh hởng của chữ viết ấn Độ, có hình thù tròn trĩnh
- Tiếng nói chính thức của Campuchia là tiếng Khơmer Nó hìnhthành từ thế kỷ VII Tiếng Khơmer không có thanh điệu Do Campuchiasớm chịu nhiều ảnh hởng của văn hoá ấn Độ nên tiếng Sankrit để lại dấu ấnkhá rõ
Từ thế kỷ XIX, Campuchia theo phật giáo Tiểu thừa (Theravada) nênchịu ảnh hởng của tiếng Pali rất nhiều Mặt khác, nó chịu ảnh hởng của tiếngThái và tiếng Việt do quan hệ gần gũi Chữ viết Khơmer có nguồn gốc ấn Độxuất hiện từ thế kỷ VII Chính chữ viết Khơmer đã đợc truyền sang Thái Lan
- Tiếng Lào, là tiếng nói chính thức của nớc Lào Ngời Lào thuộc chủngcủa ngời Thái Tiếng Lào gần với tiêng Thái, tiếng Lào còn chịu nhiều ảnh h-ởng của tiếng ấn Độ về văn hoá và tôn giáo Chữ viết Lào bắt nguồn từ chữKhơmer và sau này chịu ảnh hởng của chữ Môn, đã tạo thành chữ Thâm dùng
để viết kinh phật Chữ Lào đợc định hình từ thế kỷ XIV sau khi thống nhấtquốc gia
Tiếng nói chính thức của Thái Lan là tiếng Thái, ở trong ngữ hệ Thái Kađai ở Thái Lan tiếng Thái có khoảng 20 triệu ngời nói, chủ yếu là ở lu vựcsông Mê Nam, tức là ở Trung Thái Lan và ở Băngcốc từ thế kỷ XIV Chữ viếtThái Lan do ngời Khơmer truyền đến bắt nguồn từ ấn Độ
Tiếng Việt là tiếng nói chính thức của ngời Việt Nam Tiếng Việt làtiếng nói của dân tộc chủ thể ở Việt Nam Có 6 thanh điệu và thuộc loại hìnhngôn ngữ đơn lập Tiếng Việt ban đầu thuộc tính tiền Việt - Mờng cách đâykhoảng 2700 năm và khoảng thế kỷ X mới tách ra thành tiếng Việt riêng rồiphát triển thành tiếng Việt hiện đại ngày nay Chữ viết của Việt Nam xa mợnchữ viết của Trung Quốc từ thế kỷ X ngời Việt dựa trên chữ Trung Quốc sángchế ra chữ Nôm để ghi tiếng nói của mình Cuối thế kỷ XIX thì sử dụng chữcái Latinh ghi âm làm chữ viết chính thức
Trang 24- Tiếng Malai là tiếng nói chính thức ở Malaixia, Singgapo, Inđônêxia,Brunây với một ít màu sắc thuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo.
ở Malaixia có ba cộng đồng c dân chính là Mã Lai, Trung Quốc, ấn
Độ Vì ngời Mã Lai là dân tộc chủ thể lại có nguồn gốc bản địa nên tiếng MãLai đợc xem là tiếng chính thức quốc gia Theo định nghĩa của Malaixia, ngờiMã Lai là ngời theo Ixlam (Hồi giáo) và nói tiếng Mã Lai
Singgapo cũng xem tiếng Mã Lai là tiếng nói chính thức của quốc gianhng trên thực tế tiếng Anh và tiếng Trung Quốc đợc sử dụng rộng rãi trongxã hội
Inđônêxia gồm nhiều cộng đồng c dân có tiếng nói riêng nhng đềuthuộc về tiếng Mã Lai và thuộc ngữ hệ Malayo- Polynesian (Mã Lai- Đa Đảo).Chúng có lịch sử lâu đời và nền văn hoá riêng nh: Giava, Sunda, Batak,Minangkabau, Maduna, Bali đến đầu thế kỷ XX, Inđônêxia đã lấy tiếng MãLai làm ngôn ngữ chung
Về chữ viết xa kia các nớc này chịu ảnh hởng của văn hoá ấn Độ nên
đã vay mợn chữ ấn Độ, từ thế kỷ XIII - XV Hồi Giáo xâm nhập vào nên đãchuyển sang dùng chữ cái Arập, sang thế kỷ XX trớc ảnh hởng của văn hoáPhơng Tây họ đã sử dụng chữ cái La tinh
1.2.1.2 Quá trình lan toả của văn hoá ấn Độ đến khu vực Đông Nam
là xứ vàng (Suvannabecmi) hay đảo vàng (savannadvipa)” ở [16,16]
Nddesa, một th tịch Phật giáo bằng tiếng Pali đã kể tên các địa danh
ng-ời ấn Độ thờng qua lại: “Takkola (chợ Đậu khấu) ở Bắc Mã Lai, Kapuradvipa(đảo Long não), Nakikeladvipa (đảo Dừa) và đảo Vàng” ở [21,105] Nh vậy, cókhả năng ngoài tìm kiếm vàng, ngời ấn Độ còn đến đây để buôn bán các sảnvật quí, hơng liệu qúi, đá quí với Đông Nam á để trao đổi với các xứ sởkhác Sự lan tỏa và thâm nhập của văn hoá ấn Độ sang các nớc xung quanh đ-
ợc thúc đẩy thêm một bớc đó là sau đại hội Phật giáo (năm 242 trớc côngnguyên) ở kinh đô Patali pura Sau đại hội này, hoàng đế Asoka đã cho nhiềunhà tu hành đến truyền bá đạo Phật ở xứ sở Đông Nam á
Qua đây ta có thể khẳng định rằng văn hoá ấn Độ ảnh hởng vào ĐôngNam á từ những thế kỷ trớc Công nguyên Bởi ngời ta đã tìm thấy những bằng
Trang 25chứng về điêu khắc, kiến trúc kiểu Phật giáo Amara vati ở óc Eo (Nam Bộ Việt Nam), tợng Phật ở Đồng Dơng (Quảng Nam)
-Từ thế kỷ I, II trở đi ảnh hởng đó mạnh mẽ hơn do từng đợt sóng di c
từ ấn Độ tràn sang phía Đông và Đông Nam, đến Xây Lan, Xiêm,Cambodia, Chămpa một số khác đi ra biển quá trình này diễn ra trongmột thời gian dài
Ngời ấn Độ di c trực tiếp hoặc qua khâu định c trung gian đều do nhànớc tổ chức Tên các khu mà ngời ấn định c thờng là địa danh của ấn Độ cũ:
“tên nớc Cămpuchia (Cambodia) xa gọi là Kambja - Một thành phố nổi tiếngcủa ấn Độ cổ xa ở vùng Tây bắc” ở, còn tên gọi Chămpa (đó là tên của một loàihoa ngọc lan) và đây là tên gọi của một vùng đất địa danh ở vùng Đông Bắc
ấn Độ
Nguyên nhân thúc đẩy sự lan rộng mạnh mẽ của văn minh ấn Độ đến
Đông Nam á, trớc đó chính là mục đích đi tìm vàng của ngời ấn Độ Quátrình tìm vàng của ngời ấn Độ đợc thúc đẩy bởi các mục đích sau đây
ở bán đảo Hindustan, chỉ có vùng Đông Bắc là vùng tơng đối trù phú.Còn nam ấn và cao nguyên Đề Can với khí hậu khô cằn, không đủ đáp ứngnhu cầu cho ngời ấn lúc bấy giờ Hơn thế nữa, ấn Độ luôn bị bọn ngoại tộcxâm lợc, nên một số c dân ngời ấn muốn tìm đến vùng đất mới để làm ăn sinhsống Trong bối cảnh ấy kỹ thuật hàng hải của ngời ấn đã tơng đối phát triểncho phép họ có thể chế tạo ra những con thuyền để đáp ứng mục đích của họ.Thậm chí có ngời còn cho rằng một số vơng triều ở ấn Độ đã bắt c dân ấn vợt
ra ngoài biên giới để tìm vàng phục vụ cho cuộc sống xa hoa của mình
Một nguyên nhân nữa khiến văn hoá ấn Độ ảnh hởng đến Đông Nam á
là do sự phát triển của văn hoá ấn Độ, sự phát triển của các tôn giáo nhất làPhật giáo T tởng ấn Độ nói chung của các tôn giáo ấn Độ và nhất là của phậtgiáo nói riêng, đợc truyền bá thuận lợi do bản thân giáo lý của nó Trớc kia,ngời ấn theo Bàlamôm giáo rất sợ bị uế tạp vì phải tiếp xúc với các “chủng tộcdã man” ở
Giáo lý Bàlamôn cấm bất kỳ một tín đồ ấn Độ nào vợt biển để tiếp xúcvới ngời nớc ngoài mà họ coi là “không trong sạch” ở Nếu ai vi phạm sẽ bị khaitrừ khỏi đẳng cấp Quy định ngặt nghèo đó đã cản trở đến sự xuất dơng của
họ Khi các tôn giáo khác ra đời ở ấn Độ, đặc biệt là Phật giáo với t tởng cởi
mở của mình đã gạt bỏ những trở ngại về tâm lý đó Nhờ tinh thần truyền giáorộng rãi đó, không phân biệt đẳng cấp và không thành kiến về chủng tộc màtất cả mọi ngời đều có quyền theo và gia nhập vào hội Phật giáo Phật giáo đã
mở đờng cho ngời ấn Độ đến các nớc xung quanh mà trong đó Đông Nam á
Trang 26là khu vực đợc họ quan tâm Các tôn giáo khác đến vùng đất mới phát triển rấtthuận lợi, dần dần cản trở tâm lý đối với việc “xuất dơng” ở mất đi trong sốnhững ngời ấn Độ đến Đông Nam á giai đoạn đầu còn thấy cả tu sỹ Bàlamôn.
Nh vậy, nguyên nhân chính của việc truyền bá văn hoá ấn Độ ra bênngoài là do hoạt động của các thơng nhân, thuỷ thủ và sự truyền bá tôn giáo ởmiền ngoại ấn Sự tăng trởng giao lu kinh tế đã kéo theo việc đấy mạnh giao l-
u văn hoá giữa ấn Độ với các nớc xung quanh
Sự du nhập của văn hoá ấn Độ ra các nớc xung quanh nói chung chủyếu bằng con đờng hoà bình điều này khác với ảnh hởng của văn hoá TrungQuốc Văn hoá ấn Độ ảnh hởng vào các nớc này qua sự giao lu, tiếp xúc lẫnnhau trên cơ sở tự nguyện C dân các nớc này có nhu cầu tiếp nhận nó
Cũng có một só ý kiến lại cho rằng, ảnh hởng ấy chỉ mang tính chất vôtình, có nghĩa là ngời ấn Độ không có mục đích và bản thân c dân Đông Nam
á cũng không có mục đích
Nhiều nớc Đông Nam á đợc các học giả Phơng Tây gọi là các quốc gia
“ấn Độ hóa” ở Cách nói nh vậy không thật thoả đáng vì họ vẫn giữ đợc bản sắcvăn hoá đậm nét của mình khi tiếp nhận nền văn minh ấn Độ Chúng ta nênhiểu thuật ngữ “ấn Độ hóa” ở đối với ý nghĩa chỉ các quốc gia chịu ảnh hởngsâu sắc văn hoá ấn Độ
Sự truyền bá rộng rãi của văn minh ấn Độ sang khu vực xung quanh,góp phần đẩy mạnh quá trình tan rã của chế độ công xã nông thôn, quá trìnhhình thành xã hội có giai cấp và nhà nớc đầu tiên ở đây đồng thời ảnh hởngcủa nó còn tiếp tục cho đến ngày nay
Trang 271.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của một số quốc gia *ấn Độ hóa ở Đông Nam ” ở á
1.2.2.1 Quá trình hình thành
Vào những thế kỷ tiếp giáp của Công nguyên, trên cơ sở phát triển của
đồ đồng, đồ sắt bắt đầu đợc sử dụng phổ biến ở Đông Nam á Các tộc ĐôngNam á nói chung (trừ c dân đồng bằng sông Hồng đã phát triển sớm hơn) bắt
đầu đứng trớc ngỡng cửa của sự hình thành xã hội có giai cấp và Nhà nớc Nếu
nh đồ đồng cha thể đem lại hiệu quả đáng kể với quy mô rộng, trên địa bàn đadạng của Đông Nam á thì đồ sắt đã có thể làm đợc điều đó và không phảingẫu nhiên mà với đồ sắt, Đông Nam á đã lấy lại đợc nhịp độ phát triển củamình trong hơn một thập kỷ đầu của Công nguyên, mặc dù vẫn có không ítkhó khăn
Từ khoảng đầu công nguyên đến thế kỷ VII là giai đoạn lịch sử sơ kỳcủa các nớc ở khu vực Đông Nam á Trong giai đoạn này một thời gian khádài sau Nhà Nớc Văn Lang- Âu Lạc, sự phát triến của đồ đồng và bớc đầu của
đồ sắt mới tạo điều kiện cho sự ra đời của hàng loạt quốc gia của những c dânnói tiếng Nam Đảo hình thành rải rác ở vùng ven biển từ phía nam Hải Vân(Việt Nam) đến bán đảo Malaixia ở trên một số hải đảo Còn các tiểu quốccủa những c dân nói tiếng Môn - Khơmer hình thành trên lu vực sông Iraoadi,
Mê Nam, Sê Mun, Mê Kông, trong các nớc này lại nổi bật lên nớc Phù Namvới vai trò của c dân nói tiếng Nam Đảo kết hợp với c dân bản địa- ngời Mông
Cổ Nét nổi bật trớc tiên của các quốc gia sơ kỳ Đông Nam á là sự sáng tạocủa các nhóm tộc ngời trong việc xây dựng nhà nớc của mình, dựa trên sự pháttriển của đồ sắt và nền văn hoá bản địa
Sự hình thành các quốc gia này còn gắn liền với việc tiếp thu ảnh hởngcủa văn hoá ấn Độ và Trung Quốc là những trung tâm văn hoá lớn liền bêncạnh Sau nữa, giữa các tiểu quốc với nhau vẫn thờng xuyên có mối liên hệ,trao đổi văn hoá và sản phẩm, đồng thời vẫn phát huy bản sắc văn hoá riêngcủa mỗi tiểu quốc, mỗi tộc ngời
Trên bán đảo Mã Lai, các vơng quốc cổ đã xuất hiện từ khoảng thế kỷII-III Đó là các nớc Kêda hay còn gọi là Kateha ở vùng Keđăc, nớcTabralinga và nớc Tumasic ở địa điểm Singgapo ngày nay Cuối cùng trên đảoGiava, từ thế kỷ IV, đã xuất hiện vơng quốc Taruma ở phía Tây Tại đây ngời
ta đã tìm đợc những trụ đá và một số tợng phật có niên đại rất sớm thuộc
Trang 28phong cách tợng Amaravati của ấn Độ Đặc biệt ngời ta còn tìm đợc một sốbản chữ Phạn cho biết tên của ông vua đầu tiên của Turama là Punavar man,trị vì vào khoảng năm 450 Taruman đã có quan hệ buôn bán với nhiều nớctrong đó có ấn Độ và Trung Quốc Tân Đờng Th cho biết vơng quốc Taruman
đã tồn tại và quan hệ với Trung Quốc cho mãi tới thế kỷ VII Cùng thời giannày, ở đảo Xumatơra cũng tồn tại một quốc gia khác mà Lơng Th gọi làCantôli Còn vùng Giămbi thuộc hạ lu sông Hari ngày nay lại hình thành mộtvơng quốc khác có tên là Malayu Nhng ngày nay ngời ta không biết gì hơn vềquốc gia này
Trong số hàng chục tiểu quốc đã xuất hiện ở Đông Nam á trongkhoảng từ thế kỷ I-VII, nổi bật lên nớc Phù Nam với vai trò tiếp thu và truyềnbá văn hoá ấn Độ Về vị trí của Phù Nam, Lơng Th (sử nhà Lơng) chép nhsau: “Nớc Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong một vịnh lớn, ở phíaTây biển Nớc cách Nhật Nam chừng 7000 lý và cách Lâm ấp (tức Chămpa)hơn 3000 lý về phía Tây Nam Đô Thành, cách biển 500 lý Một con sông lớn
từ Tây Bắc chảy về phía Đông và đổ ra biển Nớc rộng hơn 300 lý, đất thấp vàbằng phẳng, khí hậu, phong tục đại đế giống Lâm ấp” ở Những thông báo mơ
hồ của th tịch cổ đã làm cho nhiều ngời đoán định rất khác nhau về phạm vilãnh thổ của Phù Nam Theo giáo s Lơng Ninh: “Lãnh thổ thuộc quyền caiquản của vơng quốc Phù Nam, phía Nam giáp vịnh Thái Lan, Phía Bắc có lẽgiới hạn bởi sông Mun (chảy qua Ubon, Thái Lan), phía Đông giáp biển vàphía Tây có lẽ bao gồm hạ lu sông Mê Nam và một phần bắc bán đảo MaLai” ở Khi nghiên cứu về Phù Nam, nhiều học giả cho rằng chủ nhân của vơngquốc này là dân gốc Đông Nam á nói tiếng Nam Đảo Họ đã xây dựng vơngquốc của mình tồn tại hơn 5 thế kỷ và có lúc chinh phục đợc hầu hết các tiểuquốc ở phía Nam bán đảo Trung ấn
Nhng nớc Phù Nam không phải là một quốc gia thống nhất chặt chẽvới đúng nghĩa của nó Trong đó có thể bao gồm nhiều tiểu quốc phụ thuộcvới nhiều mức độ khác nhau Nhờ những điều kiện thuận lợi và nhờ tiếp xúcvới văn minh ấn Độ qua vai trò xúc tác của Phù Nam Các vơng quốc nàydần dần mạnh lên Phù Nam khủng hoảng vào thế kỷ VI, lãnh thổ rộng lớncủa nó “mọc” ở lên hàng loạt vơng quốc độc lập khác Quá trình này từ khoảngthế kỷ VII-X Đó là giai đoạn các nớc nhỏ hình thành theo địa vực tự nhiênhợp nhất lại, lấy một tộc đa số và phát triển nhất làm nòng cốt, hình thành
Trang 29nên các quốc gia “dân tộc” ở, làm đà cho sự phát triển cờng thịnh cho giai
đoạn sau
Trong khi Phù Nam khủng hoảng thì Chân Lạp ở khu cực Sêmun đãmạnh lên, đem quân đánh bại Phù Nam (khoảng 580- 640) và chinh phục lạivơng quốc Bia Baksei Chamkrông (Campuchia) dựng năm 948 xác nhận:
“Đức vua Srutavarman hãnh diện vì đã khởi đầu việc xoá bỏ cống nạp” ở Vơngquốc mới này đợc th tịch cổ Trung Hoa gọi là ChenLa - tức Chân Lạp TheoTuỳ Th, Chân Lạp “Nằm ở phía Tây Lâm ấp vốn là thuộc quốc của PhùNam vua có họ là Kshatrya, tên là Chitrasena Các vua tiền bối đã làm chonớc lớn mạnh Chitrasena đã chiếm và bắt Phù Nam thần phục” ở
ở đảo Xumatơra đến cuối thế kỷ VIII đã thành lập vơng quốc Xrivijaya,bao gồm các vùng đông đảo Xumatơra và Bangka Đến thế kỷ VIII, Xrivijaya
đã bành trớng hết phần tây Xumatơra, sang cả Mã Lai, đến tận Ligô (Bắc MãLai, nơi tìm thấy bia đánh chiếm vơng quốc Turuma ở Tây GiaVa)
Trên đảo Gia Va hình thành quốc gia Kalinga ở vùng đồng bằng Kêđu
mà trung tâm của nó có lẽ ở khoảng Giôgiacacta ngày nay Thế kỷ VIIIKalinga chinh phục đảo Pali và cả Campuchia
ở những vùng khác một số quốc gia tiếp tục phát triển và ngày càngmạnh lên nh Đại Việt, Changa Đây là thời kỳ tích luỹ của các quốc gia dântộc Mặc dù mới là bớc đầu, một số quốc gia này đã tạo nên những kỳ tích vănhoá nh tổng thể kiến trúc Bôrôbuđua ở Gia Va
1.2.2.2 Thời kỳ phát triển của các quốc gia Đông Nam á thế kỷ X - XV
Đây là thời kỳ xác lập và phát triển thịnh đạt của các vơng quốc “dântộc” ở lấy một bộ tộc đông và phát triển làm nòng cốt
Giai đoạn này đã trải qua khoảng thời gian có tính chất chuyển tiếp từthế kỷ VII - X Trong đó có sự hình thành mới của một số quốc gia sơ kỳ, sựtan vỡ của vơng quốc Phù Nam (nh: Xrivijaya, Kalinga, Campuchia, các quốcgia Môn và Miến Điện) và trong đó mặc dù mới là bớc đầu, một số quốc gianày đã tạo nên những kỳ tích văn hoá nh tổng thể kiến trúc Bôrôbuđua ở GiaVa
Trong giai đoạn này, nếu nh ấn Độ thờng xuyên có những biến độngbên trong và sự lan toả văn hóa bên ngoài đã giảm hẳn xuống, nếu nh TrungQuốc phải trải qua những cơn khủng hoảng và suy thoái từ cuối thời nhà Tống
đến nhà Nguyên, còn Châu âu bị chìm đắm trong chế độ phong kiến phân tán
và lạc hậu, thế giới bị xáo động dới “dấu hiệu của ngời Mông Cổ” ở trong phần
Trang 30lớn thế kỷ XIII, thì Đông Nam á nói chung đã đứng vững và vơn tới đỉnh caophát triển của mình và có lẽ của cả loài ngời Phần lớn những công trình vănhoá và nghệ thuật, những nhà văn hóa- t tởng, những chiến lợc gia kiệt xuấtnhất của loài ngời trong những thế kỷ này đã có mặt trên quê hơng của mình
là Đông Nam á
Đây cũng là giai đoạn hình thành văn hoá dân tộc của mỗi dân tộctrong khu vực Sau một quá trình tiếp thu và chọn lọc, trên cơ sở đó đã đónggóp vào kho tàng văn hoá của loài ngời những giá trị tinh thần độc đáo và
đáng kể
Một số tác giả cũng đã nói tới sự lan toả của văn hoá một số dân tộc
Đông Nam á ra bên ngoài Điều này có thể tuy không phải là dễ thấy đợcnhững yếu tố văn hóa của một công đồng ngời nhỏ hơn đã in dấu vết nh thếnào vào những cộng đồng ngời lớn hơn ở ngoài Đông Nam á Vì thế vấn đềnày còn đợc nghiên cứu Đây còn là giai đoạn phát triển thịnh vợng của nềnkinh tế khu vực, hình thành những vùng kinh tế quan trọng, có khả năng cungcấp một khối lợng lớn thóc lúa, cá, sản phẩm thủ công (vải, hàng sơn, đồ sứ,thuốc nhuộm ) và nhất là những sản vật thiên nhiên (các loại gỗ quý, hơngliệu, gia vị, đá quý, ngọc trai, sừng tê giác ) Đã có một thời lái buôn nhiều n-
ớc trên thế giới đổ xô đến đây để buôn bán, mang sản vật Đông Nam á về nớc
họ hay đến những nơi khác xa xôi hơn
Trong giai đoạn nay, trên con đờng xác lập vơng quốc “dân tộc” ở ngời,
đều cố gắng khẳng định chổ đứng của mình, nên đã không thể tránh khỏinhững cuộc xung đột, va chạm (đôi khi quyết liệt) Một số nhà sử học trớc đây
có thể đã nói hơi quá khi gọi một số nớc này hay nớc khác là đế quốc, kể cảnhững vơng quốc xác lập đều là những quốc gia có nòng cốt là những bộ tộc t-
ơng đối đông đúc, một nền kinh tế vững chắc và một nền văn hoá dân tộc đãhình thành
ở đây, có điều đáng chú ý là ngời Môn đã không thể đứng vững để lậpvơng quốc riêng trong “cơn bão táp thiên di và đồng hoá” ở của ngời Thái vàngời Miến từ Phơng Bắc xuống Những ngời nói tiêng Mã Lai- Đa Đảo trongthời trung đại là những ngời rất linh hoạt, dễ làm ăn sinh sống, dễ chuyển hoá
Có lẽ vì thế mà không ở đâu trong khu vực Đông Nam á họ có thể lập nênnhững quốc gia riêng, bền vững Họ đã lập vơng quốc cổ Chămpa trong hơn
10 thế kỷ, nhng trong cuối giai đoạn này đã chuyển hoá thành một bộ phậncủa nớc Việt Nam Họ sống tập trung ở bán đảo Malaixia, nhng chính ở đây
Trang 31lại gần nh cha lúc nào lập đợc một vơng quốc thống nhất riêng Chỉ đến cuốigiai đoạn này, gần gói gọn trong thế kỷ XV, họ mới lập nên cái mà sử học thờitrớc gọi là “đế quốc Malắcca” ở nhng thực ra cũng chỉ trong phạm vi không lớn,bao gồm bán đảo Malaya và một phần nhỏ Xumatơra dới sự xúc tác củanhững nhân tố hoàn toàn mới là văn minh Hồi giáo và quý tộc mang trongmình cả tham vọng cùng dòng máu thơng nhân Trung Hoa và một vài nớckhác
Những ngời nói tiếng Mã Lai - Đa Đảo đã làm nòng cốt xây dựng mộtquốc gia sơ kỳ trên các đảo Inđônêxia, nhng rồi cũng nhanh chóng pha trộnnhững yếu tố khác lập thành những nớc riêng biệt
Từ đầu cho đến giai đoạn này, Đông Nam á không đứng ngoài con ờng phát triển chung của thế giới - con đờng hình thành và phát triển chế độphong kiến Phơng Đông, song sự phát triển của Đông Nam á vẫn mangnhững nét riêng độc đáo: Từ những điều kiện tự nhiên và kinh tế của mình
đ-Đông Nam á tồn tại nh một khu vực riêng Trong đó diễn ra quá trình hìnhthành các vơng quốc phong kiến, cố gắng đứng ngoài sự cô lập buồn tẻ củaChâu âu Những xáo trộn trong đế quốc Trung Hoa, sự xâm lợc của Mông Cổ
và nhà Nguyên, cũng nh cả những biến động trong đời sống chính trị của ấn
Độ Cũng chính vì thế mà nó vơn tới đỉnh cao của nó và của cả nhân loại trongmột giai đoạn đáng quý, nhng cũng là một giai đoạn hiếm hoi cho đến nay,
mà thiên nhiên, trình độ kỷ thuật và tình hình xã hội đã quy tụ cho nó
Nhiều nhà nghiên cứu đã coi thế kỷ X là thế kỷ bản lề trong quá trìnhphát triển lịch sử của các nớc Đông Nam á Thế kỷ X ở Việt Nam đợc mở ravới họ Khúc, đợc định hình chắc chắn với Ngô Quyền và đợc hoàn thành với
Lê Hoàn Đó là sự kết thúc của một thời kỳ - thời Bắc thuộc và mở đầu chothời kỳ mới - thời đại độc lập dân tộc, phục hng dân tộc, phục hng văn hoáViệt Thế kỷ X làm nhiệm vụ lịch sử kết thúc chặng đờng dài gian khổ nghìnnăm chống Bắc thuộc về chính trị - quân sự và tái cấu trúc nền văn minh ĐạiViệt với những “mảnh vụn” ở của nền văn minh Việt Cổ và những nhân tố ngoạisinh, ảnh hởng của Trung Hoa, ấn Độ nó mở đầu cho các triều đại Lý, Trần,Lê oanh liệt một thời, không chỉ sánh ngang hàng với Tống, Nguyên, Minh
ở Trung Quốc mà cả những quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới lúc bấy giờ
ở bán đảo Trung ấn, ngoài quốc gia Đại Việt, vơng quốc Chămpa bớcvào giai đoạn phát triển thịnh đạt dới vơng triều Inđrapura (Đông Dơng - giữathế kỷ IX đến cuối thế kỷ X) Sự phát triển thịnh đạt của vơng triều này biểu
Trang 32hiện trớc hết ở sự “giàu có” ở của nền kinh tế và sự tăng cờng quyền lực của
v-ơng quyền Từ lâu lãnh thổ của vv-ơng quốc Chămpa xa - Miền Trung và NamTrung Bộ Việt Nam đã nổi tiếng giàu có: “Nớc đó có núi vàng, đá đều màu
đỏ, trong đó sinh ra vàng Vàng ban đêm bay ra giống nh đom đóm” ở
Một tấm bia - bia Pô Naya cũng miêu tả vua Vikarautavarman (khoảng
820 đến 854) đeo những dây vàng có đính ngọc trai và ngọc bích giống nhmặt trời trăng tròn đầy đặn, che một chiếc lọng trắng bao phủ cả bốn phơngtrời Việc tăng cờng quyền lực của nhà vua và chính quyền trung ơng tậpquyền có lẽ đợc dựa trên một lực lợng quân sự khá vững mạnh Chính vì thế,ngay trong giai đoạn này, cựu Đờng th cũng đã ghi nhận có ba lần Chămpa tấncông phủ đô hộ An Nam vào các năm 861,865 và sau đó khoảng năm 889,
890 khi vua Chân Lạp là Yasôvarman đem quân đánh Chămpa không những
đẩy lùi mà còn truy kích gây thiệt hại nặng nề cho quân Chămpa rồi mới rútvề
Nhà nớc Chămpa từ thế kỷ IX cũng bắt đầu bớc vào thời kỳ Ăngko(802-1434) huy hoàng và trở thành một trong những vơng quốc mạnh và hamchiến trận nhất trong khu vực Dới thời Jayavarman VII (1181-1201) quânCămpuchia đã tiến đánh Chămpa (1190) và biến vơng quốc thành một tỉnh của
Ăngko Sau đó lại tiến hành thu phục vùng Trung và Hạ lu sông Mê Nam, tiếntới phía Bắc cao nguyên Cò Rạt, đến tận Say Phong (gần Viên Chăn) ở Th-
ơng Mê Nam Jayavarman VII đã tiến hành đánh và thu phục địa bàn của vơngquốc Môn - Hazipunjaya, tiến tới sát biên giới Mianma về phía Nam; lãnh thổcủa Campuchia đã đợc mở rộng tới miền Bắc bán đảo Mã Lai Thực hiệnchính sách mở rộng quyền lực ra bên ngoài, Jayavarman VII đã đạt đợc mứcrộng lớn hơn tất cả các triều đại trớc
Trên lu vực sông Iraoađi từ thế kỷ IX, ngời Miến đã tụ c khá đông ở ngã
ba sông, nơi sông Chilwin đổ ra Iraoađi và lập nên vơng Pagan Năm 1053,vua Anôratha của Pagan đem quân chinh phục Pêgu và Thatơn làm chủ hoàntoàn Miền Nam Sau đó ông lại tiến lên phía Bắc, chinh phục các tiểu quốckhác của ngời Miến Điện và ngời Shan, lãnh thổ đã căn bản bao gồm lu vực basông Vơng quốc Pagan bớc vào giai đoạn cờng thịnh cho đến năm 1283 khiquân xâm lợc nhà Nguyên kéo đến tàn phá
Thế kỷ XIII là thời kỳ vơng quốc Pagan phát triển cả về lãnh thổ và vềkinh tế - xã hôị Trong thời gian này bộ luật đầu tiên ở Miến Điện đã đợc soạnthảo Bộ máy hành chính và nền tảng t tởng của nó đã dợc hình thành và củng
Trang 33cố Hệ thống cân đo đợc ban hành Nền kinh tế nông nghiệp ở Pagan đã kháphát triển Các văn bia nói nhiều về hệ thống thuỷ lợi nh xây dựng các hồ chứanớc và đập nớc Đặc biệt là công trình hồ chứa Mraka trên núi Tivin mà di tíchcủa nó tồn tại cho đến ngày nay với cả th viện bằng đá trên bờ hồ.
Cũng trong thời kỳ Pagan, một nền văn hoá dân tộc đã đợc hình thành,Những ngôi chùa tháp đầu tiên đợc trang trí những bức hoạ nổi (phù điêu) đã
đợc xây dựng Hiện nay ngời ta còn thấy 5000 ngôi chùa lớn nhỏ nằm rải rácdọc theo hai bờ sông Iraoađi
Vào thế kỷ XII, Pagan trở thành một trung tâm phật giáo nổi tiếng Cácvăn bia ở Prômô cho biết vua Tuyluynman rất hào phóng trong việc ban tặngcác tu sỹ Ông còn cho biên dịch kinh Tam Tạng và gửi tiền thợ giỏi và nguyênvật liệu sang ấn Độ để góp phần khôi phục trung tâm phật giáo Bốtgaia
ở khu vực Đông Nam á hải đảo, từ năm 907, Kalinga đợc gọi theo tênmới là Mataran Dới triều vua Erơlanga, Mantaran phát triển cực thịnh, thốngnhất cả hai đảo Xumatơra và Giava Sau khi đánh thắng quân Nguyên, vuaVijaya (1293-1309) chuyển kinh đô về Môgiôpahit, lập nên vơng triềuMôgiômahit ở Inđônêxia với lãnh thổ rộng lớn bao gồm các đảo Giava,Xumatơra, phần lớn Kalinmantan, đảo Sulêvêri, bán đảo Mã Lai, quần đảoMôlucu “có sản phẩm quý, đứng hàng thứ hai sau Arập” ở
Êrơlanga đợc coi là ngời đặt cơ sở đầu tiên cho sự thống nhấtInđônêxia, là ngời tiêu biểu cho sự khôi phục và sự phồn thịnh của quốc gianày Sau khi tiến hành hàng loạt các cuộc chinh phạt và củng cố chính quyền,
ông đã lo xây dựng nền kinh tế của đất nớc Trớc hết, nhà vua rất chú trọng tớinông nghiệp Một nguồn tài liệu cho biết khi nhà vua lập viện Pusangan nhândịp mừng chiến thắng vào năm 1041 và ban tặng khen nhiều “làng” ở Điều đóchứng tỏ rằng việc thu thuế của các nông dân công xã là nguồn cung cấpquan trọng cho nhu cầu tu viện và cả các cơ quan nhà nớc
Ngoại thơng cũng có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của
v-ơng quốc Các văn bia thời đó cho biết, những nơi có quan hệ thv-ơng mại vớiInđônêxia nh ấn Độ, Chămpa, Mã Lai, Miến Điện và ngời Khơmer trở thànhmột hải cảng quan trọng Các lái buôn Arập, ấn Độ đã tấp nập mang đến vải,sắt để đổi lấy đinh hơng, đậu khấu, hồ tiêu, ngời Giava cũng là những láibuôn nổi tiếng sành sỏi, đã từng vợt biển đi buôn bán ở nhiều nơi Theo mộtnguồn tài liệu thời Tống (Lĩnh ngoại đại đáp), thì bấy giờ hàng quý của Giavachiếm hàng thứ hai sau Arập, còn Palembang đứng thứ ba Trong Việt sử