1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước

212 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 17,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó bộ máy Nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1992 được tổ chức theo tinh thần: "Quyền lực nhà nước ỉà thống nhất, cố sự phân công và phôi hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong v

Trang 1

LUẬN ÁN

Trang 2

LUẬN ÁN TIẾN S i LUẬT HỌC• • •

Ngĩtờỉ bướng dẩn khoa học : PGS.TS Nguyễn Đăng Dung

PGS TS Thái Vĩnh Thắng

HÀ NỘI - 2003

Trang 3

nghiên CÚĨI của riêng tôi Các sô liệu nêu ĩrong luận án ỉ à trung í hực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ một công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUÂN ÁN

Nguyễn Thị Hồi

Trang 4

Chươìlg 2 Sự THỂ HIỆN VÀ ÁP DỤNG TƯ TƯỎNG PHÂN QUYỂN 77

TRONG TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC Ỏ MỘT s ố NƯỚC

T ư SẢN

2.2 Sự phân quyền mềm dẻo ở những nước có chính thể Đại nghi - 862.3 Sự phân quyển cứng rắn trong chính thể Cộng hoà Tổng thống ì092.4 Phân quyền trong chính thể Cộng hoà Hỗn bợp 134

Chươtig 3 S ự THỂ HIỆN TƯ TƯỞNG PHÂN QUYỂN t r o n g T ổ 150

CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP

NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 201

Trang 5

J>, Av

MỞ ĐẨU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu dề tài

Có thể nói trong lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại, các tư tưởng

về nhà nước luôn luôn giữ vị trí quan trọng nhất Trong sỗ các tư tưởng ấy thì những tư tưởng về quyền lực nhà nước, về việc tổ chức và thực hiện quyền lực

ấy lại giữ vị trí cơ bản và trọng yếu, chúng bao giờ cũng để lại dấu ấn của mình trong các thể chế chính trị nhất định Vì vậy, nghiên cứu lịch sử các tư tưởng chính trị sẽ mang lại một ánh sáng cần thiết cho việc nghiên cứu nền chính trị và các thể chế chính trị đương đại

Ngược dòng thời gian, ta thấy, tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước vốn có mầm mống từ xa xưa trong lịch sử, từ thời cổ đại, khi kiểu nhà nước và pháp luật đầu tiên tồn tại ở Hy Lạp, La Mã Chúng ta có thể tìm thấy những nét đại cương của nó trong tổ chức và ho; it động của bô máy nhà nước Hy Lạp,

La Mã thời kỳ cổ đại, trong các quan điểm chính trị của Aristote, Polybe Song

tư tưởng này đã gần như bị lãng quên hoặc không hề được nhắc đến trong thời

kỳ hưng thịnh của chế độ phong kiến, khi mà chính thể quân chủ chuyên chế chiếm ưu thế ở hầu hết các nước Chỉ đến khi quan hộ sản xuất phong kiến tan

rã, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bát đầu hình thành và phát triển thì tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước mới được phục hưng và trở thành chỗ dựa vững chắc về mặt tư tưởng cho các phong trào đấu tranh nhằm tiêu diệt chính thể chuyên chê và chê độ phong kiến, vì tự do, dân chủ của nhân dân

Tư tưởng này đã được các nhà ĩư tưởng tư sản thế kỷ XVII-XVIII mà điển hình là John Locke và Montesquieu kế thừa, phát triển và hoàn thiện nó, coi đó là cơ sở để bảo đảm quyền lực của nhân dân và chống chê độ độc tài chuyên chế Nó đã được thể hiện và áp dụng trong việc tổ chức bộ máy nhà nước của nhiều nước trên thế giới ở các mức độ khác nhau, được ghi nhận một cách

Trang 6

trang trọng trong các bản Tuyên ngôn và Hiến pháp của một số nước Thậm chí

cỏ nước đã coi phân quyền là nguyên tác cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước của mình, là tiêu chuẩn và điểu kiện của nền dân chủ Đó chính là sự thừa nhận

và khẳng định giá trị của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong thực tế

Song tiếc rằng, trong một thời gian khá dài, ở nước ta cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa khác, tư tưởng này không được chú trọng nghiên cứu và cũng không được đánh giá đúng giá trị của nó; vì nó bị coi là tư tưởng của giai cấp tư sản Việc tổ chức của bộ máy nhà nước ở những nước này có lúc gần như rập khuôn theo mô hình Nhà nước Liên Xô và sự phân quyền hầu như bị phủ nhận Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, với mục đích phục vụ nhiệm vụ cấp bách mà Đảng ta đã vạch ra là: tăng cường bộ máy nhà nước, cải tiến tổ chức

và hoạt động để nâng cao hiệu quả quản lý của nó, tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước đã đưực quan tâm nghiên cứu để hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của

nó và để vận dụng vào việc tổ chức bộ máy Nhà nước la ở mức độ phù hợp

Do đó bộ máy Nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1992 được tổ chức theo

tinh thần: "Quyền lực nhà nước ỉà thống nhất, cố sự phân công và phôi hợp

chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp [5] Theo cách tổ chức này, bộ máy nhà nước ta hiện

tại tuy chưa khắc phục được hết những điểm hạn chế và sự yếu kém, song bước đầu đã có những tiến bộ nhất định Điều đó đã được thể hiện trong sự

đánh giá của Đảng ta là: "Hoạt động của Nhà nước ta trên các lĩnh vực từ lập

pháp, hành pháp đến tư pháp đã có những tiến bộ rõ rệt Quản lý nhà nước bằng pháp ỉuật được tăng cường Dân chủ xã hội chủ nghĩa được mỏ rộng, ổn định chính trị được giữ vững" [5] Đó là kết quả ban đầu của quá trình đổi mới

nhận thức của chúng ta và chính vì vây mà phương hướng cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy Iihà nước ta như trên được ghi nhận lại trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng IX là:

Trang 7

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhà nước ta là một trụ cột của hệ thông chính trị và công cụ chủ yếu đ ể thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước

là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyên lập pháp, hành pháp, tư pháp [7].

Tuy nhiên, quan điểm trên vẫn chỉ dừng ở quan điểm, mục tiêu chính trị cho đến khi Nghị quyết của Quốc hội về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 ra đời, lúc đó nó mới được pháp luật hóa, được chính thức ghi nhận trong luật cơ bản của Nhà nước, trở thành nguyên tắc Hiến định trong

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cụ thể, Điều 2 Hiến pháp 1992

sửa đổi quy định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà

nươc pháp quyẵxã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dán Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phản công và phô hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyển lập pháp, hành pháp, tư pháp".

Như vậy, mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam và nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo mục tiêu ấy đã được Đảng

và Nhà nước ta khẳng định trong những văn kiện quan trọng nhất của đất nước Đó là một mục tiêu hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại - xu thế phát triển dân chu và tiến bộ xã hội trên toàn cầu

Một trong những yêu cầu cơ bản của nhà nước pháp quyền là phải có

■ự phân chia quyền lực (hay nói theo ngôn ngữ của chúng ta là phân công, phân nhiệm rõ ràng) giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhằm tạo ra sự độc lập và hiệu quả hoạt động cao cho từng cơ quan nhà nước Đồng thời phải có cơ chê thực hiộn

sự kiểm soát quyền lực lẫn nhau và hợp tác với nhau giữa các cơ quan nhà nước để qua đó vừa hạn chế được sự lạm dụng quyền lực, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thê mà đặc biệt là các cá nhân khỏi bị xâm hại từ phía quyền

Trang 8

lực nhà nước vừa bảo đảm sự thống nhất và hiệu quả cao của quyền lực nhà nước Song làm thê nào để Nhà nước thỏa mãn được yêu cầu này? Đó là một câu hỏi khá hóc búa đối với nước ta hiện nay Để có thể tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi này, thiết nghĩ, việc tìm hiểu tư tưởng phân quyền, sự thể hiện và áp dụng tư tưởng đó trong thực tế thực hiện quyền lực nhà nước ở một số nước, từ

đó tìm ra những điều có thể tham khảo, học tập, rút kinh nghiệm, chắc chắn là một việc làm cần thiết Với mong muốn góp phần mình vào công cuộc tìm kiếm nói trên và có thể đóng góp ý kiến vào việc cải tiến tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta cũng như để phục vụ cho công tác giảng dạy, tôi

mạnh dạn chọn đề tài: "Tư tưởng phân chùi quyền lực nhà nước với việc i

chức bộ máy nhà nước ở một số nước' làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.

2 Tinh hình nghiên cứu

Tư tưởng phân quyền đã được nghiên cứu từ lâu và ở nhiều nước trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Trung quốc Còn ở nước ta, việc tìm hiểu

tư tưc ng phân quyền cũng như sự vận dụng nó vào tổ chức bộ máy nhà nước cho đến nay mới dừng ở mức độ khái quát nên chưa có tác giả nào trình bày một cách cụ thể và có hệ thống về vấn đề này Hiện tại mới chỉ có một số

công trình đề cập đến nó như: "Thuyết: "Tam quyền phân lập' và bộ máy nhà

nước tư sản hiện đại" của Viện Thông tin Khoa học xã hội; "Thử bàn lại học thuyết phân chia quyt ì lực" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung; "Luật Hiến pháp và các định ch ế chính trị" của Lê Đình Chân Các tác phẩm này đã trình

bày khái quát về cội nguồn của thuyết ''Tam quyền phân lập ", nội dung cơ bảncủa nó, các quan điểm khác nhau về thuyết này, thực tế áp dụng thuyết ''Tam

quyền phân lập" trên thế giới và yêu cầu phải có sự phân công phân nhiệm

rạch ròi giữa các cơ quan nhà nước Việt Nam Song chưa có tác giả nào trình bày một cách cụ thể và có hệ thống về lịch sử của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước cũng như sự thể hiện và áp dụng tư tưởng này trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước trên thế giới và ở Việt Nam Phải chăng cũng vì thế mà cho đến

Trang 9

nay, việc tìm ra một cơ chẽ đế thực hiện có hiệu quả sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp và bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước ở nước ta vẫn còn nhiều lúng túng, chưa có câu trả lời thỏa đáng Hậu quả là vấn đề này hiện nay chủ yếu mới dừng ở nguyẽn tắc mà chưa được cụ thể hóa về mặt pháp lý.

3 Mục đích nghiên cứu của luận án

Thông qua việc xem xét một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống về

sự hình thành và phát triển của tư tưởng phân quyền, sự thể hiện và áp dụng nó trong thực tế tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước, luận án mong muốn:

+ Làm rõ lịch sử phát triển của tư tưởng phân quyền, nội dung, giá trị

lý luận và thực tiễn, ảnh hưởng và sức sống qua nhiều thế kỷ của nó

+ Chứng minh rằng tư tưởng phân quyền có thể áp dụng được và đã được áp dụng với các mức độ khác nhau trong tổ chức bộ máy của các nhà nước có chính thể khác nhau, từ Cộng hòa Tổng thống, Cộng hòa và Quân chủ Đại nghị đến Cộng hòa Hỗn hợp Và cả những nước có chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa như nước ta - nơi mà việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nha nước được căn bản dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ và thống nhất quyền lực - thì vẫn có thể vận dụng được và cần phải vận dụng một số luận điểm của

tư tưởng ấy vào việc tổ chức bộ máy nhà nước để nâng cao hiệu quả hoặt động của nó cũng như bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

+ Từ kết quả nghiên cứu trên, có thể tìm ra một số giải pháp cụ thế để cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta hiện nay theo hướng Van dụng tư tưởng phân quyền mạnh mẽ và rõ rệt hơn

4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu của luận án

Luận án nghiên cứu và lý giải các vấn đề sau:

Một là: Khái niệm về tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước, nội dung

cơ bản, sự xuất hiện và phát triển của tư tưởng này trong lịch sử thể hiện qua

Trang 10

thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước của một số nước, qua quan điểm của một

số nhà tư tưởng của các thời đại và một số cách hiểu về sự phân quyền

Hai là: Sự thể hiện và áp dụng tư tưởng phân quyền trong tổ chức bộ

máy nhà nước ở một số nước tư sản đại diện cho các mức độ áp dụng Trong thực tế, tư tưởng phân quyền đã được thể hiện và được áp dụng trong tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước ở hầu hết các nhà nước tư sản nhưng với mức độ khác nhau tùy theo hình thức chính thê của từng nước Nhìn chung, các nhà nước tư sản hiện tại có một sô dạng chính thể điển hình là Quân chủ

và Cộng hòa Đại nghị, Cộng hòa Tổng thống, Cộng hòa Hỗn hợp Mức độ thể hiện và áp dụng tư tưởng phân quyền ở những nước có chính thể giống nhau

về cơ bản là tương tự nhau Thêm vào đó, số trang của luận án theo quy định lại rất hạn chế Do vậy, luận án không cần và cũng khõng thể trình bày về sự thể hiện và áp dụng ấy ở tất cả các nhà nước tư sản mà chỉ dừng ở một số nước đại diện cho các mức độ áp dụng: cứng rắn, mềm dẻo và trung gian giữa hai mức độ ấy Còn ở các nước xã hội chủ nghĩa trước khi bị khủng hoảng, tư tưởng này hầu như kliỏng được thừa nhận nên luận án không đề cập tới

Ba là: Sự thể hiện tư tưởng phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước

Việt Nam được biểu hiện trong các quy định của bốn bản Hiến pháp 1946,

1959, 1980, 1992 và một số biện pháp cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án bao gồm:

Thứ nhất: Quan điểm của học thuyết Mác về mối quan hệ giữa tồn tại

xã hội với ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng mà chủ yếu là quan điểm về vai trò và tác động của nhà nước đối với sự phát triển của

xã hội, về vai trò của các tư tưởng và học thuyết đối với hoạt động thực tiễn

Thứ hai: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề đổi mới

toàn diện đất nước mà cụ thể là vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của bộ

Trang 11

máy Nhà nước ta để nâng cao hiệu quả điều hành và quản lý xã hội của nó nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Thứ ba: Các quan điểm khác nhau về hình thức nhà nước nói chung,

hình thức chính thể nói riêng mà chủ yếu là quan điểm của học thuyết Mác- Lênin về vấn đề này

Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề trên, tôi chủ yếu dựa vào phương pháp thu thập và xử lý thông tin, tư liệu Khi xử lý, tôi sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và so sánh giữa các quan điểm, các tài liệu, các ý kiến, nhận xét khác nhau của nhiều tác giả

về cùng một vấn đề, đồng thời kết hợp với suy nghĩ, quan điểm, vốn kiến thức sẵn có và kinh nghiệm giang dạy của bản thân để lập luận, kiến giải các vấn

để đã nêu ra

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Thông qua việc trình bày một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống các quan điểm về cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, các loại quyền lực nhà nước, khái niệm và chủ thể nắm giữ của từng quyền, mối quan hệ giữa các chủ thể ấy của Aristote, Locke, Montesquieu và một vài tác giả khác, luận án làm sáng tỏ khái niệm tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước, lịch sử hình thành, phát triển, nội dung, giá trị lý luận và thực tiễn và hạn chế của tư tưởng này, qua đó góp phần bổ sung, làm phong phú hơn, hoàn chỉnh hơn sự hiểu biết về quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng phân quyền trong lịch sử, góp phần bổ sung những tri thức mới và thúc đẩy sự phát triển của ngành khoa học nghiên cứu về lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý ở Việt Nam

Bằng việc trình bày một cách tổng quát về sự thể hiện và áp dụng tư tưởng phân quyền một cách sáng tạo vào tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước đại diện cho các mức độ áp dụng và sự thể hiện tư tưởng phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước ta qua các Hiến pháp, luận án vừa góp phần

Trang 12

khẳng định giá trị thực tiễn của tư tưởng phân quyền trong việc thiết kế các

mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, vừa nêu lên đặc trưng cơ bản cũng như ưu điểm và hạn chế của từng mức độ áp dụng để có thể tham khảo, học tập, rút kinh nghiệm trong quá trình cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta

Nêu lên một sô biện pháp cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước

ta theo hướng vận dụng rõ rệt và rộng rãi hơn những điểm hợp lý của tư tưởng phân quyền nhằm đạt tới mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của luận án vừa cung cấp cơ sở khoa học vừa gợi ý cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về cách thức tổ chức nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền, đặc biệt là việc tìm ra cơ chê thực hiện quyền lực nhà nước phù hợp để vừa bảo đảm sự phân công quyền lực hay phân chia chức năng, thẩm quyền rõ ràng vừa bảo đảm sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước thực hiện các quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận: Việc nghiên cứu này cô gắng góp phần bổ sung, làm

phong phú thêm, hoàn chỉnh thêm sự hiểu biết về quá trình hình thành và pháĩ triển của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong lịch sử, nội dung cơ bản của nó, sự thể hiện và áp dụng nó trong thực tế tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Từ đó, tạo ra sự nhận thức đúng đắn và sự đánh giá giá trị của

nó một cách công bằng, đồng thời góp phần bổ sung những tri thức mới để thúc đẩy sự phát triển ngành khoa học nghiên cứu về lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý ở nước ta

\ ề mặt thực tiễn: Việc nghiên cứu này sẽ phục vụ cho việc tham khảo,

học tập kinh nghiệm tổ chức bộ máy nhà nước của các nước khác và việc rút kinh nghiệm về tổ chức bộ máy Nhà nước la trong các giai đoạn trước nhằm tìm ra những biện pháp phù hợp để cải cách bộ máy nhà nước và thúc đẩy hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay Vì vậy, luận án có giá trị làm tài

Trang 13

liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu về cải cách bộ máy Nhà nước ta, cho việc tham khảo, học tập, nghiên cứu của sinh viên luật và những người quan tâm.

Tuy nhiên, với sự hạn chê về thời gian, về tài liệu tham khảo và về khả năng nghiên cứu của bản thân, luận án này không thể tránh khỏi những điểm thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp của các thầy cô giáo và các đồng nghiệp

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương, 10 mục

Trang 14

Quyền lực là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu và bởi nhiều nhà tư

tư ìtag của nhiều thời đại, song cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa về

quyền lực được đông đảo mọi người, từ các học giả đến các nhà hoạt động

thực tiễn thừa nhận Do vậy mà có khá nhiều quan niệm khác nhau về quyền

lực Song với nghĩa chung nhất có thể hiểu quyền lực là sức mạnh mà nhờ đó

một chủ thẽ (cá nhân, tổ chức, giai cấp hoặc toàn xã hội) có thể hắt các chủ

thể khác phải phMC tùng ý chí của mình Theo nghĩa này, quyền lực ra đời và

tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của con người, bởi vì, hoạt động phối hríp,

hoạt động chung mang tính cộng đồng là cái vốn có trong hoạt động của con

người Bất kỳ hoạt động chung nào cũng đòi hỏi cần có ngưừi tổ chức, người

chỉ huy và những kẻ phục tùng - cái vốn lạo thành nội dung sơ khai cũng như

nội dung hiện đại của phạm trù quyền lực Trong xã hội có giai cấp thì chủ thể

có đủ khả năng chỉ huy và phối hợp hoạt động của tất cả các chủ thể khác

chính là nhà nước nên quyền lực nhà nước là thứ quyền lực quan trọng nhất

Từ quan niệm chung nhất về quyền lực, có thể hiểu quyền lực nhà

nước là sức mạnh của nhà nước có thể bắt các chủ thể khác trong quốc gia

(các tổ chức, cá nhân, giai cấp, tầng lớp) phải phục tùng ý chí của nó Nhờ có

quyền lực này mà nhà nước có đủ khả năng làm dịu xung đột giai cấp hoặc

giữ cho xung đột ấy ở trong vòng một "trật tự" nhất định để xã hội có thể tồn

tại và phát triển được Cũng nhờ có quyền lực đó mà nhà nước có thẽ thực hiện

và bảo vệ được quyền lợi và địa vị thống trị của giai cấp thống trị, có thể tổ

Trang 15

chức và quản lý xã hội, thiết lập, củng cố, bảo vệ trật tự và sự ổn định của xã hội, làm cho xã hội phát triển theo chiều hướng mà nó mong muốn Thông thường Hiến pháp đa sô các nước đều tuyên bô quyền lực nhà nước xuất phát

từ nhân dân, do nhân dân ủy quyền cho nhà nước nên được thực hiện nhân danh nhân dân và đại diện cho lợi ích của toàn xã hội Song thực tế quyền lực nhà nước xét về bảníchất chủ yếu là quyền lực của giai cấp thống trị và một - phần là quyền lực xã hội, ở một mức độ nhất định, quyền lực nhà nước cũng chịu ảnh hưởng từ phía các lực lượng xã hội, tổ chức xã hội Do vậy, khi hoạt động trước hết vì lợi ích của một giai cấp hay một liên minh giai cấp nhất định, nhà nước phải tính tới lợi ích của các giai cấp tầng lớp khác và khi có tính độc lập nhất định, nó có thể thực hiện một số chức năng trọng tài trong cuộc cạnh tranh giữa các lực lượng không thông nhất; nhà nước còn phải nhân danh toàn quốc gia dân tộc để thực hiện những hoạt động nhằm bảo vệ côn®

lý, bảo đảm trật tự an toàn và ổn định xã hội, bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đổng Quyền lực nhà nước chỉ do các cơ quan nhà nước thực hiện Muốn cho quyền lực này được thực hiện một cách có hiệu quả thì ph li tìm cho nó một hình thức tổ chức và phương pháp thực hiện phù hợp Việc tìm kiếm ấy đã trở thành trung tâm chú ý của tất cả các nhà tư tưởng chính trị tiến bộ của loài người từ khi nhà nước ra đời tới nay Vì thế, trong các tư tưởng chính trị, vấn

đề hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước bao giờ cũng là vấn đề trọng tâm, cơ bản và quan trọng nhất Hình thức ấy được gọi bằng những cái tên rất khác nhau Platon (427-374 tr CN) gọi đó là những hình thức chính trị, Aristote (384-322 tr CN) gọi nó là hình thức chính phủ, Bertrand Russell gọi

Trang 16

của vua là vô hạn, là tối cao và bất khả xâm phạm Mọi mệnh lệnh, chiếu chỉ,

ý chỉ, thậm chí khẩu dụ của nhà vua đều có giá trị bắt buộc phải tuân theo, đều là pháp luật nên pháp luật chủ yếu là sự thể hiện ý chí của nhà vua Các quan chức nhà nước - những người tổ chức thực hiện các mệnh lệnh, chiếu chỉ của nhà vua đều do vua cắt cử và bãi chức Vua cũng là vị quan tòa tối cao để phán xử các vụ án quan trọng nhất Việc làm của các quan chức và của thần dân có thể được vua xem xét đúng sai, tùy công mà vua thưởng, vua ban lộc, tùy tội mà vua quyết định hình phạt Khi vua "băng hà", quyền lực của vua phải được truyền kế một cách nghiêm ngặt theo trật tự "cha truyền con nối",

để đảm bảo sự dài lâu của vương triều, của "cơ nghiệp tổ tông".)ở những nước quân chủ hạn chế, quyền lực của vua bị hạn chế bởi các thế lực khác nhau (cơ quan đại diện của các đẳng cấp, nghị viện hoặc hiến pháp) và trong những lĩnh vực nhất định Nếu như trong chính thể Quân chủ Đại diện đẳng cấp, vua chỉ phải tham khảo ý kiến của cơ quan đại diện đẳng cấp khi tăng thuế, thay đổi luật hoặc ban hành luật mới thì trong chính thể Quân chủ Nhị hợp, quyền lực của vua bị hạn chế trong lĩnh vực lập pháp (quyền lập pháp thuộc về nghị viện) và tư pháp (quyền tư pháp thuộc về tòa án), song lại được mở rộng trong lĩnh vực hành pháp Vua vừa đứng đầu quốc gia, vừa đứng đầu chính phủ, nắm toàn quyền hành pháp Các bộ trưởng do vua bổ nhiệm và bãi nhiệm, chịu trách nhiệm trước vua nên được coi là bộ trưởng của vua Còn trong chính thể Quân chủ Đại nghị, quyền lực của vua bị hạn chế trong cả ba lĩnh vực, quyền lập pháp do nghị viện thực hiện, quyền hành pháp được thực hiện bởi chính phủ mà đứng đầu là thủ tướng, còn quyền tư pháp được thực hiện bởi tòa án Thẩm quyền và mối quan hệ giữa các cơ quan trên được quy định trong hiến pháp Chức vị vua chỉ còn mang tính chất truyền thống, nghi lễ và tượng trưns

vì vua không trực tiếp giải quyết các công việc của nhà nước mà chỉ đóng vai trò chính thức hóa các hoạt động của nhà nước

Trong các nhà nước tư sản có chính thể cộng hòa, các loại quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước thường được trao cho các cơ

Trang 17

quan khác nhau là nghị viện, tổng thống, chính phủ và tòa án Các cơ quan này có thê chung hoặc không chung nhân viên với nhau, có thể độc lập hoặc chịu trách nhiệm lẫn nhau, có the kiềm chế và kiểm soát lẫn nhau, hoặc kiềm chế và đôi trọng với nhau trong hoạt động theo nguyên tắc "quyền lực ngăn cản quyền lực" Còn ở các nhà nước xã hội chủ nghĩa trước đây thì quyền lực nhà nước được coi là tập trung thống nhất trong tay cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra thông qua tuyển cử phổ thông đầu phiếu Quyền lực của cơ quan này là tối cao vì trực tiếp nhận được từ nhân dân Song nó chỉ thực hiện quyền lực lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao mọi hoạt động của nhà nước Nó lại tổ chức ra các cơ quan trung ương khác như nguyẽn thủ quốc gia, chính phủ, tòa

án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao để các cơ quan ấy thực hiện quyền lực nhà nước trong những lĩnh vực còn lại Vì vậy, các cơ quan nhà nước khác ở trung ương đều phải chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân hay cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước và chịu sự kiểm ưa giám sát của cơ quan này

Tóm lại, cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong thực

tế rất đa dạng và phong phú Song tựu trung lại có thể khái quát thành hai cơ

chế cơ bản, đó là tập quyền và phân quyền Tập quyền có nghĩa là quyền lực

cao nhất của nhà nước thuộc về một cá nhân hoặc một cơ quan và cá nhân hoặc cơ quan ấy có thể chi phối sự hình thành và hoạt động của các chức vụ

nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước khác Còn phân quyền có nghĩa là quyền

lực nhà nước được phân tách thành các loại lập pháp, hành pháp, tư pháp và được phân chia cho các cơ quan nhà nước khác nhau, cơ quan này thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan kia thực hiện quyền lực hành nháp và quyền lực

tư pháp thì dược trao cho cơ quan thứ ba Các cơ quan ấy có thể chung hoặc không chung nhân viên với nhau, ngang bằmg nhau và khá độc lập với nhau

hoặc phụ thuộc nhau ờ một mức độ nhất định, có thể chịu trách nhiệm trước

Trang 18

nhau, trong hoạt động có thể kiềm chế, kiểm soát thậm chí đối trọng với nhau song lai phối hợp với nhau để tạonên sự thống nhất của quyền lực nhà nước.

Xem xét lịcld sử của nhà nước ta thấy, từ khi nhà nước ra đời đến nay, cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước có sự biến đổi rất lớn Một trong những nguyên nhân dẫn đến điều đó là do sự trăn trở trong tư duy của loài người nhằm tìm kiếm một mô hình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thích hợp để có thể phát huy những tác động tích cực và giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của nhà nước đối với xã hội Sở dĩ loài người luôn phải trăn trở, tìm kiếm mô hình đó vì thuở mới ra đời, nhà nước có công rất lớn trong việc cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa của sự tàn sát lẫiì nhau, khỏi nguy cơ của sự tuyệt chủng Nhưng trong quá trình tồn tại của mình, nhà nước đã có thời kỳ bị tha hóa nghiêm trọng, làm cho nó từ một tổ chức xuất hiện do nhu cầu khách quan của sự tổ chức và quản lý xã hội có giai cấp nhằm duy trì sự tồn tại của một cộng đồng thành công cụ đắc lực và hữu hiệu để phục vụ lợi ích và quyền thống trị của một cá nhân hoặc một nhóm người trong xã hội, thành công cụ đàn áp, nô dịch đại đa số nhân dân lao động, gây ra cho họ và cho toàn nhân loại biết bao khổ đau và bất hạnh, dẫn đến những bi kịch của lịch sử Tuy vậy, nhà nước vẫn cần th ết và ngày càng cần thiết đối với xã hội cho đến khi nó bị tiêu vong theo quan điểm của Mác

Vì thế, những nhà tư tưởng tiến bộ, đại diện cho lợi ích và khát vọng của quần chúng lao khổ luôn tư duy, trăn trở để tìm kiếm một mô hình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thích hợp nhằm tạo ra và giữ gìn sự công minh, sự tốt đẹp của nhà nước, làm cho hoạt động của nhà nước biến đổi theo chiều hướng dân chủ, tiến bộ và nhân đạo, thừa nhận và bảo đảm tự do cho mỗi công dân,

vì lợi ích chung của cả cộng đồng và giảm bớt sự khổ đau, bất hạnh của con người Một trong những kết quả tốt đẹp, có giá trị của sự trăn trở, tư duy ấy chính là sự xuất hiện và phát triển của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước- một trong những giá trị quý báu trong kho tàng lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý của nhân loại

Trang 19

1.2 Sự XUẤT HIỆN VÀ PHÁT TRIỂN c ủ a t ư t ư ở n g p h â n c h i a QUYỂN Lực NHÀ NƯỚC

"Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước" - còn gọi tắt là Tư tưởng

phân quyền - là tổng thể các quan điểm về việc chia tá( h quyền-lưc nhà nước

thanh các ĩõạĩ quyển lực khác nhau, về ccTchê vận hành cúa từng loại quyền

lực và mối quan hệ theo hướng ngăn cản, kiếm chế, kiểm soai hoặc đối trọng

với nhau giữa các loại quyền lực ấy trong quá trình thực hiện quyền lực nhà

nước Nói một cách cụ thể, đó là tổng thể các quan điểm đề cập đến việc phân

tách quyền lực nhà nước thành những loại quyền lực có tên gọi, nội dung và vị

trí khác nhau, được trao cho các chủ thể khác nhau thực hiện và trong quá

trình hoạt động, các chủ thể ấy có thể kiềm chế, ngăn cản, kiểm soát lẫn nhau

hoặc đối trọng với nhau song lại phối hợp với nhau để vừa bảo đảm sự kiổm

soát quyền lực nhà nước nhằm ngăn chặn sự độc tài chuyên chế, bảo vệ tự do

của công dân, vừa bẫo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước

Việc nghiên cứu tư tưởng này trcn thế giới đã có từ thời cổ đại, nhưng

nó mới được xúc tiến ở nước ta từ sau công cuộc đổi mới trở lại đây Trong

sách báo pháp lý nước ta tư tưởng này được đề cập đến với các tên gọi như:

Thuyết "Tam quyên phân lập", Thuyết ''Phân quyền", Thuyết Phân chia

quyền lực", "Học thuyết phân chia quyền lực", " Nguyên tắc phân chia quyền ì lực", "Nguyên tắc tam quyên phân lap", "Nguyên tắc phân quyền" Điều này

đã được giải thích như sau: ''Thuyết "Tam quyền phản lập" là tên gọi của

thuyết "phân quyền" mà irong tiếng Việt đã quen dùng qua âm Hán-Việt:

"Shanquánịenỉi" Người ta cũng cồn gọi thuyết này là "Nguyên tắc lam quyền

phân lập", ''Nguyên tắc phân quyên" [75, tr 5] Trong một số tác phẩm dịch

từ tiếng nước ngoài như: "NhiTìig vấn đề căn bản của chính trị'' của Leslie

Lipson, "Nhữìig cách diễn giải hiện nay về thuyết phân quyền ở Phương Tây"

của Marsenco, tư tưởng này được đề cập đến với các tên gọi như ''Thuyết phân

quyền", ''Học ihuvết phân quyền" Song nếu tìm hiểu về cội nguồn của nó, có

Trang 20

thể thấy những cách gọi trên là do người đời sau đặt ra căn cứ vào nội dung cơ bản của tư tưởng này, còn trong thực tế, những người mà tên tuổi của họ luôn gắn liền với tư tưởng này hay vẫn được coi là những người đặt nền móng, xây dựng và phát triển nó như Aristote, Locke, Montesquieu thì lại không hề nhắc đến các tên gọi trên trong các tác phẩm của họ Chẳng hạn, Aristote cho rằng:

có ba bộ phận trong tất cả các nhà nước, đó là Hội nghị nhân dân (The Public Assembly), các viên chức nhà nước (The officers of the State) và cơ quan tòa

án (The Judicial Department) Sau đó ông trình bày về ba bộ phận này và đề cập một cách rất sơ lược về mối quan hộ giữa ba bộ phận đó mà không hề

nhắc đến từ "phân quyền" hay "phân chia quyền lực" Trong tác phẩm "Hai

chu\ẻn luậìi vê chính quyền" (Two Treatises of Government), ở Chương XII

Quyển 2 với tiêu đề: "Yể quyền lực lập pháp, hành pháp và liên bang cua

nước Cộng hòa"{Of the lxgislative, Executive, and Fedrative Povver of the

Commonwealth), Locke trình bày sơ qua về nội dung, đặc tính của từng loại quyền lực trên- Ở các chương khác, ông trình bày về giới hạn của quyền lực lập pháp, về sự phụ thuộc của các quyền lực của nước Cộng hòa Nhưng trong

cả tác phẩm, ông không hề nhắc đến cụm từ "phân quyền" hay "phân chia

quyền lực" Montesquieu cũng vậy, ông viết: "Trong mỗi chính quvền đều có

ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyên thực hiện nhữìig việc dựa vào luật quốc t ể và quyền thực hiện những việc dưa vào ìuậí dãn sự Chúng ỉa sẽ gọi quyền lực sau cùng là quyền tư pháp và quyền kia một cách giản dị là quyền hành pháp của nhà nước' [87, tr 151] Sau đó, ông đề cập đến nội dung cụ

thể của từng loại quyền lực, vị trí và mối quan hệ giữa các loại quyền lực ấy

Như vậy, rõ ràng rằng các tác giả trên không hề đề cập đến các cụm từ

''phản chia quyền lực'', 'phán quyền" hoặc ''tam quyền phán lập' mà họ chỉ

quan niệm rằng trong mồi nhà nước hay mỗị quốc gia đều có các loại quyền lực khác nhau hoặc các bộ phận (cơ quan) thực hiện những chức năng khác nhau vàjgẩn phải chia tách giữa các loại quyền lực hay các bộ phận ấy, không

Trang 21

chính xác và phù hợp Thiết nghĩ tên gọi "Tư tưởng phân chia quyên lực nhà

nước" với cách hiểu như đã đề cập là hợp lý hơn bởi những lý do sau:

Thứ nhất, gọi là ''Thuyết phân quyền" thì có thể hiểu đó là một hệ

thống các quan điểm nhằm giải thích về sự phân chia quyền lực nhà nước Gọi

là "Học thuyết phản quyền’ thì có thể hiểu đó là toàn bộ những ý kiến, lý lẽ

được trình bày một cách có hệ thống về sự phân chia quyền lực nhà nước Các tên gọi này chỉ phù hợp khi dùng để chỉ tư tưởng của Locke và Montesquieu vì chỉ đến họ, tư tưởng phân quyền mới được đề cập đến một cách có hộ thống,

từ lý do phải chia tách quyền lực nhà nước, các loại quyền lực nhà nước, nội dung, đặc tính, vị trí, chủ thể nắm giữ của từng loại quyền lực và quan hệ giữa chúng Còn khi xem xét về tư tướng của các tác giả trước đó như Aristote,

Polybe thì không thể dùng tôn "Thuyết phân quyền" hoặc "Học thuyết phân

quyền" vì cách đề cập của họ còn sơ khai, mới chỉ mang tính chất đặt nền

móng cho tư tưởng này mà chưa trình bày đầy đủ và có hệ thông về nó Vì thế,

dùng tên gọi "Tưiưởìĩg phân quyền'1 với nghĩa đó là toàn bộ những quan điểm

của một người về sự phân chia quyền lực nhà nước thì sẽ phù hợp hơn và bao quát hơn khi xem xét tư tưởng của tất cả các tác giả đề cập đến vấn đề này

Thứ hai, dùng tên ''Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước' hay

"Nguyên tắc phân quyền" cũng không hoàn toàn phù hợp, không bao quát bởi

lẽ: nó chỉ được coi là nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước khi nó là nguyên

lý, tư tưởng chỉ đạo có tính chất là cơ sở cho toàn bộ quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Nhưng trong thực tế, có nước tuyên bố nó là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước của họ (ví dụ như Nhà nước

Mỹ) thì tên gọi "Nguyên tắc phân quyền" là hoàn toàn phù hợp Có nước mặc

Trang 22

dù trong tổ chức bộ máy nhà nước có thể hiện một số luận điểm của tư tưởng

phân quyền, song lại không tuyên bỗ hoặc thừa nhận nó là nguyên tắc tổ chức

bộ máy nhà nước thì tên gọi "Nguyên lắc phân quyên" sẽ không phù hợp.

Thứ ba, tên gọi 'Thuyết ''Tam quyền phân ỉập" hoặc "Nguyên tắc

''Tam quyền phân lập" tỏ ra là ít phù hợp nhất bởi lẽ nó chỉ đúng khi đề cập

đến tư tưởng của Montesquieu và tổ chức bộ máy nhà nước của những nước

Cộng hòa Tổng thông, còn khi đề cập đến tư tưởng của các tác giả khác hoặc

tổ chức bộ máy của các nhà nước khác thì không thể dùng các tên gọi đó

Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước có quá trình hình thành và

phát triển khá lâu dài, từ thời cổ đại cho tới thời kỳ Cách mạng Tư sản, nội

dung của nó được thể hiện ngày càng rõ ràng, cụ thể, có hộ thống và khoa học

hơn Toàn bộ quá trình ấy sẽ được trình bày cụ thể trong phần dưới đây

Lạp> La M ã

Ở Hy Lạp, mầm mõng của tư tưởng phân quyền trước tiên được thể

hiện qua những cải cách bộ máy Nhà nước Athenes của Ephialtes (Thế kỷ V

tr CN) và Pericles (495-429 tr CN)

Trong lịch sử hình thành Athenes có thời kỳ Thành bang này do nhà

độc tài Peisistratus cai trị, ông ta nắm mọi quyền hành Tới đời các con ông ta,

chế độ này bị sụp đổ và nhân dân giành được quyền tự trị thông qua các hội

nghị công dân, song quý tộc thị tộc vẫn là tầng lớp có thế lực nhất về chính trị

và kinh tế Bộ máy nhà nước gồm ba bộ phận chủ yếu là: Hội đồng quý tộc

hay Hội đồng trưởng lão, Quan chấp chính và Hội nghị công dân Nền dân

chủ này đã được củng cô và mở rộng thêm nhờ những cải cách của Solon vào

năm 549 tr CN và của Clisthenes vào năm 508 tr CN Nhờ thế, bộ máy nhà

nước Athenes đã có thêm các cơ quan mới như: Hội đồng nhân dân, Tòa án

nhân dân, Hội đồng 10 tướng lĩnh, song quyền lực nhà nước vẫn chủ yếu tập

2.1 Tư tưởng phân quyền ở Hy Lạp, La Mã c ổ đại

Trang 23

trung trong tay Hội đồng trưởng lão, quyền hành của các hội nghị công dân bị hạn chế bởi cơ quan này.

Đến Thế kỷ thứ V tr CN, chính quyền ở Athenes về tay những người

dân chủ cấp tiến nhất mà đứng đầu là Ephialtes Ông nổi tiếng là ''một nhà

chính trị trung thành với Tổ quốc và cươìig trực không ai mua chuộc được"

(Aristote) Xuất thân từ một gia đình quý tộc bị phá sản, sống gần gũi với quần chúng, ông trở thành người bạn của dân nghèo Với mong muốn dân tự

do phải làm chủ đất nước, tất cả quyền lực đều thuộc về dân chúng, họ thực hiện quyền đó bằng cách tham gia vào các công việc công và có quyền đối với các viên chức của họ nên năm 462 tr CN, được sự trợ giúp của Pericles, Ephialtes đã tiến hành một cuộc cải cách dân chủ nhằm đánh đổ thế lực của Hội đồng trưởng lão - một cơ quan phản dân chủ về thành phần cũng như về chức năng với quyền hạn khá to lớn của nó Ông đã đưa ra thông qua tại Hội nghị công dân một đạo luật tước hết mọi quyền chính trị và tư pháp của Hội đồng trưởng lão (trừ quyền xét xử các vụ án tôn giáo của nó) và trao quyền ấy cho các cơ quan dân cử Quyền lập pháp thuộc về Hội nghị nhân dân Hội ngh này họp ngoài trời và họp hàng tháng, mỗi năm phải họp ít nhất 10 lần, tất cả các công dân đều phải tham gia Hội nghị Hội nghị sẽ ban hãnh tất cả các đạo luật, các nghị định và có quyền quyết định lưu đày một quan chức bị mất tín nhiệm Trong Hội nghị, mọi công dân đều có quyền đề nghị thông qua bất kỳ một dự án luật, nghị định nào hoặc đề nghị bãi bỏ một văn bản pháp luật hiện hành nào đó Song nội dung của các văn bản được đề nghị phải phù hợp VỚI pháp luật hiện hành Ephialtes còn quy định chế độ trách nhiệm của những nhà lập pháp trước nhân dân về hậu quả của những văn bản mà họ đề nghị thông qua ở Hội nghị Trong vòng một năm sau khi luật hoặc nghị định được thông qua, người đề xướng hoặc chủ trương thông qua văn bản đó vẫn có thể bị truy tố về tội vi hiến và bị trừng phạt rất nặng nếu văn bản đó gây tổn hại đến lợi ích của quốc gia hay quyền lợi của công dân Theo Ephialtes, bằng những quy định như trên có thể đảm bảo xây dựng một nhà nước pháp trị

Trang 24

- Quyền hành pháp thuộc về Hội đồng nhân dân gồm 5(X) người Đó là các viên chức hành chính, họ được tuyển lựa theo một trong hai cách: bầu cử hoặc rút thăm Hội đồng được chia thành 10 ủy ban, mỗi ủy ban điều khiển công việc của Hội đồng trong 1/10 năm, nó giải quyết những công việc thông thường, lúc có việc quan trọng thì họp toàn thể Hội đồng Hội đồng được bầu lại mỗi năm một lần và không ai có quyền tham gia Hội đồng quá hai năm nên mỗi công dân đều có hy vọng tham gia Hội đồng một lần trong đời mình, để lần lượt vừa là người thống trị vừa là người bị thống trị.

' Quyền tư pháp thuộc về Tòa án nhân dân gồm 6000 người do tất cả các bộ lạc bầu ra hàng năm để vừa làm thẩm phán, vừa làm bồi thẩm Mỗi lần cần xử một vụ án thì họ lại bắt thăm để chọn lấy một số thẩm phán Ngoài ra còn có Hội đồng 10 tướng lĩnh do 10 bộ lạc cử ra Hội đồng này lúc đầu chỉ nắm quyền chỉ huy quân sự Người chỉ huy tối cao do 10 tướng lĩnh luân lưu đảm nhiệm, v ề sau H >i đồng này nắm cả quyền hành chính cao nhất của nhà nước và thành viên của nó có thổ được tái cử lại nhiều lần (chẳng hạn Pericles được bầu đi bầu lại trong 30 năm nhưng mỗi năm ông lại phải ra ứng cử một lần) Như vậy, bằng cải cách của mình, Ephialtes đã thực sự chia tách quyền lực nhà nước thành ba loại quyền lực và trao cho các cơ quan dân cử khác nhau thực hiện để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, chống lại sự tập trung quyền lực vào tay một chủ thể Từ đó có thể coi ông là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho tư tưởng phân quyền Rất không may là Ephialtes thực hiện cải cách chưa được bao lâu thì bị bọn quý tộc thù địch ám sát Sau khi ông mất, phái Dân chủ vẫn tiếp tục nắm quyền mà đại diện là

Pericles - một nhà chính trị và nhà hùng biện có tài, "là người siêu vìệỉ nhất

của Athenes, người thứ nhất về mọi cái và về nói và hành động' [41, tr.33].

v Năm 461 tr CN, khi lên cầm quyền Pericles đã tiếp tục một cách xuất sắc cải cách của Ephialtes theo chiều hướng củng cô và mở rộng nền dân chủ Athenes Ông vận động ban hành quy định mới về việc lựa chọn các chức vụ

Trang 25

nhà nước, theo đó, trừ chức Tướng quân, các chức vụ lớn nhỏ khác đều được

bổ nhiệm bằng cách bốc thăm Theo ông, bằng phương pháp đó, bất cứ công dân Athenes nào, không phân biệt dòng họ, giàu nghèo, sang hèn đều có khả năng được cắt cử giữ bất cứ một chức vụ nào trong nhà nước, có như vậy họ mới thật sự hoàn toàn bình đẳng và còn đươc giáo dục để có ý thức trách

nhiệm công dân hơn Ông khẳng định: "Chúng ta là những người duy nhất coi

người công dân xa lạ với các công việc công không phải như là một sinh vật nhàn rỗi mà như một sinh vật vô ích" [41, tr 35] Để đề phòng sự lựa chọn

những người không xứng đáng và để chặn bớt sự lạm quyền, pháp luật còn quy định trước khi giữ chức vụ, những người được chọn bởi cuộc rút thăm phải trải qua một cuộc kiểm tra vừa để thử thách khả năng vừa để thăm dò lòng trung thành Rồi 10 lần trong năm, tại mỗi phiên họp của Hội nghị công dân, theo thủ tục, bao giờ dân chúng cũng được mời biểu quyết chấp thuận hay khiển trách các viên chức của họ, nếu khiển trách thì tiếp theo sẽ có cuộc truy tố ra tòa án, tương tự như một thủ tục bãi nhiệm vậy Tới cuối năm, mc viên chức sẽ phải tường trình trước một ủy ban đặc biệt về số tiền công quỹ

mà họ là người thu, người giữ hay người chi tiêu [23] Có thể thấy đây là hình thức ban đầu của sự kiểm soát của nhân dân đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước, sự kiểm soát của cơ quan lập pháp với các nhân viên nhà nước Để cho những công dân thuộc tầng lớp dưới, kể cả những người nghèo khổ nhất cũng có thể đảm nhiệm các chức vụ lớn nhỏ trong bộ máy nhà nước, lần đầu tiên trong lịch sử, Pericles đã ban hành chế độ trả lương cho những người làm việc trong bộ máy nhà nước, từ các thành viên của Hội đồng nhân dân, quan chấp chính, ủy viên bồi thẩm đến thủy thủ, sĩ quan và binh lính Những cải cách mà Ephialtes và Pericles thực hiện đã đưa Nhà nước Athenes cũng như nền dân chủ của nó phát triển đến mức độ cực thịnh nên người Hy Lạp gọi thời kỳ này là "Thê kỷ vĩ đại" hay "Thế kỷ Pericles^ Tuy nhiên, nền dân chủ Athenes chỉ là nền dân chủ hạn chế vì tham gia vào các cơ quan nhà nước chỉ

có các công dân, tức là những người đàn ông tự do, mà họ chỉ chiếm khoảng

Trang 26

20% tổng số dân cư Còn phụ nữ, những người tự do nhưng m& không phải là người Athenes, kiều dân và nô lệ đều không được hưởng quyền công dân.

là Hội nghị Bào tộc (qui-ri) là đại hội của quý tộc, không có vai trò chính trị quan trọng, có nhiệm vụ giao quyền lực cho các quan tư pháp tối cao và giải quyết những vấn đề thuộc luật lệ gia đình Hai là Hội nghị Xăng-tu-ri là hội nghị theo đơn vị quân đội của các đẳng cấp, có quyền hành rất lớn như giải quyết các vấn đề chiến tranh và hòa bình, bầu các chức quan cao nhất của nhà nước Ba là Hội nghị nhân dân các bộ lạc theo khu vực, giải quyết những vấn

đề về luật pháp Đó là đại hội mang nhiều tính chất dân chủ nhất, nhưng lại bị bọn quan lại cao cấp không chế, vì thế nó không được quyết định những vấn

đề quan trọng của nhà nước

Loại cơ quan thứ hai trong bộ máy Nhà nước La Mã là Viện nguyên lão - cơ quan có quyền lực quyết định - gồm những quý tộc giàu sang có thế lực đã từng nắm giữ những chức quan cao cấp Cơ quan này có quyền phê chuẩn các quan lại tối cao mới được bầu ra, quản lý tài sản của nhà nước, đề ra và chỉ đạo thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại, trông coi các công việc tôn giáo

Bộ phận thứ ba của Nhà nước La Mã là các chức quan cai trị Chức vị cao nhất trong hàng quan lại là hai viên quan chấp chính (còn gọi là Thưựng phán quan) Thay vì có một Thượng phán quan trước đây thì nay có hai Thượng phán quan có quyền lực ngang nhau và có thể kiểm soát lẫn nhau Các

Trang 27

quan chấp chính này do hội nghị Xăng-tu-ri bầu ra và đưực giữ chức vụ trong một năm Họ có quyền rất lớn về quân sự và dân chính, là tổng chỉ huy quân đội, có quyền triệu tập Hội nghị Viện nguyên lão, Hội nghị nhân dân, chỉ đạo thực hiện những quyết nghị của Viện nguyên lão và Hội nghị nhân dân Ngoài

ra còn nhiều chức quan khác như quan tư pháp, quan giám sát, quan tài vụ

đó là những chức quan thường trực lâu dài và do nhân dân bầu ra

Trong trường hợp có khủng hoảng quân sự thì sẽ có một cơ quan đứng

ra tạm phối hợp quyền hành Cơ quan này là văn phòng quan Thống lãnh (Dictator) hay còn gọi là quan độc tài, được nắm giữ quyền hành tối cao trong sáu tháng, điều khiển quân đội và hầu như bao trùm chính quyền dân sự qua quyền thiết quân luật Cách thức tổ chức Nhà nước La Mã như trên kéo dài cho đến khi chế độ độc tài của Xi la, Cesar rồi chẽ độ quân chủ được thiết lập

Như vậy, tư tưởng phân quyền đã nảy sinh từ thực tiễn tổ chức bộ máy Nhà nước Athenes và La Mã gắn liền với việc thiết lập và củng cố nền dân chủ với mong muốn quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nhằm chống chế độ độc tài chuyên chế Vì thế mà cả Montesquieu lẫn Rousseau khi đề cập đến sự phân quyền đều lấy La Mã làm ví dụ để giải thích hoặc phê phán

v'*

0

Aristote là "nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại" (C.Mác), là " khôi óc

loàn diện nhất trong s ố những nhà triết học Hy Lạp" (Ph Ảngghen) và "ỉà vị

bá chủ vê tư tưỏỉig" (Gomperz) Ông là nhà triết học có kiến thức uyên thâm

trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực chính trị Trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp của 158 nhà nước đơn nhất và liên bang, Aristote đã viết lên tác phẩm

"Chính trị" hay ''Luận về chính quyền' trong đó có thể hiện tư tưởng phân

quyền mặc dù mới dừng ở mức sơ khai, đặt nền móng cho nó

Khi bàn về bộ máy nhà nước, ông phân tách nó thành ba bộ phận hay

ba ngành của chính quyền là thảo luận hay quyết nghị, áp dụng luật hay hành pháp và phán xử theo luật hay xét xử Ông viết:

Trang 28

có ba bộ phận trong tất cả các nhà nước mà một nhà lập

pháp có trách nhiệm phải cân nhắc íhật kỹ vì chúng có tầm quan trọng rất lớn đối với tất cả mọi người và chúng hết sức cần thiết đ ể làm cho nhà nước hạnh phúc, tùy theo sự thay đổi của chúng mà làm cho nhà nước này sẽ khác với nhà nước khác Thứ nhất trong nhữỉig bộ phận đố là Hội nghị nhân dán, thứ hai ỉ à các viên chức của nhà nước, đó là ìihữỉig người phải được giao phó cho một quyền lực nào đó và phải được bổ nhiệm theo một cách íhức nào đó, thứ

ba là cơ quan lòa án [85, tr 132].

Ở đoạn khác ông khẳng đinh rằng trong một sô nhà nước, các công dân

có thể được tham gia vào cả ba bộ phận của chính phủ, đó là Hội nghị nhân

dân, hành pháp và xét xử (có thể thấy từ "chính phu Aristote dùng ở đây đồng nghĩa với từ "nhà nước' hiện nay).\Không chỉ chia tách ba bộ phận, Aristote còn

trình bày về cách thức hình thành, chức năng, thẩm quyền, thành viên, cơ cấu của từng bộ phận và khái quát về mối quan hệ giữa chúng, v ề Hội nghị nhân dân,

ông viết: "Công việc thích hợp của Hội nghị nhân dân là quyết định về vấn đề chiến tranh và hòa bình, lập ra hoặc phá vỡ những liên minh, ban hành các d“0 luật, những án tử hình, đi đày hoặc tịch thu tài sản và yêu Cuu cúc pháp quan giải thích về cách xử sự của họ trong thời gian giữ chức vụ" [85, tr 133].

Như vậy, theo Aristote, chức năng của Hội nghị nhân dân (mà thực chất là Hội nghị công dân) là lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia, tương tự như chức năng của các cơ quan lập pháp ngày nay Ông cho rằng cách thức tổ chức và hoạt động của cơ quan này rất khác nhau ở các nhà nước có hình thức khác nhau Trong chế độ dân chủ thì tất cả các quyền trên được trao cho tất cả mọi người vì nhân dân nhằm đạt tới sự bình đẳng và được trao bằng nhiều phương pháp Chẳng hạn, Hội nghị công dân chỉ họp khi cần ban hành những đạo luật mới, hoặc khi một số cõng việc của quốc gia cần phải được thảo luận, hoặc khi phải nghe những đề nghị nào đó của các

Trang 29

pháp quan hoặc khi thẩm tra tư cách đạo đức của các pháp quan; còn những công việc khác thì giao cho một hội đồng tối cao gồm các pháp quan và các chức vụ này được phân chia lần lượt cho các bộ lạc, các khu vực và các đom

vị rất nhỏ khác cho đến khi mỗi người đều lần lượt trải qua các chức vụ ấy; hoặc được thực hiện bởi các pháp quan trong các văn phòng riêng của họ và là những người được lựa chọn ra trong toàn xã hội bằng cách bỏ phiếu hoặc tó c thăm; hoặc trao cho bất cứ pháp quan nào ngẫu nhiên được lựa chọn, song những người được sử dụng trong một lĩnh vực riêng biệt nào đó phải là những người có kỹ năng tốt trong lĩnh vực đó Cũng có thể để cho tất cả mọi người thảo luận kỹ lưỡng về mọi vấn đề trong Hội nghị nhân dân, và trong Hội nghị

đó, các pháp quan không được quyết định một vấn đề gì mà chỉ có đặc quyền

là đưa ra ý kiến trước tiên Đó là phương pháp của một chế độ dân chủ thuần túy, nó cũng tương tự như cách thức tnĩn hành trong chế độ đầu sỏ chính trị hoặc chế độ quân chủ chuyên chế Ở chế độ dân chủ, nhân dân có quyền lực

tối cao, ngay cả trên pháp luật, họ nắm ị iữ Hội nghị nhân dân một cách

thường xuyên; chế độ này sẽ tốt nhất nếu nó bắt chước chế độ đầu sỏ chính trị

ở tòa án của nó Tức là người ta sẽ phạt những người được bổ nb'ệm để xét xử những vụ kiện tụng mà lại không có mặt, và người ta sẽ thưởng cho những người nghèo đã đến Hội nghị nhân dân Như thế trong Hội nghị sẽ có người của các đẳng cấp khác nhau cùng thảo luận, bàn bạc với nhau

Trong chế độ đầu sỏ chính trị, chế độ mà - theo Aristote - quyền lực tối cao nằm trong tay một bộ phận của xã hội hay số ít và những người này hoạt động chỉ vì lợi ích của riêng họ, thì nhân dân nói chung không được tham dự vào quyền thảo luận mà một số người nhất định sẽ được lựa chọn để làm việc

đó Những người này sẽ lựa chọn lẫn nhau và con trai được nối nghiệp cha, họ

có thể tuân theo hoặc không tuân theo pháp luật, có thể thay thế các đạo luật Tuy nhiên, nhân dân có thể được phép bỏ phiếu khi bất kỳ một dự luật nào được đệ trình, nhưng không thể đề nghị bất cứ cái gì ngược lại hay thêm vào dự luật đó,

Trang 30

hoặc nhân dân có thể nêu lên ý kiến của họ, song quyền quyết định chỉ thuộc

về các pháp quan Ở một sô nước có chế độ này, người ta còn yêu cầu một só người của lớp bình dân vào hội đồng hoặc là thiết lập một tòa án Họ được gọi

là những người cố vấn trước (preadviser) hay những người bảo vệ pháp luật, cống việc của họ là đề xuất trước tiên những cái mà sau đó sẽ được ban hành Còn trong chế độ quý tộc thì một số người quyết định đối với một vấn đề và những người khác lại quyết định những vấn đề khác, giống như chiến tranh và hòa bình, và tất cả sẽ thẩm tra tư cách đạo đức của các pháp quan, còn những việc khác được trao cho các viên chức khác nhau, những người đó được lựa chọn từ toàn thể nhân dân hoặc từ một số người nhất định bằng cách bỏ phiếu hoặc bốc thăm và cả hai việc đó đều được mở ra cho tất cả mọi người

Aristote còn xác định nghĩa vụ cho các nhà lập pháp trong nhiều lĩnh vực với mong muốn họ có thể xây dựng được nhũng đạo luật tốt để bảo đảm cho quốc gia được cai trị tốt Chẳng hạn, họ phải nghiên cứu một cách cẩn thận đất nước của họ, phải tính toán xem làm thế nào đổ cho những người thống trị xuất sắc hơn những người bị trị, để công dân có thể trở thành những người tốt,

để chính quyền vì sự an toàn, sự yên tâm và hòa bình của những người dưới quyền chứ không phải là một sự chuyên quyền và một sự nô dịch đối với họ

Về các viên chức nhà nước, Aristote cho rằng những người xứng đáng nhất được gọi là pháp quan là những thành viên của hội đồng thảo luận, hoặc

là người giải quyết những việc kiện tụng, hoặc là người có quyền chỉ huy trong một hoặc một số lĩnh vực, trong đó quyền chỉ huy là quan trọng nhất vì chỉ huv là đặc quyền riêng của các pháp quan Thông thường, sẽ cần có các pháp quan cho từng lĩnh vực hoạt động của xã hội Chẳng hạn, pháp quan quản lý thị trường để thanh tra các hợp đồng mua bán và giữ gìn trật tự trong lĩnh vực mua bán, pháp quan quản lý các cống trình xây dựng lớn của cả cộng đồng lẫn cá nhẳn Ở các thành phố có các thanh tra viên của thành phố Ở những vùng ngoải thành phó thì có các thanh tra viên rừng, thanh tra viên đất đai

Trang 31

Cần phải có các pháp quan quản lý tài sản quốc gia tức là những viên chức làm nhiệm vụ thu thuê của nhân dân rồi lại chi cho những người thuộc các cơ quan khác của nhà nước Cũng cần phải có các viên chức để ghi vào sổ tất cả những hợp đồng tư nhân, các bản án của tòa án cũng như những biên bản của việc kiện tụng, những lời khai Đôi khi các công việc này được chia ra cho nhiều bộ phận và mỗi bộ phận đó có một người đứng đầu, họ được gọi là các

ủy viên kiểm sát, các công chứng viên và những người thuộc loại đó Tiếp theo

là viên chức làm nhiệm vụ xem xét các bản án tử hình, quan tâm đến việc làm thủ tục để cho bản án có giá trị đối với người bị kết án, theo dõi việc nộp tiền phạt theo lệnh của thẩm phán Chức vụ này không nên để cho một người thực hiện mà nên được thực hiện bởi một số pháp quan và nên để cho người quản lý lĩnh vực này theo dõi việc thực hiện quyết định của người quản lý lĩnh vực khác Ví dụ, pháp quan quản lý việc xây dựng công cộng sẽ theo dõi việc thực hiện các quyết định do các thanh tra viên thị trường ban hành ra Đây là những chức vụ khó khăn nhất nhưng cũng là cần thiết nhất, nếu thiếu nó thì xã hội không thể tồn tại bởi lẽ nó làm cho việc bắt buộc thực hiện đúng pháp luật được dễ dàng hơn

Bên cạnh đó còn có một người là cao nhất, đứng trên tất cả họ, người này luôn luôn có quyền lực riêng của mình để sắp xếp ngân khố chung của quốc gia và thuế, là người chỉ huy nhân dân trong khi quyền lực tối cao là nằm trong lay họ, vì phải có một quan chức nào đó có quyền lực để tập hợp nhân dân lạ: với nhau và chỉ huy họ như là người đứng đầu của nhà nước Người này đuợc gọi là người cố vấn trước và nếu có nhiều người như vậy thì họ sẽ tạo thành một hội đồng Ngoài ra còn có thể có các chức vụ khác như những ngư^ i chăm lo cho các đền miếu và sự thờ cúng chung, những người cai quản phụ nũ, những người xem xét việc thực hiện pháp luật, những người chăm sóc cho trt em và những người chỉ huy việc giáo dục chúng, những người quan tâm đến việc luyện tập thể thao, các rạp hát và mọi sự biểu diễn công cộng

Trang 32

Trong sõ pháp quan có ba loại được các nhà nước giao phó cho quyền lực tối cao, đó là những người bảo vệ pháp luật, những người cỏ vấn trước và thượng nghị sĩ Những người bảo vệ pháp luật thì phù hợp nhất với chế độ quý tộc, những người cố vấn trước thì phù hợp nhất với chế độ đầu sỏ chính trị và thượng nghị sĩ thì phù hợp nhất với chế độ dân chủ Nếu trong một nhà nước

có cả hai chức vụ người cố vấn trước và thượng nghị sĩ thì chức vụ người cố vấn trước phải cao hơn, mặc dù họ đều có nhiệm vụ xem xét trước và chuẩn bị những dự luật sẽ được đưa ra trước nhân dân Song quyền lực của thượng nghị viện sẽ bị tước mất trong những nhà nước dân chủ mà ở đó nhân dân gặp gỡ nhau trong Hội nghị nhân dân và nắm giữ tất cả các quyền lực trong tay họ

Số lượng, các loại pháp quan và phương pháp lựa chọn các pháp quan khác nhau trong các nhà nước có hình thức khác nhau, có những chức vụ có trong hình thức này mà khõng có trong hình thức khác Trong chế độ dân chủ thi tất cả các pháp quan được lựa chọn ra trong toàn thể nhân dân bằng bỏ phiếu hoặc bốc thăm, hoặc là bằng cả hai Trong chế độ quí tộc, một số pháp quan được lựa chọn từ dân thường trong toàn xã hội, một số khác trong một đẳng cấp đặc biệt bằng bốc thăm hoặc bầu cử, hoặc là bằng cả hai, nhưng thích hợp nhất là toàn thể xã hội lựa chọn các pháp quan của họ trong những người đặc biệt (về tài sản, nguồn gốc gia đình hoặc đức hạnh) và bằng cách bỏ phiếu Ở chẽ độ đầu sỏ chính trị, các pháp quan được lựa chọn trong những đẳng cấp nhất định, một số được lựa chọn bằng bốc thăm, những người khác bằng hai phương pháp, nhưng bằng bốc thăm là phù hợp nhất Thời gian và số lần nắm giữ chức vụ của các pháp quan cũng rất khác nhau Có người nắm giữ chức vụ trong 6 tháng hoặc ít hơn, có người một năm hoặc lâu hơn; có người giữ cùng một chức vụ đến vài lần song cũng có người chỉ được giữ cùng một chức vụ không quá một lần

Như vậy, theo Aristote, bộ phận hành pháp của nhà nước bao gồm nhiều chức vụ có vị trí, chức năng, thẩm quyền và con đường hình thành khác

Trang 33

nhau và những người giữ các chức vụ ấy đều có quyền lực riêng, tức là có quyền quản lý một lĩnh vực hoạt động nào đó và họ cũng có quyền theo dõi, kiểm tra, giám sát lẫn nhau.

Để cập đến bộ phận thứ ba của nhà nước - các tòa án, Aristote cho rằng có 8 loại tòa án: tòa án kiểm tra tư cách của các pháp quan khi họ bỏ việc; tòa án trừng phạt những người gây thiệt hại cho công chúng; tòa án có thẩm quyền trong các việc kiện tụng mà nhà nước là một bên; tòa phân xử giữa các pháp quan với các cá nhân là những người đã kháng án vì sự phạt tiền đối với họ; tòa giải quyết các tranh chấp có thể xuất hiện liên quan tới những hợp đồng có giá trị lớn; tòa phân xử giữa những người nước ngoài mà về những vụ giết người; tòa giải quyết những vụ việc giữa những người nước ngoài với nhau hoặc giữa một người nước ngoài với một công dân; tòa án cho những vụ việc nhỏ, từ 1 -5 Đracma hoặc nhỏ hơn một chút Ở Athenes còn có một tòa án khác được gọi là Tòa án Phreatte, nó quyết định những vấn đề liên quan tới một vụ giết người mà can phạm đã tẩu thoát, nó được giải quyết mà không biết anh ta có quay lại không

Cách lựa chọn thẩm phán cho các vụ việc và quyển xét xử của các thẩm phán cũng khác nhau tùy theo hình thức nhà nước Cách lựa chọn mà thừa nhận toàn thể xã hội có thể trở thành các thẩm phán trong tất cả các vụ việc

là phù hợp nhất với chế độ dân chủ Cách lựa chọn mà những người nhất định

sẽ là thẩm phán trong tất cả các vụ việc là phù hợp với chế độ đầu sỏ chính trị Còn cách lựa chọn mà toàn thể xã hội có thể trở thành thẩm phán trong một số

vụ việc, nhưng những người đặc biệt lại có thể trở thành thẩm phán trong những vụ việc khác thì phù hợp với chế độ quý tộc hay nhà nước tự do

Qua trên ta thấy, Aristote là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên trong lịch sử trình bày về tư tưởng phân quyền khi ông cho rằng quyền lực nhà nước được phân chia và được thực hiện bởi ba bộ phận hay ba ngành của chính quyền Mỗi bộ phận ấy có chức năng, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức và cách

Trang 34

thức hình thành khác nhau Ông còn đề cập một cách khái quát đến mối quan

hệ giữa các bộ phận ấy Chẳng hạn, Hội nghị nhân dân có thể lựa chọn, thẩm tra tư cách đạo đức cũng như khiển trách các pháp quan, các quan tòa Các pháp quan có thể tham gia hoạt động trong Hội nghị nhân dân, có thể soạn thảo và trình dự luật ra trước Hội nghị cũng như báo cáo trước Hội nghị; theo dõi việc thực hiện các quyết định hoặc bản án của tòa án Còn các thẩm phán lại có thể phán xét các pháp quan khi họ bị kiện tụng Các pháp quan giữ các chức vụ khác nhau phải theo dõi, kiểm tra, giám sát lẫn nhau Song về cơ bản, Aristote mới chỉ dừng ở việc mô tả về nhân viên, cách thức tổ chức và hoạt động của các bộ phận trên mà chưa phân tích sâu về mối quan hệ giữa chúng cũng như chưa lý giải lý do phải chia tách nhà nước thành những bộ phận như vậy Tuy nhiên, Aristote nhận thức khá chính xác rằng ở những chế độ dân chủ, nơi mà quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về toàn thể nhân dân thì nhân dân phải có cơ hội tham gia vào tất cả các bộ phận đó khi được lựa chọn

và có quyền lựa chọn tất cả các quan chức nhà nước, có quyền thẩm tra tư cách đạo đức của họ và có thể khiển trách họ

Sau Ari ;tote, Polybe (201-120 tr CN) - "nhà Hy Lạp La tinh hóa'' -

ngoài sự phân biệt như trên còn nêu lên tính độc lập tương đối cần có trong

quyển lực và hoạt động của mỗi cơ quan Trong tác phẩm "Lịch sử trong 40

quyển" của mình, khi xem xét về tổ chức và hoạt động của Nhà nước La Mã

cổ đại, Polybe khẳng định Hiến pháp La Mã tập hợp ba nguyên tắc hàng đầu,

ba hình thức cơ sở: chế độ quân chủ, chế độ quý tộc và chế độ dân chủ Nó pha trộn ba yếu tô đó một cách thỏa đáng nhất Khảo sát các tổ chức Chấp chính tối cao thì là quân chủ, xem xét Nguyên lão nghị viện thì là quý tộc, nhìn vào các Hội đồng và các quan bảo dân thì là dân chủ Việc phân chia và việc kết hợp rất khéo léo về chủ quyền giữa ba quyền lực làm cho mỗi quyền lực cần đến các quyền lực khác và các quyền lực khác không vượt qua được

nó Hệ thống Hiến pháp hoàn toàn cân đối đó đã dẫn Nhà nước La Mã đến những kết quả tốt nhất về đối nội và đối ngoại Có thể thấy, Polybe đã đi xa

Trang 35

hơn Aristote ở chỗ: ông đòi hỏi các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước phải độc lập với nhau, không được vượt quyền nhau song lại vẫn phải hợp tác với nhau, nhờ đó mà mang lại hiệu quả cao cho hoạt động của nhà nước.

1.2.2 Tư tưởng phân quyền ở Tây Âu thời kỳ Cách mạng tư sản

Trong thời kỳ chế độ phong kiến tồn tại, các tư tưởng về tổ chức bộ máy nhà nước của Aristote và Polybe hầu như không được nhắc đến Các nhà

tư tưởng giai đoạn này chủ yếu ủng hộ thể chế nhà nước tập quyền, đặc biệt là

đề cao vai trò của một vị minh chủ đứng đầu nhà nước Các quan điểm của họ

đã được giai cấp địa chủ phong kiến đứng đầu là nhà vua áp dụng triệt để trong tổ chức bộ máy nhà nước, vì vậy mà đã dẫn đến sự thống trị hầu như tuyệt đối của chê độ quân chủ chuyên chế, của sự chuyên quyền độc đoán Song từ cuối chế độ phong kiến đến Cách mạng Tư sản, dưới ảnh hưởng của tư

tưởng của "Chủ nghĩa Nhân văn' hay "Hệ tư tưởng Phục hưrĩg", nhiều nhà tư

tưởng đã thể hiện rõ quan điểm phản đối chế độ phong kiến tập quyền, chống lại những hành vi bạo ngược, sự lộng quyền và sự lạm dụng quyền lực, chống lại sự -hà đạp lên con người và nhân cách con người Họ nêu lên tư tưởng về các quyền tự nhiên bất khả xâm phạm của con người như quyền tư hữu, tự do, bình đẳng và tư tưởng bảo vệ quyền con người, thể hiện niềm tin vào sức mạnh của lý trí, kinh nghiệm và sức sáng tạo c >a con người Họ đòi hỏi phải

đề cao vai trò của pháp luật và của sự tuân thủ pháp luật trong việc tổ chức và

hoạt đòng của nhà nước, đồng thời thể hiện nhu cầu cấp thiết vé việc phân

chia quyên lực nhà nước Trong hoàn cảnh đó, tư tưởng của Aristote, của

Polybe được "phục hưng", được kế thừa và phát triển h- phái "Bình quân" (leveller) ở Anh, John Locke, Montesquieu và một số tác giả khác

ị , 2.2.1 Tư tưởng phản quyền của John Locke (1632-1704)

1

John Locke là một bác sĩ kiêm triết gia Anh vĩ đại, người ''mà tư íưởtĩg

đã ảnh hưởng mạnh m ẽ đến các nhà lập quốc ỏ Hoa Kỳ”[11, tr 64] Ông là một trcng những người đi tiên phong chống chủ nghĩa chuyên chế, kiên quyết

Trang 36

đòi phải hạn chế quyền lực của nhà nước, của nhà vua Tư tưởng phân quyền

của ông chủ yếu được thể hiện trong tác phẩm "Hai chuyên luận về chính

quyền", tác phẩm mà giá trị của nó được Marcel Prelot đánh giá rằng:

Sự thiếu vắng hoàn toàn việc tái bản ở th ế kỷ XIX và trong tất cả nửa đầu thế kỷ XX tác phẩm của Locke không nên nghĩ răng Locke bị lãng quên hoặc khi đó không còn ảnh hưởng mà ngược lại,

đó là vì các tư tưởng của ông đã gắn một cách trực iiếp vào sự kiện, rằng một sự tái bản không càn đặt ra Từ tư tưởng của Locke mà ba cuộc cách mạng lớìi của th ế kỷ AV7/ và th ế kỷ X\ 'IIỊ: Cách mạng Anh, Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp đã bắt rễ của ( hung trong pháp quyền tự nhiên [41 tr 503].

Trong tác phẩm này, Locke lý giải khá cặn kẽ về nguồn gốc, mục đích của nhà nước và các loại quyền lực nhà nước, về nội dung, phạm vi giới hạn của từng tuyền, về vị trí và mối quan hệ giữa các loại quyền lực nhà nước Theo ôQg, ựọnỊ một nước Cộng hòa có ba loại quyền lực lập pháp, hành pháp và liên bang, cả ba loại quyền lực này đều do nhân dân ủy quyền cho nhà nước hay nói cách thác, nhà nước đều nhận được từ nhân dân thông qua một sự chuyển nhượng bắng khẽ ước rõ ràng xác iHnh; và tất nhiên cả quyền lực nhà nước nói chung lẫn từng loại quyền lực nhà nước nói riẽng đều phải bị hạn chế hoặc bị giới hạn Bởi những điều khoản của khế ước đó Locke luận bàn khá nhiều về quyền lập pháp vì ông coi nó là quyền lực tối cao, song chỉ là tối cao trong số các loại qiyền lực nhà nước chứ không phải là tối cao trong xã hội Ông viết:

"Quyền lự lập pháp là cái mà có quyền chỉ đạo cách thức sử dụng quyền lực của nhà ntớc đ ể bảo tồn cộng đồng và các thành viên của nổ' [86, tr 364].

Trong tất cả các trường hợp, khi chính quyền tồn tạ thì lập }háp là quyền lực tối cao Vì ai có thể làm ra các đạo luậl cho ìgười khác thì cần phải cao hơìi anh ta, và vì quyền lập pháp không

ă cái gì khác ngoài vi éc bằng quyền mà nó có làm ra các đạo luật

Trang 37

cho tất cả các bộ phận và cho mọi thành viên của xã hội, quy định cho họ các quy tắc hành vi và trao quyền trừng phạt những vi phạm pháp luậí; lập pháp phải là tối cao, và tất cả các quyền lực khác của bất kỳ một thành viên hoặc bộ phận nào của xã hội, đều được bắt nguồn từ đó và phụ thuộc vào nó [86, tr 367-368].

Vì cơ quan lập pháp có quyền lực tối cao nên sự thành lập cơ quan lập pháp là đạo luật đầu tiên và cao nhất của xã hội, là tiền đề cho tất cả các đạo luật thực định của nó Các đạo luật thường được làm trong một thời gian ngắn song có hiệu lực không thay đổi và lâu dài nên cơ quan lập pháp không cần phải luôn luôn hiện diện, không cần phải hoạt động thường xuyên bởi vì không cần phải luôn luôn làm ra các đạo luật mới Song các đạo luật đã được làm ra lại cần phải được thực hiện liên tục, phải thường xuyên hiện diện nên cần phải có một quyền lực khác tồn tại thường xuyên để phụ trách viộc thực hiện các đạo luật đã được làm ra và vẫn còn hiệu lực, đó chính là quyền lực hành pháp Hai thứ quyền lực lâp pháp và hành pháp phải luôn luôn được chia tách với nhau và do các chủ thể khác nhau nắm giữ Bởi vì quyền lực có sức quyến rũ rất lớn và con người lại rất dễ bị cám dỗ bởi quyền lực nên có xu hướng cố nắm giữ nó Nếu cừng những con người có cả quyền lập pháp lẫn quyền hành pháp thì họ có thể miễn cho bản thân họ khỏi sự phục tùng những đạo luật mà họ đã làm ra, đồng thời làm cho cả việc xây dựng luật lẫn việc thực hiện nó đều chỉ thuận lợi cho những lợi ích riêng của họ Bằng cách ấy sẽ dẫn đến sự khác biệt về lợi ích giữa họ với những người khác trong xã hội và ngược lại với lợi ích của xã hội và chính phủ Vì vậy, cần phải chia tách giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp (Mặc dù sự giải thích của Locke về lý do phải chia tách giữa quyền lực lập pháp và hành pháp chưa thật sự thuyết phục, song đòi hỏi phải chia tách hai quyền lực này của ông là hoàn toàn có lý)

Ở những nhà nước được tổ chức tốt, có trật tự ổn định, nơi mà lợi ích của toàn thể mọi người đều được tính đến như nó phải được tính thì quyền lập

Trang 38

pháp phải thuộc về nhiều người khác nhau được nhóm họp với nhau một cách đúng đắn và chỉ riêng bản thân họ hoặc cùng với những người khác có quyền làm

ra các đạo luật Nhưng sau khi luật được làm ra thì chính họ cũng phải phục tùng những đạo luật ấy; đó là một sự ràng buộc mới và gần gũi để nhắc nhở họ rằng họ làm luật là vì lợi ích chung Trong nhữỉig nhà nước ấy, việc lập pháp nên

được trao cho sự hợp lực của ba chủ thể Một là một người được cha truyền con

nối thực sự, có quyền lực hành pháp tối cao và cùng với nó có quyền triệu tập

và giải tán hai chủ thể kia trong một thời gian nhất định (người này theo Locke

chính là nhà vua) Hai là một Hội đồng quý tộc cha truyền con nối (giống như Thượng viện ở nước Anh) Ba là một Hội đồng của những người đại diện do

nhân dân bầu ra trong một thời gian nhất định (giống như Hạ viện ở nước Anh)

Ngoài ra, trong mỗi nhà nước còn có một quyền lực khác, quyền này

có thể gọi là tự nhiên bởi vì nó đảm bảo một quyền lực mà mỗi người có một cách tự nhiên trước khi gia nhập xã hội Nội dung của quyền lực này gồm quyền lực về chiến tranh và hòa bình, liên kết và liên minh và tất cả những giao dịch với tất cả những người và cộng đồng bên ngoài nhà nước Nó có thể được gọi là quyền lực liên bang nếu như ai thích, song Locke cũng nói rõ rằng ông không quan tâm lắm đến tên gọi của nó

Hai quyền lực hành pháp và liên bang mặc dù thực sự có sự khác biệt nhau, một quyền lực được hiểu là sự thực hiện các luật lệ riêng của mỗi xã hội

ở bên trong bản thân nó, đối với tất cả các bộ phận của nó, còn quyền lực kia

là sự giữ gìn an toàn và lợi ích của xã hội ở bên ngoài nó, nó có thể nhận được lợi ích hoặc thiệt hại từ những việc đó; và mặc dù quyền liên bang là mạnh hay yếu có tầm quan trọng rất lớn đối với quốc gia, nhưng khả năng được điều chỉnh bởi những đạo luật thực định hiện hành đã được định trước của nó nhỏ hơn nhiều so với quyền hành pháp Song hai quyền trên vẫn hầu như luôn thống nhất với nhau nên rất khó chia tách chúng, trong cùng một thời gian khó

mà trao cho những người khác biệt nhau và điều vô cùng cần thiết là chúng phải được trao cho những người thận trọng, khôn ngoan và phải được thực

Trang 39

hiện vì lợi ích chung Bởi vì cả hai quyền lực này đều cần đến lực lượng của

xã hội để thực hiện chúng nên nếu trao chúng cho những người hoạt động tách biệt nhau thì lực lượng của dân chúng phải theo những mệnh lệnh khác nhau

và có khả năng một lúc nào đó sẽ gây ra sự hỗn loạn và sự sụp đổ Vì vậy mà trong cùng một thời gian chúng phải được trao cho cùng những con người thực hiện và họ phải phụ thuộc vào quyền lực lập pháp (theo ông thì thích hợp nhất

là trao hai quyền này cho nhà vua)

Quyền lực lập pháp có thể quyết định đến hình thức nhà nước vì hình thức của chính quyền phụ thuộc vào nơi được trao quyền lực tối cao, tức là quyền làm luật Theo Locke, khi đa sổ nhân dân có toàn bộ quyền lực của xã hội và đôi khi có thể sử dụng quyền lực đó vào việc làm luật cho xã hội, còn việc thực hiện các đạo luật đó là thuộc về các viên chức do chính họ lựa chọn thì hình thức của chính quyền là chế độ dân chủ Khi quyền làm luật thuộc về một sô người được lựa chọn và những người thừa kê của họ thì đó là hình thức đầu sỏ chính trị Khi quyền làm luật thuộc về một người thì đó là chê độ quân chủ Nếu quyền đó thuộc về ông ta và những người thừa kẽ của ông ta thì đó

là nền quân chủ thế tập; nếu ông ta chỉ giữ quyền đó trong một đời mình nhưng khi õng ta chết, xã hội lại lựa chọn một người kế nghiệp ông ta thì đó là nền quân chủ được bầu Và từ những hình thức đó xã hội có thể tạo ra những dạng ghép hoặc hỗn hợp của chính quyền mà họ cho là tốt Nếu quyền lực lập pháp trước tiên được đa số nhân dân trao cho một người hoặc nhiều hơn nhưng chỉ trong một đời của họ, hoặc trong một thời gian giới hạn nào đó và sau đó, quyền lực tối cao lại quay trở lại với đa sõ và họ lại tiếp tục trao cho những người mà họ tín nhiệm thì ỉạ • tạo thành hình thức mới của chính quyền

Quyền lập pháp không chỉ là quyền lực tối cao của nhà nước mà còn là một quyền lực bất khả xâm phạm và không thể thay đổi được trong tay những người một khi đã được xã hội trao nó, cũng không thể có một sắc lệnh, chỉ dụ của bất kỳ ai, dù được hiểu dưới bất kỳ hình thức nào, hoặc được ủng hộ bởi

Trang 40

bất kỳ quyền lực nào, lại có thể có sự bát buộc và nghĩa vụ giống như một đạo luật; nếu không có sự phê chuẩn của cơ quan lập pháp mà đã được dân chúng lựa chọn và bổ nhiệm Vì nếu không có điều này thì luật pháp không thể có cái mà tuyệt đối cần thiết cho nó trở thành pháp luật, đó là sự ưng thuận của

xã hội, không ai có thể có quyền lực làm luật nếu không bởi sự ưng thuận của chính xã hội và không bởi quyền lực nhận được từ xã hội Tuy vậy, quyền lập pháp vẫn bị hạn chế bởi những điều kiện nhất định Dưới đây là những giới hạn mà sự tín nhiệm của xã hội và luật tự nhiên đã đặt ra cho quyền lực lập pháp của mỗi nhà nước trong tất cả các hình thức của chính quyền

Thứ nhất, nó không phải cũng không thể tuyệt đối chuyên quyền đối với cuộc sống và vận mệnh của nhân dân Bởi vì nhân dân trao quyền cho lập pháp là vì lợi ích chung của xã hội, vì sự bảo tồn cuộc sống và tài sản của

họ nên lập pháp không có một mục đích nào khác ngoài sự bảo tồn những người dưới quyền, và vì vậy nó không thể phá hủy, bắt làm nô lệ hoặc có ý đinh bần cùng hóa những người dưới quyền Các đạo luật của nó phải đưực thiết lập hoàn toàn không vì một mục đích nào khác là vì lợi ích của nhân dân

Thứ hai, quyền lực lập pháp không thể có trong bản thân nó quyền lực

thống trị bằng những sắc lệnh ứng khẩu độc đoán mà nhất định phả) truyền bá

sự công bằng, quyết định quyền của người dân bằng những đạo luật đã được ban hành, đang có hiệu lực và đã trải qua sự xem xét của tòa án Bởi vì, con người chuyển giao toàn bộ quyền lực tự nhiên của họ cho xã hội mà họ đã gia nhập và xã hội sẽ trao quyền lực lập pháp cho những người mà nó cho là phù hợp, với niềm tin tưởng là họ sẽ được điều chỉnh bởi những đạo luật đã được công bô mà nhờ chúng, tài sản và bản thân mỗi người được bảo vệ vì mỗi người sẽ biết được cái gì là của mình Nếu bị điều chỉnh bằng những mệnh lệnh tùy ý và những quyết định không rõ ràng thì hòa bình, an ninh và tài sản của họ vẫn ở trong tình trạng không chắc chắn và loài người sẽ ở trong điều kiên xấu hơn nhiều so với trạng thái tự nhiên Bởi vì như thế là họ đã vũ trang

Ngày đăng: 14/08/2020, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w