để giáo dục cho các thế hệ mai sau, nhất là trong công cuộc xây dựng đấtnước ở thời kì hiện nay.Lịch sử lâu đời của một dân tộc cũng là lịch sử lâu đời của công cuộcxây dựng Nhà nước, xâ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: ThS Nguyễn Văn Nam
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Khóa luận với đề tài “Tổ chức bộ máy Nhà nước thời Trần
(1226-1400)” em được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, dưới sự
động viên, khích lệ của các thầy cô, bạn bè và gia đình
Em gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô khoa Lịch sử đã đào tạo
và trang bị cho em những kiến thức cơ bản giúp em thực hiện khóa luận này.Đồng thời, em xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người đãđộng viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện để em có thể thực hiện khóa luậnthành công
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Th.S Nguyễn Văn Nam
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian làm khóa luận
Trong quá trình thực hiện khóa luận, em không tránh khỏi những thiếusót, kính mong các thầy cô nhận xét và góp ý để bài khóa luận của em đượchoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!Sinh viên thực hiện
ĐỖ THỊ LƠ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những vấn đề em trình bày trong khóa luận là kết quảnghiên cứu của bản thân em, được sự hướng dẫn tận tình của Th.S NguyễnVăn Nam, không trùng với kết quả của các công trình nghiên cứu khác
Nếu sai sót em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên thực hiện
ĐỖ THỊ LƠ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Những đóng góp mới của bài khóa luận 8
7 Bố cục của bài khóa luận 8
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI TRẦN (1226-1400) 10
1.1 Sự thành lập của nhà Trần 10
1.2.Tổ chức bộ máy nhà nước trước thời Trần 12
1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử 12
1.2.2 Chính quyền trung ương 15
1.2.3 Chính quyền địa phương 20
1.3 Sự mô phỏng tổ chức bộ máy nhà nước Trung Hoa 23
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI TRẦN (1226-1400) 26
2.1 Tổ chức chính quyền Trung ương thời Trần 26
2.1.1 Mô hình tổ chức 26
2.1.2 Văn Ban 31
2.1.3 Võ Ban 37
2.1.4 Hoạn Quan 40
2.1.5 Chức quan đứng đầu kinh đô 40
2.2 Tổ chức chính quyền địa phương 42
2.3 Hoạt động của các cơ quan kiểm tra, giám sát cấp Trung ương 47
2.4 Cơ chế tuyển bổ, khảo khóa, thưởng phạt và chế dộ hưu trí đối với quan lại thời Trần 51
Trang 52.4.1 Cơ chế tuyển bổ quan lại 51
2.4.2 Chế độ khảo khóa, thưởng phạt 53
2.4.3 Chế độ hưu trí 54
Tiểu kết chương 2 55
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI TRẦN (1226-1400) 57
3.1 Đặc điểm 57
3.1.1 Nền quân chủ quý tộc đậm tính chất dòng họ 57
3.1.2 “Lưỡng đầu chế” tồn tại xuyên suốt triều đại 60
3.1.3 Bộ máy nhà nước chuyển dần từ quân chủ quý tộc sang quân chủ quan liêu 63
3.1.4 Bộ máy mang tính dân tộc cao 64
3.1.5 Bộ máy nhà nước vững mạnh hơn trước đó và có những nét độc đáo, đặc thù 66
3.2 Vai trò 70
3.2.1 Tạo ra sức mạnh để phát triển kinh tế, văn hóa, ngoại giao 70
3.2.2 Giúp Đại Việt bảo vệ và mở rộng bờ cõi 72
3.2.3 Giúp quản lý tốt hơn các cấp hành chính địa phương 73
Tiểu kết chương 3 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 6để giáo dục cho các thế hệ mai sau, nhất là trong công cuộc xây dựng đấtnước ở thời kì hiện nay.
Lịch sử lâu đời của một dân tộc cũng là lịch sử lâu đời của công cuộcxây dựng Nhà nước, xây dựng hệ thống hành chính quản lí Nhà nước, trongcông cuộc đó, bất kì dân tộc nào cũng phải quan tâm tới hai yếu tố “dân tộc”
và “hiện đại” Yếu tố hiện đại thông thường gắn với ý trí và nguyện vọng củacon người; yếu tố dân tộc phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử mỗi dân tộc vàmang ý thực tiễn
Do điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội của Việt Nam, dựng nước vàgiữ nước luôn luôn gắn liền với nhau Vì vậy ở mỗi giai đoạn lịch sử, tầng lớpthống trị của mỗi triều đại, mỗi thời kì không chỉ lo xây dựng Nhà nước, củng
cố hành chính quốc gia cho phù hợp với yếu tố thời đại của mình mà cònquan tâm tới yếu tố dân tộc Bởi ngoài nhiệm vụ thống trị và bóc lột, Nhànước phải được sự ủng hộ của nhân dân cả trong thời bình và thời chiến đểgiữ vững biên cương, bảo vệ Tổ quốc và trong xây dựng đất nước
Tổ chức bộ máy Nhà nước thời Trần không chỉ được kế thừa từ cáctriều đại khác trước đó mà các vua Trần còn biết dựa vào hoàn cảnh thực tiễn
Trang 7và ý chí nguyện vọng của nhân dân, của tầng lớp quý tộc Trần để xây dựng.
Có thể khẳng định, trong thời kì cai trị của mình, các vị vua nhà Trần đã xâydựng được một nhà nước vững mạnh - đủ sức lãnh đạo nhân dân xây dựng đấtnước và đánh bại ba lần đế chế Mông Nguyên hùng mạnh rộng lớn nhất thếgiới lúc đó, tạo nên hào khí Đông A sống mãi trong lòng dân tộc Đó là mộtthành tựu, là bước tiến dài trên con đường xây dựng bộ máy quốc gia thờitrung đại, tạo những tiền đề quan trọng để hoàn thành quá trình phong kiếnhóa ở Việt Nam vào thời kì Lê sơ thế kỉ XV
Nghiên cứu đề tài này góp phần làm sáng tỏ tổ chức bộ máy nhà nướcthời Trần đồng thời giúp chúng ta thấy được sự phát triển của lịch sử tổ chức
bộ máy nhà nước Việt Nam thời trung đại Cũng thông qua công trình nghiêncứu góp phần hiểu rõ hơn lịch sử triều Trần với tư cách một triều đại tồn tạilâu dài và có những thành tựu to lớn với lịch sử dân tộc
Điểm lại các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ Ngô Quyền đếnkháng chiến chống Pháp có 12 lần thì ít nhất có 8 lần do nhà nước đứng ralãnh đạo Ở đó tính dân tộc được đặt lên trên hết
Trong thời kì phong kiến, bên cạnh những yếu tố bất ổn thì hầu hết cáctriều đại có nhiều thời gian thịnh trị Muốn có điều đó thì phải có một hệ thốnghành chính quốc gia ổn định, có một hệ thống quan lại trung thành, tâm huyết
Cải cách của Lê Thánh Tông và Minh Mạng đều được tiến hành khi đấtnước vào thời kì ổn định và thống nhất Thời Minh Mạng sau cải cách có 30tỉnh Cả hai nhà nước đều tìm cách hạn chế quan lại Thời Lê Thánh Tông cókhoảng 5.370 quan lại, thời Minh Mạng có khoảng 20.000 quan lại (trừ cấpxã) với mục đích xây dựng được đội ngũ quan lại trung thành và có nền hànhchính ổn định, quan lại có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng
Công cuộc cải cách hành chính hiện tại đang diễn ra ở nước ta cũng đặt
ra yêu cầu tìm hiểu tổ chức bộ máy nhà nước trong lịch sử để kế thừa, phát
Trang 8huy và phát triển những kinh nghiệm của quá khứ phục vụ cho sự nghiệp xâydựng đất nước hiện tại và tương lai.
Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn như trên, em chọn đề tài “Tổ chức bộ
máy
nhà nước thời Trần (1226-1400)” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu này đã được đặt ra từ sớm, có khá nhiều tác giả đãnghiên cứu vấn đề nhà nước quân chủ chuyên chế trong thời kì phong kiếnViệt Nam, trong đó có những công trình nghiên cứu có giá trị về thể chế nhànước quân chủ quý tộc Trần Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu cóliên quan như:
Trước Cách mạng tháng Tám 1945:
Các tư liệu, tài liệu đương thời như chính sử Đại việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên và một công trình nghiên cứu rất quan trọng là Lịch triều hiến
chương loại chí của Phan Huy Chú, đặc biệt là phần Quan chức chí là tư liệu
quý về tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần, ghi chép tổ chức, vai trò các cơquan cũng như các chức quan thời kì nhà Trần
Thế kỉ XVIII nhà sử học Lê Qúy Đôn đã bước đầu tìm hiểu về tổ chức
bộ máy nhà nước Lý, Trần, Lê Sơ và chính quyền Đàng Trong ghi trong Đại
Việt thông sử.
Sang thế kỉ XIX, Phan Huy Chú nối tiếp việc làm của Lê Qúy Đôn
trong cuốn Lịch triều Hiến Chương Loại Chí.
Sau đó nhà sử học Đặng Xuân Bảng trong Sử học bị khảo tác giả so
sánh bộ máy Nhà nước Việt Nam qua các thời kì, nêu tên các quan chức cácthời kì
Trong thời kì Pháp thuộc có tác phẩm: Việt Nam quốc sử khảo của Phan Bội Châu, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Tổ chức Nhà nước An
Nam của A Pelonster…cũng đã đề cập đến bộ máy nhà nước thời Trần nhưng
rất sơ lược
Trang 9Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945đến nay:
Song song với việc nghiên cứu lịch sử dân tộc, một số tác giả đã tìmhiểu sâu hơn hệ thống hành chính thời phong kiến như:
Cuốn Lịch sử Việt Nam, tác giả Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm,
Lê Mậu Hãn xuất bản năm 2010 là cuốn thông sử đề cập hầu hết những sự kiện
lớn ở Việt Nam trong đó có vấn đề “Chế độ quân chủ quý tộc” thời nhà Trần,
tuy nhiên vấn đề này chưa được các tác giả đi sâu tìm hiểu và có hệ thống
Tác phẩm “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX” của Đào
Duy Anh, tác phầm do nhà xuất bản Văn hóa thông tin xuất bản năm 2002.Tác phẩm này đã được trình bày một cách cụ thể từ nhà nước phong kiến tựchủ Lý cho tới nhà Trần Mặc dù chưa nghiên cứu sâu nhưng cũng đã đưa rađược những cơ sở để giúp người đọc có được nguồn tư liệu, hiểu biết thêm vềvấn đề liên quan đến tổ chức chính quyền ở trung ương và địa phương dướithời Trần
Cuốn Lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thuỷ đến năm 1858, tác giả Trương Hữu Quýnh- Nguyễn Cảnh Minh và Cuốn Tiến trình lịch sử Việt
Nam- PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc chủ biên, nhà xất bản giáo dục, Hà Nôi
2012 cũng hệ thống lại các vương triều phong kiến Việt Nam về tình hìnhkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nói chung và vương triều Trần nói riêngcũng được đề cập
Các công trình nghiên cứu thông sử do các nhà khoa học biên soạn đã
được công bố nhiều năm qua như bộ Lịch sử Việt Nam nhiều tập của tập thể
các tác giả uỷ ban khoa học xã hội xuất bản năm 1971, nhóm biên soạn (TrầnVăn Giàu, Trần Bạch Đắng…)
Giáo trình của tập thể tác giả Đại học tổng hợp Hà Nội, bộ Lịch sử ViệtNam nhiều tập, các công trình hợp thành sách viết về triều Trần cũng đã đượcxuất bản trong những năm qua như tuyển tập những bài nghiên cứu về triềuTrần, Lịch sử vương triều Trần
Trang 10Các bộ sách trên có trình bày giản lược thiết chế chính trị nước tatrước đây.
Ngoài ra còn có Tạp chí nghiên cứu lịch sử, các học giả trong và ngoàinước nghiên cứu về vấn đề “lưỡng đầu chế”, hiện tượng “song trùng lãnhđạo” trong bộ máy Nhà nước thời Trần như PGS TS Nguyễn Văn Kim, PGS
TS Trần Ngọc Vương xuất bản ngày 21/05/2010
Cần phải kể đến các báo, tạp chí, tập san như “Phương thức tuyển dụng
quan lại thời Trần”, tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 07, 2006 của Nguyễn Thị
Phương Chi cũng đã đề cập đến nội dung cách thức tuyển chọn quan lại ởvương triều Trần
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử với bài viết “Chiến lược phòng thủ đất
nước qua hệ thống thái ấp thời Trần”, tạp trí nghiên cứu lịch sử số 08 của
Nguyễn Thị Phương Chi đề cập những nội dung bao chùm về vai trò của quýtộc Trần trong các cuộc kháng chiến chống quân Mông- Nguyên
Như vậy, nghiên cứu Tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần đã có mộtquá trình lịch sử với khá nhiều tác giả quan tâm Tuy nhiên hầu hết các côngtrình nghiên cứu được công bố đều viết dưới dạng khảo cứu, giáo trình bàigiảng phục vụ giảng dạy, tìm hiểu một cách khái quát chung và gắn với cáclĩnh vực khác nên mới chỉ mô tả được một số thiết chế quan trọng của nhànước quân chủ như chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, tổ chứcquân đội…, chứ chưa quan tâm đúng mức đến các thành tố khác của tổ chứcnhà nước quân chủ như: pháp luật, việc kiểm tra giám sát, việc đào tạo, tuyểndụng quan lại, nhiệm vụ, quyền lợi, khảo khóa quan lại, vấn đề khen thưởng,
kỉ luật, hưu trí của quan lại… nên đề tài nghiên cứu chưa có hệ thống vàchuyên sâu Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên cũng đã đề cập đượcnhiều khía cạnh của đề tài, đây là nguồn tư liệu quan trọng để tác giả thamkhảo trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trang 113 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Đề tài nhằm làm rõ việc tổ chức chính quyền trung ương và địa phươngdưới triều đại phong kiến Trần để nhìn thấy rõ được sự tiến bộ, phát triển củatriều đại so với các triều đại trước Đồng thời có thể rút ra được những nhậnđịnh, đánh giá về vấn đề này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở để nhà Trần tổ chức bộ máy Nhà nước Thông qua việctìm hiểu hoàn cảnh lịch sử thời Trần và tổ chức bộ máy Nhà nước các vươngtriều phong kiến trước đó ở Việt Nam để rút ra những cơ sở, tiền đề cho nhàTrần tổ chức bộ máy Nhà nước
Nghiên cứu tổ chức bộ máy Nhà nước ở Trung ương và địa phương,các thiết chế chính trị và phương thức vận hành của Nhà nước
Nghiên cứu tính chất, đặc điểm và vai trò của Tổ chức bộ máy Nhànước thời Trần (1226-1400) trong việc quản lý, xây dựng đất nước, chốnggiặc ngoại xâm; bước tiến trong quản lý làng xã chính quyền địa phương vàchỉ ra những kinh nghiệm quý báu từ tổ chức bộ máy Nhà nước thời Trần
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần (1226-1400)
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Về không gian: Tổ chức bộ máy Nhà nước trên lãnh thổ quốc gia Đại
Việt thời kì nhà Trần
Về thời gian: Vương triều Trần từ năm 1226-1400 Trong quá trình
nghiên cứu để làm rõ hơn tác giả đã mở rộng thời gian nghiên cứu tới cáctriều đại trước triều Trần (Ngô, Đinh- Tiền Lê, Lý)
Trang 125 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu nghiên cứu
Tư liệu gốc:
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú do nhà xuất bản
khoa học xã hội xuất bản năm 1992
Đại Việt thông sử và Kiến văn tiểu lục của Lê Qúy Đôn do nhà xuất bản
khoa học xã hội xuất bản năm 1978
Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê do nhà
xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 2009
Tư liệu từ bảo tàng Lịch sử Việt Nam, địa chỉ số 1, Tràng Tiền, Hà Nội.
Tư liệu xuất bản:
Các cuốn sách, giáo trình như Lịch sử Việt Nam của Trương Hữu Quýnh, Tiến trình Lich sử Việt Nam của PGS TS Nguyễn Quang Ngọc viết
về tình hình kinh tế, chin trị, xã hội thời Lý, Trần
Tập san “Đường lối trị nước của vương triều Trần giữa hai cuộc kháng
chiến chống Mông- Nguyên năm 1258- 1285” của Trần Thị Thái Hà; Tạp chí
nghiên cứu lịch sử “Đào tạo và trọng dụng nhân tài ở Thăng Long thời Trần”
của Nguyễn Thị Phương Chi
Các nguồn tư liệu tìm kiếm khác
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Để thực hiện đề tài này, người viết đã dựa trên cơ
sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàquan điểm của Đảng về nghiên cứu khoa học lịch sử Đó là kim chỉ nam trongquá trình hệ thống, sử lí, khai thác và sử dụng tư liệu có liên quan đến nộidung nghiên cứu
- Về phương pháp nghiên cứu: người viết vận dụng phương pháp lịch
sử, phương pháp logic nhằm đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu các
Trang 13sự kiện, hiện tượng lịch sử Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phươngpháp khác như phân tích, so sánh, tổng hợp, liệt kê… để rút ra những nhận xétcần thiết.
6 Những đóng góp mới của bài khóa luận
Lần đầu tiên, khóa luận đã tập hợp được hệ thống khá đầy đủ các nguồntài liệu về tổ chức bộ máy thời Trần Các tài liệu này không chỉ giúp làm sáng
tỏ tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần mà còn góp phần tìm hiểu tổ chức bộmáy nhà nước của các triều đại khác, của chế độ phong kiến Việt Nam
Khóa luận là công trình đầu tiên trình bày một cách hệ thống, toàn diện
về tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần Đề tài đã làm rõ tổ chức bộ máy nhànước trên các khía cạnh: pháp luật, việc kiểm tra giám sát, việc đào tạo, tuyểndụng quan lại, nhiệm vụ, quyền lợi, khảo khóa quan lại, vấn đề khen thưởng,
kỉ luật, hưu trí của quan lại… Qua đó rút ra những đặc điểm, vai trò của tổchức bộ máy nhà nước thời Trần Việt Nam đã và đang tiến hành cải cáchhành chính quốc gia, từ trung ương xuống địa phương, đề tài khoa học này sẽgóp phần nhỏ giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, các nhànghiên cứu… những bài học kinh nghiệm bổ ích và quý báu trong khi thựchiện chức trách của mình
Công trình nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinhviên chuyên nghành lịch sử Việt Nam cổ- trung đại, cho việc dạy và học Lịch
sử Việt Nam trong giai đoạn này ở chương trình phổ thông và những ai cónhu cầu đi sâu vào tìm hiểu về lịch sử nhà Trần
7 Bố cục của bài khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo bàikhóa luận chia thành 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜITRẦN (1226-1400)
Trang 14Chương 2: TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI TRẦN Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚCTHỜI TRẦN (1226-1400)
Trang 15là chống Bắc thuộc, giành độc lập dân tộc, chống dứt họa Bắc thuộc hơn 1000năm và mở ra thời kỳ phát triển lâu dài cho đất nước.
Sự thành lập và củng có chính quyền độc lập từ nền móng ban đầu củachính quyền họ Khúc, họ Dương rồi đến nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê Nền độc lậpđược củng cố sau hơn 1000 năm Bắc thuộc đó là cuộc kháng chiến chốngngoại xâm của Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đã tạo ra thế và lực tươngđối của đất nước Thừa hưởng hơn 1000 năm Bắc thuộc, xã hội ta không khỏikhông chứa đựng những mối quan hệ khác nhau, phức tạp và mâu thuẫn Mốiquan hệ ấy được biểu hiện với xu hướng cát cứ và trỗi dậy và điều đó đượcbiểu hiện rõ nhất cuối thời Ngô- Loạn 12 sứ quân Năm 944, Ngô Quyền mất,Dương Tam Kha cướp ngôi các hào trưởng địa phương nổi dậy Đinh Bộ Lĩnhhùng cứ Hoa Lư (Ninh Bình), rồi tiếp đến “Loạn 12 sứ quân” phải có mộtcuộc đấu tranh mới: Đấu tranh cho sự thống nhất đất nước, cho sự xác địnhmột lãnh thổ nhất định và chỉ như vậy mới có điều kiện xây dựng một nhànước vững chắc, bền vững
Năm 981 hoàng hậu họ Dương đã khoắc áo long cổn cho Lê Hoàn vàmời ông lên ngôi Hoàng Đế Năm 1005, Lê Hoàn mất, các con của Lê Hoànhuy động lực lượng trong các thái ấp của mình đánh lẫn nhau trong vòng támtháng để giành ngôi báu Năm 1006, Lê Long Việt lên ngai vàng được bangày thì bị em là Lê Long Đĩnh giết hại để cướp ngôi Long Đĩnh vừa tàn bạovừa ham mê tửu, sắc, vừa bị bệnh không ngồi được, nên khi coi chầu phải
Trang 16nằm, sử cũ gọi là vua Ngoạ Triều Tình hình chính trị cuối thời Lê ngày càngthối nát, nhân dân oán giận.
Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết, triều thần chán ghét nhà Tiền Lê, vìvậy, các sư tăng và đại thần, đứng đầu là sư Vạn Hạnh, tôn Điện tiền chỉ huy
sứ là Lý Công Uẩn lên làm vua mở đầu cho vương triều Lý (1010-1025)
Nhà Lý đến thời vua Nhân Tông (1072-1127) đã đạt được đỉnh cao của
sự thịnh trị Nhưng từ đời Anh Tông (1138-1175) về sau chính sự dần dần suykém Các vua lên ngôi thì nhỏ tuổi (Thần Tông 11 tuổi, Anh Tông 5 tuổi, CaoTông 2 tuổi…) và đều chết yểu (Thần Tông chết năm 21 tuổi, Cao Tông chếtnăm 27 tuổi…) quyền hành nằm trong tay ngoại thích mà không ít là bọn mọtnước hại dân, lộng hành tham bạo.Từ khỏang giữa thế kỉ XII, triều Lý bắt đầuthoái hoá và lao nhanh vào con đường suy vong Đất nước lâm vào cảnh loạnlạc, giặc cướp tứ tung
Chính trị thối nát, kinh tế tiêu điều khiến lòng căm hờn của nhân dânngày càng bốc cao Các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra như cuộc nổi dậy củaThân Lợi (1140), năm 1152 người miền Đại Hoành (Ninh Bình) cũng nổi dậydậy do Nùng Khả Lai chỉ huy Các hào trưởng lớn như Đoàn Thượng, ĐoànChủ nổi dậy ở Hồng Châu (Hải Dương và Hải Phòng)…
Phong trào khởi nghĩa cuối cùng bị thất bại nhưng đã làm lay chuyểntoàn bộ quyền thống trị của nhà Lý, nhân lúc chính quyền trung ương suy yếu
và tàn tạ, các thế lực phong kiến địa phương lại trỗi dậy âm mưu cát cứ.Trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỉ XIII, đất nước lâm vào cảnh loạn lạc
do những cuộc chiến tranh đẫm máu giữa các phe phái phong kiến gây ra
Trong các thế lực cát cứ bấy giờ thì tương đối mạnh nhất có họ Trần ởHải Ấp (Thái Bình), Đoàn Thượng ở Hồng Châu (Hải Hưng), Nguyễn Tự ởQuốc Oai (Hà Tây), Nguyễn Nộn ở Bắc Giang (Hà Bắc) Trong tình hình đónhà Lý luôn tỏ ra bất lực, nhân dân ngày càng khổ cực vì các cuộc chiến
Trang 17Trong các cuộc chiến tranh đó, thế lực nhà Trần dần dần phát triển vàtrở thành mạnh nhất Cuối cùng, họ Trần khống chế được chính quyền trungương đang hấp hối và chiến thắng các thế lực cát cứ khác Cuối năm 1225,triều Lý phải rời khỏi vũ đài chính trị để nhường chỗ cho một vương triều mới
Với sự thành lập vương triều Trần, chế độ trung ương tập quyền đượckhôi phục và cuộc nội chiến giữa các thế lực phong kiến chấm dứt Về kháchquan, điều đó phù hợp với nguyện vọng hoà bình, thống nhất của nhân dân vàyêu cầu phát triển của lịch sử Triều Trần thay thế triều Lý là một Triều đạimất hết sinh khí vào một hoàn cảnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đó là lúcnhững đoàn quân viễn chinh của đế quốc Mông Cổ đang làm mưa làm giótrên lục địa Á-Âu, đe doạ nghiêm trọng đến vận mệnh của các dân tộc trên thếgiới và đất nước ta cũng đang bước vào một cơn thử thách nguy hiểm nhấttrong lịch sử kể từ khi dựng nước cho đến lúc đó
1.2.Tổ chức bộ máy nhà nước trước thời Trần
1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử
Sau hơn một nghìn năm đấu tranh lâu dài và quyết liệt, nhân dân ta đãgiành được độc lập Bối cảnh lịch sử mới của đất nước đã đặt ra yêu cầu xâydựng và quản lý nhà nước độc lập, tự chủ để vừa giữ vững nền độc lập, vừa
Trang 18tạo tiền đề cho sự phát triển đất nước Các triều đại từ họ Khúc, Ngô, Đinhđến Tiền Lê đã nối tiếp nhau xây dựng nhà nước phong kiến độc lập theo môhình quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền với những thành tựu đáng kể.
Đầu năm 905, nhân sự suy yếu của nhà Đường, Khúc Thừa Dụ đã lãnhđạo nhân dân khởi nghĩa giành lấy chính quyền, ách đô hộ bị lật đổ, KhúcThừa Dụ dựng nền tự chủ, lập chính quyền mới và sau đó nhà Đường buộcphải phong ông làm Tiết độ sứ Nền thống trị của phong kiến phương Bắc về
cơ bản chấm dứt
Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, nối tiếp sự nghiệp của cha, Khúc Hạolên thay đã tiến hành nhiều cải các về các mặt xây dựng một đất nước độc lập,
tự chủ Nhà nước đầu tiên của thời đại mới được xây dựng Khúc Hạo đã bãi
bỏ mô hình tổ chức hành chính thời Đường, điều chỉnh lại các đơn vị hànhchính trong nước, cho đổi hương làm giáp và lấy giáp làm đơn vị cơ sở.Ngoài ra, họ Khúc còn đặt thêm nhiều giáp mới, thể hiện việc mở rộng vàcủng cố nền độc lập, tự chủ của nhà nước và tách khỏi phạm vi thế lực củaphong kiến Trung Quốc Ngoài ra, họ Khúc còn đặt chế độ thuế khoá, bướcmới chỉ là một chính quyền tự chủ ở thời kì phôi thai, nền móng cho sự ra đờicủa một chính quyền độc lập, tự chủ, kiện toàn ở thời kì sau
Năm 931, sau khi đánh bại quân Nam Hán, Dương Đình Nghệ lại xưng
là tiết độ xứ, về chính trị không có sự thay đổi
Năm 939, danh tướng Ngô Quyền sau khi đánh bại quân xâm lược NamHán với chiến thắng Bạch Đằng vang dội đã quyết định xưng vương, bãi bỏchế độ tiết độ sứ, xây dựng cung điện, triều đình, đặt trăm quan, chế định triềuphẩm phục, đóng đô ở Cổ Loa- Đông Anh- Hà Nội
Đứng trước yêu cầu chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc mọingười đã đoàn kết lại Nhưng khi nguy cơ ngoại xâm bị đẩy lùi thì bắt đầuxuất hiện các mâu thuẫn
Trang 19Cuối thời Ngô xu hướng cát cứ trỗi dậy dẫn đến “Loạn 12 sứ quân”phải có một cuộc đấu tranh mới: Đấu tranh cho sự thống nhất đất nước, cho
sự xác định một lãnh thổ nhất định và chỉ như vậy mới có điều kiện xây dựngmột nhà nước vững chắc, bền vững Năm 981 hoàng hậu họ Dương đã khoắc
áo long cổn cho Lê Hoàn và mời ông lên ngôi Hoàng Đế Hệ thống quan lạiđơn giản, chưa hình thành các cơ quan hành chính
Bấy giờ chế độ giáo dục nho học thời Bắc thuộc ít ảnh hưởng tới cưdân người Việt Do đó bấy giờ qua lại giữa Đại Việt và các triều đại phongkiến phương Bắc thường do nhà sư đảm nhận
Tiếp theo nhà Đinh- Tiền Lê, đến thời Lý chế độ trung ương tập quyềnngày càng được tăng cường Đây là thời kì phong kiến độc lập tự chủ luônphải thường trực đấu tranh chống ngoại xâm và cũng là thời kì mở đầu choquá trình phong kiến hóa ở Việt Nam
Sau khi lên ngôi đặt niên hiệu Thuận Thiên, Lý Công Uẩn ban Chiếurời đô từ Hoa Lư về Thăng Long Từ năm 1010, Thăng Long với cái thế
“Rồng cuộn Hổ ngồi” đã trở thành kinh đô của Đại Việt
Xã hội Đại Việt dưới thời Lý là một bước phát triển khá cơ bản so vớicác triều đại trước ở thế kỉ X, nền độc lập được xác lập vững chắc
Cùng với đó, sự nghiệp kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ tổquốc như sợi dây vô hình đã thắt chặt khối đại đoàn kết toàn dân, là một trongnhững nhân tố quan trọng chi phối việc xây dựng hệ thống hành chính quốcgia thời kỳ này
Chịu ảnh hưởng của hơn 1000 năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiếnViệt Nam vừa thiết lập một bộ máy nhà nước theo mô hình bộ máy nhà nướccủa Trung Hoa, vừa mang những nét mới phù hợp với hoàn cảnh lịch sử củadân tộc
Trang 201.2.2 Chính quyền trung ương
1.2.2.1 Nhà nước thời Đinh- Tiền Lê
Năm 905- 907: Chính quyền họ Khúc, Khúc Thừa Dụ xưng tiết độ sứ,sau đó Khúc Hạo lên thay tiến hành một loạt các cải cách Khúc Thừa Dụ chỉxưng là tiết độ sứ có thể lúc đó khi vừa mới giành được độc lập thế và lực của
ta còn yếu và đó cũng là một hình thức ngoại giao
Năm 938, sau khi đánh thắng quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vươngđóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), đặt trăm quan chế định triều nghi Sau khiNgô Quyền Mất, anh em cát cứ dẫn đến loạn 12 sứ quân điều này chứng tỏchính quyền trung ương chưa đủ mạnh
Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hòang đế, bỏ niênhiệu của hoàng đế Trung Hoa tự đặt niên hiệu là Thái Bình, đặt tên nước làĐại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư Bước đầu xây dựng bộ máy nhà nước vàchính quyền
Điều đó đã khẳng định sự tồn tại của một quốc gia độc lập ở phía NamTrung Quốc, từ thời Đinh đến Tiền Lê bước đầu xây dựng được Nhà nướcđộc lập tự chủ lâu dài
Về thể chế, đó là một nhà nước quân chủ chuyên chế Trung ương tậpquyền Tuy nhiên thể chế ấy, vua thực chất là các thủ lĩnh quân sự (vừa chinhphục các dân tộc thiểu số, vừa trực tiếp đi chống ngoại xâm) Vua trực tiếpnắm quyền xét quan chức, phân chia các đơn vị hành chính, xét sử vụkiện lớn, tiếp đón sứ thần ngoại quốc, chủ trì các hoạt động ngoại giao, banhành chế độ thuế khóa và binh dịch
Theo thể định chế, cha truyền con nối (người trong hoàng tộc và phải làcon trưởng) Giúp việc cho vua là một số quan đại thần
Từ nhà Đinh, Tiền Lê bắt đầu đặt các chức Trấn tướng, và Trấn quốcbộc xạ quản lý các vùng xa, chủ yếu giao cho các hoàng tử trông coi
Trang 21CÁC QUAN ĐẠI THẦNThái sư, Tổng quản, Chi hậu, Phụng
Đại sư, Pháp
sư, Tăng lực,Đạo sĩ
Tổ chức chính quyền trung ương thời Tiền Lê
Tổ chức bộ máy Nhà nước trong thế kỉ X từ chính quyền họ Khúc đếnTiền Lê còn đơn sơ về mặt thiết chế, chức danh và còn gần dựa theo quanchế nhà Đường, nhà Tống
Nhà nước là sản phẩm của cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, chínhquyền từ họ Khúc đến Tiền Lê ngày càng được củng cố từ trung ương đến địaphương Đó là một chính quyền độc lập tiêu biểu cho chủ quyền quốc gia củanước ta Tính độc lập tự chủ của nhà nước được củng cố và nâng cao dần theomức độ thắng lợi của cuộc đấu trang giải phóng dân tộc và quá trình xâydựng lực lượng của đất nước
Nhìn vào toàn bộ cục diện, bên cạnh tính độc lập ngày càng cao còn cócuộc đấu tranh chống cát cứ, xây dựng và củng cố chính quyền tập chung bởichỉ có nhà nước trung ương mới có thể lãnh đạo nhân dân chống ngoạixâm
Trang 22và lãnh đạo nhân dân thúc đẩy phát triển kinh
tế
1.2.2.2 Nhà nước thời Lý
Thời Lý tiếp nối công cuộc xây dựng đất nước của thời kì Ngô- Tiền Lê Trên cơ sở đó nhà Lý xây dựng bộ máy nhà nước ngày càng hoànchỉnh, nền độc lập được củng cố vững chắc hơn
Đinh-Từ thời Lý trở đi, kinh tế có bước phát triển mạnh so với thời kì trướctrên cả 3 mặt: Nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp
+ Trong nông nghiệp chú ý đến khai hoang, làm thủy lợi, thể hiện vaitrò của Nhà nước và các chức quan
+Thủ công nghiệp: quan xưởng và các chức quan phụ trách quản lý.+Thương nghiệp phát triển, xuất hiện các cảng như Vân Đồn, thể hiệnvai trò quan trọng của nhà nước trong việc quản lý
Ngoại giao và kháng chiến chống ngoại xâm liên quan tới hai vấn đề:+Thứ nhất trong ngoại giao phải giữ được an ninh và chủ quyền quốc gia+Thứ hai kháng chiến chống ngoại xâm nhà nước cũng phải đoàn kếttoàn dân điều này liên quân đến việc tổ chức bộ máy nhà nước và quan lại.Thực tế điều đó được thể hiện trong cuộc kháng chiến chống Tống xâm lượcdưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt (1075-1077)
Văn hóa, xã hội: Thời Lý tư tưởng chính thống là Phật Giáo do đó bộmáy nhà nước thời kì này rất gần dân và mang tính dân chủ Cũng từ năm
1075 lập Văn miếu và tuyển chọn thi cử tầng lớp quan lại được tuyển chọn vàtầng lớp Nho sĩ phát triển Tính quan liêu trong bộ máy quan lại được thểhiện rõ rệt
Trang 23Tả Hữu bộc xạ, Tả Hữu phúc tâm
SẢNH (Thượng thư
sảnh, Trung thư
sảnh)
Viện(Hàn lân viện, Khumật việt, Quốc sử
viện)
Các bộLại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công
Một số cơ quan khác(Quốc tử giám, khuyến nông ty)
Tổ chức chính quyền Trung ương thời Lý
Trang 24Bộ máy nhà nước thời Lý, đứng đầu là Vua, nguyên tắc chung vẫn làcha truyền con nối:
Vua là người có chức vị cao nhất trong triều, là người đại diện choquyền thống trị của dòng họ cầm quyền, cũng là người đại diện cho quốc gia,thay trời trị dân Nắm toàn bộ quyền hành chính trị, quân sự, ngoại giao, lễnghi (Vương quyền gắn với thần quyền) là người phong chức quan caocấp,trực tiếp nghe các quan báo cáo tình hình và dâng sớ đề nghị các vấn đềchính sự, là người ban hành chế độ thuế khóa, lệnh kiểm duyệt dân binh
Về ngoại giao, vua là người trực tiếp nhận sắc phong, tiếp đãi các sứthần nước ngoài, chịu trách nhiệm về thái độ của mình với tư cách là ngườiđại diện cho dân tộc
Trong các ngày lễ của quốc gia, vua là người chủ tế
Vua là người thống lĩnh quân đội, chỉ huy quân trong chiến tranh
Vua là người ban hành luật pháp
Giúp việc cho vua là bộ máy quan lại gồm nhiều cấp bậc: gần vua nhất
là một số đại thần, không có số lượng nhất định, thông thưởng gồm cócác chức: Tam Thái (Thái sư, Thái phó,Thái bảo); Tam Thiếu (Thiếu sư, Thiếuphó, Thiếu bảo); Tư đồ, Phụ quốc Thái úy, Tả Hữu bộc xạ Những người nàyđược bàn bạc việc nước cùng với vua
Bên dưới có một số chức vụ quan trọng như: Tả Hữu phúc tâm; Hữugián nghị đại phu, là những người gần gũi, thân cận vua, khuyên răn vua lúccần
Dưới cấp đại thần là một hệ thống các cơ quan chỉ đạo các hoạtđộng của Nhà nước gọi chung là Hành khiển (là tên gọi một số quan chứcthừa hành cấp cao)
Bên dưới gồm một loạt các đài, viện, ty, tư, cục
Trang 25Như vậy, trong hệ thống hành chính thời Lý chúng ta đã thấy các bộ
Trang 26phận chuyên trách về chính trị, pháp luật, quân sự, giáo dục, nghi lễ nhànước, ngoại giao, bảo vệ cung điện hoàng tộc Tuy nhiên việc phân công,phân nhiệm chưa rõ ràng, một chức quan dân sự vẫn làm nhiệm vụ quân sự,chế độ kiêm nhiệm khá nhiều.
Thăng Long tuy chia thành 61 phường , sinh hoạt khá tấp lập nhưngvẫn mang nặng tính chất trung tâm hành
chính
Quan hệ hàng hóa tiền tệ đã có những ảnh hưởng nhất định đến hàng
ngũ quan lại nhưng chưa nhiều, chưa thường xuyên
1.2.3 Chính quyền địa phương
Năm 982, sau cuộc hành quân sang ChămPa, lãnh thổ Đại Cồ Việt đượchoạch định Năm 1002, Lê Hoàn đổi 10 đạo thành lộ, phủ, châu Nhà Đinh- Lêbắt đầu đặt trấn tướng, trấn quốc bộc xạ để cai quản các châu ở xa (ở mạnnam biên giới) Tuy nhiên, vẫn chủ yếu giao cho các hoàng tử trấn giữ
Như vậy, chính quyền địa phương cón rất đơn giản và nằm trong hoàng tộc Vị hoàng tử hay vị thủ lĩnh địa phương được giao quyền trở thành một
vị chúa ở vùng mình trấn trị
AN NAM ĐÔ HỘ PHỦ
CHÂUPHỦ/ HUYỆNHƯƠNGXÃ
Tổ chức chính quyền địa phương thời Bắc thuộc (Nhà Đường)
Trang 28Ở các địa phương dưới thời nhà Lý từ năm 1011, đổi 10 đạo thời Tiền
Lê thành 24 lộ, đặt thêm một số đạo và trại, châu Một số châu, trại đổi làmphủ, các vùng xa gọi là châu (như châu Vĩnh An, Đằng Châu, Châu Lam Tây…).Dưới lộ có huyện, hương Nhà Lý ban đầu cử các hoàng tử đi trấn trị các địaphương, về sau ở kinh đô, nhà Lý giao cho một hoàng tử hoặc thân vươngtrông coi gọi là kinh sư lưu thủ Ở các châu gần, đặt các chức tri châu, thôngphán, tổng quản để trông coi Các châu ở biên giới đặt chức châu mục đứngđầu Đứng đầu phủ có chức tri phủ, tri phủ sự, phán phủ sự phụ trách
Đứng đầu bộ máy hành chính của các lộ, phủ là tri phủ, phán phủ, củacác châu là tri châu, của các trại, đạo là quan mục Riêng phủ đô hộ đứng đầu
là sĩ sư
Các lộ, phủ được chia thành các huyện Đứng đầu bộ máy hành chínhcủa các huyện là huyện lệnh Cùng cấp với huyện là hương Tương đương vớihuyện nhưng ở kinh đô thì có các phường Thời Lý có 61 phường
Các huyện, hương lại chia thành các giáp Đứng đầu bộ máy hànhchính các giáp là quản giáp và chủ đô Các giáp lại chia thành các thôn
Phủ, Lộ (đồngbằng) Châu Trại,Đạo (miền núi)Hương/ Huyện
Giáp
Xã
Tổ chức chính quyền địa phương thời Lý
Trang 29Chính quyền địa phương thời lý, ở các lộ, phủ đều do các hoàng tử vàcông chúa cái quản, họ đảm nhận tất cả các công việc từ chính trị, hộ khẩu,
an ninh, thuế khóa
Ở các vùng dân tộc ít người, nhà nước giao cho các thủ lĩnh dân tộcthiểu số quản lý và chịu sự chi phối của nhà nước trung ương Nhà nước dùngquan hệ thân tộc để ràng buộc, chi phối
Hương, giáp, xã tự quản theo kỳ hạn một năm Những quy định kiểmduyệt dân đinh để phục vụ cho việc bắt linh và thu thuế
1.3 Sự mô phỏng tổ chức bộ máy nhà nước Trung Hoa
Tổ chức bộ máy nhà Trần của Việt Nam phần lớn mô phổng theo quanchế đời Tống của Trung Quốc Những chức như Tam Thái, Tam Thiếu, Tamcông ở Nhà Trần đều có Về nguồn gốc những chức quan đặt mới dưới triều
Trần sách Trung Quốc lịch đại quan chế đại từ điển cho biết như sau:
Tư đồ: Tương truyền triều Ân (1766-1134 TCN) đã đặt chức tư đồ, làmột trong 5 vị quan phụ chính đại thần (Tư đồ, Tư mã, Tư không, Tư sĩ, Tưkhấu)
Thời Tây Hán, vào năm Nguyên Thọ thứ 2 (năm 1 TCN) đời Hán Ai
đế, đổi chức Thừa tướng làm Đại Tư đồ Thời Đông Hán, vào năm Kiến Võthứ 27 đời Hán Quang Võ đế đổi gọi là Tư đồ, cùng các chức Thái úy, Tưkhông, gọi là Tam công, giữ chức phận của Tể tướng, hưởng lương vạn thạch
Vào đời Đường (617-907), lấy Tư đồ làm chức gia quan cho đại thần,Trật Chánh nhất phẩm Vào cuối đời Đường, thời Ngũ Đại lấy tư đồ làm chứcgia quan cho các phiên trấn, dẫn đến nhũng lạm
Buổi đầu thời Bắc Tống (960-1126) lấy Tư đồ làm chức gia quan cho tểtướng, Thân vương, Sứ tướng, là sự bái phong đặc biệt, nhưng không tham dựcông việc chính sự Vào niên hiệu Chính hòa thứ 2 (1112) đời Tống HuyTông thì bãi bỏ chức Tư đồ [27, tr 124]
Trang 30Tư không Tương truyền Triều Ân (1766-1134 TCN) đã đặt chức Tưkhông là 1 trong 5 vị quan phụ chính đại thần (Tư đồ, Tư Mã, Tư không, tư
sĩ, tư khấu)
Thời Tây Chu, niên hiệu Tuy Hòa năm thứ nhất (8 TCN), chức Tưkhông là một trong Tam công
Thời Đông Hán, năm Kiến Võ thứ 27 đời Hán Quang Võ đế , đổi gọi là
Tư không, cùng các chức Thái úy, Tư đồ, gọi là tam công, giữ chức phận của
tể tướng, hưởng lương vạn thạch
Vào đời Đường (617-907), lấy Tư không làm chức gia quan cho đạithần, Trật Chánh nhất phẩm Vào cuối đời Đường, thời Ngũ Đại lấy tư khônglàm chức gia quan cho các phiên trấn, dẫn đến nhũng lạm
Buổi đầu thời Bắc Tống (960-1126) lấy Tư không làm chức gia quancho tể tướng, Thân vương, Sứ tướng, là sự bái phong đặc biệt, nhưng khôngtham dự công việc chính sự Vào niên hiệu Chính hòa thứ 2 (1112) đời TốngHuy Tông thì bãi bỏ chức Tư không [27, tr 125]
Tư mã Chức Tư Mã là vị đại thần chấp chính, phụ trách các việc như:Quân chính, quân phu, mã chính Tương truyền triều Ân đã đặt chức Tư Mã
Thượng tể Thời Xuân Thu (770-480 TCN), Chiến quốc (480-221TCN) đặt chức Thượng tể, tức là chức quan hầu cận bên Nhà vua
Thái tể Tương truyền triều Ân bắt đầu đặt chức Thái tể
Tướng quốc: Mới đầu, vào tời Xuân Thu, Chiến Quốc, Tướng quốcdùng để tôn xưng các bậc Tể phụ đại thần
Thời Tây Hán năm thứ nhất đời Hán Huệ Đế (194 TCN), cải gọi tướngquốc là thừa tướng Vào các đời Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều thỉnh thoảng cóđặt chức tướng quốc, địa vị được tôn trọng hơn Thừa tướng, về chứcquyền, phẩm trật thì đại thể ngang nhau, đó không phải chức trao cho các bềtôi tầm thường Từ thời Tùy, Đường về sau, đã phần dùng từ Tướng Quốc đểgọi tôn xưng Tể tướng
Trang 31Hành khiển Chức hành khiển hay Đại Hành khiển là chức quan chỉ có
ở Việt Nam, quan chế Trung Quốc, các đời Đường, Tống không có chức này
Như trong Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng, thì Hành khiển là chức quan
có từ đời Lý, theo thời mà đặt để tiện việc hành chính
Tiểu kết chương 1
Trên nền tảng của một lãnh thổ thống nhất đã được xác định lấy nôngnghiệp làm nền tảng cơ sở, nhà nước theo thể chế quân chủ chuyên chế Ngô-Đinh- Tiền Lê đã hình thành và phát triển thêm dưới thời Lý Hệ thống chínhtrị từ trên xuống dưới còn sơ khai ở thời kì đầu, chưa có sự phân công bổnhiệm rõ ràng, tên gọi các quan chức chưa chỉnh, bộ phận chỉ huy quân sựgiữ vai trò chủ yếu, giới tăng lữ tham gia chính quyền với tư cách văn quannhưng đã được xây dựng và củng cố hệ thống bộ máy nhà nước và đội ngũquan lại vững chắc dưới thời Lý trong suốt hơn 200 năm cùng với quá trìnhtrưởng thành của dân tộc.Tuy nhiên, thời kì này vẫn khẳng định được tínhdân tộc là cơ sở nền tảng để xây dựng nhà nước độc lập tự chủ sau này NhàTrần thay thế nhà Lý diễn ra một cách “êm thấm” hòa bình, không đổ máu
đã tạo điều kiện cho sự kế tục nhưng phát triển ở một trình độ cao hơn
Trang 32Chương 2
TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI TRẦN (1226-1400)
2.1 Tổ chức chính quyền Trung ương thời Trần
2.1.1 Mô hình tổ chức
Kế thừa và phát triển cách thức tổ chức bộ máy nhà nước củacác vương triều Ngô- Đinh- Tiền Lê, Lý, bộ máy nhà nước thời Trần được xâydựng theo nối quân chủ, bao quát khắp mọi cấp, mọi lĩnh vực và từng bướcđược hoàn thiện về tổ chức từ trung ương tới địa phương Để xây dựngmột thể chế quân chủ quý tộc vững mạnh như ta đã nói ở trên, triều đạinhà Trần đã thiết lập bộ máy nhà nước dựa trên hai nguyên tăc cơ bản:Nguyên tắc “liên kết dòng họ” kết hợp với nguyên tắc “tôn quân quyền”
Trần Thái Tông lên ngôi hoàng đế vào ngày mùng 1 tháng Chạp năm
Ất Dậu (1225) tại điện Thiên An, Kinh thành Thăng Long Sách Việt sử lượcchép: “Ngày mùng một tháng Chạp năm ấy Nhị Lang lên ngôi ở điện Thiên
An, tôn Thuận Trinh vương hậu làm Thái hậu, giáng Chiêu vương làm ChiêuThánh vương cải nguyên là Kiến Trung” [28, tr.201]
Đứng đầu bộ máy Nhà nước quân chủ nhà Trần là vị Hoàng đế Nhưng
họ Trần đã rút kinh nghiệm từ việc truyền ngôi và tranh giành ngôi vua giữacác hoàng tử khi vua cha qua đời của các vương triều trước Cho nên, hìnhthức truyền ngôi của nhà Trần khác với nhà Lý
Trong Đại Việt sử kí toàn thư, sử gia Ngô Sĩ Liên chép: “Từ sau khi Hạ
Vũ truyền ngôi cho con, thì cha chết con nối, anh chết em thay, đã thànhphép thường mãi mãi Gia pháp họ Trần lại khác thế: Con đã lớn thì cho nốingôi chính, còn cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là thượng Hoàng, cùng trôngcoi chính sự Thực ra truyền ngôi chỉ để yên việc sau, phòng lúc vội vàng,chứ mọi việc đều do Thượng hoàng quyết định Vị vua kế vị không khác gìHoàng Thái tử cả” [13, tr.30]
Trang 33Thượng hoàng đầu tiên của nhà Trần là Trần Thừa, thân phụ của vua
Trần Thái Tông Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép: “Mùa Đông, tháng 10,
năm Kiến Trung thứ 2 (1226), tôn cha là Trần Thừa làm thượng hoàng, ởcung Phụng Thiên, phường Hạc Kiều phía bên tả Hễ khi nước có việc lớn, thì
ở trong đó xem xét, quyết định”[13, tr 29] Việc này xảy ra từ khi nhà Trầngiành ngôi báu từ tay nhà Lý chưa đầy 1 năm, do đó đây chưa phải là “cáchtruyền ngôi” vừa nói trên
Người sáng tạo và mở đầu truyền thống: Truyền ngôi cho con ngay khiđang khỏe mạnh và lên làm Thái Thượng hoàng là Trần Thái Tông (1225-1258) Năm 1258, khi mới 40 tuổi, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con trai
là Thái tử Trần Hoảng Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép: “Mùa Xuân, năm
Nguyên Phong thứ 8 (1258), Tháng 2, ngày 24, vua nhường ngôi cho HoàngThái tử Hoảng, lui ở Bắc cung Thái tử lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu làThuận Long năm thứ nhất Đại xá, Vua tự xưng là Nhân Hoàng, Tôn Thượnghoàng là Hiền Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng hoàng đê” [13, tr.29]
Về mặt danh nghĩa thì người đứng đầu Nhà nước thời Trần là TháiThượng hoàng và Vua Sau khi được vua cha nhường ngôi, vua con tự xưng
là quan gia Nhưng trên thực tế Thái Thượng Hoàng có quyền tối cao, vôthượng, bao chùm lên cả quyền lưc của nhà vua đang tại vị, thậm chí cả việcphế truất ngôi vua Sử cũ chép câu chuyện dưới đây có thể chứng minhđiều ấy: Tháng 5 năm Hưng Long thứ 7 (1299), Thái Thượng hoàng Trần NhânTông từ phủ Thiên Trường về Kinh đô Thăng Long Các quan trong triềukhông ai biết, vua Trần Anh Tông thì uống rượu xương bồ xay khướt Thượnghoàng thong thả đi khắp các cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ Cung nhân vàođánh thức vua Trần Anh Tông, nhưng vua không tỉnh Thượng hoàng TrầnNhân Tông giận lắm, lập tức về Thiên Trường…
Hôm sau, vua Trần Anh Tông tới phủ Thiên Trường, dâng biểu tạ tội…Thượng hoàng cho gọi vào, bảo:
Trang 34“Trẫm còn có con khác, cũng có thể nối ngôi được Trẫm đang sống màngươi còn như thế, huống chi sau này?” Vua rập đầu tạ tội” [13, tr.76-77].
Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép: “Mùa xuân, tháng giêng năm Kiến
Trung thứ 2 (1226) phong Trần Thủ Độ làm Thái sư thống quốc hành quân
vụ, chinh thảo sự… Mùa Hạ, tháng 5, trao phẩm cấp cho các quan văn, võ,theo hầu theo thứ bâc khác nhau” [13, tr.78]
Buổi đầu, thời Trần Thái Tông (1226-1258), một số quan lại triều Lýkhác họ, có công trong việc suy tôn Thái Tông lên ngôi, lên được phong một
số trọng chức, như Phùng Tá Chu được phong Thái phó, tước Nhân Hưngvương, Phạm Kính Ân được phong Thái phó, tước Bỏ trung Quan nội hầu
Tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 5 (1236) nhà Trần quyết địnhquan hàm cho các đại thần Theo quy định này, thì những người tôn thất họTrần vào Chính phủ, hoặc là Thái sư, Thái phó, Thái bảo, Thái úy hoặc tư đồ,
Tả hữu tướng quốc, đều kiêm hàng Kiểm hiệu Đặc tiến nghi đồng tam ty Bìnhchương sự
Theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí thì: “Quan
chế đời Trần, đại yếu lấy Tam Thái, Tam thiếu, Thái úy, Tư đồ, Tư mã, Tưkhông làm các chức trọng yếu đứng đầu hai ban Văn , Võ Tể tướng thì giaphong Tả, Hữu tướng quốc bình chương sự, Thứ tướng thì gia phong Tham trichính sự Nhập nội hành khiển, hoặc gia phong Tả phù Hữu bật tham dự triềuchính” [7, tr.8]
Những chức vị lớn nhất này đều do tôn thất họ Trần nắm giữ Đểthấy rõ tính chất của quý tộc vương triều Trần, tôi xin liệt kê ra đây danh sáchmột số các vị thân vương nắm quyền vị lớn qua các đời vua:
Đời Trần Thái Tông (1225-1258), Trần Thủ Độ làm thống quốc Thái
sư, Trần Liễu làm Thái úy
Đời Trần Thánh Tông (1258-1278), Chiêu Minh Đại vương TrầnQuang Khải làm Thái úy; Khâm Thiên Đại vương Trần Nhật Hiệu làm Tướng
Trang 35quốc Thái úy, sau khi Trần Nhật Hiệu chết (1268) thì Trần Quang Khải làmTướng quốc Thái úy; Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang làm Phiêu Kỵ đôThượng tướng quân.
Đời Trần Nhân Tông (1279-1293:, Trần Quang Khải làm Thượngtướng Thái sư, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là Quốc công tiết chế thốnglính quân đội; Tả Thiên Đại vương Trần Đức Việp làm Nhập nội kiểm hiệuThái úy
Đời Trần Anh Tông: Huệ Võ Đại vương Trần Quốc Chẩn làm Nhập nộibình chương (tức Tể tướng); Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật làm Thái úyquốc công; Chiêu Hoài hầu Trần Hiện làm Nhập nội phụ quốc Thái bảo
Đời Trần Minh Tông (1314-1329): Huệ Võ Đại vương Trần Quốc Chẩnlàm Quốc phụ Thượng tể, Trần Nhật Duật là Tá thánh Thái sư; Uy Túc côngTrần văn Bích làm Nhập nội phụ quốc Thái bảo; Văn Huệ công Trần QuangTriều làm Nhập nội kiểm hiệu Tư đồ
Đời Trần Hiến Tông (1329-1341) Cung Tĩnh vương Trần Nguyên Tráclàm Tham dự triều chính; Cung Đinh vương Trần Phủ làm Phiêu kị Thượngtướng quân
Đời Trần Dụ Tông (1341-1369): Trần Nguyên Trác là Thái úy Tảtướng quốc; Trần Phủ làm Hữu tướng quốc (1357); năm 1367, ông đượcphong làm Tả tướng quốc
Đời Dương Nhật Lễ (1369-1370): Trần Nguyên Trác được phong làmThượng tướng quốc Thái tể; Cung Định Đại vương Trần Phủ làm Thái sư tảtướng quốc; Cung Tuyên vương Trần Kính lamg Hữu tướng quốc Sau vụbiến Dương Nhật Lễ, Trần Nguyên Trác bị giết, Cung Định Vương Trần Phủ lênngôi, tức Trần Nghệ Tông
Đời Trần Nghệ Tông: (1370-1372): Trần Nguyên Đán làm Tư đồ; TrầnNguyên Uyên là Phủ quân Tướng quân
Trang 36Từ đời Trần Duệ Tông (1373-1377) trở đi, quyền bính của vương triềuTrần, đã thuộc về Hồ Qúy Ly nắm giữ.
Theo sử gia Đặng Xuân Bảng trong Sử học bị khảo, thì quan chế triều
Trần ở Trung ương có các chức:
Thái sư, Thái phó, Thái bảo (tam thái)
Thiếu sư, Thiếu phó, thiếu bảo (tam thiếu)
Thái úy, Tư đồ, Tư không (tam công)
Tư mã (chức quan võ cao cấp)
Thượng tể, Thái tể (tức Tể tướng)
Thiếu úy (chức quan võ)
Tả, Hữu tướng quốc (đều là gia hàm thêm)
Kiểm hiệu đặc tiến Nghi đồng Tam ty Bình chương sự (các tôn thất vàochính phủ đều gia thêm hàm ấy, Thân vương vào làm Tể tướng thì xưng làquốc công thượng hầu, vào nội đình thì xưng là Quan nội hầu)
Đại hành khiển, ban đầu thì dùng Hoạn quan, đến niên hiệuThiệu Phong (1341-1357) đời Trần Dụ Tông, mới dùng người có văn học, tứcNho Sĩ, gia thêm chữ “nhập nội” ở trên, tức Tể tướng
Tham tri chính sự (chức Thứ tướng, lấy Thị lang hay Gián nghị đại phucho làm); thân vương vào chính phủ thì gọi là tham dự triều chính hoặc thamthị triều chính)
Qua đó ta thấy quan chế nhà Trần của Việt Nam phần lớn mô phổngtheo quan chế đời Tống của Trung Quốc Những chức như Tam Thái, TamThiếu, Tam công Nhà Trần đều có
Sách Đại Việt sử kí toàn thư cho biết: Vào tháng 10 năm Nguyên
Phong thứ 4 (1254), Vua Trần Thái Tông ban tiền cho Phạm Ứng Mộng, bảo
tự hoạn để vào hầu Sau này, Phạm Ứng Mộng được thăng dần đến
Trang 37chức Hành Khiển Đó là bắt chước lệ cũ của triều Lý dùng Lý Thường Kiệt vàLý
Trang 38Thường Hiến [13, tr.25] Theo chế độ cũ, không phải là Hoạn quan thì khôngđược làm hành khiển Đến năm Thiệu Long thứ 10 (1267) đời Trần ThánhTông mới dùng Nho sĩ văn học vào chức này.
Đại Hành khiển Năm Thiệu Long thứ 11 (1303) đời Trần Anh Tônglấy Trần Khắc Chung giữ chức Nhập nội Đại Hành khiển
Tháng 4 năm Khai Thái thứ nhất (1324) đời Trần Minh Tông, TrầnBang Cẩn giữ chức Đại Hành khiển Thượng thư tả bộc xạ Đây là chức quan ởcung Thánh Từ (tức cung của Thượng hoàng nhà trần), giữ chức vâng lệnh chỉcủa Thượng hoàng
Tham tri chính sự Năm Chinh Quán thứ 13(939) đời Đường Thái Tôngbắt đầu lấy thượng thư Tả thừa Lưa Bạc làm chức Hoàng môn thị lang, Thamtri chính sự
Năm Càn Đức thứ 2(964) đời Tống Thái Tổ đặt chức Tham tri chính sự
là Phó Tể tướng, giúp Tể tướng sử lý các việc chính sự
2.1.2 Văn Ban
2.1.2.1 Lục bộ
Trong Lịch triều hiến chương loại chí, sử gia Phan Huy Chú chép: “Đời
Trần theo phép ấy, Đặc chức Thượng thư Hành Khiển, Thượng thư Hữu bật.Sau, vào đời Đại Khánh (1314-1324) và đời Quang Thái (1388-1398) mớichia ra thượng thư các bộ ( như trong đời Đại Khánh, Doãn Bang Hiến làmThượng thư lại Bộ, Đỗ Nhân Giám làm Thượng thư binh bộ, Trần ChiêuNhận làm Thượng thư hình bộ” [7, tr.21]
Tuy nhiên, tra trong sử cũ thì thấy chức Thượng thư các bộ đã có từ
trước niên hiệu Đại Khánh (1314-1324) đời Trần Minh Tông Sách Đại Việt
Sử kí toàn thư chép: “Mùa thu tháng 8 năm Thiệu Bảo thứ 4 (1282), bấy giờ
có cá xấu đến sông Lô Vua sai Hình bộ thượng thư Nguyễn Thuyên làm bàivăn ném xuống sông, cá xấu bỏ đi Vua cho việc này giống việc của Hàn Dũ,bèn cho gọi Hàn Thuyên” [13, tr.47]
Trang 39Theo Lê Qúy Đôn thì: “Trần Thái Tông (1225-1258) đặt quan chứcphần nhiều theo như nhà Lý (1009-1225) trước: Đặt Trung thư sảnh có Lệnh,Thị Lang, Đặt Thượng thư sảnh có Tả, Hữu Bộc xạ; Tả, Hữu gián nghị đạiphu, Lục Bộ Thượng thư, Hữu ty lang trung…” [9, tr.111].
Qua đó, có thể thấy, ngay từ đầu triều Trần đã đặt đủ lục bộ là: Lại, Lễ,
Hộ, Binh, Hình và công Tiếc rằng, sử cũ của ta chép thiếu sót, nên ngày nay,ngoài một vài vị giữ chức Thượng thư các bộ: Lại, Binh, Hình kể trên, chúng
ta không biết ai đã từng đứng đầu các bộ: Hộ , Lễ và Công dưới triều Trần
Về chức trách của lục bộ dưới triều Trần cũng giống như Lục bộ dướitriều Lý
Bộ Lại là bộ giữ việc quan tước, phong tước, ân ban thuyên chuyển, lựachọn, xét công, bãi truất và thăng thưởng, bổ xung quan lại, cung cấp ngườicho các nha môn, Đứng đầu bộ lại là thượng thư bộ lại
Bộ Lễ giữ việc lễ nghi, tế tự, khánh tiết, yến tiệc, trường học, thi cử, áo
mũ, ấn tín, phù hiệu, chương tấu, biểu văn sứ thần cống nạp, các quan chầumừng, tư thiên giám, thuốc thang, bói toán, tăng lục, đạo lục, giáo phường,đồng văn nh ã n h ạc Bộ này trông coi việc tổ chức và kiểm soát vấn đề thi cử(thi Nh o h ọ c k h o a c ử ) chọn người tài ra giúp triều đình
Bộ Hộ giữ việc ruộng đất, nhân khẩu, kho tàng, thu phát, bổng lộc, đồcống nạp, thuế khoá, muối và sắt
Bộ Binh giữ việc binh nhung, quân cấm vệ, xe ngựa, đồ nghí trượng,khí giới, giữ việc biên giới, lính thú, nhà trạm, phố xá, nơi hiểm yếu, việckhẩn cấp, tuyển dụng chức võ tướng
Bộ Hình giữ việc luật lệnh, hình phạt án tù, ngục tụng và xét xử ngườiphạm tội ngũ hình
Trang 40Bộ Công coi việc xây dựng thành hào, cầu cống đường sá, việc thổmộc, thợ thuyền, tu sửa xây dựng, thi hành lệnh cấm về núi rừng, vườntược và sông ngòi.