Khái quát chung về hợp đồng thương mại và chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại 1.1. Khái quát chung về hợp đồng thương mại 1.1.1 Khái niệm về hợp đồng thương mại Theo học thuyết Mác Lê Nin về nguồn gốc, bản chất của nhà nước thì sự ra đời của nhà nước gắn liền với sự ra đời của giai cấp, mà nhà nước ra đời đồng nghĩa với sự ra đời của pháp luật. Nói cách khác, với vai trò là phương tiện công cụ để nhà nước quản lý và định hướng sự phát triển của xã hội thì pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống, lịch sử loài người. Thực tế cho thấy rằng, các quan hệ dân sự với tư cách là quan hệ phổ biến nhất, rộng khắp nhất điều chỉnh hành vi, quan hệ giữa các chủ thể dân sự với nhau đương nhiên càng đóng vai trò quan trọng. Mà cơ sở là căn cứ để xác định bất kì quan hệ dân sự nào cũng đều bắt nguồn từ hợp đồng dân sự.
Trang 1MỤC LỤC
Phần I: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa nghiên cứu 2
6 Bố cục bài tập tập lớn 2
Phần II: NỘI DUNG 3
1 Khái quát chung về hợp đồng thương mại và chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại 3
1.1 Khái quát chung về hợp đồng thương mại 3
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng thương mại 3
1.1.2 Đặc trưng của hợp đồng thương mại 4
1.2 Một số vấn đề lý luận chung về vi phạm hợp đồng và chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại 4
1.2.1 Khái niệm vi phạm hợp đồng và chế tài phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng 4
1.2.2 Vai trò của chế tài phạt vi phạm trong hoạt động kinh doanh thương mại 5
2 Quy định và thực tiễn việc thực hiến chế tài phạt vi phạm theo LTM 2005 và những văn bản pháp luật có liên quan 2.1 Quy định của pháp luật về phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại 6
2.1.1 Khái niệm chế tài phạt vi phạm 6
2.1.2 Căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm 7
2.1.3 Mức phạt của chế tài phạt vi phạm 9
2.2 Thực trạng chung về thỏa thuận áp dụng chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại 10
2.3 Những tồn tại liên quan đến việc áp dụng chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại 13
3 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả cảu chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại 14 3.1 Hoàn thiện pháp luật về chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại 14
3.2 Nâng cao vai trò của tòa án trong quá trình xét xử 16
3.3 Nâng cao hiểu biết của doanh nghiệp về chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại .17
KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3Phần I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 đã xác định nền kinh tế Việt Nam
là nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Pháp luậtkinh tế Việt Nam đương nhiên sẽ hướng tới việc đảm bảo những nguyên tắc chung cơbản nhất trong quan hệ kinh tế như đảm bảo quyền sở hữu, các quyền tự do, cạnh tranhlành mạnh… Điều đó đồng nghĩa với việc những quy định về hợp đồng – cơ sở bắtbuộc làm phát sinh các quan hệ kinh doanh thương mại được quy định và bảo vệ trongnhiều quy phạm khác nhau Giá trị cốt lõi của hợp đồng được xác định dựa trênnguyên tắc tự do thỏa thuận, tự nguyện về ý chí, bình đẳng về địa vị nhưng khôngđược phép trái với điều cấm của pháp luật hoặc các chuẩn mực đạo đức xã hội khác.Việc giao kết, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng được thực hiện theo thỏa thuận giữacác bên nên để đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồngđược đảm bảo, pháp luật kinh doanh thương mại ở Việt Nam đã đặt ra những trình tự,thủ tục cần thực hiện và đi cùng với đó là các chế tài đảm bảo thực hiện hợp đồng,trong đó có chế tài phạt vi phạm hợp đồng Khi tìm hiểu về nhóm các chế tài do viphạm hợp đồng ở Việt Nam, bản thân em đã bị thu hút bới những nội dung quan đếnchế tài này Nó là một biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng rất thú vị, có nhiều ýkiến xoay quanh việc mục đích của nó nên thiên về hướng để phòng ngừa hay trừng trịviệc vi phạm hợp đồng thì việc quy định như hiện nay theo quy định của LTM 2005 cócòn phù hợp? Nội dung quy định về thỏa thuận thực hiện chế tài này là như thế nào?Thực tiễn áp dụng chế tài này ở Việt Nam là như thế nào? Chúng ta cần làm gì để chếtài này phát huy được hiệu quả như mong muốn? Chính vì vậy, mặc dù đã có nhiều
đề tài xoay quanh vấn đề này nhưng em vẫn mong muốn vừa nghiên cứu tìm hiểu tổngkết, vừa phát triển quan điểm của bản thân nên đã lựa chọn đề tài: Các vấn đề phát lýliên quan đến áp dụng chế tại phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại tại doanhnghiệp” (nếu nhà trường bắt buộc chọn tên đề tài theo tên nhà trường cho thì em ghinhư thế này, còn không em ghi tên đề tài như sau cho anh nhé: “KHÁI QUÁTCHUNG VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONGHỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI”Nội dung tìm hiều nghiên cứu nó không khác nhaunhưng nếu em để được tên như anh gửi nó sẽ chi tiết hơn nhiều.)
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực tiễn luôn cho thấy xoay quanh vấn đề thực hiện hợp đồng luôn tồn tại việc
vi phạm hợp đồng nên những năm qua, từ khi LTM 2005 ra đời hệ thống pháp luật vềchế tài trong thương mại ngày càng hoàn thiện, cả lý thuyết lẫn thực tiễn áp dụngnhững quy định này luôn nhận được sự quan tâm nhiều của các nhà nghiên cứu Quatìm hiểu của em, đã có một số nghiên cứu tiêu biểu về những vấn đề lý luận quanh quy
định về chế tài phạt vi phạm ở Việt Nam như; Sách chuyên khảo “Luận giải về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại theo Luật Thương mại Việt Nam” của TS Lê Văn Tranh
Trang 4(2018), bài viết “Phạt vi phạm hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam” của
Th.S Nguyễn Đức Anh trên trang thông tin của Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, hay
bài viết của TS Dương Anh Sơn – TS Lê Thị Bích Thọ “Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” … Một số nghiên
cứu khác về thực trạng áp dụng chế tài này và kiến nghị hoàn thiện tiêu biểu như bài
viết “Hoàn thiện các quy định về chế tài trong thương mại theo LTM năm 2005” Đoàn
Thị Ngọc Hải trên trang thông tin của Bộ Tư pháp, bài viết của tác giả Hương Thu
“Mức phạt vi phạm tối đa 8% hay 12%, theo Luật dân sự, thương mại, hay Luật xây dựng?”… tuy nhiên để tìm một nghiên cứu vừa đưa ra một cách tổng quan nhất thông
tin cơ bản về chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng, vừa đưa ra cách nâng cao hiệu quả
áp dụng nó nhất là ở góc độ của các chủ thể giao kết hợp đồng thương mại như mongmuốn chưa hoàn toàn thỏa mãn em
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra một cách tổng quan nhất thông tin cơ bản về chế tài phạt vi phạm trong hợpđồng thương mại
- Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài phạt vi phạm
4 Phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tíchlogic, phương pháp nghiên cứu lịch sử
5 Ý nghĩa nghiên cứu
Tổng quan lại cơ sở pháp lý và thực tiễn cơ bản nhất của chế tài phạt vi phạm trongthương mại cho người mới nghiên cứu để từ đos đưa ra một số giải pháp nhằm nângcao hiệu quả áp dụng chế tài
Trang 5Phần II: NỘI DUNG
1 Khái quát chung về hợp đồng thương mại và chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại
1.1 Khái quát chung về hợp đồng thương mại
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng thương mại
Theo học thuyết Mác Lê Nin về nguồn gốc, bản chất của nhà nước thì sự ra đời củanhà nước gắn liền với sự ra đời của giai cấp, mà nhà nước ra đời đồng nghĩa với sự rađời của pháp luật Nói cách khác, với vai trò là phương tiện công cụ để nhà nước quản
lý và định hướng sự phát triển của xã hội thì pháp luật có vai trò vô cùng quan trọngtrong đời sống, lịch sử loài người Thực tế cho thấy rằng, các quan hệ dân sự - với tưcách là quan hệ phổ biến nhất, rộng khắp nhất - điều chỉnh hành vi, quan hệ giữa cácchủ thể dân sự với nhau đương nhiên càng đóng vai trò quan trọng Mà cơ sở là căn cứ
để xác định bất kì quan hệ dân sự nào cũng đều bắt nguồn từ hợp đồng dân sự
Ngành luật dân sự ở Việt Nam nói riêng và pháp luật các quốc gia khác trên thếgiới nói chung đều có cách xách định/tiếp cận khác nhau khi đưa ra khái niệm về hợpđồng Cụm từ “hợp đồng” phổ biến với chúng ta, còn “sự ưng thuận” hay “khế ước”thường thấy xuất hiện và được sử dụng nhiều giai đoạn chịu ảnh hưởng bởi văn hóapháp luật phương Tây Vì mặc dù Việt Nam chúng ta nằm trong hệ thống pháp luật củacác nước xã hội chủ nghĩa song thực tế lịch sử mang lại yếu tố chịu ảnh hưởng nhiều
từ truyền thống pháp luật La Mã – Đức ( Civil law) từ thời kì Pháp thuộc và điều đócòn được kéo dài cho đến ngày nay Từ bộ luận Dân sự 1995 (BLDS) , BLDS 2005đến BLDS 2015 hiện hành, về cơ bản chúng ta đều thống nhất cách hiểu hợp đồng rađời là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ dân sự dựa trên sự tự do ýchí, tự nguyện, bình đẳng và thiện chí để xác định thời điểm, thời hạn, nội dung, sự
thay đổi của quan hệ đó Cụ thể, Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là
sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Quan hệ kinh doanh thương mại cũng là một quan hệ dân sự điển hình, phổ biến.Nên mặc dù không có định nghĩa pháp lý cụ thể được quy định trong luật song từnhững văn bản pháp luật có liên quan chúng ta vẫn xác định được nội hàm của kháiniệm này Hiện nay, khái niệm về hoạt động thương mại đã hoàn thiện hơn so với LTM
(LTM) 1997, theo qui định tại khoản 1 Điều 3 LTM 2005 thì “Hoạt động thương mại
là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Kết hợp
với khái niệm hợp đồng dân sự, với những phân tích về đặc trưng của chủ thể trongcác quan hệ kinh doanh thương mại có một ý kiến phổ biến nhất được đông đảo sựđồng tình mà bản thân em thấy cũng hợp lý đã xác định: Hợp đồng thương mại là thỏathuận giữa thương nhân với thương nhân, hoặc giữa thương nhân với các bên liên quannhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt độngthương mại Nó đã thể hiện khá chính xác bản chất của một hợp đồng thương mại Nói
Trang 6cách khác, hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận nhằm mục đích sinh lợi trong đó có
ít nhất một bên tham gia hợp đồng phải là thương nhân hoặc tổ chức cá nhân khác hoạtđộng có liên quan đến thương mại Khái niệm trên giúp cho các bên tham gia hợpđồng thương mại hiểu rõ bản chất của hợp đồng thương mại là một sự thỏa thuận, mụcđích của hợp đồng thương mại là nhằm mục đích sinh lợi và chủ thể tham gia hợpđồng là thương nhân hoặc tổ chức cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thươngmại
1.1.2 Đặc trưng của hợp đồng thương mại
Như đã phân tích ở trên, hợp đồng thương mại một mặt có đầy đủ các đặc điểm củahợp đồng dân sự nói chung, một mặt sẽ có những đặc trưng khác biệt với một số loạihợp đồng dân sự khác như hợp đồng lao động, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng tặng …đặc biệt là để phân biệt với hợp đồng kinh tế - một loại hợp đồng dễ gây nhầm lẫn đôikhi bị đánh đồng là một với hợp đồng thương mại Cụ thể:
Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng thương mại Hợp đồng thương mại được kí kếtgiữa các bên là thương nhân, hoặc có một bên là thương nhân Đây là một điểm đặctrưng của hợp đồng thương mại so với các loại hợp đồng dân sự Ngoài ra, chủ thể củahợp đồng thương mại còn có thể là các cá nhân, tổ chức khác có hoạt động liên quanđến thương mại (Điều 2 LTM 2005)
Thứ hai, hình thức của hợp đồng thương mại Điều 24 LTM 2005 quy định: Hợpđồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc xác lập bằnghành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy địnhphải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó LTM 2005 cũng chophép thay thế hình thức văn bản bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương,bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu điện tử và các hình thức khác theo quyđịnh của pháp luật
Thứ ba, về nội dung của hợp đồng thương mại Pháp luật đề cao sự thỏa thuận giữacác bên giao kết, tuy nhiên nội dung của hợp đồng phải tuân theo những quy định củapháp luật hợp đồng nói chung, được quy định tại BLDS 2015 Cụ thể: Hợp đồng có thể
có các nội dung sau đây: Đối tượng của hợp đồng; Giá, phương thức thanh toán;Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng…
1.2 Một số vấn đề lý luận chung về vi phạm hợp đồng và chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại
1.2.1 Khái niệm vi phạm hợp đồng và chế tài phạt vi phạm do vi phạm hợp
đồng
Các quan hệ xã hội trong một xã hội có nhà nước luôn được điều chỉnh bằngcác quy phạm xã hội trong đó có các quy phạm pháp luật Tuy nhiên không phải mọichủ thể đều nghiêm túc chấp hành các quy đinh đó, có chủ thể thực hiện không đầy đủ,không đúng thậm chí có chủ thể còn cố tình làm sai, đi ngược lại cách xử sự đúng đắnnên làm, làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, nhànước Những hành vi này chúng ta gọi chung là vi phạm và vi phạm hợp đồng là mộttrong những hành vi xuất hiện, không hề lạ lẫm trong các quan hệ kinh doanh thươngmại
Trang 7Pháp luật nhiều quốc gia khác trên thế giới đã đề cập đến chế tài này, những ởđây em xin phép trình bày một chút quan điểm của những học giả nghiên cứu về Dânluật Pháp – một ngành luật có mối liên hệ vô cùng mật thiết, gần gũi với pháp luật dân
sự Việt Nam Tác giả Nguyễn Văn Phúc đã chỉ ra rằng, phạt vi phạm (Clause Pénal)mang bản chất là một biện pháp đảm bảo thực hiện hơp đồng mà bên vi phạm cam kếtkhi vi phạm hợp đồng Điều 1226 BLDS Pháp định nghĩa: Điều khoản phạt vi phạm làđiều khoản theo đó, để đảm bảo thực hiện hợp đồng, một bên cam kết làm một việcnào đó trong trường hợp không thực hiện đúng hợp đồng Và nó được diễn giải cụ thể
ở Điều 1229 BLDS Pháp như sau: “phạt vi phạm là sự đền bù thiệt hại do việc không thực hiện chính gây ra cho người có quyền”, trong đó khoản 2 Điều 1229 quy định:
“người có quyền không thể vừa yêu cầu thực hiện nghĩa vụ chính, vừa đòi phạt vi phạm, trừ khi điều khoản phạt vi phạm được quy định riêng cho trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ” Với mục đích để bù đắp tổn thất và nhằm đặt các bên vào vị trí
của họ giả sử nếu hợp đồng được thực hiện [18] Tuy nhiên, ở Việt Nam chúng ta vẫnđang nhìn nhận và áp dụng việc áp dụng chế tài phạt vi phạm là một dạng trách nhiệm
pháp lý mang tính kinh tế khi quy định cụ thể tại điều Điều 300 LTM 2005: “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm” Nội dung này em sẽ trình bày chi tiết
hơn ở những phần sau
1.2.2 Vai trò của chế tài phạt vi phạm trong hoạt động kinh doanh thương mại
Có vi phạm đồng nghĩa với phát sinh trách nhiệm đi kèm Sự ra đời của các chếtài thương mại nói chung hay chế tài phạt vi phạm nói riêng chính là thái độ của nhànước đặt ra đứng sẵn đó để bảo vệ các chủ thể trong quan hệ thương mại Cần phảihiểu mục đích của chế tài trước hết là để phòng ngừa những vi phạm có thể xảy ra,trừng trị những hành vi vi phạm, răn đe các chủ thể không tiếp tục tái phạm nhằm mụcđích bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồngthương mại Có quan điểm cho rằng, phạt vi phạm là một trong những biện pháp chếtài do vi phạm hợp đồng, được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, theo đó bên bị viphạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải chịu một khoản tiền phạt nếu xảy ra sự kiệnpháp lý là căn cứ để áp dụng phạt vi phạm Khi áp dụng phạt vi phạm, chủ thể cóquyền đòi phạt vi phạm là bên bị vi phạm, chủ thể có nghĩa vụ là bên vi phạm, mụcđích của quan hệ này một khoản tiền phạt vi phạm [18]
Có ý kiến khác lại phân tích và chỉ ra hai chức năng của chế tài gồm: thứ nhất,phạt vi phạm được xem là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa
có hành vi vi phạm nghĩa vụ, điều này được khẳng định bởi phạt vi phạm được quyđịnh trong chương các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, mặt khác phạt vi phạmthúc đẩy các bên chú ý đến việc thực hiện nghĩa vụ dưới sự đe dọa phải chịu hậu quảbất lợi do không thực hiện nghĩa vụ; thứ hai, khi có sự vi phạm thì nó được coi là hìnhthức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng bởi vì bản chất của việc trả tiền phạt vi phạm là
sự đền bù vật chất cho bên bị vi phạm Hai chức năng này của phạt vi phạm cũng đượcthể hiện trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới [17] Nhìn chung, dù là quanđiểm nào đi chăng nữa thì cũng đều nhìn nhận chế tài này như một biện pháp nhằm
Trang 8đảm bảo thực hiện hợp đồng thương mại, là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạmnếu không muốn phải gánh chịu thì buộc phải tự nguyện tự giác tuân thủ giao kết đã
có trong hợp đồng thương mại Ở Việt Nam chế tài phạt vi phạm đã được quy địnhtrong các văn bản pháp luật như Luật Thương mại 1997, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế
1989, Bộ luật Dân sự 2005 trước đây và hiện nay được quy định trong BLDS 2015,LTM 2005 và Luật Xây dựng 2014 Với sự ra đời của chế tài phạt vi phạm được quyđịnh trong Luật Thương mại 2005 thì phạt vi phạm thực sự trở thành một chế địnhquan trọng để bảo vệ các bên trong quan hệ thương mại Hiện nay, chế định này ngàycàng được các bên sử dụng nhiều hơn như một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợicủa mình trong các quan hệ hợp đồng hợp tác kinh tế
Như vậy có thể thấy, phạt vi phạm theo pháp luật Việt Nam với tư cách là mộttrong các biện pháp xử lý (dạng trách nhiệm pháp lý) do vi phạm hợp đồngtrong lĩnh vực dân sự, thương mại nhằm mục đích răn đe, trừng phạt do vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng Nhưng cơ sở để áp dụng được chế tài này yêu cầu phải có sự thỏa thuậncủa các bên Do đó, khi soạn thảo hợp đồng các bên cần quy định một cách cụ thể vàcác chi tiết các căn cứ để áp dụng biện pháp này, tránh trường hợp khi xảy ra tranhchấp, các bên phải tốn kém chi phí và thời gian để phân định tính đúng sai của sự việc
do việc thiếu những căn cứ trong hợp đồng về việc áp dụng chế định phạt vi phạm.Thoả thuận phạt vi phạm là một nội dung của hợp đồng nên các thỏa thuận nhất thiếtphải được ghi cụ thể trong hợp đồng để làm cơ sở giải quyết cho các bên sau này; phạt
vi phạm không còn là một vấn đề do pháp luật quy định mà là do các bên thỏa thuậntrong nội dung của hợp đồng (pháp luật điều chỉnh) Tức là vấn đề phạt vi phạm khôngbắt buộc đối với tất cả hợp đồng dân sự, thương mại
2 Quy định và thực tiễn việc thực hiến chế tài phạt vi phạm theo LTM 2005
và những văn bản pháp luật có liên quan 2.1 Quy định của pháp luật về phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại
2.1.1 Khái niệm chế tài phạt vi phạm
LTM 2005 định nghĩa: “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” Đó là “sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng” Dù là vi phạm cơ bản hay vi phạm không cơ bản, việc vi phạm hợp
đồng này có thể đã hoặc chưa gây ra thiệt hại thực tế thì bên bị vi phạm đều có quyền
yêu cầu bên vi phạm hợp đồng chịu phạt vi phạm Vì “Xét cho cùng, đây là biện pháp răn đe các bên do trong việc vi phạm hợp đồng, khi các bên vi phạm đã thừa nhận vi phạm hợp đồng và chịu phạt thì không có lý do gì để không chấp nhận điều đó [4].
Ở Việt Nam, do có sự phân chia các ngành luật trong lĩnh vực hợp đồng, dẫnđến sự phân chia thành các quan hệ hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại chịu sựđiều chỉnh của các ngành luật khác nhau Nhưng về định nghĩa phạt vi phạm thì phápluật dân sự và thương mại đều có sự thống nhất Cụ thể theo Điều 418 BLDS năm
2015 (tương ứng Điều 300 LTM 2005) thì: “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị
Trang 9vi phạm” Theo quan điểm của đa số các luật gia thì vi phạm hợp đồng để có thể phạt
vi phạm là những vi phạm cơ bản, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích củamột bên trong quan hệ hợp đồng
Như vậy phạt vi phạm là một chế tài thỏa thuận, có bản chất bổ sung thêm mộtquyền yêu cầu về vật chất (quyền yêu cầu phải trả tiền phạt) của một bên vi phạm vàtương ứng là một nghĩa vụ vật chất (nghĩa vụ trả tiền phạt) của bên vi phạm và qua đógiúp tăng cường ý thức tuân thủ hợp đồng của các bên Và chúng ta cũng cần phải đặcbiệt lưu ý rằng, trách nhiệm bên vi phạm buộc thực hiện ở đây là trả tiền phạt chứkhông phải một trách nhiệm vật chất hay hành vi cụ thể nào khác (Mà theo quan điểmcủa em, đây cũng có thể coi là một điểm đang giới hạn chính sự tự do thỏa thuận củacác chủ thể mà em sẽ trình bày ở những phần sau)
2.1.2 Căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm
Căn cứ vào quy định về phạt vi phạm trong LTM 2005: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận” và BLDS năm 2015 “Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm” đã cho thấy điều kiện áp dụng phạt vi phạm là: hợp đồng phải có
hiệu lực, có hành vi vi phạm hợp đồng, có thỏa thuận áp dụng phạt vi phạm
Thứ nhất, hợp đồng phải có hiệu lực: Đây là điều kiện đầu tiên và có tính quyếtđịnh của vấn đề phạt vi phạm mọi hợp đồng Hợp đồng có hiệu lực pháp lý mới là cơ
sở để từ đó làm phát sinh mọi quyền, nghĩa vụ tiếp giữa các chủ thể giao kết hợp đồng.Nếu hợp đồng bị tuyên vô hiệu vì không đáp ứng được bất kì một điều kiện gì (từ nộidung, hình thức, thẩm quyền, mục đích, nội dung ) thì mọi vấn đề đã được thỏa thuận
đi kèm đều không có giá trị, trong đó có cả thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng Do vậy,chế định phạt vi phạm hợp đồng chỉ xảy ra khi hợp đồng có hiệu lực pháp luật
Thứ hai, có hành vi vi phạm hợp đồng: Và đây phải là hành vi vi phạm thực tế,
đã được xác định cụ thể chứ không phải hành vi dạng giả định/phỏng đoán/nghi ngờchưa được chứng minh Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý cần thiết để ápdụng đối với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong đó có phạt viphạm hợp đồng Hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi “không thực hiện”, “thực hiệnkhông đầy đủ” hoặc “thực hiện không đúng” hợp đồng” dưới cả dạng hành động hoặckhông hành động Ở đây có một điểm chúng ta cần phân tích và làm rõ hơn để phânbiệt giữa chế tài này với chế tài bồi thường thiệt hại Trong chế tài bồi thường thiệt hại,luôn có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng với thiệt hại thực tế màhành vi đó gây ra cho chủ thể bị gây hại Nhưng ở chế tài này thì không yêu cầu phải
có thiệt hại Bởi lẽ, mục đích mà chế tài này hướng tới không phải để nhằm khắc phụchậu quả mà là để ngăn ngừa hành vi có thể gây ra hậu quả đó Nói đơn giản, tôi đặt sẵnchế tài để nhắc anh dù việc làm vi phạm của anh chưa gây ra thiệt hại gì thì anh cũngphải sẵn sàng gánh chịu hậu quả chỉ từ việc mình làm không đúng, không đầy đủ đó
Bên cạnh đó, để phòng ngừa việc áp dụng chế tài này một cách tùy tiện thìphạm luật cũng giới hạn và quy định rõ chỉ những hành vi có trong thỏa thuận chịu chếtài này mới bị áp dụng Những hành vi khác dù vi phạm khác nhưng không nằm trong
Trang 10thỏa thuận cũng không bị áp dụng Ví dụ hai bên chỉ thỏa thuận chế tài phạt vi phạm
về việc giao hàng chậm thời gian mà không thỏa thuận chế tài phạt vi phạm áp dụngcho việc giao hàng không đủ số lượng thì nếu bên A là bên bán giao hàng đúng thờigian nhưng lại không đủ số lượng thì bên B không thể áp dụng chế tài phạt vi phạmtrong trường hợp này Thậm chí trong một số hợp đồng, chế tài này còn chỉ được quyđịnh giới hạn một đối tượng áp dụng nhất định thì các bên chủ thể khác dù có hành vithực hiện đúng hành vi vi phạm này cũng sẽ không bị áp dụng chế tài phạt vi phạm.Nói tóm lại, việc xác định được hành vi vi phạm hợp đồng theo thỏa thuân là căn cứpháp lý không thể thiếu để áp dụng các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng thươngmại nói chung và chế tài phạt vi phạm nói riêng Nếu không có hành vi vi phạm hợpđồng thì tất nhiên không thể áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng
Thứ ba, có thỏa thuận phạt vi phạm: Khác với các chế tài khác, chế tài phạt viphạm hợp đồng chỉ có thể được áp dụng nếu các bên có thỏa thuận về phạt vi phạmtrong hợp đồng Vậy vấn đề đặt ra ở đây là thỏa thuận phạt vi phạm này có nhất thiếtphải “tồn tại” trong hợp đồng hay không? Và thời điểm “xuất hiện” của nó là như thếnào? Tức là các chủ thể phải thỏa thuận với nhau về điều khoản phạt vi phạm hợpđồng trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng và có cần phải được ghi vào tronghợp đồng không? Theo quy định về phạt hơp đồng được quy định tại LTM 2005 đã
trích dẫn ở trên, chúng ta thấy yêu cầu đầu chỉ để áp dụng chế tài này là “Có thỏa thuận” Nội dung này tiếp tục được làm rõ hơn trong BLDS 2015 khi thêm cụm từ “là
sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng” Như vậy chúng ta giải quyết được câu trả
lời cho câu hỏi: CÓ cần sự tồn tài của thỏa thuận này trong hợp đồng Tiếp theo, ở câuhỏi thứ hai về thời điểm xuất hiện của thỏa thuận này Chúng ta thấy mục đích củathỏa thuận này là để ngăn ngừa các bên cố tình vi phạm Thỏa thuận phạt vi phạm nếuđược xác lập sau thời điểm có hành vi vi phạm hợp đồng nên nếu nó được thảo thuậnsau khi có hành vi vi phạm thì sẽ không phản ánh được bản chất răn đe hòng thực hiệnđúng hợp đồng mà sẽ theo hướng khắc phục hậu quả, thiệt hại của vi phạm đó gây ra –đây lại là mục đích của chế tài bồi thường thiệt hại Vì vậy, muốn thực hiện mục đíchđảm bảo thực hiện hợp đồng tối đa đúng theo chế tài thì thỏa thuận này phải được xáclập trước khi có hành vi vi phạm Tuy nhiên, chúng ta không thấy có quy định khốngchế thời điểm thực hiện thỏa thuận buộc phải làm ngay tại thời điểm giao kết, điều đó
có nghĩa các chủ thể hoàn toàn có thể thỏa thuận thêm về điều khoản này sau khi hợpđồng có hiệu lực miễn là thỏa thuận này được xác lập trước thời điểm xảy ra vi phạm
Và thỏa thuận sẽ chỉ có giá trị hiệu lực với những vi phạm xảy ra tính từ sau thời điểmgiao kết và các bên chính thức công nhận hiệu lực của điều khoản mới giao kết đó
Như đã phân tích ở trên, chúng ta thấy tầm quan trọng của thỏa thuận phạt viphạm trong hợp đồng thương mại song cũng cần phải lưu ý rằng, nó lại không phải lànội dung bắt buộc nên các bên hoàn toàn có quyền trao đổi nhìn nhận có hay khôngviệc quy định đến nội dung này trong hợp đồng
Cuối cùng, không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm Đây là nội dung mà đôikhi chúng ta bỏ quên khi xác định trách nhiệm mà các chủ thể vi phạm phải gánh chịu.Theo quy định của pháp luật, có những trường hợp kể cả khi đã đáp ứng đủ các điều
Trang 11kiện kể trên để áp dụng chế tài phạt vi phạm nhưng nếu thuộc những trường hợp đượcmiễn trách nhiệm thì các chủ thể lại không phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi này.
Cụ thể, khi hành vi vi phạm của bên này lại xuất phát từ yếu tố lỗi của bên kia (cố tìnhgây cản trở, thực hiện không đúng không đủ nghĩa vụ cần thực hiện trước đó củamình) hoặc do các sự kiện tự nhiên như thiên tai hỏa hoạn dịch bệnh (cụ thể như tìnhhình dịch bện Covid 19 vừa qua đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của các chủ thểkinh doanh thương mại) hoặc những sự kiện nhân tạo chiến tranh, sự thay đổi củachính sách pháp luật… không thể lường trước hết được tại thời điểm giao kết hợpđồng thương mại mà các bên dù đã tìm mọi cách nhưng vẫn không thể nào khắc phụcđược Thêm vào đó, nếu các bên có thỏa thuận về miễn trách nhiệm dân sự (nếu khôngphải lỗi cố ý) thì cũng có thể được áp dụng Những nội dung này được quy định trong
cả điều 294 của LTM 2005 và điều 156, 351 BLDS
2.1.3 Mức phạt của chế tài phạt vi phạm
Phạt vi phạm là một chế tài thuộc nhóm phương pháp điều chỉnh tác động vềmặt kinh tế nên việc xác định mức phạt vi phạm hợp đồng có ý nghĩa quan trọng đểviệc áp dụng chế tài này đạt được mục đích như mong muốn Đương nhiên, việc xácđịnh mức phạt vi phạm hợp đồng càng cụ thể, hợp lý càng thuận tiện cho quá trình ápdụng Mức phạt này đã được đề cập tới ở một số văn bản pháp luật khác nhau nhưBLDS, LTM, Luật xây dựng
Theo BLDS (BLDS) 2015 tại Điều 418, mức phạt vi phạm hợp đồng: “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.” Điều có có nghĩa mực phạt là do các bên tự thỏa thuận Tự thỏa
thuận ở đây có nghĩa là các bên được phép tự do xác định mức phạt mà không bịkhống chế bởi những quy định của pháp luật, thể hiện rõ nguyên tắc tự do thỏa thuận –nguyên tắc cơ bản cốt lõi nhất được ghi nhận trong pháp luật dân sự Tuy nhiên, đâychỉ là những quy định về các quan hệ dân sự nói chung, còn các quan hệ thương mại –cũng là quan hệ nằm trong nhóm các quan hệ dân sự - lại có chế tài riêng điều chỉnh.Điểm đáng nói là ở chỗ LTM lại quy định về mức phạt trần đối với vi phạm nghĩa vụhợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợpđồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm Trong khiBLDS cho phép các bên tự do thỏa thuận mà không giới hạn về mức phạt thì LTM lạigiới hạn mức phạt không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng đó Ở đây có sự khácbiệt giữa hai văn bản khi cùng điều chỉnh về mức phạt vi phạm được thỏa thuận trước
Vì thế, yêu cầu chúng ta phải phân biệt được những quan hệ nào được Luật Dân sựđiều chỉnh, những quan hệ nào được Luật Thương mại điều chỉnh để có thể áp dụngmột cách chính xác Theo Luật Thương mại 2005 thì hoạt động thương mại là hoạtđộng nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư,xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Những quan hệnày khi có tranh chấp xảy ra và có điều khoản về phạt vi phạm thì sẽ áp dụng mức phạt
vi phạm tối đa là 8% Mặt khác, mức phạt vi phạm tối đa theo quy định của Luật Xây