Đó là sự tác độngđịnh hướng với nội dung cơ bản là chuyển tải tri thức của nhân loại nói chung, củamột quốc gia nói riêng về hai hiện tượng Nhà nước và pháp luật, trong đó pháp luậtthực
Trang 1BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I - XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT I BẢN CHẤT VÀ CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 6
1 Bản chất của giáo dục pháp luật 6
2 Cơ chế tác động xã hội của giáo dục pháp luật 8
II HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC, XÃ HỘI, NHÀ TRƯỜNG, CỘNG ĐỒNG 8
1 Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của Nhà Nước 8
2 Hoạt động giáo dục, phổ biến pháp luật trong nhà trường 8
3 Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của xã hội và cộng đồng 9
III CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 12
IV ĐIỀU TRA KHẢO SÁT VÀ NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 14
1 Điều tra khảo sát xã hội học giáo dục pháp luật 14
1.1 Khái niệm 14
1.2 Các phương pháp điều tra khảo sát xã hội học giáo dục 15
2 Nghiên cứu về giáo dục pháp luật 17
CHƯƠNG II - XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA PHÁP LUẬT I BẢN CHẤT VÀ CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA VĂN HÓA PHÁP LÝ 19
1 Các vấn đề lý luận của văn hóa pháp lý 19
2
Trang 31.1.Văn hoá pháp lý là sự thống nhất giữa những yếu tố hình thức và nội dung
trong xây dựng và thực hành pháp luật một cách có văn hoá và đạo đức 20
1.2.Văn hoá pháp lý không phải là sự lắp ghép cơ học giữa yếu tố văn hoá và yếu tố pháp luật 20
2 Cơ chế tác động xã hội của Văn hóa pháp lý 21
2.1 Về vấn đề nhận thức 21
2.2 Về vấn đề giáo dục 22
2.3 Về vấn đề thực tiễn 23
II KHẢO SÁT, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA PHÁP LUẬT 25
1 Khái niệm 25
2 Khảo sát 25
3 Nghiên cứu về văn hóa pháp luật 26
4 Đánh giá về tác động của văn hóa pháp luật 26
4.1 Ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa xã hội đến văn hóa pháp luật 26
4.2 Tác động của văn hóa pháp luật 27
III XÃ HỘI HỌC Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA CÁ NHÂN, NHÓM, CỘNG ĐỒNG, XÃ HỘI 28
1 Khái quát chung về ý thức pháp luật 28
2 Giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân 30
2.1 Nâng cao hiểu biết pháp luật 30
2.2 Tăng cường giáo dục pháp luật 30
2.3 Sống và làm việc theo pháp luật 30
2.4 Xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật 31
CHƯƠNG III – XÃ HỘI HỌC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ I TIẾP CẬN XÃ HỘI HỌC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 32
1 Khái niệm 32
Trang 42 Bản chất 32
3 Đối tượng 33
II CÁC HÌNH THỨC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THÔNG QUA HỌAT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 33
III CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ HIỆU QUẢ XÃ HỘI MANG LẠI 34
1 Cơ chế tác động 34
1.1 Cơ chế của cơ quan, nhà nước có thẩm quyền 34
1.2 Cơ chế đảm bảo tính hợp pháp, đúng đắn, công bằng trong việc trong việc trợ giúp pháp lý 35
1.3 Cơ chế đảm bảo và thực thi quyền được trợ giúp pháp lý của công dân 35
2 Hiệu quả của việc trợ giúp pháp lý và những vấn đề còn tồn tại 35
2.1 Hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý 35
2.2 Một số quy định pháp luật về quyền trợ giúp pháp lý còn bất cập 36
2.3 Dẫn chứng Đề án "Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý giai đoạn 2013-2016” 38
KẾT LUẬN 40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
4
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong điều kiện yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam đang ngày càng trở nên cấp thiết, công tác phổ biến, giáo dục pháp luậtlại càng đóng vai trò quan trọng làm cầu nối để đưa các chủ trương, chính sách,pháp luật của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống xã hội Thông qua hoạt độngphổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý, các quy phạm pháp luật, cácchuẩn mực pháp luật từ những quy định "khô khan" đã thấm dần vào nhận thức vàđược thể hiện qua hành vi xử sự của mỗi công dân trong đời sống xã hội Giáo dục,phổ biến pháp luật và hoạt động trợ giúp pháp lý giúp pháp luật đến với xã hội, vớiđời sống hàng ngày của mỗi công dân, tạo nên môi trường xã hội của pháp luật
Qua bài thuyết trình hôm nay mong rằng nhóm có thể đưa cô cùng các bạnhiểu rõ hơn xã hội học pháp luật có tác động và vai trò như thế nào trong hoạt độnggiáo dục pháp luật, văn hóa pháp luật và trợ giúp pháp lý Trong phạm vi kiến thứccòn hạn chế, bài tiểu luận của nhóm có thể còn thiếu sót, nhóm chúng em rất mongnhân được những nhận xét và đóng góp ý kiến của cô và các bạn để bài được hoànthiện hơn
Bài tiểu luận của nhóm được chia làm 3 chương:
Chương I: Xã hội học giáo dục pháp luật
Chương II: Xã hội học văn hóa pháp luật
Chương III: Xã hội học trợ giúp pháp lý
Trang 6CHƯƠNG I - XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
I BẢN CHẤT VÀ CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
1 Bản chất của giáo dục pháp luật
Hiện nay đang tồn tại một số quan điểm khác nhau về giáo dục pháp luật:Giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng và giáodục đạo đức, nghĩa là nếu tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức tốt thì trênthực tế có thể đạt được sự tôn trọng của pháp luật và của công dân Nói cách khác,
sự hình thành ý thức pháp luật của công dân được xem là “Sản phẩn phụ của quátrình giáo dục chính trị hay giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật không được đặt ranhư một hoạt động độc lập trong hệ thống giáo dục nói chung
Một số quan điểm đồng nhất giáo dục pháp luật với tuyên truyền phổ biếnhay giải thích pháp luật, tức là đồng nhất nó với một công việc cụ thể của một số cơquan chuyên trách của các phương tiện thông tin đại chúng của bộ máy tuyêntruyền
Có quan điểm lại cho rằng giáo dục pháp luật đồng nghĩa với dạy và họcpháp luật ở nhà trường, còn việc phổ biến pháp luật ở ngoài xã hội không phải làgiáo dục pháp luật
Sự phát triển của khoa học pháp lý hiện nay cho thấy tất cả các quan điểmtrên đều phiến diện, giản đơn, một chiều, chưa thấy hết tính đặc thù trong sự tácđộng của pháp luật cũng như những giá trị xã hội vốn có của nó, thậm chí đã vôtình hoặc cố ý hạ thấp vai trò và giá trị của pháp luật Để hiểu được bản chất cốt lõicủa giáo dục pháp luật cần phải xuất phát từ khái niệm giáo dục Khái niệm giáodục có thể được hiểu như sau:
- Theo nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình ảnh hưởng của những điều kiệnkhách quan như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trường sống và của
cả những nhân tố chủ quan như tác động tự giác, định hương của nhân tố conngười
- Theo nghĩa hẹp: Giáo dục được hiểu là quá trình tác động định hướng củanhân tố chủ quan lên khách thể giáo dục, điều có nghĩa quan niệm giáo dục theonghĩa hẹp đã không tính đến những ảnh hưởng hay tác động của các yếu tố kháchquan
6
Trang 7Theo quan điểm của nhóm thì quan niệm về bản chất của giáo dục pháp luậtđược hiểu theo nghĩa hẹp và bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Một là, sự hình thành ý thức của con người là quá trình ảnh hưởng tác động
thống nhất của các điều kiện khách quan, còn các nhân tố chủ quan là những nhân
tố tác động, nhân tố ảnh hưởng có thể là tự phát theo chiều này hoặc là chiều khác.Trong khi đó các nhân tố tác động bao giờ cũng là tự giác, có ý thức, có chủ địnhtheo một định hướng xác định Như vậy, hoạt động giáo dục pháp luật chính là sựtác động của nhân tố chủ quan mà trước hết là hoạt động giáo dục định hướng, có
tổ chức, có chủ định thành một hệ thống của nhiều chủ thể, nhất là sự tác động củacác tổ chức, các cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội
Hai là giáo dục pháp luật là hình thức giáo dục cụ thể, là cái riêng, cái đặc
thù trong mối quan hệ với cái chung,vừa mang những đặc điểm chung, lại vừa thểhiện những nét đặc thù Vì vậy, giáo dục pháp luật vừa phải “hút vào” trong nónhững nét chung của quá trình giáo dục, sử dụng các hình thức, phương pháp củagiáo dục nói chung, lại vừa phải chứng tỏ mình có những nét đặc thù riêng và trênthực tế giáo dục pháp luật có những nét đặc thù như vậy
Giáo dục pháp luật là một dạng giáo dục độc lập trong hệ thống giáo dục, bởi
vì bên cạnh những đặc trưng chủ yếu trong một quá trình giáo dục, nó còn cónhững nét đặc trưng riêng biệt:
Thứ nhất, giáo dục pháp luật có mục đích riêng của mình Đó là hoạt độngnhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định củapháp luật, làm cho công dân tự giác tuân thủ pháp luật, có ý thức pháp luật cao gópphần tăng cường hiệu quả của pháp luật;
Thứ hai, giáo dục pháp luật có nội dung riêng của mình Đó là sự tác độngđịnh hướng với nội dung cơ bản là chuyển tải tri thức của nhân loại nói chung, củamột quốc gia nói riêng về hai hiện tượng Nhà nước và pháp luật, trong đó pháp luậtthực định của Nhà nước là bộ phận cơ bản quan trọng nhất;
Thứ ba, giáo dục pháp luật có những nét đặc thù riêng về chủ thể, khách thể,đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục
Từ những đặc thù trên của giáo dục pháp luật, cho phép chúng ta phân biệtphạm trù “giáo dục pháp luật” với phạm trù “hình thành ý thức pháp luật” của cánhân, vốn là hai phạm trù quan hệ mật thiết nhưng không phải là đồng nhất Hoạtđộng giáo dục pháp luật chỉ là một yếu tố của quá trình hình thành ý thức pháp luật
ở cá nhân con người và sự tác động của nhân tố mang tính định hướng, có tổ chức,
Trang 8có chủ định, có mục tiêu xác định là hình thành và nâng cao ý thức pháp luật củađối tượng được giáo dục phù hợp với yêu cầu của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm của cả điều kiện khách quan (thực tiễnđời sống kinh tế-xã hội tác động trực tiếp tới đời sống pháp luật của xã hội), lẫn sựtác động định hướng của nhân tổ chủ quan giáo dục pháp luật
Tóm lại, từ những phân tích trên có thể kết luận: Giáo dục pháp luật là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở
họ trí thức, pháp luật, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành Hoặc giáo dục pháp luật là sự sử dụng những hình thức khác những tác động có hệ thống và thường xuyên tới ý thức của con người nhằm trang
bị cho họ những kiến thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật 1
2 Cơ chế tác động xã hội của giáo dục pháp luật
Theo Từ điển tiếng Việt, “cơ chế: cách thức theo đó một quá trình thực hiện” Nhưvậy, cơ chế có thể được hiểu là một quá trình và cách thức diễn ra hay thực hiệncủa một hiện tượng xã hội, quá trình và cách thức ấy bao gồm các công đoạn vàmối quan hệ giữa chúng theo một trật tự logíc nhằm hướng tới một mục tiêu nàođó…
II HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC,
XÃ HỘI, NHÀ TRƯỜNG, CỘNG ĐỒNG.
1 Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của Nhà Nước
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được qui định tại các Điều từ 10-16,Chương 2 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2013.2
Điều 10 Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật
Điều 11 Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật
Điều 12 Họp báo, thông cáo báo chí về văn bản quy phạm pháp luật
Điều 13 Đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử
Điều 14 Phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúngĐiều 15 Tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu phápluật
1 Xem tại: http://toc.123doc.org/document/475880-chuong-1-co-so-ly-luan-ve-pho-bien-giao-duc-phap-luat.htm
2 Xem Điều 10-16 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2013.
8
Trang 9Điều 16 Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạmhành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
2 Hoạt động giáo dục, phổ biến pháp luật trong nhà trường.
Phổ biến giáo dục pháp luật trong nhà trường là một phần của nội dungchương trình giáo dục ở các cấp học, là một hoạt động thường xuyên của ngànhgiáo dục & đào tạo trong chương trình chính khóa hoặc được lồng ghép vào cácmôn học có liên quan về chính trị, đạo đức, lịch sử và xã hội Phổ biến giáo dụcpháp luật trong nhà trường được thực hiện bằng nhiều biện pháp và hình thức lồngghép phong phú, thông qua các hoạt động ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớpnhư: Thi tìm hiểu pháp luật, thông tin pháp luật, tọa đàm, hội thảo chuyên đề phápluật, viết báo tường… nhằm giúp học sinh tiếp cận với pháp luật một cách hấp dẫn,góp phần bồi dưỡng niềm tin vào pháp luật và ứng xử theo chuẩn mực của phápluật trong đối tượng học sinh
Trong nhiều năm qua công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh niên,học sinh luôn được sự quan tâm của các cấp, các ngành, đã có nhiều giải pháp tíchcực để hướng đến giáo dục thanh thiếu nhi, học sinh phát triển một cách toàn diện
về đức - trí - thể - mỹ Trong giáo dục tại nhà trường ở bậc học tiểu học đến trunghọc cơ sở các em học sinh đã bước đầu được làm quen với các loại biển báo khitham gia giao thông và một số điều luật cơ bản, đến bậc trung học phổ thông nhiềukiến thức pháp luật quan trọng, gần gũi với cuộc sống đã được đưa vào chươngtrình môn Giáo dục công dân lớp 12 Các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là đoànthanh niên các nhà trường đã tạo ra nhiều sân chơi bổ ích lành mạnh như các hoạtđộng văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, tuyên truyền giáo dục pháp luật lưu độngtại các trường học, hội diễn sân khấu hóa theo chủ đề
Công tác giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên cần hướng nhiều hơn đếnviệc giáo dục thái độ và hành vi tự giác thực hiện pháp luật Để làm tốt công tácnày ngoài việc giáo dục ở nhà trường thì cần phải có sự kết hợp hài hòa trong giáodục gia đình và cộng đồng Môi trường gia đình là yếu tố quan trọng trong việchình thành nhân cách ở các em, thực tế cho thấy phần lớn học sinh, thanh thiếu niên
vi phạm đều có hoàn cảnh gia đình không tốt, thiếu sự quan tâm của các bậc phụhuynh, buông lỏng quản lý con em mình.1
3 Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của xã hội và cộng đồng
1 Xem tại http://www.baomoi.com/nha-truong-va-cong-tac-giao-duc-phap-luat/c/12429470.epi
Trang 10Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trước
xu thế hội nhập toàn diện đời sống kinh tế xã hội đất nước và xây dựng Nhà nướcpháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, vấn đề nâng cao hiệu quảcông tác tuyên truyền, PBGDPL để qua đó củng cố, tăng cường hiệu lực pháp luậtđang trở nên cấp thiết, quan trọng Để nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền,PBGDPL, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyềnViệt Nam XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, nâng cao hiệu quảquản lý xã hội bằng pháp luật của các cấp chính quyền, cần tập trung thực hiện cácgiải pháp sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của chính
quyền các cấp đối với công tác tuyên truyền, PBGDPL Bên cạnh việc tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng thì sự tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn của chính quyền địaphương là một trong những yếu tố vô cùng quan trong Để nâng cao chất lượnggiáo dục pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, chính quyền địa phương cần thựchiện tốt những vấn đề sau:
- Đối với HĐND các cấp: phải từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạtđộng của HĐND nói chung và trong việc ra Nghị quyết về công tác PBDGPL nóiriêng Trong quá trình hoạt động của mình, HĐND không chỉ chú ý tới việc banhành các văn bản QPPL mà quan trọng hơn là phải chỉ đạo, giám sát hoạt độngtuyên truyền, PBGDPL, xem đây là biện pháp hàng đầu trong việc đảm bảo thihành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn
- Đối với ủy ban nhân dân (UBND) các cấp: Hằng năm, UBND cần chủ độngxây dựng kế hoạch giáo dục pháp luật cho địa phương Kế hoạch phải phù hợp vớiđường lối, chủ trương của Đảng, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các
Đề án, Chương trình, Kế hoạch của Bộ Tư pháp, UBND tỉnh và phù hợp với đặcđiểm, điều kiện kinh tế, xã hội của từng địa phương Thực hiện tốt việc kiểm tra,đánh giá, rút kinh nghiệm và khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân có thànhtích xuất sắc trong công tác PBGDPL
Hai là, chú trọng xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật-vai trò quyết định chất lượng tuyên truyền, PBGDPL Do vậy, cần tuyển chọnnhững người có phẩm chất, năng lực, trình độ, có khả năng tuyên truyền, giáo dụchoặc hòa giải tốt, có lòng nhiệt tình, say mê với công việc giáo dục pháp luật Bêncạnh đó, phải đặc biệt chú trọng việc rà soát, phân loại, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp
và định hướng nội dung giáo dục pháp luật thường xuyên cho đội ngũ làm công tácgiáo dục pháp luật (chú ý cung cấp kiến thức, cần bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng
10
Trang 11tuyên truyền, PBGDPL, giúp họ không chỉ có kiến thức vững mà còn có khả năngtruyền đạt thu hút người nghe và có hiệu quả nội dung pháp luật).
Ba là, đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp PBGDPL:
- Cần đổi mới nội dung tuyền truyền, PBGDPL theo hướng không chỉ đáp ứngnhu cầu kiến thức cơ bản về pháp luật, mà còn phải thiết thực, đáp ứng yêu cầuthực tiễn để một mặt nâng cao trình độ nhận thức cho các đối tượng, mặt khác giúp
họ có khả năng vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống Trên cơ sở nội dungPBGDPL đã được cung cấp, các báo cáo viên biên soạn lại cụ thể, phù hợp với đặcđiểm, điều kiện, trình độ nhận thức, tính chất công việc của từng đối tượng Định
kỳ cần tổ chức sơ kết, đánh giá để xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việcxác định nội dung PBGDPL thời gian tiếp theo
- Cần đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyền truyền, PBGDPL, không chỉthông qua các hội nghị, hệ thống truyền thanh, công tác hòa giải ở cơ sở, hoạt độngcâu lạc bộ phát luật mà bằng những cách thức khác như tọa đàm, buổi nói chuyện,hoạt cảnh tình huống, lời ca, tiếng hát, cung cấp các tin bài, cấp phát tài liệu hỏiđáp, tờ gấp, tờ rơi, panô, áp phích, khai thác, tìm hiểu pháp luật qua tủ sách phápluật, Cần xây dựng và mở rộng hình thức tìm hiểu pháp luật qua các hoạt cảnhtrên phát thanh hoặc truyền hình, xây dựng trang web riêng về công tác tuyêntruyền, PBGDPL để người dân có thể cập nhật thông tin, trao đổi, bàn luận và tìmhướng giải quyết cho những vấn đề bức xúc trong đời sống pháp luật
- Ngoài ra, cần lồng ghép việc tuyên truyền, PBGDPL tại các buổi sinh hoạtcộng đồng Xây dựng và phát huy phương châm mỗi người dân là một tuyên truyềnviên trong cộng đồng Chú trọng nâng cao hiệu quả hình thức thi tìm hiểu phápluật Đối với hình thức PBGDPL qua hoạt động tư vấn, trợ giúp pháp luật cần mởrộng phạm vi hoạt động, không chỉ tư vấn tại trụ sở mà còn đến các thôn xóm, cụmdân cư, tư vấn lưu động hoặc thông qua các câu lạc bộ trợ giúp pháp lý
Bốn là, cần nâng cao chất lượng hoạt động công tác hòa giải ở cơ sở Đây là
hình thức có tác dụng giáo dục cao vì nó không chỉ giải quyết tranh chấp thông quacách hướng dẫn, thuyết phục các bên tự thương lượng với nhau mà còn xuất phát từđạo lý dân tộc Việt Nam, hòa thuận, đoàn kết, “chín bỏ làm mười” Hòa giải ở cơ
sở vừa có tác dụng giáo dục hiệu quả vừa có khả năng lan tỏa sâu rộng trong cộngđồng Khi tiến hành hòa giải cần phân tích thấu đáo mọi khía cạnh, kiên nhẫn vàmềm mỏng, vừa căn cứ vào quy định pháp luật, vừa dùng tình cảm để thuyết phục.Phải xác định hòa giải có thể không thành, nhưng nhất định buổi hòa giải đó sẽ làbài học giáo dục pháp luật cho mọi người
Trang 12Năm là, nâng cao chất lượng dạy học pháp luật trong trường học Cần đổi
mới nội dung, phương pháp dạy học và hình thức ngoại khóa pháp luật; nâng caochất lượng dạy học môn Giáo dục công dân, môn Pháp luật ở các trường học Tăngcường công tác xét xử lưu động của Tòa án góp phần tích cực công tác giáo dụcpháp luật và nâng cao chất lượng xét xử cũng có nghĩa là nâng cao hiệu quả côngtác giáo dục pháp luật
Sáu là, phải thường xuyên hệ thống hoá văn bản QPPL Để phát hiện và loại
bỏ những quy định pháp luật lạc hậu, trùng lắp, mâu thuẫn, kịp thời bổ sung nhữngthiếu sót trong mặt bằng pháp luật; có kế hoạch xây dựng pháp luật phù hợp vớimỗi giai đoạn cụ thể; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, nâng cao kỹthuật lập pháp, mở rộng các hình thức nhân dân tham gia vào việc xây dựng phápluật Đồng thời phải đảm bảo đủ kinh phí, cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt độngcông tác tuyên truyền, PBGDPL
Bảy là, tăng cường công tác tuyền truyền, PBGDPL không tách rời với việc
nâng cao trình độ dân trí và cải thiện đời sống cho nhân dân Các cơ quan nhà nướccần tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật, đặc biệt là áp dụng pháp luật một cáchđúng đắn và nghiêm minh, nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân.Việc tăng cường tuyên truyền, PBGDPL sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao trình độvăn hóa pháp lý của người dân Hiệu quả tác động này lại phụ thuộc vào trình độvăn hóa pháp lý của đội ngũ cán bộ, công chức, phụ thuộc vào việc họ thực thipháp luật, có thái độ tôn trọng pháp luật, nhất là trong điều kiện xây dựng một xãhội dân chủ, công bằng và văn minh thì một trong những điều kiện quan trọng làlàm sao để người dân được tham gia tích cực vào hoạt động quản lý xã hội bằngpháp luật Phổ biến, giáo dục pháp luật góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sựlớn mạnh của tính tích cực, đảm bảo hành trang kiến thức pháp lý cần thiết cho sựtham gia vào hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật trong cả nước.1
III CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Trong tình hình hiện nay, nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật là cần phải có các phương thức tác động làm thay đổi cách nghĩ, cáchnhìn của nhân dân đối với pháp luật Người dân thường chỉ quan tâm tới pháp luậtkhi bản thân họ phải rơi vào tình thế sự việc miễn cưỡng, lợi ích bị xâm hại dínhlíu tới pháp luật (kiện cáo, tranh chấp, bị phạt, bị cưỡng chế ) Bởi vậy, khi tuyên
1 Xem tại: bien-giao-duc-phap-luat-trong-tinh-hinh-.htm
https://quangtrach.quangbinh.gov.vn/3cms/giai-phap-nang-cao-hieu-qua-cong-tac-tuyen-truyen-pho-12
Trang 13truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần giải thích, phân tích cho người dân hiểuđược rằng, pháp luật không chỉ bao gồm các quy định cưỡng chế, thực thi phápluật, biện pháp giải quyết tranh chấp mà pháp luật còn bao gồm các quy định bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, khuyến khích sự giao dịch lành mạnhgiữa các thành viên trong xã hội vì sự phát triển và bảo đảm trật tự ổn định Phápluật là môi trường thuận lợi tạo điều kiện cho người giao dịch với nhau trong cáclĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo cho các thành viên trong xã hội phụ thuộc vàgắn bó với nhau một cách hợp lý Trong thời gian tới để đẩy mạnh hơn nữa hiệuquả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, cần quan tâm đề cập đến một số vấn
đề sau:
Thứ nhất, coi trọng và xây dựng nhận thức đúng về vị trí, vai trò quan trọng
của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Quán triệt quan điểm, công tác giáo dụcchính trị tư tưởng, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, nâng cao trình độ văn hóa pháp lý cho mọi tầng lớp nhân dân trong điềukiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chủ động bố trí
và kiện toàn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật Tạo cơ chế phối hợp giữa cán bộ phụ trách tư pháp với các cấp cácngành của địa phương trong giáo dục pháp luật cho cán bộ hội viên
Thứ hai, xây dựng kế hoạch phối hợp trong công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa chuyên môn và các đoàn thể (như Côngđoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh ) trongcông tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm phát huy sức mạnh tổnghợp của các tổ chức, lồng ghép các hoạt động nhằm phổ biến kiến thức pháp luậtcho mọi tầng lớp nhân dân
Thứ ba, cần đổi mới nội dung tuyền truyền, PBGDPL theo hướng không chỉ
đáp ứng nhu cầu kiến thức cơ bản về pháp luật, mà còn phải thiết thực, đáp ứng yêucầu thực tiễn để một mặt nâng cao trình độ nhận thức cho các đối tượng, mặt khácgiúp họ có khả năng vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống Trên cơ sở nộidung PBGDPL đã được cung cấp, các báo cáo viên biên soạn lại cụ thể, phù hợpvới đặc điểm, điều kiện, trình độ nhận thức, tính chất công việc của từng đối tượng.Định kỳ cần tổ chức sơ kết, đánh giá để xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn choviệc xác định nội dung PBGDPL thời gian tiếp theo Cần đa dạng hóa hình thức,phương pháp tuyền truyền, PBGDPL, không chỉ thông qua các hội nghị, hệ thốngtruyền thanh, công tác hòa giải ở cơ sở, hoạt động câu lạc bộ phát luật mà bằngnhững cách thức khác như tọa đàm, buổi nói chuyện, hoạt cảnh tình huống, lời ca,
Trang 14tiếng hát, cung cấp các tin bài, cấp phát tài liệu hỏi đáp, tờ gấp, tờ rơi, panô, ápphích, khai thác, tìm hiểu pháp luật qua tủ sách pháp luật, Cần xây dựng và mởrộng hình thức tìm hiểu pháp luật qua các hoạt cảnh trên phát thanh hoặc truyềnhình, xây dựng trang web riêng về công tác tuyên truyền, PBGDPL để người dân
có thể cập nhật thông tin, trao đổi, bàn luận và tìm hướng giải quyết cho những vấn
đề bức xúc trong đời sống pháp luật
Ngoài ra, cần lồng ghép việc tuyên truyền, PBGDPL tại các buổi sinh hoạtcộng đồng Xây dựng và phát huy phương châm mỗi người dân là một tuyên truyềnviên trong cộng đồng Chú trọng nâng cao hiệu quả hình thức thi tìm hiểu phápluật Đối với hình thức PBGDPL qua hoạt động tư vấn, trợ giúp pháp luật cần mởrộng phạm vi hoạt động, không chỉ tư vấn tại trụ sở mà còn đến các thôn xóm, cụmdân cư, tư vấn lưu động hoặc thông qua các câu lạc bộ trợ giúp pháp lý
Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành trong phối
hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, thường xuyên có kế hoạch, các văn bản để hướngdẫn, chỉ đạo các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và chính quyền địa phương các cấpthực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân
Nâng cao nhận thức của cấp ủy, lãnh đạo các ngành đoàn thể địa phương đốivới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Thực tiễn cho thấy, những thành côngcũng như hạn chế đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đều xuất phát từnhận thức của quần chúng Vì thế, các cấp, các ngành, các đơn vị, cần làm tốt côngtác giáo dục, làm rõ vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối vớiviệc nâng cao ý thức, điều chỉnh hành vi chấp hành pháp luật của cán bộ nhân dân.Công tác này phải được tiến hành nghiêm túc, thường xuyên của các cấp cácngành, các đơn vị Ví dụ: trong hoạt động của các đoàn thể như Hội CCB, Đoàn
TN, Hội PN
Thứ năm, phát huy vai trò của người làm công tác tuyên truyền phổ biến,
giáo dục pháp luật ở các cơ quan, tổ chức, thường xuyên kiện toàn, bảo đảm đủthành phần, có quy chế làm việc rõ ràng để hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm
vụ được phân công.1
IV ĐIỀU TRA KHẢO SÁT VÀ NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
1 Điều tra khảo sát xã hội học giáo dục pháp luật
1.1 Khái niệm
1 Xem tại: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=246
14
Trang 15Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộngnhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về mặtđịnh tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu Các tài liệu điều trađược là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình nghiên cứu và làcăn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn Cóhai loại điều tra: điều tra cơ bản và điều tra xã hội học.
Điều tra cơ bản: là khảo sát sự có mặt của đối tượng trên một diện rộng đểnghiên cứu các quy luật phân bố cũng như các đặc điểm về mặt định tính và định
lượng Ví dụ: điều tra địa chất, điều tra dân số, điều tra trình độ văn hóa, điều tra
chỉ số thông minh (IQ) của trẻ em…
Điều tra xã hội học: là điều tra quan điểm, thái độ của quần chúng về một
sự kiện chính trị, xã hội, hiện tượng văn hóa, thị hiếu …Ví dụ: điều tra nguyện
vọng nghề nghiệp của thanh niên, điều tra hay trưng cầu dân ý về một luật mới banhành…
Điều tra xã hội học thực chất là trưng cầu ý kiến quần chúng, được tiến hànhbằng cách phỏng vấn trực tiếp, thảo luận hay bằng hệ thống ankét (đóng, mở)
….Điều tra xã hội học giáo dục là một phương pháp nghiên cứu khoa học quantrọng, một hoạt động có mục đích, có kế hoạch, được tiến hành một cách thậntrọng, do đó cần tuân thủ nghiêm túc các bước sau đây:
- Chuẩn bị điều tra gồm các thao tác: chọn mẫu, chọn địa bàn khảo sát, lựa
chọn thời gian khảo sát, thiết kế phiếu hỏi và khảo sát định tính
- Tiến hành điều tra: điều tra viên phải được tập huấn để quán triệt mục đích,
yêu cầu điều tra, thống nhất các biện pháp phù hợp với từng nhóm mẫu và từng địabàn điều tra Trong quá trình điều tra, người nghiên cứu cần tuân thủ những yêucầu đã được đề ra Nếu sử dụng cộng tác viên, điều tra viên, người nghiên cứu cầngiám sát điều tra với mục đích thu được thông tin một cách khách quan, tin cậy
- Xử lý kết quả điều tra: được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu lý
thuyết: phân tích tư liệu, tổng hợp và phân loại tư liệu và tiến hành xử lý số liệubằng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh … theo những biến số độc lập đểrút ra những thuộc tính chung của các tập hợp mẫu nhằm hình thành luận cứ chocác giả thuyết nghiên cứu
1.2 Các phương pháp điều tra khảo sát xã hội học giáo dục
Có nhiều phương pháp điều tra khảo sát xã hội học giáo dục như:
1.2.1 Điều tra bằng trò chuyện (đàm thoại)
Trang 16Là phương pháp thu thập sự kiện về các hiện tượng, quá trình tâm lý thôngqua quá trình giao tiếp trực tiếp với đối tượng theo một chương trình đã vạch ramột cách đặc biệt.
Đàm thoại là phương pháp nghiên cứu mang tính chất độc lập hay bổ trợnhằm làm sáng tỏ những điều chưa rõ khi quan sát, do đó cần được thực hiện theo
kế hoạch định trước với những câu hỏi chuẩn bị trước để làm sáng tỏ vấn đề Cácphương pháp: phỏng vấn, tọa đàm, hỏi chuyện, trưng cầu ý kiến thuộc dòng họ củaphương pháp trò chuyện (đàm thoại)
Đặc điểm của phương pháp đàm thoại:
- Nhờ tiếp xúc trực tiếp mà khả năng thay đổi câu hỏi cho phù hợp với các câutrả lời mà vẫn giữ nguyên được mục đích trong suốt thời gian trò chuyện Điềuquan trọng là phải duy trì trong suốt thời gian trò chuyện một không khí thoải mái,
tự do và thiện chí, không được biến trò chuyện thành chất vấn, hỏi cung ngườiđược nghiên cứu
- Sự tiếp xúc trực tiếp sẽ tăng khả năng nghiên cứu không chỉ nội dung câu trảlời mà cả ẩn ý của chúng, đặc điểm của giọng nói và toàn bộ bức tranh hành vi củangười đó Bởi vậy, khi thiết kế buổi trò chuyện cần xác định rõ mục đích làm saothu được kết quả dưới dạng trực tiếp và gián tiếp Cơ sở của trò chuyện là việc traođổi, thảo luận về một quyển sách đã đọc, một vở kịch, một bộ phim đã xem hoặctranh luận về một tình huống có vấn đề nào đó giúp người nghiên cứu hiểu đượcđặc điểm nhân cách của đối tượng, khẳng định, chính xác hóa, bổ sung cho nhữngnhận xét về đối tượng
- Trò chuyện có ưu điểm là cung cấp cho người nghiên cứu những tài liệu về
những điều thầm kín nhất trong tâm hồn người được nghiên cứu mà các phươngpháp khác không làm được, giúp giải thích nguyên nhân của những đặc điểm tâm
lý này hay khác Tuy nhiên, phương pháp trò chuyện có hạn chế là: không thể đảm
bảo câu trả lời hoàn toàn trung thực (nhất là khi tâm lý trò chuyện không thuận lợi,quan hệ không cởi mở, cảm thông và hợp tác, không lịch thiệp, tế nhị và cởi mở khitrò chuyện) Do đó, phương pháp này chỉ là phương pháp để bổ trợ để thu lượm cáctài liệu bổ sung, hoặc tìm hiểu sơ bộ về đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn đầuvàchỉ nên sử dụng phương pháp này trong việc nghiên cứu nhân cách nói chung vàmột số đặc điểm tâm lý nào đó nói riêng của con người
1.2.2 Điều tra bằng phiếu (Ankét)
16
Trang 17Là phương pháp thu thập sự kiện trên cơ sở trả lời bằng văn bản (viết) củangười được nghiên cứu theo một chương trình đã được thiết lập một cách đặc biệt.Nói khác: Ankét là phương pháp phỏng vấn gián tiếp thông qua việc hỏi và trả lờitrên giấy Việc xây dựng nội dung chính xác các câu hỏi và sự diễn đạt rõ ràng cáccâu hỏi có ý nghĩa quan trọng khi xây dựng ankét.
Phương pháp này thu được khối lượng lớn tài liệu, độ tin cậy lại được xácđịnh bằng “luật số lớn”, song độ tin cậy về sự tương đương giữa câu trả lời và hàm
vi thực của đối tượng (người) không cao Do đó, ankét chỉ được dùng với mục đíchthăm dò, định hướng cho quá trình nghiên cứu
1.2.3 Điều tra bằng trắc nghiệm (test)
Là một công cụ đo lường đã được chuẩn hóa, dùng để đo lường khách quanmột hay nhiều khía cạnh của một nhân cách hòan chỉnh qua những câu trả lời bằngngôn ngữ hay phi ngôn ngữ (ký hiệu) hoặc bằng những loại hành vi khác (như biểuhiện tâm lý….)
Test khi sử dụng cần đảm bảo các yêu cầu:
+ Tính tin cậy: Khi dùng các hình thức khác nhau của cùng một Test hoặc
tiến hành cùng một Test nhiều lần trên cùng một đối tượng (cá nhân hay cùng mộtnhóm) đều thu được kết quả giống nhau
+ Tính ứng nghiệm (hiệu lực): Test phải đo được chính xác cái định đo + Tính quy chuẩn: Test phải được thực hiện theo thủ tục tiêu chuẩn và phải
có những quy chuẩn, được căn cứ theo một nhóm chuẩn và nhóm này phải đôngđảo và mang tính chất giống với những người sau này đưa ra trắc nghiệm – nghĩa làđại diện cho một quần thể (dân số) Các quy chuẩn của nhóm là một hệ thống cácchuẩn cứ để kiến giải kết quả trắc nghiệm của bất cứ một cá nhân nào
Ưu điểm khi sử dụng phương pháp test để điều tra khảo sát xã hội học giáodục chính là tính ngắn gọn, tính tiêu chuẩn, tính tiêu chuẩn, tính đơn giản về kỹthuật và thiết bị, sử biểu đạt kết quả dưới hình thức số lượng (lượng hóa cao)
Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này có một số nhược điểm như:
- Tính không rõ rang về bản chất tâm lý của cái được xác định bằng test
- Chỉ quan tâm tới kết quả thống kê mà ít chú ý đến quá trình diễn biến của kếtquả
- Dễ bị đánh tráo đối tượng nghiên cứu
- Không tính đến sự phát triển của năng lực nói riêng, của tâm lý nói chung
Trang 18- Không tính đến các nhân tố đa dạng có ảnh hưởng đến kết quả.
Test được coi là một phương pháp nghiên cứu khoa học nhưng chỉ đóng vaitrò bổ trợ, cho phép thu được tài liệu định hướng có giá trị Trong xã hội học giáodục, để khảo sát, đánh giá kết quả, nhận thức về pháp luật của người dân, các tổchức hay cơ quan được giao nhiệm vụ khảo sát thường có thể dùng test giáo dục –
đó là loại trắc nghiệm khách quan Ngày nay, Test được sử dụng như một phươngtiện kiểm tra tối ưu các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và như là một phương pháp nghiêncứu khoa học.1
2 Nghiên cứu về giáo dục pháp luật
Thực tế cho thấy rằng thông qua hệ thống pháp luật Việt Nam còn nhiều vấn
đề chưa được giải quyết, các điều khoản cũng như hệ thống pháp luật còn chồngchéo chưa rõ rang khiến người dân lúng túng trong việc thực hiện pháp luật
Thông qua quá trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật cần:
- Có biện pháp hoàn thiện hơn cơ cấu pháp luật, nhằm đảm bảo tính thốngnhất và nhất quán trong pháp luật
- Cần nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng chính quyền điđôi với việc giáo dục và phổ biến pháp luật
- Cần đẩy mạnh hơn nữa việc giáo dục pháp luật trong trường học, nhằm nângcao ý thức tuân thủ pháp luật cho thế hệ trẻ Đồng thời thông qua đó góp phần vàocồng tác giáo dục pháp luật cho người dân
- Tăng cường các hoạt động giáo dục pháp luật ở các cấp, triển khai các hìnhthức giáo dục pháp luật luôn gắn liền với công tác vận động nhaanh dân chấp hànhpháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật
1 Xem tại: http://phuongphapnghiencuukhoahoc.com/phuong-phap-dieu-tra/ lúc 20h ngày 13/3/2017
18
Trang 19CHƯƠNG II - XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA PHÁP LUẬT
I BẢN CHẤT VÀ CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA VĂN HÓA PHÁP LÝ
1 Các vấn đề lý luận của văn hóa pháp lý
Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa và văn hóa Pháp luật được đưa ra vàcông nhận Ví dụ:”Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tươngtác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” Hay “văn hóa là một lĩnhvực hoạt động xã hội cụ thể của mỗi dân tộc, được thể hiện qua ba yếu tố cốt lõi:các giá trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ; các giá trị vật chất; năng lực, cách thức sửdụng các giá trị đã sáng tạo ra” Các yếu tố này được giữ gìn và lưu truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác, phản ánh bản sắc riêng của mỗi dân tộc trong từng lĩnh vựchoạt động Theo các căn cứ trên, văn hóa pháp luật được cấu thành từ các yếu tố: ýthức pháp luật, hệ thống pháp luật và các thiết chế pháp luật, hành vi pháp luật vàlối sống theo pháp luật
Bản thân khái niệm văn hoá pháp lý có nhiều nghĩa, “Văn hóa pháp lý” đượchiểu là sự ứng xử của con người trong môi trường những điều chỉnh của pháp luật;bao gồm tri thức, tư tưởng, quan điểm, thái độ, kinh nghiệm và thói quen, được tíchlũy trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, được biểu hiện qua các văn bảnpháp luật, hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật và hành vi ứng xử với phápluật”
Một cách tiếp cận khác về văn hoá pháp lý, theo đó, văn hoá pháp lý là quátrình và kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong lĩnh vực pháp luật, thể hiệntrong việc xây dựng, khẳng định và giữ gìn những giá trị pháp lý Văn hoá pháp lýcủa cá nhân chính là trình độ ý thức pháp luật, trình độ của cá nhân về sử dụngpháp luật trong các hoạt động thực tiến của mình Văn hóa pháp luật của xã hội làtoàn bộ lĩnh vực vật chất và tinh thần của văn hóa pháp luật, thực tiễn pháp lý trongcác giai đoạn lịch sử Văn hóa pháp luật xã hội là trạng thái và đặc thù của ý thứcpháp luật, hệ thống thông tin pháp luật, trình độ phát triển của pháp luật, trật tựpháp luật và tình trạng pháp chế trong xã hội Đối với nhà nước và xã hội, có vănhoá pháp lý nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp – một bộ phận cấu thành của vănhoá pháp lý
Trang 20Các lĩnh vực của văn hoá pháp lý cũng rất đa dạng, bao gồm: văn hoá lậppháp, văn hoá trong thực hiện pháp luật; văn hoá phổ biến, giáo dục pháp luật;trong khoa học pháp lý và đào tạo luật vv… Mối tương quan và sự tác động giữavăn hoá pháp lý và các hình thái văn hoá xã hội khác là điều dễ hiểu vì bản thân cácquy phạm pháp luật luôn nằm trong mối liên hệ với các loại quy tắc xã hội khác,các quan hệ pháp luật cũng nằm trong hệ thống các quan hệ xã hội khác.
1.1 Văn hoá pháp lý là sự thống nhất giữa những yếu tố hình thức và nội dung trong xây dựng và thực hành pháp luật một cách có văn hoá và đạo đức
Trong thực tiễn, khi nói đến văn hoá pháp lý thường được hiểu, được quy vềnhững yếu tố mang tính hình thức trong các hoạt động pháp luật Theo đó, nói đếnvăn hoá pháp lý là nói đến những yếu tố như cung cách giao tiếp, hành xử, cáchphát ngôn, cách thức ăn mặc, trang phục, cách thiết kế, bài trí công sở vv… Quanniệm này đúng nhưng chưa toàn diện, bao quát hết phạm trù văn hoá pháp lý Đôikhi cũng theo góc độ hình thức đó, văn hoá pháp lý lại được quan niệm chỉ ở vị thếnhư là những yếu tố bổ trợ, đánh bóng cho hoạt động pháp luật Nếu quan niệmnhư vậy thì sẽ làm mất đi mối liên hệ mật thiết giữa phạm trù hình thức và nội dungtrong hoạt động pháp luật Trong khi đó, giữa cái nội dung và cái mà đôi khi chỉcho là hình thức như nêu trên lại là một thể thống nhất hữư cơ, phụ thuộc, ảnhhưởng lẫn nhau để đạt được mục đích, ý nghĩa và chức năng của văn hoá pháp lý
Chức năng của văn hoá pháp lý suy cho cùng là nhằm đạt tới những hành vihợp pháp trên cơ sở văn hoá đạo đức Thực hành pháp luật phải trên cơ sở đạo đức(đạo đức truyền thống dân tộc và đạo đức tiến bộ của nhân loại) Liên hệ vào lĩnhvực văn hoá xét xử, một phiên toà có văn hoá chính là một phiên toà tuân thủnghiêm ngặt các quy định pháp luật tố tụng và các chuẩn mực văn hoá giao tiếpphù hợp bản sắc văn hoá dân tộc, văn hoá nhân loại Văn hoá pháp luật của nhữngngười tham gia hoạt động tư pháp được thể hiện thông qua ý thức pháp luật của họ,
ý thức và hành vi văn hoá, tôn trọng và tuân thủ pháp luật, thái độ đúng mực trongviệc tiếp nhận và thi hành các quyết định của các cơ quan tư pháp Thẩm phán, luật
sư, công tố viên giữ vai trò quan trọng, định hướng, được thể hiện ở ý thức phápluật, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp trong hoạt động tư pháp Đối vớiluật sư, thái độ ứng xử có văn hoá là một trong những điều kiện để hành nghề luật
sư một cách nghiêm túc, hiệu quả, đạt được sự tôn trọng, tín nhiệm của khách hàng.Biểu hiện tập trung nhất của văn hóa xét xử, suy cho cùng, chính là xét xử đúngpháp luật với sản phẩm là những quyết định thấu tình đạt lý
20
Trang 211.2 Văn hoá pháp lý không phải là sự lắp ghép cơ học giữa yếu tố văn hoá và yếu tố pháp luật
Sở dĩ như vậy là vì, về bản chất, pháp luật là hiện tượng văn hoá, trong vănhoá có chứa đựng pháp luật, một sản phẩm chắt lọc của văn hoá Văn hoá pháp lý
là sự nhận thức sâu sắc pháp luật, sự vận dụng đúng đắn pháp luật Mọi sự bất chấppháp luật, lạng lách pháp luật, bẻ cong pháp luật đều là sự vận dụng pháp luậtkhông có văn hóa Sự thật là những quyết định độc quyền, độc đoán không tínhtoán tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp lâu bền, cái ích cũng là chưa có văn hoá Phápluật, đạo đức chính là giá trị tiêu biểu nhất của văn hoá Văn hóa chín muồi tất yếu
sẽ sản sinh ra pháp luật Hoạt động xét xử, giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật
và phù hợp lẽ công bằng, đạo đức xã hội, vì lợi ích chính đáng của con người chính
là những giá trị tiêu biểu của văn hoá
2 Cơ chế tác động xã hội của Văn hóa pháp lý
và các hiện tượng pháp luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, cácphạm trù khoa học
Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh trình độ nhận thức cao, có hệ thống về cácvấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật Nó là cơ sở đểsáng tạo các giá trị pháp luật, phổ biến các tư tưởng, quan điểm pháp luật tiến bộ,nhân văn trong xã hội Là thành tố cơ bản của văn hóa pháp luật, ý thức pháp luậttích cực, tiến bộ là cơ sở, tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật; là nhân tố thúc đẩy việc thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội,đảm bảo cho việc áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật