1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

văn hóa pháp luật việt nam hiện nay nhìn từ mối quan hệ với văn hóa truyền thống

136 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 232,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và cũng do mỗi lĩnh vực hoạt động của con người đều có sự hiệndiện của văn hóa nên gần đây người ta đã quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu vànhận diện văn hóa theo các lĩnh vực chuyên ngà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

= = =

VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

TS LÊ THỊ HỒNG VÂN

Trang 2

MỤC LỤ

Y

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VĂN HÓA – VĂN HÓA PHÁP LUẬT VÀ

THỰC TRẠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 4

1.1 Khái niệm về văn hóa và văn hóa pháp luật 4

1.1.1 Giới thuyết về khái niệm về văn hóa 4

1.1.2 Giới thuyết về văn hóa pháp luật 11

1.2 Thực trạng của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay 17

1.2.1 Ý thức và hành vi ứng xử không thượng tôn pháp luật 18

1.2.2 Tính hiệu lực của các thiết chế thực thi pháp luật và văn bản pháp luật .42

1.3 Đánh giá chung về thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay 76

1.3.1.Thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay - bức tranh xám màu….77 1.3.2 Các nguyên nhân trực tiếp 78

CHƯƠNG 2: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG ĐẾN VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 80

2.1 Sự tác động của văn hóa nông nghiệp lúa nước 82

2.1.1 Tính cộng đồng 82

2.1.2 Lối ứng xử trọng tình nhẹ lý 86

2.1.3 Lối sống trọng lệ hơn luật và ứng xử “phép vua thua lệ làng” 89

2.1.4 Tư duy tiểu nông tùy tiện, chủ quan, cảm tính 96

2.2 Sự tác động của tư tưởng Nho giáo ………… 99

2.2.1 Nho giáo và tư tưởng trong đạo lý hơn pháp lý 99

2.2.2 Nho giáo và truyền thống “vô tụng” 101

2.3 Phật giáo với tư tưởng hiếu hòa, nhân ái, vị tha 108

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO VĂN HÓA PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 112

Trang 3

3.1 Các giải pháp nền tảng có tính chiến lược 112

3.1.1 Thanh lọc, tẩy trừ những tiêu cực, lạc hậu của văn hóa truyền thống 113

3.1.2 Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại 116

3.2 Các giải pháp cụ thể và cấp bách 118

3.2.1 Xử lý nghiêm minh, triệt để và kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật 118

3.2.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và các thiết chế thực thi pháp luật 119

3.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực ngành Luật vừa hồng vừa chuyên…….……. 121

3.2.4 Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân…… ….……….122

KẾT LUẬN……….……….… 124

Trang 4

CHƯƠNG 1

KHÁI NIỆM VĂN HÓA PHÁP LUẬT

VÀ THỰC TRẠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Khái niệm về văn hóa và văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật là một bộ phận, một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa dântộc, vì vậy để hiểu văn hóa pháp luật trước hết không thể không bắt đầu từ việc

giới thuyết khái niệm văn hóa với vai trò là công cụ lý thuyết nền tảng.

1.1.1 Giới thuyết về khái niệm văn hóa

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là gì? Đó là một câu hỏi mà nhân loại đã tốn không ít giấy mực với

hàng trăm câu trả lời từ những góc nhìn, những cách tiếp cận khác nhau Địnhnghĩa đầu tiên về văn hóa gắn liền với tên tuổi của nhà nhân chủng học nổi tiếngngười Anh - Edward Burnett Tylor (1832-1917) Trong công trình nghiên cứu

Văn hóa nguyên thủy (1871), ông viết: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng

về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [21, 13].

Định nghĩa này của E.B.Tylor vẫn thường được nhiều nhà nghiên cứu văn hóatrên thế giới dẫn ra như một mẫu mực có tính kinh điển, trong đó quan niệm vănhóa bao gồm một tổng thể những thành quả sáng tạo của con người

Sau công trình nghiên cứu của E.B.Tylor, việc nghiên cứu văn hóa đã đượctriển khai và mở rộng theo nhiều hướng khác nhau, cùng với đó là sự ra đời củarất nhiều định nghĩa văn hóa từ những góc độ tiếp cận khác nhau Trong cuốn

Văn hóa: tổng thuật có phê phán các quan điểm và định nghĩa, hai nhà văn hóa

người Mỹ là A.L.Kroeber và Cluc Khohn đã thống kê được, tính đến năm 1952,trên các sách báo phương Tây đã có khoảng 150 định nghĩa về văn hóa Còn theonhà nghiên cứu Phan Ngọc, đến năm 1994, trên thế giới đã có trên 400 địnhnghĩa về văn hóa

Ở Việt Nam hiện cũng đã và đang tồn tại nhiều định nghĩa văn hóa, trong đó

có thể nêu một số định nghĩa tiêu biểu:

Trang 5

- Trong công trình nghiên cứu Việt Nam văn hóa sử cương xuất bản lần đầu tiên vào năm 1938, học giả Đào Duy Anh quan niệm: “Hai tiếng văn hóa chẳng

qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: văn hóa tức là sinh hoạt” [1, 13]

- Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn

cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [39, 431].

- Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu

cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [59, 10].

Số lượng phong phú các định nghĩa về văn hóa đã phản ánh những góc độtiếp cận khác nhau, đồng thời cũng cho thấy tính chất phức tạp của vấn đề Tuynhiên, phần đông các quan niệm đều thống nhất khi cho rằng, văn hóa là sảnphẩm tất yếu của xã hội, được hình thành trong hành trình sống của mỗi cộngđồng, khi nó là hệ quả của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên

và xã hội, được kết tinh và hiện diện trong mọi hành vi sáng tạo của con người,được biểu hiện qua tất cả những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người làmra,từ công cụ sản xuất và các vật dụng sinh hoạt thiết yếu hàng ngày cho đến cácsản phẩm nghệ thuật; từ tri thức khoa học cho đến kinh nghiệm sống… Khôngchỉ hiện diện trong các sản phẩm vật chất và tinh thần do con người làm ra, vănhóa đồng thời lại cũng được hàm chứa ngay trong cái phương thức mà con ngườitạo ra các sản phẩm đó Văn hóa cũng là một thành tố có mặt trong các mối quan

hệ xã hội giữa con người với con người, dù đó là quan hệ kinh tế hay tôn giáo,quan hệ pháp luật hay các quan hệ đời thường… Văn hóa cũng đồng thời là bảnthân các năng lực cấu thành nhân cách con người, từ trí tuệ đến đạo đức; từ tâmhồn đến tình cảm; từ ý chí đến các năng lực sáng tạo…, tất cả đã hình thành nên

Trang 6

lối sống, thói quen, phong tục tập quán, cách tư duy, ứng xử, qua đó phản ánhkiểu sống, lối suy nghĩ, cách hành xử của con người trong một môi trường sinhthái - nhân văn cụ thể, làm nên diện mạo riêng của mỗi cộng đồng.

Như vậy, văn hóa phản ánh phương thức sống của một cộng đồng, được hìnhthành như là hệ quả tất yếu của sự tương tác giữa con người với môi trường tựnhiên và xã hội Tổng hợp tất cả những phương diện trên,văn hóa bao trùm lên tất

cả mọi lĩnh vực của cuộc sống con người, biểu hiện ở kiểu sống, “kiểu nhân vi”,

ở phương thức sinh hoạt của con người, làm nên những nét riêng tiêu biểu và cótính bền vững, tất cả đều góp phần làm nên đặc trưng riêng của một dân tộc, tạo

ra sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác

Khi văn hóa là một hiện tượng phổ quát của nhân sinh, là cái “vô sở bất tại”

(không đâu không có), khi nó liên quan đến tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sốngcon người, được biểu hiện vô cùng phong phú và đa dạng, từ vật chất đến tinhthần, từ vật thể đến phi vật thể, từ hữu hình đến vô hình thìmọi góc độ tiếp cậnđều khó có thể bao quát hết được phạm vi của nó, cả về phương diện định tínhlẫn định lượng Và cũng do mỗi lĩnh vực hoạt động của con người đều có sự hiệndiện của văn hóa nên gần đây người ta đã quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu vànhận diện văn hóa theo các lĩnh vực chuyên ngành như: văn hóa chính trị, vănhóa đạo đức, văn hóa kinh doanh, văn hóa ẩm thực, văn hóa du lịch, văn hóathẩm mỹ, văn hóa giao tiếp, văn hóa giao thông, văn hóa pháp luật, …

Không thể phủ nhận được rằng, trong di sản văn hóa của một dân tộc / cộngđồng bao giờ cũng kết tinh những giá trị tinh hoa đóng vai trò là nền tảng, cốt lõi,làm điểm tựa để nuôi dưỡng và bảo tồn sức sống của một dân tộc, bởi con người

ở đâu và bao giờ, trong hành trình sống của mình cũng luôn hướng đến những giátrị tích cực, cũng luôn khát khao vươn tới chân – thiện – mỹ Nhưng mặt kháccũng cần thấy rằng, nếu như văn hóa là một kiểu ứng xử đặc trưng của một cộngđồng trước những thách thức khác nhau của những điều kiện tự nhiên và xã hội,thì sự ứng xử có thể thế này hoặc thế kia, có mặt tốt cũng có mặt xấu, có tích cực

và cũng có tiêu cực, nhất là khi những điều kiện tự nhiên và xã hội không phùhợp hay đối lập với các nhu cầu và lợi ích của con người Điều đó cũng có nghĩarằng, trong diện mạo văn hóa của mỗi cộng đồng không chỉ gồm những mặt tích

Trang 7

cực, giá trị mà còn có những nhược điểm, hạn chế Thêm vào đó, cái được coi là

có giá trị văn hóa cũng không phải là những giá trị hằng hữu, bất biến, mà cònđược xem xét tùy thuộc vào các góc nhìn và các tiêu chí đánh giá khác nhau Xét

từ phương diện đồng đại, cùng một đặc trưng văn hóa nhưng có thể có giá trị xéttrên tiêu chí này mà lại không có giá trị, thậm chí phản giá trị xét từ góc nhìnkhác Ví dụ, tính cộng đồng có giá trị khi nó tạo nên tinh thần đoàn kết, tươngthân tương ái, lối sống sẻ chia, đùm bọc – một truyền thống tốt đẹp của dân tộc

ta, nhưng xét trên phương diện bảo vệ quyền cá nhân hay quan hệ với pháp luậtthì đây lại là nguyên nhân tạo nên nhiều hạn chế và những ứng xử tiêu cực Xéttrên phương diện lịch đại, các thước đo giá trị cũng không phải bất biến, vĩnhcửu, bởi vậy, một đặc trưng văn hóa nào đó ở giai đoạn này thì có giá trị tích cựcnhưng ở giai đoạn khác thì lại trở thành phản giá trị, thành lực cản khi nó khôngcòn phù hợp để thích nghi trong bối cảnh mới

Bởi vậy, việc nghiên cứu, nhận diện văn hóa của một dân tộc cần có một cáinhìn toàn diện và biện chứng, trong đó không chỉ hướng đến việc khẳng địnhnhững mặt tích cực, giá trị mà còn cần phải nhận diện cả những nhược điểm,những tiêu cực, hạn chế khi nó cũng là một phần tất yếu trong hành trang tinhthần của một dân tộc

1.1.1.2 Đặc trưng và biểu hiện của văn hóa

Là một hình thái ý thức xã hội, văn hóa cũng như các hình thái ý thức xã hộikhác, đều là sản phẩm của một thực tiễn xã hội cụ thể, và đến lượt mình, nó lạiphản ánh, tác động trở lại thực tiễn xã hội ấy Tuy nhiên, trong tương quan vớicác hình thái ý thức xã hội khác, văn hóa là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt

Tính chất đặc biệt ấy được xác định bởi ba đặc trưng tiêu biểu: tính đa diện và

tổng hợp, tính hệ thống, tính truyền thống.

Trước hết, văn hóa là một hình thái ý thức xã hội có tính đa diện và tổng

hợp,bởi nó thẩm thấu và hiện diện trong mọi hoạt động sống của con người Văn

hóa do không tồn tại như một lĩnh vực độc lập, không có giá trị tự thân, nên cũngchính vì vậy mà nó hiện diện khắp nơi, không đâu không có, thẩm thấu vào tất cảmọi phương diện của đời sống xã hội Văn hóa do đó là một khái niệm có tínhtổng hợp - đó là dấu ấn về lối sống của một cộng đồng in dấu lên mọi hoạt động

Trang 8

vật chất (cách thức lao động sản xuất, ăn, mặc, ở, đi lại), mọi mặt sinh hoạt tinhthần (nhận thức, tư tưởng, tôn giáo, phong tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, nghệ thuật,giao tiếp ứng xử, lễ hội…), mọi quan hệ gia đình, xã hội (được qui chế thành đạođức, nghi lễ, pháp luật…) Tổng hợp tất cả những điều đó mới làm nên cái diện

mạo riêng trong mô thức ứng xử, trong phương thức sống của một cộng đồng,

khiến cho cộng đồng này không giống với các cộng đồng khác Do tính đa diện

và tổng hợp, văn hóa như một bầu khí quyển bao trùm lên cuộc sống của chúng

ta, khiến cho - một cách tự nhiên và tất yếu, mọi người đều không thể sống ngoài

“bầu khí quyển văn hóa” ấy

Tính đa diện cũng chi phối đến một đặc trưng khác của văn hóa, đó là tính hệ

thống Văn hóa do nhiều thành tố hợp thành, nhưng giữa các thành tố trong cấu

trúc của một nền văn hóa không tồn tại như là những đơn vị rời rạc, riêng lẻ, độclập, mà giữa chúng có các mối liên hệ nhiều mặt, nhiều chiều, đan cài, móc xích,qui định và thẩm thấu vào nhau tạo thành hệ thống, trong đó yếu tố này là nguyênnhân và hệ quả của những yếu tố khác Do đó,trong thực tế, không thể tách bạchcác thành tố của hệ thống văn hóa vì chúng tồn tại trong sự gắn bó hữu cơ, lồngvào nhau như tâm hồn và thể xác, làm thành diện mạo của một nền văn hóa vớimột tổng thể các sản phẩm vật chất và tinh thần

Vì văn hóa có tính hệ thống nên khi khảo sát một hiện tượng văn hóa, khôngthể không đặt hiện tượng ấy trong tính hệ thống, trong sự chi phối, ràng buộc lẫnnhau giữa nhiều yếu tố làm nên hệ thống trong các tương quan đồng đại

Cùng với tính hệ thống, một trong những đặc trưng tiêu biểu của văn hóa là

tính truyền thống Nếu văn minh là sản phẩm có tính thời đoạn thì văn hóa là sản

phẩm của tính quá trình, được tích lũy qua nhiều thế hệ, được kế thừa và traotruyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau Bởi vậy văn hóa là di sản tinh thần tồn tại

ổn định và có sức sống lâu bền, thẩm thấu trong chiều sâu tâm thức của cộngđồng để trở thành hành trang tinh thần mà mỗi cộng đồng mang theo khi bước từthời đại này sang thời đại khác Truyền thống của văn hóa của một dân tộc đượcbiểu hiện qua các di sản văn hóa, bao gồm hai bộ phận, đó là di sản vật thể (hữuhình) như: đền, chùa, lăng tẩm, nhà cửa, công cụ sản xuất, vật dụng… và các disản văn hóa phi vật thể tồn tại dưới dạng tinh thần, ẩn trong chiều sâu tâm thức

Trang 9

cộng đồng, đó là những kinh nghiệm tập thể được lưu truyền trong qua khônggian và thời gian, được đúc kết thành mô thức ứng xử xã hội, biểu hiện thông quangôn ngữ, lối sống, ẩm thực, phong tục, tập quán, nghi lễ, pháp luật, nghệ thuật,

… tạo thành nếp sống chung của cộng đồng Chính mô thức ứng xử đảm bảo chocác thành viên trong cộng đồng có sự gắn kết với nhau, tạo nên một nếp sốngchung ổn định và bền vững

Về biểu hiện của văn hóa, nhà nghiên cứu Phạm Đức Dương đã đưa ra quan

niệm về một sơ đồ cấu trúc hai tầng bậc: cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu.Cấu trúc bề mặt gồm hệ thống ký hiệu biểu thị và hệ thống ký hiệu biểu tượng,

đó là biến số, yếu tố động của văn hóa; còn cấu trúc chiều sâu là cái phần chìm,khó nhìn thấy, nó nằm trong tâm thức của con người, là yếu tố tĩnh của văn hóa,được kết tinh và tồn tại trong tiềm thức của mỗi cá nhân và của cả cộng đồngtrong suốt hành trình sống Giải thích về mối quan hệ giữa hai tầng cấu trúc này,

ông nói: “Cấu trúc chiều sâu là cái kết tinh, lắng đọng nằm ẩn dưới cơ tầng đóng

vai trò định hướng, điều chỉnh mọi sự biến đổi trên cấu trúc bề mặt, quy định bản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng và nhân cách của mỗi cá nhân, định hình nền văn hóa của mỗi dân tộc trong không gian và thời gian [14; 221] Cấu trúc

chiều sâu của văn hóa đó là ý thức, là các năng lực tinh thần của con người bao

gồm tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, kinh nghiệm sống và thói quen,phong tục, tập quán… được hình thành trong một môi trường sinh thái và nhânvăn cụ thể Cấu trúc chiều sâu của văn hóa ẩn chứa trong ý thức, tiềm thức củacon người, tuy không dễ nhận ra, và lại càng khó khăn hơn để có thể mô tả, nhậndiện, nhưng đó là nền tảng để hình thành nên các quy tắc hướng dẫn tư duy, điềuchỉnh hành vi ứng xử và phương thức hành động, cũng như sự lựa chọn các thangbậc giá trị trong xã hội và chi phối mọi hoạt động thực tiễn của con người

Chính cái cấu trúc chiều sâu khiến cho “văn hóa là cái còn lại khi người ta đã

quên đi tất cả” Bởi vậy, để nhận diện một hiện tượng văn hóa, không thể giản

đơn chỉ dừng lại ở việc mô tả, liệt kê các hiện tượng ở cấp độ bề mặt, tức khôngchỉ trả lời câu hỏi “cái gì?”, “như thế nào?”, mà quan trọng hơn là phải trả lờiđược câu hỏi “tại sao lại như thế?”, tức là phải chỉ ra được cái cấu trúc chiều sâu,

Trang 10

phải lý giải được những căn nguyên sâu xa từ trong ý thức, tiềm thức chi phối cáchiện tượng bề mặt ấy.

1.1.1.3 Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển

Trong nỗ lực tìm kiếm động lực của sự phát triển bền vững, văn hoá hiện đang

là vấn đề được đặc biệt quan tâm trong việc hoạch định chiến lược phát triển củamỗi quốc gia, bởi con người là nhân tố quyết định sự phát triển, nhưng con ngườitrước hết là một thực thể văn hóa Nền tảng của sự tăng trưởng bền vững ở ngaytrong tiềm lực con người, ở năng lực trí tuệ và khả năng sáng tạo của con người,

ở trong đạo đức và động cơ hành động của con người, tức là ở trong văn hóa Nóiđến con người là nói đến văn hóa; văn hóa là nơi thể hiện sức mạnh bản chất củacon người, là công cụ điều chỉnh một cách tự nhiên nhất, trên phạm vi rộng lớnnhất, tinh tế nhưng cũng mạnh mẽ nhất đối với nhận thức, hành động và cách ứng

xử của con người Một khi nhân cách văn hóa là nội lực của con người, nó “thấmsâu vào tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người”, “xuyên suốt cơ thể xã hội”,thì triết lý của sự phát triển tất yếu phải được xây dựng trên nền tảng văn hóa.Điều này đã được thể hiện trong Nghị quyết của UNESCO về phát triển: “Kháiniệm phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội, cũng như các giá trịđạo đức và văn hóa, qui định sự nảy nở và phẩm giá của con người trong xã hội.Nếu như con người là nguồn lực của phát triển, nếu như con người vừa là tácnhân lại vừa là người được hưởng, thì con người phải được coi chủ yếu như là sựbiện minh và là mục đích của sự phát triển”, bởi vì “kinh nghiệm của hai thập kỉvừa qua cho thấy rằng, trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triểnkinh tế nào, hoặc xu hướng chính trị và kinh tế nào, văn hóa và phát triển là haimặt gắn liền với nhau” Chính vì lẽ đó, năm 1988 UNESCO đã phát động “Thập

kỉ thế giới phát triển văn hóa” và đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của cácquốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam, trong suốt tiến trình cách mạng, đặc biệt là từ khi đất nước bướcvào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàncầu hóa, Đảng ta luôn ý thức sâu sắc về vai trò của văn hóa trong sự phát triểncủa xã hội Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã raNghị quyết “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà

Trang 11

bản sắc dân tộc”, trong đó khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [39, 55].Cùng với việc nhấn mạnh vai trò đặc biệt của văn hóa, Nghị quyết còn đề raphương châm phải gắn kết những vấn đề văn hóa với những vấn đề kinh tế - xãhội: “Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hộitrên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật kỉ cương… biến thànhnguồn nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển” [27].Vấn đề càng trở nên cấpbách hơn trong giai đoạn hiện nay, trước một thực tế đáng lo ngại đã và đangdiễn ra, đó là trong khi mức sống, thu nhập quốc dân ngày càng được cải thiện thìđạo đức xã hội lại đang xuống cấp ở mức đáng báo động, lối sống chạy theo đồngtiền đang chi phối và làm khuynh đảo nhiều giá trị, các tệ nạn xã hội đang giatăng ngày càng phức tạp hơn… Đó là những biểu hiện đáng báo động của tìnhtrạng mất cân đối giữa văn hóa và phát triển Bởi vậy, hơn lúc nào hết, trong bốicảnh Việt Nam ở giai đoạn quá độ hiện nay, nhân tố văn hóa cần phải được coi lànền tảng, là nội lực của sự phát triển

1.1.2.Giới thuyết vềvăn hóa pháp luật

1.1.2.1.Khái niệm văn hóa pháp luật

Nếu văn hóa là một phạm trù xã hội để chỉ phương thức sống đặc trưng củamột cộng đồng, biểu hiện thông qua sự ứng xử giữa con người với môi trường tựnhiên và xã hội, thì văn hoá pháp luật thuộc về lĩnh vực ứng xử xã hội, đó là tổngthể các hành vi thể hiện sự ứng xử của con người trong môi trường điều chỉnhcủa pháp luật, là sự hiện thực hóa năng lực tinh thần và ý thức của con ngườitrong các hoạt động pháp luật Do đó, văn hóa pháp luật là một lĩnh vực biểu hiệncủa văn hóa – văn hóa xứng xử với pháp luật

Nếu như các đặc trưng văn hoá của một cộng đồng xuất hiện cùng với sựhình thành tổ chức xã hội từ buổi sơ khai, thì văn hoá pháp luật hình thành muộnhơn, khi các qui tắc ứng xử của con người được đặt trong sự kiểm soát của pháp

luật Nếu văn hóa là một khái niệm đa diện và mơ hồ, thì văn hóa pháp luật với

tư cách là một lĩnh vực biểu hiện đặc thù của văn hóa nên cũng là một khái niệmrất khó minh định Bởi vậy, hiện nay trong khoa học pháp lý cũng như trong lĩnh

Trang 12

vực nghiên cứu văn hóa chuyên ngành chưa có một quan niệm thật thống nhất về

văn hóa pháp luật

Trước hết, về thuật ngữ, hiện nay ở Việt Nam người ta đang dùng hai thuật

ngữ: văn hóa pháp luật và văn hóa pháp lý Các tác giả như Lê Đức Tiết [65] Trần Ngọc Đường [20], Lê Vương Long [37] dùng thuật ngữ văn hóa pháp lý.

Còn các tác giả Lê Minh Tâm, Nguyễn Thanh Thập, Vũ Thị Kim Dung [15, 134],

Phạm Duy Nghĩa [47] thì dùng thuật ngữ văn hóa pháp luật Vậy nên dùng thuật

ngữ nào thì hợp lý hơn?

Trong Từ điển tiếng Việt, từ pháp lý có nghĩa là: “lý luận, nguyên lý về pháp luật”; còn pháp luật là “những qui phạm hành vi do nhà nước ban hành mà mọi

người dân buộc phải tuân theo nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật

tự xã hội” Như vậy, thuật ngữ pháp lý thiên về phương diện lý thuyết, là những

nguyên lý, nguyên tắc có tính phương pháp luận soi rọi và chi phối mọi hoạt

động pháp luật cụ thể Còn thuật ngữ pháp luật thiên về chỉ thực tiễn xã hội của

đời sống pháp luật, đó là sự hiện thực hóa những tư tưởng, quan điểm, nguyên lý,nguyên tắc của pháp luật thông qua việc xây dựng và thực thi pháp luật của nhànước cũng như các hành vi, lối sống và ứng xử của xã hội trong phạm vi điều

chỉnh của pháp luật Bởi vậy, theo chúng tôi, dùng thuật ngữ văn hóa pháp luật

hợp lý hơn, khi nó bao quát được thực tiễn xã hội của đời sống pháp luật với tất

cả những biểu hiện phong phú và đa dạng của nó, và hiển nhiên, đằng sau thựctiễn xã hội của pháp luật là sự chi phối của những tư tưởng, quan điểm, nguyên

lý, nguyên tắc của pháp luật

Về khái niệm văn hóa pháp luật, trong công trình nghiên cứu Văn hóa pháp

luật và phát triển văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả Nguyễn

Thanh Thập [15, 47] và Vũ Thị Kim Dung [15, 134] đã đưa ra các định nghĩa

như sau: “Văn hóa pháp luật là những giá trị nhân đạo, tiến bộ, tích cực của

pháp luật trong xã hội, được thể hiện thông qua các bộ luật, các điều luật Đồng thời các giá trị đó còn được thể hiện trong các hoạt động pháp luật, thẩm thấu vào nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, biến thành nhu cầu thường trực trong ứng xử của họ” Còn tác giả Lê Minh Tâm [15] thì cho rằng: “Văn hóa pháp luật là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng

Trang 13

tạo ra trong lĩnh vực pháp luật, bao gồm hệ thống qui phạm pháp luật được ban hành trong các thời kì lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lý, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật…” [15, 147].

Như vậy, với các định nghĩa trên đây, khái niệm văn hóa pháp luật chỉ được

hiểu đồng nghĩa với những mặt tích cực của đời sống pháp luật, theo đó, văn hóapháp luật chỉ có được trong một môi trường pháp luật tiến bộ, lành mạnh và giàutính nhân văn, trong đó pháp luật vừa có sức mạnh và tính hiệu lực cao, đồng thờicũng là một chuẩn mực ứng xử được tuân thủ một cách tự nhiên, tự nguyện.Tuy nhiên, nếu quan niệm văn hóa là tất cả những gì thuộc về phương thứcsống của một cộng đồng, với tất cả những ưu điểm và nhược điểm như là hệ quảtất yếu của sự thích nghi và ứng phó với các điều kiện tự nhiên và xã hội, thì vănhóa pháp luật cũng được hình thành và tồn tại một cách khách quan và tất yếutrong những môi trường xã hội được điều chỉnh bởi các qui phạm pháp luật.Trong môi trường điều chỉnh của pháp luật, hành vi pháp luật là hành động có ýthức của con người, đó có thể là hành vi hợp pháp, tức phù hợp qui phạm phápluật, nhưng cũng có thể là hành vi bất hợp pháp, tức là trái với qui định của phápluật Dù hợp pháp hay không hợp pháp, tích cực hay tiêu cực, nhưng khi nó đượcthực hiện thường xuyên, phổ biến đến mức như một thói quen tự nhiên, tất yếuthì khi đó nó đã trở thành một ứng xử “văn hóa” Do vậy, theo chúng tôi, cũngnhư văn hoá nói chung, khái niệm văn hóa pháp luật cần được hiểu không đồngnghĩa với những hành vi ứng xử tích cực với pháp luật mà còn bao hàm cả nhữnghành vi ứng xử tiêu cực của cá nhân/cộng đồng trong những môi trường điềuchỉnh của pháp luật

Tóm lại, văn hóa pháp luật là sự ứng xử của con người trong môi trường

những điều chỉnh của pháp luật, bao gồm tri thức, tư tưởng, quan điểm, thái độ, kinh nghiệm và thói quen, được tích lũy trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, được biểu hiện qua văn bản pháp luật, hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật và hành vi ứng xử với pháp luật

Vì văn hóa pháp luật là một bộ phận, một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa xãhội,do đó, việc nghiên cứu văn hóa pháp luật của một quốc gia ở một giai đoạn

Trang 14

cụ thể đòi hỏi chúng ta phải đặt nó trong mối tương quan và sự liên hệ với cáclĩnh vực khác của văn hóa nói chung cũng như với mọi mặt của đời sống kinh tế,chính trị, xã hội.

1.1.2.2 Biểu hiện của văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật là một thành tố, một bộ phận, một lĩnh vực biểu hiện đặcthù của văn hóa xã hội, đó là lĩnh vực ứng xử với pháp luật, bởi vậy nó cũngmang những đặc trưng chung của văn hóa Tuy nhiên, nói đến văn hóa là nói đến

sự tự do, tự nguyện, là thói quen trong sự lựa chọn hành vi, trong khi đó thì phápluật lại là công cụ điều chỉnh xã hội có tính áp đặt, cưỡng bức Bởi vậy, nếu phápluật được thực hiện dựa trên sự cưỡng bức thì nó chưa trở thành hành vi mangtính văn hóa Nói cách khác, các hành vi ứng xử với pháp luật (dù tích cực haytiêu cực) chỉ trở thành cái văn hóa khi người ta thực hiện các hành vi ấy trên tinhthần tự do, như một thói quen tự nhiên và tất yếu Theo đó, một xã hội có nền vănhóa pháp luật cao là một xã hội mà trong đó các qui phạm pháp luật được đối xửnhư là chuẩn mực của đạo đức và lương tâm, tức là khi pháp luật không còn làmột công cụ cưỡng bức mà được thực thi một cách tự nhiên, tự nguyện

Xét về mặt kết cấu, văn hóa pháp luật là bộ phận cấu thành của một nền vănhóa nói chung Nếu các đặc trưng văn hóa của một dân tộc được biểu hiện qua

các sản phẩm vật chất, các sản phẩm tinh thần, các thói quen trong lối sống và hành vi ứng xử, thì cũng có thể nhận diện văn hóa pháp luật qua các phương diện

biểu hiện như: ý thức pháp luật, hệ thống và các thiết chế pháp luật, lối sống vàhành vi ứng xử với pháp luật

a) Ý thức pháp luật (luật trong suy nghĩ và thái độ): “Là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có; thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội” [16, 421] Ý thức pháp luật

phản ánh:

- Trình độ hiểu biết về pháp luật, đó là các tri thức, tư tưởng, quan điểm về

pháp luật, là trình độ nhận thức và mức độ am hiểu pháp luật của các tầng lớp

Trang 15

nhân dân,kể cả bộ phận cán bộ công chức trong các cơ quan có chức năng trựctiếp áp dụng, thi hành và bảo vệ pháp luật

- Thái độ đối với pháp luật: đó là tâm lý, tình cảm, niềm tin, ý thức tôn trọng

và tự giác chấp hành hay coi thường pháp luật; thái độ lạc quan / bi quan, hyvọng / thất vọng, quan tâm / thờ ơ, nhiệt tình / lãnh đạm đối với pháp luật.Một

xã hội có văn hóa pháp luật cao khi các thành viên xã hội có trình độ hiểu biết vềpháp luật, có ý thức tôn trọng pháp luật, có thái độ tích cực phản ứng, lên ánnhững hành vi vi phạm pháp luật

Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, bởi vậy nó chịu sự qui địnhcủa tồn tại xã hội, là sản phẩm và cũng là sự phản ánh những điều kiện kinh tế -

xã hội cụ thể Tuy nhiên, ý thức pháp luật cũng như ý thức xã hội nói chung,thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội Bằng chứng là, khi tồn tại xã hội đã thay đổinhưng ý thức xã hội nói chung và ý thức pháp luật nói riêng vẫn còn tồn tại daidẳng như là những tàn dư của quá khứ được kế thừa trong hiện tại Do đó ý thứcpháp luật (đặc biệt là tâm lý pháp luật) là lĩnh vực mà ở đó truyền thống và cácthói quen có một vai trò chi phối không nhỏ

b) Hành vi ứng xử với pháp luật (luật trong hành xử thực tế): là những phản

ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên ngoài của con người trong các mối quan

hệ mà pháp luật điều chỉnh Hành vi pháp luật được biểu hiện dưới hai dạng:hành vi hợp pháp (phù hợp với qui định của pháp luật) và hành vi không hợppháp (vi phạm pháp luật, bất chấp pháp luật, lách luật…) Hành vi ứng xử vớipháp luật là sự biểu hiện ý thức pháp luật (thái độ, tình cảm, niềm tin) của mỗi cánhân/ cộng đồng trong môi trường điều chỉnh của pháp luật

c) Văn bản pháp luật và hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật: bao gồm hệ

thống văn bản pháp luật (luật trên giấy) và hệ thống tổ chức và hoạt động của cácthiết chế lập pháp, hành pháp, tư pháp , đó cũng là các phương diện hiện thực hóacủa ý thức pháp luật Trong đó, hệ thống văn bản pháp luật vừa là sản phẩm, vừa

là cơ sở để các thiết chế thực thi pháp luật có thể hoạt động; đến lượt mình, cácthiết chế thực thi pháp luật lại là công cụ để hiện thực hóa các văn bản pháp luật.Theo đó, tính hiệu quả của hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật vừa là thước

Trang 16

đo chất lượng của văn bản pháp luật, lại vừa thể hiện khả năng, trình độ vận dụngkiến thức và công cụ pháp luật của nhà nước trong việc quản lý xã hội.

Như vậy, để nhận diện một nền văn hóa pháp luật cần có một cái nhìn tổnghợp và bao quát từ tất cả các phương diện trên đây, bởi trong thực tế, ý thức phápluật, hệ thống pháp luật và hành vi pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại, làtiền đề và hệ quả của nhau Ý thức pháp luật có vai trò chỉ đạo việc xây dựngchính sách pháp luật và hệ thống pháp luật của nhà nước cũng như việc thực hiệnhành vi pháp luật của cá nhân Ngược lại, chính sách và hệ thống pháp luật có vaitrò định hướng cho việc giáo dục ý thức pháp luật và hành vi pháp luật Đến lượtmình, ý thức pháp luật và hành vi pháp luật lại tác động trở lại quá trình pháttriển và hoàn thiện chính sách và hệ thống các thiết chế thực thi pháp luật Nhưthế, ý thức pháp luật và hành vi pháp luật vừa là thước đo, vừa là bằng chứng thểhiện hiệu quả xã hội của một chính sách pháp luật và hệ thống pháp luật

1.1.3 Quan hệ giữa văn hóa với pháp luật

Trong cuộc sống, cả văn hóa và pháp luật đều có chức năng điều chỉnh hành

vi của con người, bởi vì, mọi tổ chức xã hội đều chỉ có thể duy trì được sự tồn tạitrên cơ sở của sự thỏa thuận giữa các thành viên trong cộng đồng Sự thỏa thuận

này được thể hiện dưới hai hình thức: luật thành văn - đó là luật pháp, và luật bất

thành văn – đó là các qui tắc cộng đồng biểu hiện dưới dạng phong tục, tập quán,

lối sống, thói quen…, được mọi người tuân thủ một cách tự giác đến mức tựnhiên, thậm chí như là vô thức - đó là văn hóa Trong mối quan hệ này, “văn hóa

có một ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với pháp luật Văn hóa chính là cuộcsống, do đó, việc xây dựng pháp luật, theo lẽ tự nhiên, phải dựa trên những kinhnghiệm văn hóa, tức là pháp luật phải có khả năng biến thành văn hóa để điềuchỉnh cuộc sống” [2] Chính vì vậy, kinh nghiệm văn hóa là nền tảng quan trọngnhất để xây dựng pháp luật

Đồng thời, cũng chính trong lĩnh vực hoạt động pháp luật, văn hóa có khảnăng hiện thực hóa những năng lực nhân tính, phát huy vai trò và tăng cườnghiệu quả của pháp luật trong xã hội Đến lượt mình, tính hiệu quả của pháp luậttrong xã hội là chỉ số, là thước đo chất lượng Chân – Thiện – Mỹ của một nềnvăn hóa Do đó, để hiểu pháp luật chúng ta phải hiểu thực tiễn xã hội của pháp

Trang 17

luật Hiểu thực tiễn xã hội của pháp luật cũng tức là chúng ta phải hiểu văn hoáchung của xã hội nơi có sự tồn tại của pháp luật.

1.2 Thực trạng của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay

Trong tiến trình hội nhập và phát triển, Việt Nam đang nỗ lực để thực hiện cácmục tiêu kinh tế - xã hội nhằm hiện đại hóa đất nước, trong đó xây dựng nhànước pháp quyền được xác định là một mục tiêu quan trọng Nhưng một thựctrạng đáng báo động là văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay đang bộc lộ nhiềutiêu cực Cách hành xử không thượng tôn pháp luật đang diễn ra hàng ngày, ởmọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng,dưới nhiều hình thức biểu hiện đa dạng vàphức tạp Tình trạng này không chỉ diễn ra đối với một bộ phận không nhỏ ngườidân, mà cả các cơ quan công quyền, trong đó các cơ quan bảo vệ và thực thi phápluậtcũng không phải là ngoại lệ Đây chính là một lực cản rất lớn trong việc thựchiện thành công mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền Trong bối cảnh ấy,việc chỉ ra thực trạng văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay để từ đó tìm ranguyên nhân và các giải pháp khắc phục trở thành một yêu cầu cần thiết và cấpbách

Để nhận diện thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay, trong phạm vihạn chế của đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, chúng tôi không có điều kiện

về thời gian và kinh phí để thực hiện sự khảo sát bằng phương pháp điều tra xãhội học trên các nhóm đối tượng, mà chỉ căn cứ trên cứ liệu là những thông tinđược đăng tải trên báo chí, bởi với hàng trăm tờ báo được xuất bản hàng ngày, kể

cả báo in và báo điện tử, thì đây là một kênh thông tin phong phú, đa diện, phảnánh nhanh nhạy và kịp thời mọi diễn biến của đời sống hàng ngày Khảo sát quacông cụ tìm kiếm Google cũng cho thấy các cụm từ liên quan đến thái độ và hành

vi ứng xử với pháp luật xuất hiện với một số lượng rất lớn trên các phương tiệnthông tin báo chí Điển hình là các cụm từ như: “không tuân thủ pháp luật”(97.100 lượt); “coi thường pháp luật” (1.280.000 lượt); “vi phạm pháp luật”(23.500 lượt); “nhờn luật” (19.600 lượt); “thách thức pháp luật” (204.000 lượt);

“luật rừng” (142.000 lượt); “lách luật” (187.000 lượt); “phép vua thua lệ làng”(169.000 lượt); “chạy án” (184.000 lượt), “nạn mãi lộ” (41.000 lượt)… Dù nhữngcon số này, do sự trùng lặp có thể là nhiều lần nên không thể là căn cứ để có thể

Trang 18

đưa ra những kết luận chính xác, song dù có trừ đi một số phần trăm đáng kể do

sự trùng lặp thì cũng không thể không coi đây là những “con số biết nói” về mộtthực trạng đáng báo động trong thái độ và hành vi ứng xử với pháp luật Tuynhiên, để đảm bảo tính khách quan, khoa học và sự tin cậy của thông tin, chúngtôi đã lựa chọn các bài báo tiêu biểu để khảo sát, dựa trên các tiêu chí sau đây: a) Những bài báo được đăng tải trên những tờ báo lớn, có uy tín trong công

luận như: Pháp luật Việt Nam, Pháp luật TP HCM, Đời sống & Pháp luật,

Vietnamnet, Dân trí, Lao động, Người lao động, Đại đoàn kết, Tuổi trẻ, Tiền phong, Thanh niên, VN Express, Sài Gòn tiếp thị, Doanh nhân Sài Gòn, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Nhà báo & Công luận, Gia đình & Xã hội,…

b) Về thời gian: lựa chọn những bài báo phản ánh những sự việc xẩy ra trongthời gian khoảng ba năm gần đây, đặc biệt ưu tiên hơn cho những bài báo phảnánh những sự việc còn nónghổi tính thời sự

c) Về nội dung: lựa chọn những bài báo phản ánh trực tiếp về thực trạng tiêucực của văn hóa pháp luật biểu hiện qua hai phương diện chủ yếu: 1) Ý thức vàhành vi ứng xử với pháp luật; 2) Hệ thống và các thiết chế thực thi pháp luật.d) Về tính chất của sự việc: lựa chọn những bài báo phản ánh những sự việcnổi cộm được nhiều người quan tâm, gây nhiều phản ứng và bức xúc trong dưluận xã hội

Với các tiêu chí trên, trong số cả hàng trăm bài báo đề cập đến những vấn đềliên quan, chúng tôi đã lựa chọn gần 200 bài báo làm cứ liệu để khảo sát nhằmđem lại một cái nhìn từ cận cảnh đến bao quátvềmặt trái của thực trạng văn hóapháp luật Việt Nam hiện nay

Sau đây là phần nhận diện thực trạng tiêu cực của văn hóa pháp luật Việt Namhiện nay qua việc tổng thuật các bài báo:

1.2.1 Ý thức và hành vi ứng xử không thượng tôn pháp luật

Để nhận diện ý thức và hành vi pháp luật với tư cách là các lĩnh vực biểu hiệntrực tiếp của văn hóa ứng xử với pháp luật, chúng tôi khảo sát vấn đề đối với cảhai đối tượng: người dân – đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật và các cơquan công quyền – đối tượng chịu trách nhiệm thực thi pháp luật Các cứ liệukhảo sát cho thấy, thực trạng về các hành vi ứng xử không tôn trọng pháp luật ở

Trang 19

nước ta hiện nay đang diễn ra ở mức độ trầm trọng đáng báo động Trong gần

100 bài báo được khảo sát, có thể thấy các cụm từ như: “không tuân thủ phápluật”, “vi phạm pháp luật”, “coi thường pháp luật”, “nhờn luật”, “thách thức phápluật”, “xử kiểu luật rừng”… xuất hiện với một tần suất rất cao để chỉ các hành viứng xử không thượng tôn pháp luật diễn ra ở cả hai phía – người dân và các cơquan công quyền Những hành vi nàyđã và đang diễn ra ở mọi nơi mọi lúc, mọiviệc, nhưng tiêu biểu và điển hình nhất là trong các lĩnh vực như giao thông,quản lý xây dựng, ô nhiễm môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm, các hành vibạo lực và ứng xử “luật rừng”…

1.2.1.1.Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông

Nếu như ở các nước văn minh, các hành vi tham gia giao thông nhất nhất đềutuyệt đối tuân thủ pháp luật, thì ở nước ta hiện nay, văn hóa giao thông đang ởtrong tình trạng hỗn độn đến mức khó kiểm soát, biểu hiện rõ qua việc gia tăngcác vụ tai nạn giao thông hàng năm cũng như các hành vi vi phạm luật giao thông

đã trở nên phổ biến đến mức trở thành bình thường Trong bài báoÝ thức chấp

hành luật giao thông kém do đâu? tác giả Bùi Văn Kiên đã chứng minh bằng

những con số cụ thể về sự gia tăng của tai nạn giao thông ở nước ta: “Theo Ủy

ban An toàn giao thông quốc gia, tai nạn giao thông trong 10 năm qua liên tục gia tăng Nếu như năm 1990, số người bị chết vì tai nạn giao thông là 2.368 người thì đến những năm 1995 - 1996 là 6.000 người và đến năm 2002, con số này đã lên đến 12.989 (và 30.772 người bị thương) Tương tự, 6 tháng đầu năm nay cả nước đã có 6.300 người chết vì tai nạn giao thông - tăng 371 người (5,9%) so với cùng kỳ năm ngoái (và làm bị thương 714 người) Như vậy, bình quân mỗi ngày cả nước có 35 người chết và 48 người bị thương vì tai nạn giao thông - hơn cả số người bị chết vì căn bệnh thế kỷ HIV Cũng theo Ủy ban ATGT quốc gia, 83,8% số vụ tai nạn do người tham gia giao thông gây ra, trong đó: có 36% chạy quá tốc độ quy định; 17,2% tránh, vượt sai quy định; 13,9% thiếu chú

ý quan sát; 6,8% do không đi đúng phần đường; 6,8% sau rượu bia điều khiển phương tiện và 3,1% do đi bộ qua đường không chú ý quan sát” Từ đó tác giả

bài báo bức xúc: “Công sức, tiền bạc đã được đổ nhiều cho những công việc

được coi là cần thiết, từ làm luật, tuyên truyền, vận động, giáo dục ý thức tự giác

Trang 20

trong ứng xử, đến mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng hoàn thiện bộ máy kiểm soát, trấn áp, răn đe… Nhưng rồi giao thông công cộng vẫn mang bộ mặt nhếch nhác, hỗn độn và chứa đầy bất trắc, rủi ro (theo Việt báo).

Về tình hình vi phạm luật giao thông, theo kết quả nghiên cứu của đề tài “Xây

dựng ý thức thị dân ở TP.HCM trong tiến trình phát triển đô thị văn minh, hiện đại”, (do TS Nguyễn Hữu Nguyên Viện Nghiên cứu phát triển làm chủ nhiệm,

công bố năm 2009) cho thấy:

- Các hành vi vi phạm Luật giao thông phổ biến là: vượt đèn đỏ, đi ngượcchiều, chạy quá tốc độ, không có bằng lái xe, không đội mũ bảo hiểm, chở quá sốngười quy định

- Về nguyên nhân vi phạm Luật giao thông: có 400 người được hỏi câu này vàcác lý do chủ yếu được đưa ra là:

1) Vì không thấy công an canh gác (71,8%);

2) Làm theo người khác (55%);

3) Vì vội công việc (54,3%);

4) Vì không bị phạt (28%);

5) Vì luật không nghiêm (27,8%);

6) Vì không biết Luật giao thông (23%);

7) Lý do khác (6,5%)

Như vậy, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến vi phạm luật giao thông là do khôngthấy công an canh gác (chiếm 71,8% số người được hỏi) Nhưng điều đáng ngạihơn cả, theo nhóm nghiên cứu, có đến 70% số trường hợp bị xử phạt do vi phạmLuật giao thông rơi vào độ tuổi 20-30 Điều này đã cho phép nhóm nghiên cứukết luận rằng, giới trẻ là đối tượng vi phạm luật giao thông phổ biến nhất, trongkhi đây lại cũng chính là đối tượng có hiểu biết về Luật giao thông

Tuy nhiên, TS Nguyễn Hữu Nguyên bày tỏ: “Điều chúng tôi lo lắng hơn thếnữa là tình trạng cố tình vi phạm Luật giao thông ở nhóm người mặc nhiên buộc

họ phải hiểu biết về luật lệ và quy tắc ứng xử khi lái xe Vi phạm Luật giao thông

ở tài xế taxi, xe buýt khá phổ biến, trong khi đây là nhóm người mà nghề nghiệpcủa họ buộc phải hiểu biết về Luật giao thông” Nhóm nghiên cứu cho biết, quaphỏng vấn 30 tài xế taxi thuộc các hãng có thương hiệu, có đến 25 tài xế trả lời

Trang 21

từng vi phạm Luật giao thông, như quay đầu xe, rẽ vào đường cấm khi khôngthấy cảnh sát giao thông Hậu quả sau đó là gây ra những vụ kẹt xe

- Về câu hỏi: Vì sao có nạn kẹt xe ở thành phố? Có 400 người được hỏi, ngoài

các lý do khách quan về đường sá, đèn tín hiệu thì 62% trong số này nói nguyênnhân chủ quan là do có nhiều người chen lấn, vi phạm Luật giao thông Còn đốivới thái độ ứng xử khi xảy ra tình trạng kẹt xe, gần một nửa số người được hỏi trảlời là họ tìm mọi cách len lách khỏi nơi kẹt xe Đó cũng là nguyên nhân trực tiếpkhiến nạn kẹt xe càng trầm trọng hơn, khimọi người tự bao vây lẫn nhau đến mứckhông còn lối thoát…

- Về thái độ đối với các hành vi vi phạm Luật giao thông, nhóm nghiên cứucho biết: chưa đầy 11% trong số người được hỏi phản đối các hành vi vi phạmLuật giao thông, song mức độ phản ứng cũng chỉ dừng ở mức nói vài câu phànnàn “đi đứng thế à”, “không có mắt à” Nhóm nghiên cứu giải thích là do tâm lýngại rắc rối, sợ chuốc lấy phiền phức, thậm chí sợ bị đánh khi buông lời nhắcnhở, lên án những hành vi vi phạm giao thông Trong khi đó số liệu điều tra cũngcho biết, có gần 30% số người trả lời mặc kệ trước những hành vi vi phạm củanhững người xung quanh Điều đó cho thấy, những hành vi vi phạm Luật giaothông ở nước ta hiện nay dù rất phổ biến nhưng vẫn chưa bị cộng đồng lên ánđúng mức, thậm chí làm ngơ, coi như việc không liên quan đến mình

Những kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây chỉ được thực hiện với đối tượngngười tham gia giao thông Vậy phải chăng tình trạng ứng xử tiêu cực, coithường, vi phạm pháp luậtgiao thông ở nước ta hiện nay chỉ xảy ra ởđối tượngngười tham gia giao thông, tức là từ phía người dân – đối tượng chấp hành, cònchủ thể chịu trách nhiệm thực thi pháp luật thì vô can?

Trong số các bài báo mà chúng tôi khảo sát, có một tỉ lệ không ít những bàibáo phản ánh về thực trạng một bộ phận người nắm quyền lực công, có vai tròcầm cân nảy mực trong việc thực thi pháp luật trong giao thông (trực tiếp là cảnhsát giao thông) lại chưa hề gương mẫu trong việc chấp hành luật, thậm chí còngóp phần làm cho luật giao thông bị vô hiệu hóa Bằng chứng là nạn “mãi lộ” củacảnh sát giao thông được coi như là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, bởi nó

đã trở thành một căn “bệnh nghề nghiệp” mãn tính, gây bức xúc trong dư luận xã

Trang 22

hội đã hàng chục năm mà vẫn chưa được giải quyết triệt để Loạt bài “Mãi lộ ở

cửa ngõ TPHCM” trên báo Người Lao động ra ngày 8 và 9-12-2009 đã nhận

được nhiều tiếng nói đồng tình, cộng hưởng của công luận Bạn đọc Bùi VănPhước viết:

“Nạn mãi lộ đã diễn ra từ lâu, cứ có tiền là được bỏ qua các lỗi vi phạm Đây

là một trong những nguyên nhân chính khiến người ta xem thường luật giao thông, chạy xe quá tải, phóng nhanh, vượt ẩu, lấn tuyến… gây bao cái chết thương tâm cho người khác…Lâu nay, khi nhân dân và báo chí phản ánh, lãnh đạo ngành công an đều nói rằng sẽ kiểm tra và xử lý nghiêm minh Tuy nhiên, nhìn từ thực tế cuộc sống thấy rằng tệ nạn này ngày càng trở nên công khai trắng trợn Như vậy, việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền chưa đủ nghiêm khắc, nên vẫn có người tìm mọi cách để nhận mãi lộ”

Bạn đọc Lê Đức Minh (Biên Hòa, Đồng Nai) cũng đồng tình khi cho rằng,

“việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền chưa đủ nghiêm khắc, nên vẫn có người

tìm mọi cách để nhận mãi lộ Trong việc xử lý nạn mãi lộ, nếu người chỉ huy và ngành công an làm kiên quyết sẽ được nhân dân ủng hộ Làm được như vậy, xã hội vừa trong sạch và nhiều cán bộ công an cũng không sa vào tha hóa, biến chất”

Cũng trong bài báo này, là nạn nhân của tệ nạn mãi lộ, bạn đọc Lâm Hải(công ty Vận tải ô tô số 2) bày tỏ sự bức xúc:

“Chúng tôi là những tài xế xe tải thuộc công ty Vận tải ô tô số 2 (TPHCM).

Nạn CSGT “làm luật” dọc đường lâu nay luôn là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong giới lái xe Có không ít CSGT dồn ép, kiếm cớ để buộc tài xế chung tiền hối lộ Anh em chúng tôi rất hoan nghênh các phóng viên báo Người Lao động đã đưa lên mặt báo những vụ mãi lộ có địa chỉ, thời gian rõ ràng, cụ thể Tuy nhiên, trước nay cũng đã có nhiều trường hợp tài xế và nhân dân tố cáo CSGT nhận hối

lộ, nhưng việc xử lý không đi đến đâu khiến cho tệ nạn này vẫn ngang nhiên tồn tại”

Từ đó bạn đọc này khẩn thiết yêu cầu “xin đừng dung túng”, vì rằng “công

việc tiếp theo không chỉ là giải quyết riêng những vụ việc vừa bị tố giác, mà chúng tôi mong muốn ngành công an hãy làm kiên quyết để dẹp bỏ những “con

Trang 23

sâu” Nếu như ngành công an xử nghiêm minh, công khai hình thức kỷ luật đối với những viên cảnh sát vi phạm, dân chúng sẽ rất hoan nghênh và tin tưởng Khi CSGT nói không với việc nhận hối lộ thì anh em tài xế cũng không dám dùng tiền để khỏa lấp các lỗi vi phạm”.

Các bài báo của các tác giả Bùi Văn Kiên (Ý thức chấp hành luật giao thông

kém do đâu? (Tiền phong); TS Nguyễn Ngọc Điện (Bắt đầu từ nhà chức trách công,Sài Gòn Tiếp thị, thứ sáu, 04/09/2009);TS Nguyễn Hữu Nguyên (Văn hóa giao thông nhìn từ hai phía,báo Pháp luật TP HCM, 26/3/2010)… đều phản ánh

thực trạng về việc hành xử không thượng tôn pháp luật từ phía người thực thipháp luật trong lĩnh vực giao thông và đều cùng quan điểm khi cho rằng, một khingười thực thi thiếu văn hóa (giao thông) thì làm sao đòi hỏi người chấp hành cóđược Một khi người thực thi pháp luật giao thông mà lại không tôn trọng luậtgiao thông, thì tất yếu trong xã hội sẽ vẫn còn phổ biến niềm tin… vào tínhkhông hữu hiệu của luật Đó là nguyên nhân quan trọng góp phần tạo cho ngườidân thói quen không tuân thủ pháp luật, coi thường pháp luật Chính việc hành xửkhông thượng tôn pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểmtra, phát hiện và xử lý vi phạm làm cho người dân mất lòng tin vào sự nghiêmminh của pháp luật

Từ đó, các bài báo này đều khẳng định, cần phải coi văn hóa thực thi quan

trọng hơn văn hóa chấp hành vì nó có vai trò định hướng, làm gương Trong điều

kiện chính người được giao nhiệm vụ thực thi pháp luật lại cũng là người tìmcách vô hiệu hoá luật thì việc người dân không tuân thủ luật là lẽ hiển nhiên Bởivậy, muốn pháp luật được tôn trọng một cách phổ biến, nghĩa là bằng ý thức côngdân tự giác, thì trước hết nhà chức trách công phải nêu gương Nếu những ngườithay mặt chính quyền thi hành công vụ không gương mẫu, tất cả những hành vinhư nhận mãi lộ, nhận tiền mặt không xé biên lai, bán bằng lái xe, thông kiểm cảcác xe cũ nát sẽ góp phần làm cho các giá trị của văn hóa giao thông bị giảmsút nghiêm trọng.Từ quan niệm đó, TS Nguyễn Hữu Nguyênkhẳng định: “Chỉcần những gì đang có được thực thi nghiêm, đúng mức thì trật tự, ý thức củangười tham gia giao thông sẽ có một bức tranh khác với hiện tại” (Quốc Thanh,Tuổi trẻ, Thứ ba, 13/10/2009)

Trang 24

1.2.1.2.Vi phạm pháp luật trong quản lý xây dựng

Vi phạm và xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý xây dựng những năm gầnđây cũng là một điểm nóng, gây bức xúc dư luận bởi thái độ, hành vi coi thườngpháp luật, thách thức pháp luật, vô hiệu hóa pháp luật đang diễn ra rất phổ biến,xét từ cả hai phía, đối tượng vi phạm và các cơ quan quản lý, xử lý vi phạm.Hàng trăm bài báo và các ý kiến phản hồi được đăng tải trên các phương tiệnthông tin đại chúng thời gian gần đây đã bày tỏ sự bức xúc, bất bình của dư luận

xã hội trước tình hình các công trình xây dựng trái phép đua nhau mọc lên theocông thức “giấy phép nói một đằng, thực tế diễn ra một nẻo” mà vẫn ngang nhiêntồn tại như một thách thức đối với luật pháp, với công luận

Trong loạt bài viết về chủ đề này (Thách thức luật pháp; Không thể chần chừ

trong xử lý;“Lờn thuốc”vì xử phạt không nghiêm…), PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện

phản ánh thực trạng phổ biến về hành vi thách thức luật pháp này:

“Chỉ được phép xây một căn nhà khiêm tốn nhưng lại cho ra đời cả một khối

kiến trúc hoành tráng Xã hội đã quen chứng kiến điều này, nhất là tại các đô thị lớn Hiện tượng xây cất nhà không phép hoặc to hơn nhiều so với giấy phép có dấu hiệu tràn lan, đến nỗi người ta phải tự hỏi liệu trong lĩnh vực quản lý xây dựng dân dụng có tồn tại một quy tắc không thành văn, một thứ tục lệ theo đó giấy phép xây dựng bằng văn bản chỉ đơn giản là một thủ tục, nghi thức, chứ không phải là khung pháp lý giới hạn một cách nghiêm ngặt quyền xây dựng của chủ thể sống trong không gian chung Chỉ có thể nói rằng xây dựng không đúng theo giấy phép thật sự là một vụ vi phạm pháp luật, đặc biệt là vi phạm trật tự công Không thể nói rằng những người được giao trách nhiệm quản lý nhà nước

về xây dựng không hay biết gì về sự tồn tại của những bất động sản không hợp lệ

ấy Theo lý lẽ thường tình, nhà xây dựng không phép tồn tại cũng có nghĩa rằng pháp luật xây dựng đã không được thực thi nghiêm chỉnh, nếu không muốn nói rằng nó đã bị coi thường”

Ở một bài báo khác, tác giả tiếp tục bày tỏ sự bức xúc:

“Hơn 20 tòa nhà mọc lên ngay giữa trung tâm thành phố (HCM) được xác

định là đối tượng của quyết định dỡ bỏ đối với phần xây dựng sai phép Mệnh lệnh đã được đưa ra và tống đạt từ lâu đến những người có trách nhiệm thi hành,

Trang 25

nhưng đến nay hầu hết công trình vẫn giữ nguyên hiện trạng như một thách thức ngang bướng đối với công luận Nói khác đi, người ta chỉ có thể giữ lại những phần nhà xây dựng ngoài giấy phép đã được cấp trước đó bằng cách vô hiệu hóa các quy tắc pháp lý liên quan Việc duy trì các công trình ấy hàm ý có một thông điệp đã được gửi đến toàn xã hội, theo đó luật pháp không được áp dụng, đúng hơn bị gạt ra một bên trong các trường hợp cụ thể này Dứt khoát không thể hình dung một thông điệp như thế có thể lưu hành một cách công nhiên trong điều kiện xã hội được coi là có tổ chức” (Không thể chần chừ trong xử lý, Tuổi trẻ,

04/12/2010)

Đặc biệt, vụ vi phạm ở công trình xây dựng cao ốc Pacific ở ngay giữa trungtâm quận 1, TP HCM là một trường hợp điển hình khiến dư luận đặc biệt quantâm Cụm từ “cao ốc Pacific” được tìm thấy trên Google với 79.100 lượt từ vàhàng trăm bài viết bày tỏ sự bức xúc của dư luận về sự ngang nhiên coi thườngpháp luật của chủ đầu tư và đơn vị thi công, giám sát, khi họ không những xây saigiấy phép mà còn phớt lờ những khiếu nại, cảnh báo về sự cố của các công trìnhlân cận Tuy nhiên, sự thách thức dư luận và sự vô hiệu hóa luật pháp có lẽ đượcđẩy lên đến đỉnh điểm khi vụ việc kéo dài đã hơn hai năm qua, sau nhiều lần xử

lý ầu ơ, lấy lệ, tới nay các tầng hầm đào sai phép vẫn chưa được lấp, thế mà vănbản mới đây của UBND TP lại quyết định “tha” cho các tầng hầm đã đào saiphép Không những thế, để hợp thức hóa vi phạm này, chủ đầu tư lại còn được sởXây dựng cấp phép xây dựng mới với quy mô 22 tầng (tăng 2 tầng so với giấyphép ban đầu) và có tới 5,5 tầng hầm Bởi vậy, điều làm dư luận bức xúc hơn cảchính là ở cách hành xử của các cơ quan có trách nhiệm trong việc xử lý vụ việc.Hàng loạt bài viết được đăng tải trên các trang báo mà ngay các nhan đề cũng đã

thể hiện sự phản ứng gay gắt của dư luận: Cao ốc Pacific: Phớt lờ tất cả, xử lý ầu

ơ; “Lờn thuốc” vì xử phạt không nghiêm; "Tha" cho tầng hầm cao ốc Pacific: Cao

ốc khác xây lố tầng hầm cũng phải "tha"; Kêu gào đòi lấp 2,5 tầng hầm cao ốc Pacific mới là trái luật; Đừng để luật nước thua kẻ vi phạm; Pháp luật đã quy định "giết" thì phải "giết", sao lại "tha"?; Xin đừng ngụy biện; "Tha" như thế khác nào khuyến khích vi phạm?; Cao ốc Pacific: 2,5 tầng hầm xây lố được tha; Cao ốc Pacific: vì sao xây sai phép lại được tồn tại?

Trang 26

Chưa nguôi bức xúc trước thực trạng có quá nhiều sai phạm trong việc xâynhà trái phép chưa được xử lý nghiêm minh thì hiện nay người dân TP HCM lạiđang được thử thách lòng kiên nhẫn trước thái độ đùn đẩy, không chịu tráchnhiệm của các đơn vị liên quan về tình trạng xuất hiện hàng loạt “hố tử thần” gâynguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông ngay giữa trung tâmthành phố Theo báo cáo của Giám đốc sở GTVT TP.HCM Trần Quang Phượngthì từ khi “hố tử thần” đầu tiên xuất hiện (tháng 7.2010) đến nay, TP.HCM đã có

57 “hố từ thần” Trong đó, 36 vụ sụp lún tại các vị trí không do công trình thicông và 21 vụ xảy ra trong quá trình thi công Hàng loạt bài báo với những câu

hỏi đầy bức xúc như:“Hố tử thần” tại TP.HCM: Nại đủ lý do chối trách nhiệm?

Né trách nhiệm“hố tử thần”; Đùn đẩy trách nhiệm“hố tử thần”(Huy Thịnh, Tiền

phong, 8/11/2010);“Hố tử thần”và“hố trách nhiệm”(Hạ Nguyên, Dân trí, 29/10/2010);“Hố tử thần”ở TPHCM: Cần xử lý hình sự? Mặc dù câu chuyện “hố

tử thần” trở thành đề tài “nóng” trên bàn nghị sự trong buổi chất vấn tại kỳ họp

thứ 19 HĐND TP HCM khóa VII vào sáng 9.12, nhưng câu hỏi “Hố tử thần ở

TP HCM - ai chịu trách nhiệm?”thì vẫn còn còn bỏ ngỏ, bởi “quả bóng trách

nhiệm” vẫn đang được đá qua lại mà chưa hạ hồi phân giải

Trong bài “Hố tử thần” và “hố trách nhiệm”, tác giả Hạ Nguyên (Dân trí) khẳng định: “Theo tần suất xuất hiện ngày càng cao của “hố tử thần” trên địa

bàn TP.HCM, “hố trách nhiệm” càng lộ rõ khi chưa có đơn vị nào đứng ra nhận trách nhiệm Khi bị truy vấn thì các đơn vị liên quan đổ lỗi cho nhau Song song với việc “hố tử thần” xuất hiện ngày càng nhiều là “hố trách nhiệm” ngày càng lớn”.

Còn tác giả Trần Minh Quân trong bài“Hố tử thần” và “hố đen”

trách nhiệm (Sài Gòn Tiếp thị, 2/12/2010) thì khẳng định: “Thực tế cho thấy, rất nhiều công trình được phát hiện sai phạm diễn ra trên hầu hết các địa phương đều có dấu ấn của tình trạng nhà thầu thi công “bắt tay” với giám sát để bỏ qua những lỗi do quá trình thi công gây ra Đây thực sự là căn bệnh trầm kha, đáng

sợ nhất và cũng là nguyên nhân của mọi nguyên nhân đã tồn tại rất lâu mà chưa

có phương thuốc đặc trị hữu hiệu”.

Trang 27

Theo ông Lê Hiếu Đằng - nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQVN TP.HCM,tồn tại tình trạng trên là do sai phạm không được xử lý nghiêm theo nguyên tắc,bao che cho nhau, không ai truy cứu trách nhiệm, vì vậy, cần phải kiên quyết ápdụng các biện pháp chế tài mạnh tay (cách chức, xử lý hình sự) những cá nhâncủa đơn vị thiếu trách nhiệm thì mới hy vọng chấm dứt những “hố tử thần” Cònluật sư Thái Văn Chung, văn phòng Đoàn Luật sư TP.HCM thì cho rằng, đơn vị

từ nhà thầu phải chịu trách nhiệm khi thi công dự án, xảy ra tai nạn Ngoài ra cơquan quản lý phải chịu trách nhiệm khi công trình đã bàn giao mà xảy ra tai nạn.Luật sư Chung lý giải, do các biện pháp chế tài chưa đủ nặng khiến các đơn vịthi công vẫn “vô tư” vi phạm, pháp luật chưa được thực thi nghiêm minh khiếnnhà thầu “nhờn luật” nên vẫn tiếp tục làm

1.2.1.3.Vi phạm trong bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

Đây là một lĩnh vực mà ảnh hưởng của nó tác động trực tiếp đến sức khỏe

và môi trường sống của mỗi người dân, mỗi gia đình cũng như của cả cộng đồng.Nhưng cũng ở đây, sự vi phạm pháp luật đang diễn ra một cách phổ biến, ngangnhiên, khi có vô số doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường đang tồn tại trên thực

tế, nhưng lại vẫn không tồn tại đối với pháp luật Có thể dễ dàng nhận thấy, vài

ba năm gần đây, hầu như không ngày nào trên các phương tiện thông tin đạichúng lại không đưa tin về những vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường Từcác khu công nghiệp đến các nhà máy, xí nghiệp sản xuấtlớn, nhỏ ở hầu hết cácđịa phương, ở những mức độ khác nhau đều thi nhau chôn trộm chất thải, xả chấtthải gây ô nhiễm nguồn nước, đất đai, không khí…Các hành vi vi phạm pháp luậtnày thường diễn ra trong thời gian dài từ năm này qua năm khác mà chính quyềncác địa phương chẳng mấy để tâm đến, kể cả khi có đơn thư khiếu nại cũng như

sự phản ứng của những nạn nhân khốn khổ trong vùng Khi vụ việc bị phát hiệnthì việc xử lý thường rất nương nhẹ, chế tài xử phạt cũng rất “dễ chịu” Cách xử

lý theo kiểu “giơ cao đánh khẽ”, thậm chí “giơ” không cao và “đánh” còn rất khẽkhiến cho hành vi vi phạm không bị ngăn chặn mà cứ thế tiếp diễn, pháp luật mấthết tính răn đe Và khi pháp luật đã mất hết tính răn đe, vi phạm pháp luật về môitrường đã và đang xảy ra tràn lan, ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan chứcnăng

Trang 28

Đặc biệt, vụ Vedan là một điển hình về tình trạng đùn đấy, đá qua đá lại

“quả bóng trách nhiệm” giữa các cơ quan chức năng Dư luận bất bình và phẫn

nộ, vì hành vi vi phạm pháp luật của Vedan là vô cùng nghiêm trọng nhưng đãtồn tại tới 14 năm mới bị phát hiện Tuy nhiên, điều đáng nói hơn là, khi hành vi

vi phạm pháp luật nghiêm trọng này được phơi bày trước công luận, khi hậu quả

mà nó gây ra cho môi trường sống và mưu sinh của người dân ở ba tỉnh thành(TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa) là vô cùng nặng nề, thì việc xử lý hành vi vi phạm

và việc truy cứu trách nhiệm của cơ quan quản lý để xảy ra sai phạm lại cũng gâybức xúc cho dư luận không kém Trong suốt hai năm trời (2008 – 2010), báo chí

đã tốn rất nhiều giấy mực để phản ánh sự bức xúc, phẫn nộ của dư luận về thái độthờ ơ, vô cảm, cũng như cách hành xử đùn đẩy trách nhiệm của các cơ quan quản

lý từ địa phương đến trung ương trong việc xử lý vi phạm

Trong bài: “Xử lý vụ Vedan “giết” sông Thị Vải; "Sư nói sư phải, vãi nói

vãi hay", tác giả Hồng Lê Thọ viết:

“Với tang chứng, vật chứng rành rành thì việc niêm phong những hệ thống

xả nước thải độc hại là đương nhiên, không cho chúng tiếp tục gây hại là điều phải làm thế mà sau gần một tháng vẫn loay hoay trong biện pháp "trừng phạt", điều bắt buộc nhà máy tạm dừng sản xuất không thể thực hiện được Khi bộ Tài nguyên Môi trường "đề nghị" tỉnh Đồng Nai ra quyết định buộc Vedan phải ngừng sản xuất thì bị Đồng Nai từ chối, cho rằng chưa đủ thủ tục pháp lý hay Bộ phải trực tiếp ra lệnh chứ không thuộc về trách nhiệm của Đồng Nai vì người quyết định xử phạt là Bộ TN-MT(!)…Trái banh "pháp lý" qua lại giữa hai đơn vị quản lý ngành (Bộ TN-MT) và hành chính (tỉnh Đồng Nai) còn kéo dài đến bao giờ khi nước thải ô nhiễm vẫn tuồn ra!” (Hồng Lê Thọ, Sức khỏe và đời sống,

3/11/2008)

Những bài báo với các tiêu đề như: “Sông Thị Vải "bệnh" nặng nhiều năm,

dân kêu cứu vô vọng!”; “Độc giả phẫn nộ với Vedan và thanh tra môi trường”;

“Làm gì với Vedan?”; “Vedan và căn bệnh thường ngày của các cơ quan nhà

nước”; “Vụ Vedan: Trách nhiệm của cơ quan quản lý tới đâu?”… đã xuất hiện

rất thường xuyên và trở thành điểm nóng trên các trang báo trong một thời gian

Trang 29

dài Tác giả Đinh Thế Hưng trong bài “Nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự và

Vedan” viết:

… “Trong vụ Vedan, vai trò của cơ quan chức năng dường như mờ nhạt.

Mờ nhạt trong việc phát hiện chậm trễ, trong việc xử lý vi phạm và trong việc không hoàn thành nhiệm vụ đặt ra luật lệ để giải quyết Pháp luật, cụ thể là luật

tố tụng dân sự đã quy định rõ trách nhiệm khởi kiện của cơ quan nhà nước Thế nhưng, không có cơ quan nào dũng cảm đứng ra đảm nhiệm việc này bởi lẽ ai cũng nghĩ "chắc nó trừ mình ra”.Ủy ban nhân dân tỉnh, sở Tài nguyên môi trường tỉnh Đồng Nai có sự dè dặt đầy khôn ngoan khi không đứng ra khởi kiện Họ là những người cấp phép hoạt động, kiểm tra, giám sát, xử phạt hành chính Vedan sau đó lại là người đứng ra khởi kiện dân sự đối với Vedan Có cái gì đó không

ổn ở đây, nhất là khi sở này thay vì đàng hoàng khởi kiện thì họ lại vận động nông dân chấp nhận bồi thường, lấy "dĩ hòa vi quý” làm trọng Quan còn ngại ra tòa thì dân nói "vô phúc đáo tụng đình" là điều dễ hiểu Khi công quyền không nhiệt tình thì người dân buộc phải tự đi tìm công lý Quá trình đi tìm công lý cho

vụ Vedan đáng lẽ ra cơ quan nhà nước phải là người tiên phong nhưng thực tế

họ lại chỉ vào cuộc khi người dân đã làm quyết liệt và cơ quan nhà nước lúc này vào cuộc với vai trò là người cổ vũ” (Vietnamnet, 18/09/2010).

Qua những thông tin mà báo chí và các phương tiện thông tin đã phản ánh,

có thể nói,Vedan chỉ là một vụ việc điển hình trong hàng trăm những vụ vi phạmluật bảo vệ môi trường đã và đang ngang nhiên tồn tại và thách thức dư luận vàpháp luật hiện nay

Cùng với tình trạng báo động đỏ về ô nhiễm môi trường, nỗi lo an toàn vệsinh thực phẩm (ATVSTP) cũng là chuyện “biết rồi, khổ lắm” nhưng vẫn phải

“nói mãi” khi các hành vi vi phạm pháp luật VSATTP đang ngày càng diễn raphổ biến hơn, mức độ ngày càng trầm trọng hơn, theo đó là sự gia tăng số vụ ngộđộc thực phẩm hàng năm, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe người dân,thách thức dư luận và pháp luật từ năm này qua năm khác Từ chuyện nướctương, nước mắm, hàn the, thịt thối, mỡ bẩn, dư lượng thuốc trừ sâu trong rauquả cho đến tình trạng tẩm ướp đủ loại hóa chất, phẩm màu công nghiệp vào

Trang 30

thực phẩm,… Rồi ngộ độc tập thể xảy ra như cơm bữa, có vụ nghiêm trọng đếnhàng trăm người

Trong bài báo “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm: chưa yên

tâm”, tác giả Trần Toàn cho biết:

“Theo đánh giá của HĐND TP.HCM, thực trạng vệ sinh an toàn thực

phẩm ở TP vào mùa giáp tết là rất đáng lo ngại Các vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm xảy ra ở tất cả các khâu, trong tất cả công đoạn của quy trình chế biến sản xuất Bác sĩ Trần Văn Ký, hội Khoa học kỹ thuật an toàn thực phẩm Việt Nam cảnh báo: Nhiều cơ sở sản xuất thực phẩm có quy mô vừa và nhỏ dùng thịt, cá hư, chất lượng kém như để sản xuất giò, chả hay để chế biến suất

ăn công nghiệp Có cơ sở dùng cả axít HCl và xút công nghiệp trong công nghệ sản xuất nước tương, nhưng chưa có ai bị xử lý Thậm chí trong sản xuất bánh

mì, bánh bông lan, bánh ngọt… người ta dùng cả các hoá chất tạo xốp, tạo nở trong chế biến cao su Đây chính là nguồn gốc của ngộ độc thực phẩm mãn tính

và hậu quả là người tiêu dùng sẽ bị ung thư, bệnh mãn tính về sau mà chưa có số liệu nào thống kê được Riêng việc kinh doanh thực phẩm tại hàng chục ngàn quán ăn, nhà hàng đều chung một “mẫu số”: không tuân thủ các quy định về VSATTP Trong khi đó việc quản lý chồng chéo giữa các bộ ngành khiến cho việc kiểm soát ATVSTP càng siết càng lỏng Ngay cả việc kiểm tra, giám sát,

xử phạt nghiêm các sai phạm, có thái độ xử lý với chính quyền địa phương không làm tốt trách nhiệm, đình chỉ, thu hồi giấy phép của các cơ sở vi phạm cũng chỉ

là "rung chuông" Nhiều ý kiến đánh giá, thực trạng ATVSTP tại các thành phố lớn như của Hà Nội, TP.HCM đang xấu đi Nhiều vụ ATVSTP được "khui" ra nhưng hầu như chưa có vụ nào xử lý hình sự Ngay cả việc kiểm tra, giám sát, xử phạt nghiêm các sai phạm, có thái độ xử lý với chính quyền địa phương không làm tốt trách nhiệm, đình chỉ, thu hồi giấy phép của các cơ sở vi phạm cũng hô hào suông!”.

Trong bài: “Quốc hội giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm: Người ít, tiền

thiếu, trách nhiệm cha chung”, tác giả Lê Kiên cho biết, vệ sinh an toàn thực

phẩm với những gam màu loang lổ lo âu đã được đặt lên bàn nghị sự của Quốchội trong cả ngày làm việc hôm 10-6-2010 và đã tường thuật lại cuộc truy vấn

Trang 31

đầy bức xúc của các vị đại biểu về vấn đề này Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé(Kiên Giang) nói rằng: “Biết ăn gì, uống gì để tránh ngộ độc?” là câu hỏi màkhông ít người thốt lên như thế khi hàng ngày liên tục nghe các tin như sữanhiễm độc, chả, giò có hàn the, thịt, cá ướp phân u-rê, rượu pha thuốc sâu, rau,

củ, quả sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích, nước đóng chai nhiễm vi sinhv.v vẫn bày bán khắp nơi “Đây cũng là câu hỏi mà cử tri đặt ra với đại biểu

Quốc hội” - bà Bé cho biết, và truy vấn các cơ quan chức năng: “Cử tri đặt ra

câu hỏi các thực phẩm vi phạm VSATTP vẫn được bày bán khắp nơi, vậy trách nhiệm của cơ quan quản lý ở đâu trong khi quản lý lĩnh vực này có tới năm bộ liên quan? Có nghĩa là một con gà, một mâm cơm của người dân có tới năm bộ chức năng quản lý Một công việc mà nhiều chủ thể quản lý sẽ dễ dẫn đến đùn đẩy, giống như câu nói dân gian là “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa” Việc thực phẩm không đảm bảo chất lượng mà vẫn nhập khẩu, ai chịu trách nhiệm thì

bộ này đùn đẩy bộ kia, cuối cùng cũng không rõ trách nhiệm của ai”.

Trên báo Nông nghiệp Việt Nam (ngày 24/11/2009), với bài báo nhan đề

“Doanh nghiệp bất chính "lờn" thuốc, người dân lãnh đủ”, tác giả Đức Cường viết:

“…Thực tế này đã được minh chứng qua hàng loạt vụ sai phạm liên quan đến thịt “bẩn” nhập khẩu vào Việt Nam thời gian qua Ngay trong thời điểm dư luận đang vô cùng bức xúc về chuyện thịt nhiễm khuẩn, người ta vẫn thấy hàng trăm tấn thịt gây hại “vô tư” hành quân ra thị trường như trêu ngươi, chọc tức

dư luận.

Chưa bao giờ vấn đề mất VSATTP tại nước ta lại “nóng” như hiện nay khi một thực tế “bi đát” về nguồn thực phẩm mà hàng chục triệu người dân Việt Nam đang ăn hàng ngày bị phát hiện quá nhiều chất độc Đã có một thời gian rất dài, chỉ vì lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp đã nhập về Việt Nam hàng vạn tấn thịt “trời ơi” hết “đát”, mốc rêu và bốc mùi (sau đó được xử lý hóa chất) để đầu độc người tiêu dùng Điều này tất yếu dẫn đến tình trạng trong suốt nhiều năm trời, người dân Việt Nam bị lừa dối, bị xâm hại sức khỏe nghiêm trọng mà không

hề hay biết Vụ việc chỉ bắt đầu bị phanh phui khi cơ quan chức năng kiểm tra lô hàng cánh gà nhập khẩu của công ty Trúc Đen và phát hiện công ty này đang

“phù phép” để tung 13,5 tấn gà nhiễm khuẩn ra thị trường Tại thời điểm kiểm

Trang 32

tra đã có gần một nửa lô hàng cánh gà đông lạnh nhập khẩu từng xác định bị nhiễm khuẩn e.coli và coliform được mang ra bán cho người tiêu dùng Sau vụ Trúc Đen, cơ quan chức năng tiếp tục phát hiện thêm 3 lô hàng tổng cộng 101 thùng bím dê phế thải với trọng lượng trên 1,5 tấn được khuyến cáo “không sử dụng cho người” nhập về bán cho người tiêu dùng Việt Nam.

Tuy nhiên, phải đến khi vị “đại gia” nhập khẩu thịt đông lạnh lớn nhất nhì Việt Nam là Công ty Vinafood bị phát hiện đang "biến hóa" hàng trăm tấn thịt heo, xúc xích hết “đát” trong kho lạnh, đặc biệt là phát hiện “động trời”: hồ sơ gốc nhập khẩu thịt bên Mỹ và Canada không ghi hạn sử dụng, người tiêu dùng mới té ngửa rằng từ bao lâu nay niềm tin đã bị đặt nhầm chỗ Trong suốt nhiều tháng ròng rã (từ tháng 7 trở lại đây), hàng chục doanh nghiệp “đen” bị phanh phui cách làm ăn chụp giật, vô đạo đức, kiếm tiền bất chính trên sức khỏe người tiêu dùng Một khối lượng thịt nhiễm khuẩn rất lớn lên đến 342 tấn (chỉ là phần nổi của tảng băng chìm) theo đó cũng bị tạm giữ trong “chiến dịch” muộn màng này.

Điều đáng nói là, sau khi lượng thịt “bẩn” khổng lồ trên bị “bắt tận tay, day tận mặt”, không hiểu sao cơ quan chức năng cứ dây dưa xử lý mãi không xong Sự chậm trễ đó đã tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp tự tung tự tác mang hàng “bẩn” bán tứ tán ra thị trường Thông thường, khi doanh nghiệp phạm luật như vậy, cơ quan chức năng phải có biện pháp xử lý thật nghiêm khắc

để răn đe Tuy nhiên, chưa một doanh nghiệp nào bị xử nặng, chưa một doanh nghiệp nào bị khởi tố xử lý hình sự Tất cả đều chỉ dừng ở mức xử phạt hình chính một số tiền nho nhỏ, “khuyến mãi” thêm vài câu nhắc nhở rồi…huề cả làng!” (Đức Cường, báo Nông nghiệp, 24/11/2009).

Đây là tâm trạng âu lo, bức xúc của người dân khi phải là nạn nhân của tệnạn làm ăn, kinh doanh gian dối, vô đạo đức, bất chấp pháp luật đang hoành hànhtrong xã hội hiện nay:

“Hãy làm nhà tiêu dùng thông thái”, lời cảnh báo này nay trở thành như

một khẩu hiệu dường như đã lỗi thời, bởi dù có muốn và cố gắng “thông thái” cũng không thể thực hiện được Đủ các hình thức gian dối, lừa đảo diễn ra ngày

Trang 33

càng tinh vi hơn, khiến khó có người tiêu dùng nào đủ khả năng phòng tránh được tất cả.

Không khó để kể: đổ xăng bị đong thiếu đã đành nhưng không thể nào biết được chất lượng xăng ra sao; mua thịt cá thì không rõ có bị ướp hóa chất, có dư lượng kháng sinh, có chất tăng trọng; mua rau thì gần như “nhắm mắt đưa chân” bởi khó tránh khỏi có dư lượng thuốc trừ sâu, phân hóa học; ngay cả mua kẹo đậu phộng hay kẹo hạt điều thì gần như luôn bị “làm mặt” với những hạt to, mẩy nằm bên trên, còn bên dưới toàn hạt lép Những mối lo đó hầu như người tiêu dùng nào cũng phải đối mặt và gần như không sao tránh khỏi, đành phó mặc cho sự may rủi mà thôi.

Không thể nói là các cơ quan chức năng đã bỏ mặc người tiêu dùng đối phó với các hình thức gian dối, bắt chẹt, lừa gạt của người bán, người cung cấp dịch vụ, nhưng hình như các cơ quan này tỏ ra bất lực trước các thủ đoạn gian dối ngày một tinh vi hơn của một bộ phận người bán hàng Các lý do đưa ra cũng khá “khách quan”, như lực lượng quá mỏng, phương tiện thiếu thốn, các biện pháp chế tài thiếu sức răn đe

Chính vì vậy, các mối lo của người tiêu dùng gần như vẫn còn đó, thậm chí ngày càng trầm trọng hơn, thiệt hại ngày càng lớn hơn”.

Từ thực trạng ấy, tác giả bài báo kiến nghị:“Nếu chỉ kêu gọi suông về đạo

đức, lương tâm của người bán hàng gần như không có tác dụng, nhất là khi đạo đức xã hội đang có biểu hiện xuống cấp Do đó, pháp luật cần có các hình thức

xử phạt đủ mạnh để răn đe, ngăn chặn tình trạng này Chẳng hạn, cần có quy định phạt tiền gấp nhiều lần số tiền gian lận chứng minh được (như tình trạng các cây xăng đong thiếu), rút giấy phép kinh doanh vĩnh viễn, đến mức nào đó phải truy cứu trách nhiệm hình sự Đồng thời, cần phát huy hơn nữa vai trò của các hội bảo vệ người tiêu dùng, nhất là khi Luật bảo vệ người tiêu dùng có hiệu lực ” (Trúc Giang, Người tiêu dùng có quá nhiều mối lo, Tuổi trẻ, 20/12/2010).

Cùng với những bức xúc trên đây, hàng loạt các bài báo như: “An toàn vệ

sinh thực phẩm: thực tế đáng sợ”; “Cao điểm vệ sinh an toàn thực phẩm: Đừng chỉ đánh trống, bỏ dùi!”; “Lại chuyện an toàn thực phẩm”;“Quản lý nhà nước

về vệ sinh an toàn thực phẩm: chưa yên tâm”; “Quốc hội giám sát vệ sinh an

Trang 34

toàn thực phẩm: Người ít, tiền thiếu, trách nhiệm cha chung”; “Xử lý vi phạm

an toàn thực phẩm: Có chế tài nhưng không "dám" phạt?”… xuất hiện thường

xuyên trên báo chí đã cho chúng ta thấy thực trạng tình hình vi phạm pháp luật vệsinh an toàn thực phẩm hiện đang vượt ra ngoài tầm kiểm soát của pháp luật, khicác đối tượng và hành vi vi phạm đang ngày càng gia tăng, còn các cơ quan quản

lí thì lại đang ngày càng chứng tỏ sự lúng túng và bất lực Hậu quả là người dânphải tập sống chung với tiêu cực và các hành vi vi phạm pháp luật khi nó đangxảy ra hàng ngày, vô cùng phổ biến, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực và ngàycàng trầm trọng hơn,tần suất tin tức về tiêu cực xuất hiện trên các phương tiệnthông tin đại chúng cũng ngày càng cao hơn, gây tâm lý hoang mang lo ngại vàbất an trong cộng đồng

1.2.1.4 Sự gia tăng các hành vi bạo lực và ứng xử “luật rừng”

Cùng với thực trạng đáng báo động về sự gia tăng các hành vi vi phạm phápluật, gây nhiều bức xúc và bất bình trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội thìhiện nay, qua các phương tiện thông tin đại chúng, không khó để nhận thấynhữnghành vi bạo lực và kiểu ứng xử “luật rừng” đang ngày một gia tăng đến mức báođộng, cả về tính chất nghiêm trọng cũng như quy mô, số lượng Đó là minhchứng rõ nhất cho tình trạng pháp luật đang bị vô hiệu hóa Càng lúc, xã hội càngphải chứng kiến nhiều hành vi bạo lực mới với mức độ ngày càng nghiêm trọng,nào là chuyện truy sát trên đường Láng-Hòa Lạc, chuyện bắn nhau trên đại lộĐông-Tây, là sự nở rộ của dịch vụ thu hồi nợ kiểu “xã hội đen”, cho đến thựctrạng gia tăng bạo lực học đường,… cho thấy việc giải quyết bất đồng, tranh chấpbằng bạo lực ngày càng tăng về độ công khai cũng như mức độ dã man, nguyhiểm và tính phổ biến

Thử làm một phép thống trên kê mục Pháp luật của báo Người Lao động

từ ngày 01 tới 24-9-2010, tức là chỉ mới hơn 3 tuần đầu của tháng, kết quả chothấy: có 210 bản tin phạm pháp hình sự, trong số đó đáng lưu tâm nhất là có tới

69 tin liên quan tới án mạng (dưới các hình thức mưu sát, cố sát, ngộ sát…), tức

là chiếm gần 33% tổng số tin Có lẽ các báo khác cũng loan tải một lượng tin có

tỷ lệ tương tự (ngoại trừ loại báo CAND và báo Pháp luật có thể có tỷ lệ caohơn)

Trang 35

Còn khi vào công cụ tìm kiếm Google , kết quả cho biết, cụm từ “chống

người thi hành công vụ” có 259.000 kết quả; cụm từ “xử luật rừng” có 18.300 kết

quả Tất nhiên là trong số đó có nhiều kết quả trùng lặp, nhưng dù vậy thì nhữngcon số đó cũng phản ánh một thực trạng khó chối cãi là các hành vi ứng xửkhông theo chuẩn mực pháp luật đang tồn tại vô cùng phổ biến trong xã hội ta

Hàng ngày trên các đài, báo chúng ta vẫn đối mặt thường xuyên với nhữngcâu chuyện vi phạm pháp luật và giải quyết các mối quan hệ bằng luật “rừng”

như: “Đòi nợ bằng luật rừng”; “Để dẹp bỏ luật rừng”; “Luật rừng còn tồn tại dài

dài”; “Hành xử theo kiểu luật rừng”; “Dùng “luật rừng” thay luật tòa”; “Hình như đã hình thành "luật rừng" trong một bộ phận học sinh”; “Qua các vụ nữ sinh đánh nhau: "Luật rừng" đang thâm nhập vào trường học?”…

Đặc biệt là các hành vi bạo lực hành hạ trẻ em đang diễn ra ngày càng phổbiến và trầm trọng hơn mà dường như đa phần vẫn ngoài tầm kiểm soát của phápluật Điển hình làvụ việc em Bình bị chủ quán phở nơi em làm thuê ngay giữa thủ

đô Hà Nội hành hạ với những cực hình tàn bạo trong suốt 10 năm trời mới bị pháthiện và xử lí Tương tự, gần đây hơn là vụ bé Hào Anh ở Cà Mau cũng bị chủhành hạ suốt 2 năm trời với những ngón đòn tàn khốc, dã man như thời trung cổ:dùng búa, cây dầm bơi xuồng đánh vào đầu, đập vào lưng, ngực và tay chân;dùng kìm nhổ răng; tạt nước sôi vào người; lấy bàn ủi nóng chà vào lưng, mặt;dùng đũa sắt nung nóng đỏ đâm vào chân, lăn vào hai tay; buộc dây vào cổ nạnnhân lôi đi; bắt uống nước tiểu khiến em bị mất 66,83% sức khỏe Mặc dù kẻgây tội ác trong hai vụ hành hạ trẻ em điển hình này đã bị pháp luật trừng trị,nhưng vẫn còn đó những câu hỏi làm nhức nhối những người có lương tâm: liệurồi còn bao nhiêu em Bình hay cháu Hào Anh vẫn đang hàng ngày bị hành hạ cả

về thể xác lẫn tinh thần mà pháp luật vẫn chưa với tay đến được?

Tuy nhiên, có lẽ điều làm công luận bức xúc và thất vọng và mất niềm tin hơn

cả là khi phải chứng kiến cách hành xử rất “xã hội đen” của những người màchức trách của họ là nắm giữ cán cân công lí để đảm bảo trật tự và công bằng cho

xã hội Đó là thực trạng về các hành vi ứng xử kiểu “luật rừng” của những ngườinhân danh các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật

Sau đây là một số vụ việc điển hình được phản ánh trên báo chí:

Trang 36

“Đánh ghen, bà chánh án TAND tỉnh “đại náo” quán karaoke”:

Chồng bỏ nhiệm sở đi nhậu và hát karaoke trong giờ hành chính, vợ cũng gác việc cơ quan đến tìm và hành hung nhân viên phục vụ của quán đến mức phải đi cấp cứu.

Hai ngày nay, người dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xôn xao về “kỳ

án đánh ghen” mà đôi vợ chồng trong cuộc là bà Nguyễn Lê Lan, đương kim Chánh án TAND tỉnh, và ông Trần Phụng, Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Trận ẩu đả xảy ra ngay trong giờ làm việc tại quán karaoke Hưng Phát trên đường Phú Riềng Đỏ, xã Tiến Hưng, thị xã Đồng Xoài

“Xử” không cần án!

Nạn nhân của vụ ẩu đả là nữ tiếp viên Nguyễn Hồng Linh (SN 1988, quê ở Cao Lãnh, Đồng Tháp) Chìa cho chúng tôi xem một bên đầu còn nguyên những vết xước tứa máu, Linh kể: “Lúc đó, em đang gắp đá thì bà Lan ập vào Không nói không rằng, bà ta chụp một cái ly ném thẳng vào em nhưng không trúng, chiếc ly vỡ tan tành Tức mình, bà Lan vớ chai bia trên bàn đập thẳng lên đầu

em Khi tỉnh dậy, em thấy mình đang nằm trong bệnh viện, bác sĩ nói phải khâu sống vết thương nên em sợ quá trốn về” (Theo Nguyễn Triều - Tân Tiến, Báo Người lao động, Thứ bảy, 29/3/ 2008).

Bài báo “Công lý và các quan toà” của nhà báo Huy Đức lại viết về câu

chuyện Chánh án toà án nhân dân huyện Phú Ninh, Quảng Nam, đã từng dùngcâu liêm để giật đổ một bức tường nhà đang xây của ông Phạm Nhi hàng xóm.Khi ông Nhi chạy ra ngăn cản, ông Bằng đã kẹp cổ ông Nhi, còn vợ ông Bằng thì

nắm tóc và dùng dép đánh ông Nhi vào mặt Và tác giả bình luận: “Chưa nói về

mặt pháp luật, một thường dân biết xấu hổ cũng sẽ không dùng “luật rừng” như cách mà bà Lan và ông Bằng đã dùng Quan toà là những con người đòi hỏi phải

có cả năng lực và phẩm giá Làm sao thuyết phục là công lý đã được phán quyết, khi những người đưa ra những phán quyết ấy không đáng tin cậy cả về năng lực lẫn đạo đức cá nhân” (Huy Đức, Công lý và các quan toà, Sài Gòn Tiếp thị

Online, 14/01/2009)

Còn bài báo“Khi chuẩn mực ứng xử không phải là luật”(Thời báo Kinh tế Sài

gòn 06/5/2007) thì viêt về câu chuyện bà trung tá công an ở Hà Nội, bị mua

Trang 37

chuộc nên đã chỉ huy động một băng nhóm xã hội đen đập phá nhà một ngườidân thường, vốn là hàng xóm với người mua chuộc công an và đang có tranhchấp về ranh giới đất với người này Như vậy, ở ngay giữa thủ đô Hà Nội, mộtngười đại diện cho pháp luật đã đặt quyền lực cá nhân lên trên pháp luật, đã sửdụng một thứ bạo lực phi pháp để giải quyết vấn đề xung đột lợi ích Với hành vi

này, tác giả bài báo bình luận: “bà trung tá công an đã loại bỏ pháp luật một

cách có ý thức: đối với bà ấy, chuẩn mực là cách xử sự của người có nhiều tiền

và có thế lực; công lý nằm trong tay người đó Tổ chức cho một người thiết lập

“công lý tư nhân”, bà trung tá lạnh lùng phủ nhận nền công lý do Nhà nước đại diện”

Đặc biệt, có thể nhận thấy trong thời gian gần đây, thông tin về các vụ công an

sử dụng bạo lực với dân cũng đang xuất hiện ngày càng nhiều trên mặt báo, gâybất bình, phẫn nộ trong xã hội Tổ chức theo dõi nhân quyền Human RightsWatch vừa qua đã lên tiếng báo động về tình trạng nhiều người dân bị tử vongkhi bị công an bắt giữ Trong thông cáo, tổ chức này đưa ra 19 vụ bạo hành củacông an, gây thiệt mạng 15 người Tất cả những vụ này đều được loan báo trêncác cơ quan truyền thông Nhà nước trong 12 tháng qua

Việc công an có những hành vi thô bạo và sử dụng bạo lực với người dân chỉ

vì những lỗi nhỏ trong vi phạm giao thông đã xảy ra khá phổ biến Hành vi viphạm luật giao thông thực ra không đến mức phải can thiệp bằng bạo lực, nhưngcông an đã lạm dụng bạo lực,coi thường mạng sống của người dân, gây nênnhững thương tật hoặc thậm chí những cái chết oan uổng Dư luận vẫn chưa quên

vụ một thanh niên tên Nguyễn Văn Khương ở tỉnh Bắc Giang chở bạn gái đi mua

đồ ăn, vì không đội mũ bảo hiểm nên bị công an bắt phải về đồn làm việc và đánhđập đến tử vong chỉ sau đó hơn nửa tiếng Bức xúc trước cái chết oan uổng củangười thân, gia đình anh Khương đã đưa thi thể anh lên UBND tỉnh Bắc Giangyêu cầu làm rõ nguyên nhân cái chết và hàng ngàn người dân đã đi theo dài hàngcây số, biến vụ việc thành một cuộc bạo động, giật đổ cả cánh cổng trụ sở UBNDtỉnh Bắc Giang Trong tháng 8 vừa qua, ở Thái Nguyên, nữ sinh viên tên HoàngThị Trà được bạn trai chở đi chơi bằng xe máy, cũng không đội mũ bảo hiểm nên

Trang 38

bị hai công an mặc thường phục đuổi theo và bắn nhiều phát vào đùi phải nhậpviện.

Cùng với những vụ nổi “đình đám” gây xôn xao dư luận ấy, xin dẫn ra đâymột số vụ việc khác được đăng tải trên các báo cũng khiến dư luận bức xúckhông kém:

- “Phó trưởng Công an xã "làm việc" với dân bằng đấm”:

…Khi triệu tập dân lên trụ sở, chưa tìm hiểu rõ ràng vấn đề, ông Hoàng Thanh Hùng, Phó trưởng Công an xã Minh Sơn (Đô Lương - Nghệ An) đã giơ nắm đấm nhằm mặt người dân "làm việc" Vụ việc đã gây bất bình với nhiều người dân”(xaluan.com, 18/12/2008).

- “Điều chuyển công tác khác đối với một trung tá CSGT”:

Báo Lao Động số ra ngày 2.2.2010, đưa tin: “Bị CSGT dừng xe, một cô gái gãy răng”, phản ánh: Sáng 1.2, chị Đỗ Thị Hoa (sinh năm 1990, ở huyện An Dương, TP.Hải Phòng) đi xe máy đến khu vực ngõ Nam Phát I thì có 2 CSGT ra hiệu lệnh dừng xe Cho rằng CSGT ra hiệu lệnh dừng xe với người bên cạnh nên chị Hoa vẫn lái xe chạy tiếp, thì bị một CSGT chặn lại, dùng gậy điều khiển giao thông đập vào mặt, làm chị bị gãy răng

- “Làm rõ vụ một công an đánh người”:

TT - Nhiều bạn đọc báo tin: “Ngày 18-12- 2010 tại trụ sở Công an P.Đông Hải, TP Phan Rang - Tháp Chàm (Ninh Thuận) một công an đã đánh một phụ nữ ngất xỉu, phải đi cấp cứu”.

- “Công an đánh dân: Hệ quả của việc bao che có hệ thống”:

… Không thể tượng tượng nổi là những người sinh ra để bảo vệ dân mà có những hành vi côn đồ và coi thường pháp luật đến như vậy Qua những vụ việc gần đây tôi cảm tưởng rằng một bộ phận không nhỏ cán bộ công an luôn tự cho mình cái quyền hành xử theo lối xã hội đen Đây là hệ quả của việc ngành công

an luôn cố tình bao che và xử lý không nghiêm các cán bộ vi phạm (Tuổi trẻ,

12/9/2007)

- “Dân "tố" công an hành hung người phải nhập viện”:

- Bác sỹ Nguyễn Ngọc Vân (Trưởng khoa Hồi sức cấp cứu, bệnh viện Đa khoa

Hợp lực – Thanh Hóa) cho biết, khoảng hơn 18h ngày 6/11, bệnh nhân Lưu Đình

Trang 39

Tăng (20 tuổi, thôn Đông Khê, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa) được 2 cán bộ Công an huyện Hoằng Hóa đưa đến trong tình trạng bất tỉnh (08/11/2010).

Có lẽ cũng không cần bình luận gì nhiều về những sự việc trên đây, bởi tự nó

đã có thể nói lên những gì cần nói Tuy nhiên, một suy luận giản đơn mà ai cũng

có thể tự rút ra, đó là, ngay những người hiểu rất rõ pháp luật, hơn nữa lại đangnắm giữ vai trò thực thi pháp luật mà lại hành xử bất chấp pháp luật như vậy thìviệc tồn tại phổ biến của “luật rừng” thay luật pháp như những câu chuyện được

kể sau đây cũng là điều dễ hiểu

Về thực trạng cách hành xử theo “luật rừng” đang tồn tại phổ biến như một

vấn nạn nhức nhối trong xã hội hiện nay, trong bài báo Dẹp bỏ“luật rừng”, trên

báo Tuổi trẻ, 12/6/ 2007), GS Tương Lai đã bày tỏ thái độ bức xúc:

“… Thật đáng xấu hổ, đáng phẫn nộ vì trong khi đang hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh chúng ta vẫn đang phải chứng kiến quá nhiều những hiện tượng "đầu gấu" nơi bến xe, bãi chợ, nơi sinh hoạt công cộng, chốn đường xa, khuất nẻo, nơi mà những ứng xử "mạnh được yếu thua", nơi luật rừng thắng thế Pháp luật đã trừng trị nhiều tên đầu gấu, tòa án cũng đã đưa ra xử, tội danh "đầu gấu" đã từng được tranh tụng, và bị can đã vào tù Nhưng liệu có phải vì sức răn đe chưa đủ mạnh hay là vẫn còn những thế lực "bảo kê" với khá nhiều lý do phức tạp khó nói hết, nên nạn đầu gấu vẫn là nỗi ám ảnh trong đời sống xã hội? Đó là nỗi ám ảnh về thiếu an toàn khi đi vào những nơi, sinh hoạt ở những chỗ, những địa bàn mà đầu gấu có khả năng chiếm lĩnh Những địa bàn

ấy, oái oăm thay có khi nằm ngay ở những nơi không thiếu những sức mạnh để trấn áp và loại bỏ nếu người ta muốn, như người dân lương thiện muốn.

Thì ra, tuy cả rừng luật đã và đang được tiếp tục xây dựng và ban hành, nhưng nhiều khi, nhiều chỗ vẫn bị luật rừng qua mặt”

Trong bài báo“Ứng xử theo luật rừng” tác giả Lê Thanh Phong, (Báo Lao

động, 10/04/2009) viết:

Liên tục xảy ra ba câu chuyện báo chí bị xử theo "luật rừng" Một chuyện do côn đồ xử, một chuyện do chủ doanh nghiệp ra tay, và một chuyện do cán bộ chính quyền "ứng xử".

Trang 40

Chuyện thứ nhất liên quan đến một nhà báo của một cơ quan báo chí tỉnh Quảng Nam, chuyên điều tra các vụ phá rừng Nhà báo dũng cảm này kiên trì theo đuổi, đưa tin với quyết tâm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật của lâm tặc Những thông tin của anh thực sự mang sứ mệnh "đâm mấy thằng gian" Tuy nhiên, khi "bút chẳng tà" thì anh đã bị kẻ gian hạ độc thủ Trên đường đi công tác, tối 3.4, anh bị một nhóm côn đồ đâm vào mặt Theo điều tra ban đầu, nhóm côn đồ này do lâm tặc thuê hành hung.

Chuyện thứ hai cũng xảy ra ngày 3.4, một nhóm phóng viên phát hiện nhiều

nữ nhân viên massage bị giam lỏng ở khách sạn Ngân Hà, tỉnh Hà Tĩnh Nhờ sự đeo bám và thông tin của các anh, cơ quan chức năng vào cuộc và giải thoát cho

7 nữ nạn nhân Sau đó, nhóm phóng viên trở lại để làm rõ thêm vụ việc thì bị giám đốc khách sạn tịch thu giấy giới thiệu, máy ảnh, mắng chửi và gọi nhân viên đến với ý định sẵn sàng hành hung phóng viên

Chuyện thứ ba, Phòng Văn hoá - Thông tin của huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An

tự đưa ra "luật báo chí" riêng, đó là các cơ quan, người dân trên địa bàn huyện, thị trấn không cần làm việc với phóng viên nếu như phóng viên không có giấy giới thiệu của Phòng VHTT…

Bọn lâm tặc phá rừng thuê người hành hung nhà báo Hành vi này vi phạm pháp luật, nhưng nó xuất phát từ một nhóm côn đồ Đã dám phá rừng thì

họ dám xử theo "luật rừng", điều đó không có gì phải ngạc nhiên Một giám đốc khách sạn là một chủ doanh nghiệp, có nhận thức pháp luật và ít nhiều hiểu biết văn hoá ứng xử, nhưng vì tức giận nhất thời, đã có hành động cũng khá "luật rừng" với các nhà báo Hành vi đó thật đáng ngạc nhiên và khó chấp nhận đối với một doanh nhân.

Nhưng kinh ngạc hơn là một ông trưởng phòng VHTT của một huyện lại dám cả gan soạn ra "luật báo chí" riêng để ứng xử với báo chí Quy định bất chấp pháp luật của ông trưởng phòng cũng là một loại "luật rừng" Có thể ông không cố tình vi phạm Luật Báo chí, nhưng điều này cho thấy trình độ cán bộ cơ sở còn rất hạn chế Với báo chí mà còn như vậy, khó có thể tin tưởng ông trưởng phòng ứng xử đúng luật với người dân”.

Ngày đăng: 28/08/2017, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Hội Nhà văn, 2000 (tái bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
2. Nguyễn Trần Bạt, Ảnh hưởng của văn hóa đối với pháp luật (Nguồn:chungta.com) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hóa đối với pháp luật" (Nguồn:"chungta.com
3. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB TP Hồ Chí Minh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
4. Du Vinh Căn, Tổng quan tư tưởng pháp luật Nho gia, (bản dịch của Viện Khoa học Xã hội), Học viện Hành chính Quốc gia, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tư tưởng pháp luật Nho gia
5. Nguyễn Quốc Chấn, Huỳnh Khái Vinh, Văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng, NXB Chính trị Quốc gia, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Việt Namthống nhất mà đa dạng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
6. Khang Thức Chiêu, Cải cách thể chế văn hóa, NXB Chính trị Quốc gia, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thể chế văn hóa
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
7. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Nhà XB: NXB KHXH
8. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, NXB Chính trị Quốc gia, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyềnthống trước những thách thức của toàn cầu hóa
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
9. Chuyên đề Văn hóa tư pháp, Thông tin khoa học Pháp lý, 7/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Văn hóa tư pháp
10. Phan Đại Doãn, Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử
Nhà XB: NXBChính trị Quốc gia
11. Lê Đăng Doanh, Tính truyền thống và yêu cầu đổi mới trong thiên niên kỷ mới (in trong: Một góc nhìn của trí thức), NXB Trẻ, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính truyền thống và yêu cầu đổi mới trong thiên niên kỷmới "(in trong:" Một góc nhìn của trí thức)
Nhà XB: NXB Trẻ
12. Nguyễn Đăng Dung, Một xã hội làng xã, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 11/ 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một xã hội làng xã
13. Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn, Lệ làng xưa và “lệ làng” nay, Tạp chí Cộng sản, số 28/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ làng xưa và “lệ làng” nay
14. Phạm Đức Dương, Từ văn hóa đến văn hóa học, NXB Văn hóa, 2002 15. Đại học Luật Hà Nội, Văn hóa pháp luật và phát triển văn hóa pháp luậtở nước ta hiện nay, (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường), 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn hóa đến văn hóa học", NXB Văn hóa, 200215. Đại học Luật Hà Nội, "Văn hóa pháp luật và phát triển văn hóa pháp luật"ở nước ta hiện nay
Nhà XB: NXB Văn hóa
16. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật
Nhà XB: NXB Tưpháp
17. Đạo đức nghề nghiệp luật sư, (Kỷ yếu hội thảo), NXB Chính trị Quốc gia, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức nghề nghiệp luật sư
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
18. Bùi Xuân Đính, 101 truyện pháp luật thời xưa, NXB Thanh niên, 1999 19. Bùi Xuân Đính, Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam, NXBTư pháp, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 101 truyện pháp luật thời xưa", NXB Thanh niên, 199919. Bùi Xuân Đính, "Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam
Nhà XB: NXB Thanh niên
20.Trần Ngọc Đường, Văn hóa pháp lý với sự nghiệp đổi mới ở nước ta , Tạp chí Luật học, 2/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa pháp lý với sự nghiệp đổi mới ở nước ta
21. E.B.Tylor, Văn hóa nguyên thủy, NXB Văn hóa Thông tin, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nguyên thủy
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
22. Francis Fukuyama, Giá trị châu Á sau cuộc khủng hoảng châu Á, (in trong: Dân chủ, kinh tế thị trường và phát triển), NXB Thế giới, HN, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị châu Á sau cuộc khủng hoảng châu Á, "(introng": Dân chủ, kinh tế thị trường và phát triển)
Nhà XB: NXB Thế giới

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w