Thế nên triết sinh hằng trăn trở: Làm thế nào để âm nhạc của nhân loại và thời đại trở thành một phần của thế giới quan trong anh?. Hay nói khác đi, triết sinh ao ước phát biểu sự Thật-
Trang 1TRIẾT SINH TRONG THẾ GIỚI ÂM NHẠC
Huynh An
Triết sinh biết chỗ đứng của mình trong thế giới âm nhạc Anh không đành lòng để mình bị xem – hay tự xem mình – là kẻ mù nhạc, nhưng cũng chẳng tham vọng “lấn sân” các nhạc gia Một lần lạc bước vào cõi nhạc, anh sung sướng trong niềm vui khám phá; rồi ngay trong niềm hân hoan chưa dứt ấy, anh bức rức vì biết mình hãy còn chưa xứng, chưa đủ Thế rồi, được thúc bách mãnh liệt bởi tình yêu, anh như kẻ du ca ôm đàn đi tìm Chân-Thiện-Mỹ
Càng ngày triết sinh càng thấy âm nhạc can hệ đặc biệt đến con người anh, cuộc sống anh, và thế giới chung quanh anh Một đàng, âm nhạc giúp anh học triết hành triết tốt: ngang qua âm nhạc, triết sinh chiêm nghiệm ngoại giới tốt hơn, và có được những phản tư nội tâm hữu ích Đàng khác, những suy tư và triết lý có được nơi anh ít nhiều cũng
làm cho âm nhạc thật, tốt, và đẹp hơn Thế nên triết sinh hằng trăn trở:
Làm thế nào để âm nhạc của nhân loại và thời đại trở thành một phần của thế giới quan trong anh? Và, làm sao để thế giới quan ấy có thể mạnh dạn bước ra đối thoại với các quan niệm âm nhạc xuyên suốt
dòng lịch sử? Hay nói khác đi, triết sinh ao ước phát biểu sự Thật-Tốt-Đẹp về âm nhạc mà anh trải nghiệm sao cho am hợp với trật tự sẵn có của nghệ thuật thứ năm Vâng, chỉ khi cái chủ quan anh đang cưu mang được phối kết hài hoà với cái khách quan có đó trong thế giới âm nhạc,
anh mới hy vọng có được tiếng nói chung giữa cộng đồng những người khôn ngoan mộ mến âm nhạc
Vì lẽ đó, triết sinh cần một kinh nghiệm gặp gỡ đích thân với sự
Thật-Tốt-Đẹp trong thế giới âm nhạc Thế giới đó, dù còn e ấp trong tháp
ngà hay tung tăng ngoài đường phố, theo anh là khả dĩ tiếp cận và
Trang 2thưởng nghiệm: nó đã và đang phản ánh thế giới nội tâm phong phú của
những tư-tưởng-gia được học biết nhạc-luật, hay thậm chí, những kẻ-biết-nghĩ được thiên tư nhạc-cảm đấy thôi Chỉ cần triết sinh luôn biết mở ra và ứng trực trước cái khác, cái mới và cái hơn, trải nghiệm âm nhạc sẽ
dẫn anh đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, làm phong phú đời sống tinh thần của anh Thật vậy, thế giới âm nhạc đâu thiếu những câu hỏi “Tại sao?” dành sẵn cho anh, và cũng đòi anh phải “làm rỗng” mình
đi để có chỗ cho lời giải được ươm mầm Cuộc hạnh ngộ giữa triết sinh và âm nhạc, như thế, cứ miên trường
Khác với một nhạc sinh, triết sinh không tự giới hạn mình vào bất cứ vấn đề nào của âm nhạc Anh ung dung với thân phận “kẻ ngoại đạo” đứng ngóng vào, nhưng cũng không ngại khi phải một lần “thử vai” Ở
bất cứ địa hạt nào, điều anh quan tâm là cái gì làm nên âm nhạc thật-tốt-đẹp, và âm nhạc ấy làm nên con người thật-tốt-đẹp ra sao Âm nhạc
có mang lại phúc-hoạ cho cuộc sống, có phù hợp với cái nhìn về tri thức, đạo đức và thẩm mỹ trong thế-giới-quan và nhân-sinh-quan của anh? Hẳn nhiên, mối quan tâm ấy đặt anh vào thế căng thẳng giữa chủ
trương nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh Anh muốn giữ thái độ trung dung và thận trọng Ai hỏi, anh trả lời: phải tuỳ và tỉnh!
Dưới lăng kính tri thức, triết sinh là người sáng tạo âm nhạc Kỳ khôi, triết sinh chứ có phải nhạc sĩ! Ấy ấy, đừng quên âm nhạc đến với triết sinh không phải như một mâm cơm dọn sẵn cho bằng một tiến trình tư duy: tư duy âm nhạc Một bài ca bản nhạc – theo quan niệm khá chiết trung giữa chủ nghĩa duy thực với kháng duy thực – được thoát thai đến ba lần: lần đầu lúc nhạc sĩ vừa hoàn tất bản ký âm – một trang giấy với đầy những ký hiệu âm nhạc lẫn ngôn ngữ; lần thứ hai khi ca sĩ hay nhạc công thực hiện vừa xong màn trình diễn – lúc này trang giấy vô hồn kia trở thành tiếng hát tiếng đàn sống động; lần thứ ba khi nhạc âm đi vào thế giới tri giác của khán thính giả rồi được tái tạo ở đó tuỳ theo từng điển phạm thưởng thức cá biệt – lần này mới đáng gọi là
“nhạc sống và độc sáng” Thật thế, người ta rất ít khi đề cập đến các ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà quên nhắc tới vài danh ca đính kèm – Khánh Ly hay Hồng Nhung chẳng hạn, lại càng không thể bỏ quên chính mình: “Còn TÔI, TÔI nghe Khánh Ly hát Trịnh mới ra.” Vẫn biết, dư luận và những đánh giá chuyên môn thì cần thiết, nhưng quan
Trang 3trọng hơn, triết sinh phải tự định hình tri thức âm nhạc cho riêng anh: niềm tin vào tài hoa của mấy nghệ sĩ ấy, cứ cho là đúng đắn, vẫn cần được chứng thực bằng kinh nghiệm lắng nghe, đồng cảm và rung cảm nơi chính anh Dĩ nhiên, tri thức ấy không tuyệt đối, vì có khi, “bỗng dưng nghe Nhung hát Trịnh giúp tôi dễ mường tượng hơn” Đó là con đường triết sinh sáng tạo âm nhạc, từ những chụp giựt đầu tiên của cảm giác thính thị cho đến sự hình thành tri thức có giá trị, rồi đến những kinh nghiệm thăng hoa thuộc riêng lãnh vực nghệ thuật và riêng anh
“Đàn piano chỉ có phím trắng và đen nhưng có thể tạo nên hàng ngàn màu sắc trong tâm trí” (Nguyễn Bách)
Ngộ nhỡ phải sáng tác thật, triết sinh sẽ không nỡ bóp méo hay bóp nghẹt nghệ thuật bằng sự ngu muội, tầm thường, dễ dãi và thực dụng Tuy vậy, anh sẽ dùng tri thức âm nhạc giới hạn của mình để phục vụ đời-người và người-đời Vì đó là anh!
Nghệ thuật vị nghệ thuật, triết sinh cho rằng không một cách diễn
tả hay sắp đặt âm nhạc nào - cho dù đang bị thoái nhận, bị quy kết là cực đoan, duy hình thức hay cách tân quá thể - lại vĩnh viễn không có
cơ hội được thừa nhận, được coi là độc sáng, chuẩn mực hay thức thời… Thử nghĩ, loại âm nhạc đa âm phức điệu, bố cục hoành tráng, đối âm chằng chịt, hoà âm biến hoá, kỹ thuật phức tạp và hoa mỹ của thời
Baroque vốn dễ bị xem là nghệ thuật vị nghệ thuật, ngày nay đã thành ra
lựa chọn phổ biến trên internet dành cho những ai muốn nghe nhạc để tăng tập trung; hoặc như âm nhạc thời kỳ cổ điển như Mozart và Beethoven nay lại được phát cho trẻ sơ sinh “thưởng thức thụ động” với
mục đích kích thích trí não Nghệ thuật mà đánh mất tính cách nghệ
thuật thì đâu đáng được gọi là nghệ thuật, đâu đáng phục vụ cuộc sống
con người Tuy nhiên, nghệ thuật tính không nhất thiết cứ phải xa rời cuộc sống, vì nghệ thuật được sinh ra từ cuộc sống, ít nhiều nó phải vị nhân sinh Ngày nay có chuyện nực cười: những chất liệu âm nhạc đơn
sơ mộc mạc của dân gian lại được khai thác ngày càng nhiều, như thể một lối thoát, bởi những nhạc gia trường ốc đang vò đầu bức tóc vì cạn ý
cạn tứ Họ đẻ ra thứ thể nghiệm âm nhạc mà người ta gọi là dân gian đương đại, cứ tưởng phải vị nhân sinh dữ lắm, hoá ra lại vị nghệ thuật hơn – vì không dễ cảm thụ đối với đại đa số thính giả bình dân… Ở đây
triết sinh không bênh vực hay đả phá thái cực nào, cũng không đưa ra
Trang 4kết luận hay khuyến dụ, nhưng muốn nói lên khao khát tái định hướng và canh tân quan niệm về mục đích âm nhạc
Triết sinh không tuyệt đối hoá cảm hứng chủ quan nhất thời trong sáng tạo âm nhạc Anh không giống những người đề cao quyền bộc lộ cảm hứng bản thân bằng mọi phương thế bất chấp lợi-hại, tốt-xấu… Anh không ngạo nghễ khinh đời bằng hành vi “đem con bỏ chợ”, nhưng thể hiện sự độc sáng đi kèm trách nhiệm với “đứa con tinh thần” của mình Anh miệt mài đặt ra câu hỏi mang tính tự vấn và định hướng: “Rốt cuộc,
vì đâu tôi làm thế?” Hay nói khác đi, liệu giá trị thẩm mỹ trong sản phẩm âm nhạc của anh có được đặt trong tương quan với những giá trị luân lý và nhân bản hay không?
Dưới lăng kính đạo đức, triết sinh nhập vai nghệ sĩ trình diễn Trên sân khấu, anh ý thức nhiệm vụ cao cả của mình: giao tiếp và thông tri với triệu triệu con tim bằng nhạc ngữ - thứ ngôn ngữ chung, với một ngôn trình riêng trong tư cách của một “cư dân hoàn vũ” Thế nên, anh không độc tôn hay áp đặt những tư kiến, tiên kiến, lề thói… trên người khác Anh thể hiện cái tôi độc sáng nhưng không lập dị Bởi lẽ, màn trình diễn của anh không chỉ mang mục đích giao tiếp và thông tri thôi đâu, những còn phải nhắm đến cuộc hoán cải, hướng con người ta đến Chân-Thiện-Mỹ không tách rời Triết sinh không xem âm nhạc như trò chơi của riêng nó, nghĩa là cho rằng cái-hay cái-đẹp của âm nhạc chỉ hệ nơi hình thức mà chẳng đoái hoài đến ý nghĩa Anh không cho rằng người ta đang “cưỡng hiếp âm nhạc” khi bắt nó phải chăm lo cho điều tốt điều thiện của nhân loại Đối với anh, biểu diễn âm nhạc phải đặt trong mối liên hệ với đạo đức mới thực là văn hoá – nghĩa là có “văn” và có “hoá” Anh ý thức rằng, mọi sự phân tách nơi những điều vốn phải gắn liền với nhau đều phiến diện và dễ đi về cực đoan Trình diễn âm nhạc, đối với anh, phải có sức cảm hoá từ hình thức đến nội dung, dù hữu ngôn, vô ngôn hay ngoại ngôn
Dưới lăng kính thẩm mỹ, triết sinh là người thưởng thức âm nhạc Anh không chỉ thính thị âm nhạc bằng đôi tai hay con mắt thể lý, nhưng bằng cả khối óc và con tim – cả con người Bởi đó, anh vận dụng hiểu biết triết học về con người để hình thành cuộc thưởng thức âm nhạc xứng hợp với nhân cách bao nhiêu có thể Anh có đủ tự do để chọn lựa
cái gì nên hay không nên thưởng thức Anh không vị nghệ thuật cực đoan
– cho rằng âm nhạc chỉ là sản phẩm của nghệ thuật sắp đặt và trình
Trang 5tấu âm thanh, nên người ta có quyền thưởng thức mọi thứ âm nhạc…
Anh cũng không vị nhân sinh cực đoan – cho rằng nhạc-không-lời là món
hàng xa xỉ vì không chuyển tải được hình ảnh, nội dung tuyên truyền hay bài học luân lý nào hết… Anh không tự khuôn mình vào tuýp người
ưa nhạc thời xưa trữ tình hay nhạc thời thượng kích động Anh chỉ quan
tâm liệu thứ âm nhạc ấy có tạo điều kiện cho khả năng tư biện và chiêm niệm triết tính nơi anh được phát huy cách tự nhiên và sinh động hay chăng Anh tự tháo cởi nơi mình thành kiến – xét như một quan niệm và thái độ âm nhạc đặc thù – về một thể loại nào đó Anh sẽ không nói như bao người: “Rock, Jazz, Hip-hop: đừng bén mảng tới nhà thờ!” Vâng, anh sẵn sàng mở ra với những bất ngờ và phá cách, miễn là trong khuôn khổ
Với óc phê bình, triết sinh đủ tư cách ngồi chiếc ghế của hội đồng thẩm định Ở đây anh không phải nắm vững các tiêu chuẩn hay tiêu chí chuyên môn như một nhà lý luận âm nhạc (giai điệu, nhịp điệu, tốc độ, hoà âm, diễn lối, bố cục, ca từ…), nhưng nhiệm vụ của anh là đặt ra những câu hỏi nền tảng hơn, chẳng hạn: Điều gì làm nên và chi phối những tiêu chuẩn hay tiêu chí ấy? Khi nào phải đứng trên phương diện nghệ thuật, khi nào phải đứng trên phương diện cuộc sống để đưa ra bình phẩm hoặc phán đoán về một sản phẩm âm nhạc? Vậy nên, anh sẽ không gật đầu lia lịa khi có ai đó khẳng định rằng một giai điệu đẹp phải chuyển hành liền bậc hay cách bậc; một nền hoà âm tốt phải gồm nhiều hợp thanh thuận hay hợp thanh nghịch; một diễn lối hấp dẫn phải cho thấy nhiều hay ít biến cường và hoa mỹ; một bố cục kiểu mẫu phải có sự cân đối hay chênh pha, cải biên hay thuần nhất; ca từ hay phải có ý-tứ-vần-điệu hay khô khốc nhát gừng Anh liên tục tra vấn cơ sở, mức độ khả tín, khả dụng và khả hợp của những chỉ dẫn mang tính giáo điều trong lãnh vực nghệ thuật Anh cũng không lệ thuộc dư luận, nhận định của giới chuyên môn hay thị hiếu đám đông Anh tự hỏi “Vì đâu?”, cùng một điều, người này cho là đúng là hay là đẹp, người khác lại cho là sai là dở là xấu; dĩ nhiên anh không có ý hoạch hoẹ câu trả
lời cửa miệng của nghệ-giới giang hồ: “De gustibus non est disputandum”
(tạm hiểu: về cái “gu”, xin miễn bàn)
Với những nguyên tắc mà tri thức luận, đạo đức học và mỹ học cung cấp, triết sinh phê bình cả tác giả, nghệ sĩ biểu diễn lẫn người thưởng thức Đến đây anh gặp phải mối căng thẳng trong cái nhìn về
Trang 6quyền tự do bình phẩm và phán đoán: âm nhạc là vấn đề riêng tư hay cộng đồng? Anh trả lời – theo tinh thần triết học – rằng óc phê phán trong âm nhạc phải mang đặc-thù-tính lẫn lịch-sử-tính Bên cạnh đó cũng cần một thái độ hoài nghi triết tính giúp phân biệt triết sinh với một nhà lý luận phê bình Hoài nghi không hạ giá Chân-Thiện-Mỹ trong
âm nhạc, nhưng tôn vinh, vì qua đó triết sinh cho thấy âm nhạc thật-tốt-đẹp vô biên
Đành rằng trong âm nhạc, tư duy lý luận có thể chặn đường cảm
xúc, nhưng nếu triết sinh biết được – nhờ học triết – thế nào là Thật-Tốt-Đẹp, và bởi đâu mà con người ta có được cảm hứng và cảm xúc, anh sẽ
được giúp ích để có thêm nhạc hứng và nhạc cảm đúng-đắn và đứng-đắn Vẫn hay, ham lý luận nhiều khi đe doạ nghệ sĩ tính, nhưng những phút hồi tưởng và phản tư âu cũng giúp triết sinh biết mình, biết đời và biết người cách tinh tế hơn, nhờ đó anh tiếp cận và cống hiến cho âm nhạc cách dễ dàng và sâu sắc hơn Bên cạnh đó, triết văn thuộc nhiều triết hệ, theo dòng triết sử, cung cấp cho anh chắc không ít tài liệu về Chân-Thiện-Mỹ để tiếp cận âm nhạc cách xác đáng và ý nghĩa hơn Từ nay chẳng ai dám gọi triết sinh là “thợ lý luận” hay “thợ nhạc” nữa, cũng chẳng ai lẫn lộn anh với một nhạc sinh
Triết sinh có thể tìm thấy những mối bận tâm lẫn sự đồng cảm nơi âm nhạc Anh có thể dùng âm nhạc – thứ âm nhạc đã được anh nội tâm hoá và cá vị hoá – làm phương tiện diễn đạt tư tưởng và triết lý Anh không thể thờ ơ trước những “điểm son” lẫn “thảm hoạ” âm nhạc, không thể hững hờ trước năng động của nhịp sống âm nhạc quanh anh Anh có trách nhiệm tái định hướng thẩm mỹ và đạo đức âm nhạc bằng một tư duy đúng đắn, cũng như giúp phát triển tư duy âm nhạc theo một quan niệm mỹ học và đạo đức học đúng đắn