Thơ Lãng Mạn và thơ Trữ Tình có chung chức năng và hiệu quả của cảm xúc, có cùng thái độ thể hiện thẩm mỹ qua ngôn từ, có quan điểm lấy kinh nghiệm cá nhân để diễn đạt,... Abrams đã nhận
Trang 1Tính Trữ Tình Trong Thơ
Ngu Yên
Trang 2Tính Trữ Tình Trong Thơ
Ngu Yên
Thơ Trữ Tình (viết hoa) và thơ mang tính trữ tình (gọi tắt là thơ trữ tình, viết thường) là hai khái niệm khác nhau, tuy có chung chất giọng trữ tình Cả hai thuộc vào dòng thơ Cảm Tính (Emotional poetry) Khởi đầu khái niệm thơ Trữ Tình bắt nguồn từ văn chương Hy lạp thời cổ đại Lyric là lời có giai điệu, mang nhạc tính có thể hát lên Thường được phụ họa bởi đàn Lyre Về diện lý thuyết, triết gia Aristotle đã phân chia thi ca thời đó thành ba thể loại: trữ tình, kịch tính và sử thi Qua đến thời đại
La Mã, thơ Trữ Tình dùng để đọc, như những bài thơ ngợi ca của Horace Bên Trung Hoa, kinh thi hoặc những bài ca của Chu được xem là thơ Trữ Tình Hầu như các dòng thi ca lớn trên thế giới đều
có thơ Trữ Tình từ thuở xa xưa
Thơ Trữ Tình phát triển qua nhiều thế kỷ, trở thành một loại thơ qua đó nhà thơ trực tiếp và chủ yếu diễn tả đối tượng, đề tài bằng cảm xúc và nhận thức tình cảm từ cá nhân Vào gần cuối thế kỷ 18, phong trào thơ Lãng Mạn chủ trương mang vai trò cảm xúc trở thành động cơ và năng lực sáng tác Thơ Lãng Mạn được nâng lên đỉnh cao với những nhà thơ tên tuổi như William Wordsworth, Samuel Taylor Coleridge, Percy Bysshe Shelley, John Keats, Lord Byron Thơ Lãng Mạn và thơ Trữ Tình có chung chức năng và hiệu quả của cảm xúc, có cùng thái độ thể hiện thẩm mỹ qua ngôn từ,
có quan điểm lấy kinh nghiệm cá nhân để diễn đạt,
Trang 3có lẽ, khác nhau về chi tiết diễn đạt Có thể xác nhận, thơ lãng mạn nằm trong dòng thơ trữ tình Trong tiểu luận “Structure and Style in the Greater
Romantic Lyric”, học giả M.H Abrams đã nhận định
về những bài thơ “Romantic Lyrics” (Trữ Tình Lãng Mạn) [Nghĩa là một thể loại thơ lai xuất hiện trong
phong trào thơ Lãng Mạn.] mang đặc tính như thơ
ca ngợi (Ode) Dàn trải với phong cảnh và kích hoạt cảm xúc, ý tưởng bởi thiên nhiên Thi sĩ được
tự do trình bày tình cảm và ý nghĩ riêng tư, không
bị gò bó như chủ trương thơ khách quan của những thời đại trước
Trong khi thơ trữ tình mang tính tổng quát, được hiểu theo nghĩa danh từ “trữ tình” Có nội dung
phản ảnh hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ, cảm xúc, tâm trạng riêng của con người trước cuộc sống (Tratu.) Theo nghĩa của Wikitionary, “trữ
tình” là lời nói nghệ thuật nặng về tả tình cảm của
con người Chúng ta có thể thấy ngay, thơ trữ tình
là bản chất của thơ Trữ Tình Vì vậy, khi phong trào thơ Lãng Mạn tàn lụn vào đầu thế kỷ 19, bản chất trữ tình vẫn hiện diện trong thơ, hòa hợp với nhiều thể thơ khác Khuynh hướng thơ trữ tình luôn luôn có mặt trong mọi thời đại
Ví dụ một đoạn thơ Trữ Tình thời cổ điển của Catullus (84-54 BCE)
Lesbia, hãy sống cho tình yêu và hoan lạc
Quên đi những gì cõi chết thì thầm
Khi mỗi phút giây cần trân quí
Vì sao tình nhân để mất thời giờ?
Mặt trời lặn sẽ mọc lên rực rỡ,
Nhưng khi đời phù phiếm tàn phai
Chấm dứt vĩnh viễn mọi câu chuyện
Trang 4Ta sẽ ngủ không bao giờ thức dậy
Hãy ban cho anh một ngàn lần hôn
Thêm mười ngàn môi, hai chục ngàn nụ
Hôn cho đến khi anh trào hạnh phúc vô biên (1) (OBLV 86.)
So sánh với bài thơ trữ tình hiện đại của Laura Beth Kabakoff, (tuyển trong A Surrender To The
Moon, 2005, The International Library of Poetry.)
Hí Kịch
Anh cúi xuống môi chạm vào môi tôi,
Mặt anh trắng, môi anh đỏ,
Mũ lưỡi trai xoay ngược ra sau,
Tôi đang hôn anh hề
Bấu vào áo khoát đen của anh
Thưởng thức mùi điểm trang phấn trắng
Môi anh ấm áp,
Lưỡi vị thuốc lá thơm
Ai núp dưới lớp hóa trang? Mặc kệ,
Tôi cứ hôn anh hề
Tôi ngả người ra rồi mở mắt,
Phấn son anh nhạt nhòe
Gần thấy được gương mặt
Bây giờ, đến phiên tôi hóa trang
Anh cố gắng lau chùi nhưng vô ích
Tôi đang hôn anh hề
Cả hai đều giả mạo (2)
Thơ Trữ Tình
1 Căn Cước
Trang 5Thể loại thơ Trữ Tình được xác định rõ ràng bởi một số đặc tính Những đặc tính này trở thành những yếu tố căn bản để sáng tác thơ lãng mạn trữ tình trong mọi thời đại:
• Nghệ thuật diễn đạt mang tính chủ quan Nhận thức, tư duy cá nhân được trình bày “không giới hạn” qua cảm xúc và thẩm mỹ, dù tác giả hiện diện hoặc vắng mặt trong bài thơ
• Cảm xúc là năng lượng sáng tạo, là động
cơ khai phá ý tưởng và ngôn ngữ Tác giả chỉ sử dụng những ý nghĩ mang cảm tính (emtional thought) và loại bỏ hoặc xa lánh những ý tưởng mang tính lý trí (rational thought)
• Sự diễn tả đối tượng thơ phải trực tiếp và chủ yếu Cho dù nhà thơ trữ tình có thể kể chuyện hoặc dàn dựng truyện, nhưng bằng những lời thơ không phải dùng tường thuật mà để hát lên Họ không trình bày câu truyện mà trình bày những gì
họ cảm nhận về câu truyện
2 Học Thuật
• Cường độ cảm xúc: Thơ Trữ Tình đòi hỏi cường độ cảm xúc cao, tạo ra trạng thái đam mê, trầm lắng Dựa vào cường độ cảm xúc sáng tạo này nhà nghiên cứu phê bình có thể nhận ra câu thơ sống động hoặc vô cảm Nói bình dân hơn, câu thơ hay và câu thơ dở là do cảm xúc kích hoạt hình ảnh, tứ thơ và ngôn ngữ thơ Cảm xúc cho câu thơ
sự sống Tuy nhiên, những phân tích thời cận đại cho thấy, nhiều cảm xúc có khi làm câu thơ chết chìm
• Hai yếu tố khác đã được phân tích qua thơ của Wordsworth, một trong số thi sĩ đại diện cho phong trào Lãng Mạn và dẫn đầu thơ Trữ Tình
Trang 6trong giai đoạn này, đó là khả năng tư duy và khả năng tưởng tượng Cả hai khả năng đều là thành
tố để sáng tạo bất kỳ loại thơ nào Tuy nhiên, tư duy và tưởng tượng được sắp hàng đầu trong thơ Trữ Tình, cùng với cảm xúc tạo ra nội dung và cấu trúc bài thơ
Đối với Wordsworth, tưởng tượng là một năng lực mạnh mẽ, linh hoạt, cùng với các giác quan giải thích những gì nhà thơ cảm nhận từ thế giới chung quanh và ảnh hưởng phương cách họ phản ứng với sự kiện
• Thơ Trữ Tình liên hệ trực tiếp với giai điệu
và vần Khởi đầu loại thơ này xuất hiện trong những bài ngắn, vần điệu, du dương hát với vài loại đàn, thông thường là đàn Lyre Tuy về sau thay đổi thể thơ và giai điệu nhưng vẫn giữ nhạc tính không chỉ cho thơ mà còn cho những ca khúc
Có thể nói rằng, lời của các ca khúc trữ tình đều có thể là thơ Một loại thơ nhẹ nhàng dễ cảm hoặc cưu mang ý tưởng thi vị
Ví dụ:
Môi nào hãy còn thơm
Cho ta phơi cuộc tình
Tóc nào hãy còn xanh
Cho ta chút hồn nhiên
Tim nào có bình yên
Ta rêu rao đời mình
Xin người hãy gọi tên
[ ]
(Ru Ta Ngậm Ngùi Trịnh Công Sơn.)
Học thuật phân biệt ý tưởng cảm tính (emotional thought) và tưởng tượng cảm tính (emotional imagination) với ý tưởng và tưởng tượng thuần về
lý trí (rational thought và rational imagination) Thơ
Trang 7Trữ Tình sử dụng ý tưởng và tưởng tượng cảm tính
• Sự Trung Thực: Lời thơ có thể mang nhiều sắc thái, nghiêm túc, vui vẻ, buồn sầu Ý thơ có thể biến báo, khó hiểu, xa nguồn thực tế nhưng có hai điều kiện nhà thơ phải thi hành: 1- Cảm xúc phải chân thật Xúc động hoặc cảm giác say mê đến từ trái tim biểu lộ qua ngôn ngữ, hình tứ, không phải đến từ ý đồ Không có
gì phản thi ca cho bằng cảm xúc giả hoặc cảm xúc cố gắng biểu lộ điều không cảm xúc Khi sự giả mạo hoặc cố gắng xảy ra, người đọc
có kinh nghiệm sẽ nhận thấy khá dễ dàng Những lời thơ thuộc loại cương thi, có xác không hồn, đọc lên đầy chữ nghĩa mà lạt lẽo Lời thơ không mang được chất giọng biến hóa của vô thức, không chuyên chở được tính nhạy bén của tưởng tượng, Chỉ là những hình ảnh,
tứ thơ được sắp đặt bởi lý trí đang nỗ lực thuyết phục độc giả Chủ điểm chính ở đây là cảm xúc và nghệ thuật diễn đạt đi đôi với nhau Cảm xúc là gốc Diễn đạt là ngọn Nhìn ngọn biết được gốc Rễ khô làm sao hoa đỏ lá xanh 2- Ý và tứ phải trung thực: Ý tứ đi chung với ý định Nếu ý định ngay từ đầu đã không trung thực, thì ý tứ sẽ tự động giả mạo theo ý đồ Trung thực không nhất thiết là chân thành, ngay thật Trung thực là bày tỏ đúng đắn, gần chính xác một phần nào niềm tin, đạo lý, ý tưởng tư duy, kinh nghiệm từng trải, vào trong bài thơ Nhà thơ đối diện với bản thân, sự lương thiện, lòng tự trọng, khi sáng tác, nhất là khi đọc lại để tái xét bài thơ
Trang 8Cảm xúc chân thật và ý tứ trung thực được đặc biệt quan tâm từ phong trào thơ Lãng Mạn, khi sự diễn tả thơ một cách chủ quan được xem trọng trong phương pháp sáng tác Từ đó, cảm xúc chân thật và ý tứ trung thực trở thành khái niệm nền tảng của văn học sáng tác thơ cho đến hôm nay Một bài thơ, một ca từ, khi thiếu hai điều kiện trên, cho
dù đương thời được yêu thích, tán tụng bởi thưởng ngoạn bình dân, sẽ đi vào quên lãng một cách nhanh chóng
Ví dụ:
[ ]
Ôi đàn bà là những niềm đau
hay đàn bà là ngọc ngà trăng sao
Ôi đàn bà lại là con dao làm tim nhỏ máu
Ôi đàn bà dịu ngọt đêm qua
Hay đàn bà lạnh lùng hôm nay
Ôi đàn bà là vần thơ say
Khúc nhạc chua cay
[ ]
(Ca từ điệp khúc: Đàn Bà của Song Ngọc.)
Một bài thơ của Percy Bysshe Shelley thường được trích dẫn xem như tiêu biểu cho thơ Trữ Tình truyền thống, đó là Music When Soft Voices Die
(Âm Nhạc Khi Giọng Nói Nhẹ Nhàng Đã Chết)
Âm nhạc, khi giọng nói nhẹ nhàng đã chết,
Trong ký ức rung lên
Mùi hương, khi màu tím ngọt ngào lắng đọng, Sống giữa cảm giác phù du
Khi hoa hồng đã chết, những cánh lá
Chất cao làm chiếc giường tình;
Vì vậy ý nghĩ, khi anh đi mất,
Trang 9Chính tình yêu sẽ là giấc ngủ (3)
Thơ Trữ Tình Lãng Mạn không chỉ xuất hiện trong
đề tài tình yêu nam nữ Trong thực hành, thơ Trữ Tình có phạm vi sinh hoạt rộng lớn vì trữ tình không phải chỉ nằm ở ngôn ngữ, tứ và ý thơ, mà chủ yếu nằm ở nghệ thuật diễn đạt, Nghĩa là, bất
kỳ đề tài gì, nội dung nào, miễn là sáng tác do cảm xúc cao độ, diễn tả trực tiếp đối tượng và biểu lộ thẩm mỹ
Ví dụ bài The Test của Ralph Waldo Emerson
Tôi treo những câu thơ trong gió,
Thời gian và thủy triều sẽ tìm thấy lỗi lầm
Tất cả chỉ là sàng lọc bằng mọi cách,
Năm câu thơ kéo dài sự thật và âm vang;
Năm câu nấu trong nồi chảy tan
Hơn miền Nam khốc liệt và nóng bỏng;
Những ngôn từ không thể động lòng,
Đốt sôi sục gây cảm giác nổi lửa,
Cho ý nghĩa trắng hơn
Ánh sáng tháng bảy lúc giữa trưa
Nắng không thể tẩy trắng tuyết,
Thời gian không thể xóa hiểu biết của nhà thơ
Có phải bạn đọc thơ tìm kiếm năm câu
mà năm trăm câu kia sống sót? (4)
Bài “Khảo Hạch” đặt câu hỏi cho người đọc, tìm năm câu thơ có giá trị hơn những câu khác, nhưng không xác định năm câu này từ bài thơ nào, hoặc bài thơ đang đọc Có lẽ, ngụ ý cho chúng ta tìm kiếm những câu thơ có giá trị “tan chảy” trong một bài thơ Ngoài ra, những lời thơ “vô cảm” cần được đốt sôi cho cảm giác sôi nổi, cho cảm xúc sôi sục, đúng theo tôn chỉ sáng tác của thơ Trữ Tình Lãng Mạn
Trang 10Thơ trữ tình
Những nghiên cứu gần đây về thơ trữ tình được thực hiện bởi Topie Prints trong Victorian Sappho
(1999), Virginia Jackson trong DickinsonsMisery (2005) , được tái định nghĩa bởi Princeton
Encyclopedia of Poetry and Poetics (2012) cho
chúng ta một tầm nhìn rộng lớn hơn về tính trữ tình trong thơ “Trữ tình” được hiểu theo định nghĩa và hiểu theo kinh nghiệm của mỗi người đã thu thập
từ khái niệm trữ tình Định nghĩa trữ tình theo văn học cũng thay đổi bởi kinh nghiệm sáng tác qua nhiều phong trào và chủ nghĩa văn chương khác nhau
Phong trào Neo-romanticism (Lãng Mạn Hiện Đại) tiếp nối phong trào Lãng Mạn (romanticism) vào khoảng thập niên 1940 có phạm vi bao trùm từ triết học, âm nhạc, hội họa, văn chương cho đến đời sống xã hội, mang đến thi ca một số sắc thái mới cho thơ trữ tình Đại diện bởi Dylan Thomas, W.S Graham, Kathleen Raine, Henry Treece, Một số nhà thơ khác nghiêng về chính trị, xã hội như W.H Auden, Stephen Spencer, Cecil Day-Lewis
Neo-romanticism là phần nối dài của Romanticism,
là một cấu trúc nghệ thuật trong giai đoạn chuyển tiếp văn hóa, sinh hoạt cùng thời với chủ nghĩa Thẩm Mỹ (Aestheticism) Nghiên cứu văn học cho rằng Lãng Mạn Hiện Đại là sự phối hợp của chủ nghĩa Lãng Mạn và chủ nghĩa Hiện Thực (Realism) Lãng Mạn Hiện Đại sử dụng những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Lãng Mạn nhưng những ý tưởng, cảm xúc được tìm thấy trong hiện
Trang 11thực Hình ảnh, tứ thơ, ngôn ngữ là những gì hiện tại trong thời gian và không gian thực tế
Phong trào này thường sử dụng những chủ đề, nội dung bao gồm: 1- Khao khát tình yêu hoàn hảo, 2- phong cảnh, không gian, địa lý là những nơi không tưởng (utopia), 3- thiên nhiên bị hủy hoại, hư hao, 4- sự chết lãng mạn, 5- lịch sử trong cảnh trí, 6- huyền thoại hoặc thần thoại cổ xưa Lãng Mạn Hiện Đại chú trọng hơn về lý tính thay vì giao hết mọi sáng tác cho tình cảm Tuy vậy, căn bản chính vẫn là năng lực cảm xúc và kinh nghiệm cá nhân Tuy vẫn giữ nguồn cảm hứng từ những thần tượng thời Hy Lạp cổ điển, nhưng họ tiếp cận tinh thần và kết quả của cuộc cách mạng kỹ nghệ, ngoài ra, họ
(Enlightenment) Khuyết điểm lớn nhất của phong trào này là thiếu một quan niệm đầy đủ về tội ác trong thế giới con người
Trong văn học Tây Phương, lằn ranh phân chia giữa Lãng Mạng Hiện Đại và Tân Cổ Điển (Neoclassicism) rất mờ nhạt Cả hai có chung nhiều đặc tính và phạm vi sáng tác Các nhà thơ có thể băng qua băng lại giữa hai phong trào trong sự nghiệp sáng tác của họ
Ví dụ, trích Do Not Gentle Into That Good Night của Dylan Thomas Bài thơ nói về kinh nghiệm của tác giả chứng kiến tuổi già và cái chết của cha ông
Đừng êm ái đi vào giấc ngủ say,
Tuổi già nên nổi lửa, nổi giận vào cuối ngày;
Thịnh nộ, cảm xúc chống cơn hấp hối của ánh sáng
Dù người khôn biết cuối cùng đúng thật là bóng đen,
Trang 12Vì lời nói không còn tuôn sấm chớp
Đừng êm ái đi vào giấc ngủ say
[ ] (5)
Các nhà thơ Lãng Mạn Hiện Đại quan tâm về thi pháp theo văn phạm Khi đọc lên giữa công chúng
có thể truyền đạt ý tưởng đến người thưởng ngoạn khá dễ dàng, vì luận lý và tư duy của trí tuệ trong thơ Đại diện cho phong trào này là hai thi sĩ: John Dryden và Alexander Pope
Dòng thơ trữ tình lãng mạn càng về sau càng tách rời yếu tố thiên nhiên, để quy tụ vào nội tâm và những liên hệ tình cảm Mãi về sau, chủ đề và nội dung có tình dục lộ liễu mới xuất hiện trong thơ trữ tình
Cụm từ “trữ tình lãng mạn” dễ bị hiểu lầm qua ngữ nghĩa trong tiếng Việt Chữ Lyrics bao hàm văn cảnh của những câu nói hoặc viết bởi cảm xúc thể hiện ý tứ và lời lẽ thẩm mỹ Không nhất thiết phải
có một nội dung mùi mẫn hoặc một dãy ngôn từ hoa mỹ Những câu thơ làm dáng hoặc điệu đàn thường khi phản trữ tình, phản lãng mạn Nhà thơ cân nhắc bài thơ qua cảm xúc và cách diễn đạt ý
tứ theo cảm xúc, không phải theo ngôn ngữ với ý
đồ thuyết phục hoặc dụng tâm gây cảm động Thơ trữ tình lãng mạn thay đổi hương vị qua thời gian, nhất là qua sự nổi dậy của các phái thơ trong thời kỳ Hậu Hiện Đại Từ gần cuối thế kỷ 20 sang thế kỷ 21, thơ trữ tình lãng mạn bước sang những thái độ khác mà qua đó chúng ta có thể cảm nhận màu sắc đương đại trong tâm tư nhân loại Một trong sắc màu này là chấp nhận giới hạn khi làm người Mời đọc bài thơ trữ tình lãng mạn vào đầu