Các trường hợp lấn cấn như trên không phải hiếm hoi: chỉ cần đọc qua nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và cả những đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, chúng ta có thể nh
Trang 3TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 23 (48) - Tháng 12/2016
Xây dựng giả thuyết khoa học như thế nào?
How to formulate a scientific hypothesis
PGs.Ts Trần Thanh Ái Trường Đại học Cần Thơ
Tran Thanh Ai, Assoc.Prof Ph.D
Cantho University
Tóm tắt: Xây dựng giả thuyết thường là một trở ngại cho nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, nhất là các nhà nghiên cứu trẻ, bởi vì họ không hiểu rõ đặc điểm; ý nghĩa và mục đích của giả thuyết khoa học Bài viết này phân tích những sai lầm mà nhiều người thường mắc phải, hệ thống hóa những nguyên lý chủ yếu về giả thuyết khoa học, và đề ra cách xây dựng giả thuyết xác đáng, giúp các nhà khoa học trẻ
áp dụng dễ dàng
Từ khoá: giả thuyết khoa học, nghiên cứu thăm dò, nghiên cứu mô tả, nghiên cứu giải thích, nghiên cứu ứng dụng
Abstract: Formulating a hypothesis is often a major difficulty for many Vietnamese researchers, especially young researchers, because they do not understand characteristics, significances and aims of scientific hypotheses This paper consists to analyze errors that many people often commits, systematize main principles on hypothesis, and show how to formulate a pertinent hypothesis, in order
to help young researchers to apply it easily
Keywords: scientific hypothesis, exploratory research, descriptive research, explanatory research, applied research
Xây dựng giả thuyết là một trong các
khâu cơ bản của nghiên cứu khoa học mà
mọi nhà nghiên cứu đều phải nhuần
nhuyễn Thế nhưng thực tế cho thấy rằng
đây lại là thao tác gây không ít mắc mứu,
chẳng những cho sinh viên, học viên sau
đại học mà còn cho cả giới khoa học ưu tú
của đất nước Thật vậy, trong một bài viết
đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học, GS
Vũ Cao Đàm có kể câu chuyện như sau:
“Một vị chủ nhiệm khoa của một
trường đại học lớn ở Hà Nội, đồng thời là
chủ tịch một hội đồng khoa học và đào tạo
cấp khoa, có chức danh khoa học, luôn lớn
tiếng mắng đồng nghiệp khi họ nêu giả
thuyết cho nghiên cứu của mình Vị chủ
nhiệm khoa này nói: ‘NCKH của các anh cần gì phải có giả thuyết’ (!) Tại một viện nghiên cứu khác ở Hà Nội, ban lãnh đạo của viện đã phân vân, có nên yêu cầu các nghiên cứu sinh và học viên cao học viết giả thuyết trong luận văn của mình nữa không, vì các vị cho rằng, viết thì thừa, không viết thì thiếu!” (Vũ Cao Đàm, 2008: 29)
Các trường hợp lấn cấn như trên không phải hiếm hoi: chỉ cần đọc qua nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và cả những đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, chúng ta có thể nhận ra rằng việc xây dựng giả thuyết đã gây ra không ít
Trang 4XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT KHOA HỌC NHƯ THẾ NÀO?
khó khăn cho người nghiên cứu, thậm chí
nó hé lộ những ngộ nhận nguy hiểm của
nhiều nhà nghiên cứu về ý nghĩa, nhiệm vụ
cũng như cách thức xây dựng giả thuyết
Hiểu sai về những vấn đề này ắt sẽ làm sai
trong nghiên cứu, và hệ quả là nghiên cứu
không có giá trị Đây cũng có thể là một
trong những nguyên nhân khiến nền khoa
học nước ta vẫn lẹt đẹt phía sau các nước
trong khu vực Vì thế, việc nâng cao trình
độ và tay nghề về phương pháp nghiên cứu
khoa học đương nhiên là bao gồm việc tìm
hiểu cặn kẽ về giả thuyết trong khoa học
và áp dụng thuần thục kiến thức ấy vào
trong nghiên cứu Sau đây, chúng tôi sẽ lần
lượt phân tích các khía cạnh cơ bản liên
quan đến giả thuyết khoa học
1 Giả thuyết và giả thuyết khoa học
Trước khi đi vào chi tiết, cần phải phân
biệt hai khái niệm có tên gần giống nhau,
mà người ta thường sử dụng lẫn lộn trên
các phương tiện thông tin đại chúng, thậm
chí cả trong các tài liệu khoa học, các giáo
trình đại học và sau đại học Đó là “giả
thuyết” và “giả thiết”
1.1 “Giả thuyết” không luôn đồng nghĩa
với “giả thiết”
Trên các phương tiện thông tin đại
chúng, thời gian vừa qua người ta thường
bắt gặp cả hai từ “giả thiết” và “giả
thuyết” trong các bài báo bàn về những
nguyên nhân của các tai nạn máy bay
MH370 và MH17 Tìm kiếm trên Google
ngày 28/7/2014 với các từ khóa dưới đây
(có dùng ngoặc kép), chúng tôi nhận được
kết quả tần số xuất hiện của hai từ này như
sau :
“giả thiết” + “tai nạn” + “máy bay”:
106.000 lần
“giả thiết” + “tai nạn” + “máy bay”:
225.000 lần
Điều đó cho thấy rằng tần số sử dụng
từ “giả thiết” dù chỉ bằng phân nửa của
“giả thuyết”, nhưng giá trị tuyệt đối của nó
rất lớn, và được phân bố trên nhiều loại báo in, báo mạng Nói cách khác, xã hội đang có thói quen sử dụng lẫn lộn hai từ này, như thể đó là những từ đồng nghĩa
Sự lẫn lộn này còn xảy ra cả trong lĩnh vực khoa học : khi khảo sát tần số xuất hiện hai cụm từ “Giả thiết khoa học” và
“Giả thuyết khoa học” (ngày 28/7/2014, có dùng ngoặc kép), chúng tôi có được kết quả như sau :
“Giả thiết khoa học” : 68.200
“Giả thuyết khoa học” : 469.000 Vậy “giả thuyết” là gì, mà nhiều người
thường nhầm lẫn với “giả thiết” ? Theo Từ
điển tiếng Việt (1998) :
- giả thiết d (hoặc đg) 1 Điều cho trước trong một định lí hay một bài toán để căn cứ vào đó mà suy ra kết luận của định
lí hay của bài toán 2 Điều coi như là có thật, nêu ra làm căn cứ để phân tích, suy luận ; giả định
- giả thuyết d 1 Điều nêu ra trong khoa học để giải thích một hiện tượng tự nhiên nào đó và tạm được chấp nhận, chưa được kiểm nghiệm, chứng minh 2 (id.)
Như giả thiết (ng.2)
Nói một cách cụ thể hơn, giả thiết là một tình huống mà người ta nêu ra để xem xét những hệ quả có thể của nó, nhằm mục đích so sánh, đối chiếu, cân nhắc, chọn lựa một giải pháp Một giả thiết thường được
đặt sau từ “giả sử” hay “nếu” : nếu bỏ kỳ
thi tốt nghiệp phổ thông thì chuyện gì sẽ xảy ra ? hoặc bằng một từ diễn tả sự việc
có thể sẽ xảy ra, như tựa một bài báo: Hình
dung quan hệ Mỹ-Trung dưới thời nữ Tổng thống Mỹ Hillary Clinton (bà này hiện nay
chưa phải là Tổng thống Hoa Kỳ)
Trong khi đó, giả thuyết là một dự đoán về câu trả lời mà người ta đang tìm kiếm cho một câu hỏi ; dự đoán đó nhằm
Trang 5TRẦN THANH ÁI
27
mục đích tập trung sự tìm kiếm vào
những khả năng lớn nhất, để tăng hiệu
quả tìm kiếm Nhờ có giả thuyết mà việc
tìm kiếm được định hướng, vì nó dựa
trên ít nhiều cơ sở thực tiễn, và người đi
tìm tránh được tình trạng tìm kiếm mò
mẫm, hú họa, bột phát Bên cạnh nghĩa
chủ yếu này, “giả thuyết” còn có nghĩa
phái sinh, mà Từ điển tiếng Việt cho là
đồng nghĩa với nghĩa 2 của “giả thiết”,
“điều coi như là có thật, nêu ra làm căn
cứ để phân tích, suy luận ; giả định.”
Điều đó có nghĩa là “giả thuyết” (nghĩa
2) có thể được thay thế bằng “giả thiết”,
còn “giả thuyết” (nghĩa 1) thì không thể
được Chính sự nhầm lẫn giữa nghĩa 1
và 2 của từ “giả thuyết” là nguyên nhân
của việc sử dụng lẫn lộn như ta đã thấy ở
trên Nói cách khác, khi muốn bàn về
nguyên nhân (hay đặc điểm) chưa biết
của một hiện tượng, ta phải dùng từ “giả
thuyết”
1.2 Giả thuyết trong đời thường và giả
thuyết khoa học
Nhân đề cập đến định nghĩa “giả
thuyết” của Từ điển tiếng Việt, cũng cần
phải nói thêm là từ “giả thuyết” ban đầu
được các nhà triết học và khoa học sử
dụng trong quy trình tìm kiếm tri thức
mới, nhưng dần dần được sử dụng rộng
rãi trong xã hội (Từ điển Littré, 1959) để
tìm kiếm lời giải thích cho những sự
việc chưa rõ ràng Trong cuộc sống hàng
ngày, khi tìm hiểu một chuyện gì, chúng
ta thường nêu giả thuyết (mà ta thường
gọi là “suy đoán”) Chúng ta thường nêu
giả thuyết về những tình huống đơn giản
và quen thuộc, như khi ta đi tìm cái chìa
khóa xe máy (để trả lời câu hỏi “Chìa
khóa ở đâu?”), hoặc khi ta quan tâm đến
sự vắng mặt của một đồng nghiệp trong
cơ quan (để trả lời câu hỏi “Sao bạn X
hôm nay không đi làm?”) Nêu giả
thuyết là nhằm ướm thử một câu trả lời
cho câu hỏi của ta, và mục đích của việc
nêu giả thuyết là để việc tìm kiếm được
nhanh chóng: sau khi nêu giả thuyết, ta kiểm tra xem giả thuyết vừa nêu có phải
là câu trả lời đúng cho câu hỏi hay không Nếu câu trả lời sai, nghĩa là giả thuyết không phù hợp, ta sẽ nêu giả thuyết khác, rồi lại kiểm tra Các thao tác này được lặp lại cho đến khi nào tìm được câu trả lời chính xác Mục đích của việc nêu giả thuyết là để tìm chiếc chìa khóa mà không phải lục tung cả ngôi nhà lên, vì chỉ cần kiểm tra ở những nơi
có nhiều khả năng nhất Những nơi mà chúng ta kiểm tra đó chính là những câu trả lời phỏng đoán (tức giả thuyết) cho
câu hỏi Chiếc chìa khóa ở đâu ? Và dĩ
nhiên là trong số nhiều giả thuyết đó, chỉ
có một giả thuyết đúng mà thôi
Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, không phải chuyện nào ta cũng có quyết tâm và điều kiện để kiểm tra giả thuyết cả Ta thường chỉ kiểm tra giả thuyết đối với những vấn đề bức bách trong cuộc sống (tìm chìa khóa xe để đi làm), nhưng ta sẽ không tìm mọi cách để kiểm tra giả thuyết liên quan đến những thắc mắc, những câu hỏi không cấp thiết: ta có thể nêu giả thuyết về lý do bạn X vắng mặt (“Bạn bị bệnh”, “bạn
về quê”…) nhưng có thể không theo đuổi đến cùng việc tìm ra nguyên nhân thực sự của việc vắng mặt đó, nếu việc vắng mặt của bạn X không ảnh hưởng đến hoạt động của tập thể Chúng ta cũng quan tâm đến nhiều chuyện phức tạp hơn như muốn biết nguyên nhân của việc ngày càng có nhiều trẻ con phải mang kính, và cũng có ít nhiều giả thuyết, như các em ngồi nhiều trước máy
vi tính, phòng học thiếu ánh sáng Nhưng việc kiểm chứng các giả thuyết này thì không dễ chút nào, vì nó đòi hỏi phải có nhiều phân tích, thực nghiệm
mà chỉ có các nhà khoa học mới có điều kiện thực hiện Trong cuộc sống đời
Trang 6XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT KHOA HỌC NHƯ THẾ NÀO?
thường, có rất nhiều giả thuyết mà chúng
ta nêu ra nhưng không thể tự kiểm chứng
được bằng các quan sát thông thường, mà
phải cần đến các quy trình khoa học Đó
chính là những vấn đề mà các nhà khoa
học quan tâm
Những giả thuyết đời thường khác với
giả thuyết khoa học ở nhiều chỗ: cho dù
được kiểm nghiệm là đúng đi chăng nữa,
giả thuyết trong đời thường chỉ là một thao
tác đơn giản nhằm giúp ta có thêm thông
tin về môi trường quanh ta Những thông
tin đó dù mới mẻ, độc đáo đến đâu đi
chăng nữa (thí dụ: bạn X vắng mặt vì đã
bỏ việc, bạn X bị chuyển công tác, bạn X
đi du học…) cũng không phải là kiến thức
mới về thế giới khách quan, tức là nó
không phục vụ cho sứ mệnh của khoa học
Trong khi đó, giả thuyết khoa học là kết
quả của một quy trình phức tạp, từ phát
hiện vấn đề, nghiên cứu tài liệu, suy ngẫm
tìm tòi các khả năng có thể của câu trả lời
cho thắc mắc, trăn trở của người nghiên
cứu, để cuối cùng chọn một khả năng có
triển vọng nhất, có thể cung cấp kiến thức
mới về đối tượng nghiên cứu, và có thể tổ
chức kiểm nghiệm được
2 Giả thuyết khoa học
Như ta đã biết, mặc dù nghiên cứu
khoa học là đi tìm tòi thám hiểm để tìm ra
kiến thức mới, nhưng đó không phải là một
sự tìm kiếm cầu may Sau một thời gian
tìm hiểu một hiện tượng lạ mà mình quan
tâm, nhà nghiên cứu có thể thấy thấp
thoáng cuối con đường những dấu hiệu đầu
tiên của đích đến Đó chính là những cơ sở
đầu tiên cho việc xây dựng giả thuyết, để
sau đó tìm cách kiểm nghiệm giả thuyết
Nói về tầm quan trọng của giả thuyết khoa
học, Loubet del Bayle đã lưu ý như sau:
“Trong chu trình hệ thống hóa và các
bước tiến hành khoa học, việc nêu giả
thuyết là một giai đoạn quyết định Kết quả của nghiên cứu tùy thuộc vào giai đoạn này Chất lượng của các ý tưởng nêu lên vào lúc này sẽ quyết định giá trị của các kết quả thu được Chính ở giai đoạn này
mà các khám phá mới được tìm ra Cũng chính ở giai đoạn này, trong chu trình kỳ diệu làm cho các ý tưởng mới xuất hiện,
mà tài năng, thậm chí thiên tài của nhà nghiên cứu được bộc lộ” (2000: 177) Vậy giả thuyết khoa học là gì? Nó có những đặc điểm gì? Vai trò của nó như thế nào trong nghiên cứu khoa học mà Loubet del Bayle cho là quyết định?
2.1 Giả thuyết khoa học là gì ?
Từ tương đương của giả thuyết trong tiếng Anh là hypothesis và tiếng Pháp là
hypothèse Các từ này được kết hợp bằng
tiền tố hypo- (nghĩa là “ở dưới ngưỡng”)
và thesis / thèse (luận đề, luận thuyết, lý
thuyết) Vì thế, có thể hiểu tổng quát giả thuyết là một luận đề, luận điểm chưa hoàn chỉnh, chưa đạt đến ngưỡng được nhìn nhận là kiến thức khoa học, và cần phải kiểm chứng lại để biết nó đúng hay sai Nói cách khác, để trở thành kiến thức khoa học, giả thuyết cần phải được kiểm nghiệm nhiều lần và đều cho kết quả đúng
Như vừa nói ở trên, một giả thuyết khoa học phải hướng tới việc cung cấp kiến thức mới về thế giới khách quan, kiến thức mà cộng đồng khoa học chưa biết, hoặc chưa chứng minh được Đó chính là ý nghĩa chủ yếu của giả thuyết khoa học Thế mà trong các tài liệu về phương pháp nghiên cứu khoa học, nghĩa này không được làm nổi bật trong các định nghĩa, và nhất là lại có nhiều cách giải thích khác nhau, khiến người đọc dễ bị mơ hồ, bối rối Theo Vũ Cao Đàm, “Giả thuyết khoa học (scientific hypothesis), còn gọi là giả thuyết nghiên cứu (research hypothesis), là
Trang 7TRẦN THANH ÁI
29
một nhận định sơ bộ, một kết luận giả
định về bản chất sự vật, do người nghiên
cứu đưa ra để chứng minh hoặc bác bỏ”
(1999: 51)
Phạm Viết Vượng cũng giải thích
như sau: “Giả thuyết khoa học là một giả
định, một dự đoán hết sức độc đáo về
bản chất đối tượng nghiên cứu” (2000:
58)
Dương Thiệu Tống đã dành nhiều
dòng để định nghĩa giả thuyết như sau:
“Giả thuyết là một phát biểu có tính cách
ước đoán, một giải pháp đưa ra để thử
nghiệm về mối liên hệ giữa hai hay
nhiều ‘biến số’ hoặc hiện tượng quan sát
được” (2005: 27) Ỏ chỗ khác, tác giả
này cũng nói thêm: “Giả thuyết là một
lối giải thích tạm thời, có thể đúng, cho
các yếu tố, hiện tượng, sự kiện hay trạng
thái mà người nghiên cứu đang cố gắng
tìm hiểu” (2005: 46)
Các định nghĩa trên đây không quá
phức tạp, nhưng đối với người mới làm
quen với nghiên cứu khoa học thì không
đơn giản chút nào, và do đó, cũng không
dễ áp dụng trong việc thực hành xây
dựng giả thuyết Thật vậy, người tập sự
làm nghiên cứu sẽ bối rối khi đọc các
cụm từ “nhận định sơ bộ”, “kết luận giả
định”, “bản chất đối tượng”, “dự đoán
hết sức độc đáo”, “phát biểu có tính cánh
ước đoán”, “lối giải thích tạm thời”… vì
các cụm từ này hàm chứa nhiều ẩn nghĩa
mà nếu không hiểu được thì người học
sẽ đi từ bỡ ngỡ này đến bỡ ngỡ khác
Các định nghĩa của các tài liệu nước
ngoài cũng đa dạng không kém, mỗi
người giải thích một cách, do đó ít nhiều
cũng gây ra ngộ nhận
Fraenkel & Wallen thì giải thích
ngắn gọn: “nói một cách đơn giản, giả
thuyết là một tiên đoán về kết quả có thể
(possible outcomes) của một nghiên
cứu” (2009: 45)
Grawitz thì nói chi tiết hơn: “Giả
thuyết là một câu trả lời được đề nghị
cho một câu hỏi đặt ra Nó nhằm thiết lập mối quan hệ giữa các sự việc có ý nghĩa” (Grawitz M., 2001: 398)
Quivy & Campenhoudt thì cho rằng “giả thuyết là một đề nghị nhằm
dự đoán mối quan hệ giữa hai thuật ngữ, mà tùy theo trường hợp, có thể là những khái niệm hoặc những hiện tượng Vì thế, giả thuyết là một đề nghị tạm thời, một giả định cần được kiểm chứng” (2006: 121)
Sự khác biệt trên đây xuất phát từ góc nhìn của mỗi tác giả, và cũng bao hàm nhiều quy ước ngữ nghĩa về các thuật ngữ Để dễ hiểu và dễ áp dụng, cần phải phân biệt hai lớp nghĩa của thuật ngữ “giả thuyết”: đó là nghĩa tổng quát, có thể áp dụng cho mọi loại giả thuyết, mọi loại nghiên cứu, và nghĩa chuyên biệt, chỉ phù hợp với từng loại nghiên cứu mà thôi Vì thế, muốn không bị bối rối và có thể hiểu thấu đáo thuật ngữ này, người học cần phải tiếp cận tuần tự, từ nghĩa tổng quát đến nghĩa chuyên biệt Theo nghĩa tổng quát, giả thuyết là một tiên đoán về kết quả của một nghiên cứu tìm hiểu thế giới khách quan (để bổ sung kiến thức), là một đề nghị mà nhà nghiên cứu đưa ra để thử trả lời cho một câu hỏi nghiên cứu Đó là một khả năng có thể xảy ra, mà nhà nghiên cứu chưa biết đúng hay sai Do đó, khả năng này (tức giả thuyết) phải được kiểm chứng, nghĩa là phải được khảo sát, thí nghiệm, đối chiếu, tranh luận,
để xem nó có khớp với thực tế hay không Nếu kiểm chứng nhiều lần cho kết quả đúng, thì giả thuyết đó sẽ trở thành kiến thức khoa học, ngược lại, nếu kết quả kiểm nghiệm cho kết quả sai thì người nghiên cứu phải nêu giả thuyết khác Khi nghiên cứu sự chuyển động của các hành tinh, Copernic, Galilée và nhiều nhà thiên văn học trước hai ông thấy rằng kiến thức phổ biến thời bấy giờ là “mặt trời quay
Trang 8XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT KHOA HỌC NHƯ THẾ NÀO?
xung quanh trái đất” (thuyết địa tâm)
không phù hợp với kết quả mà họ thu được
từ các nghiên cứu Khi quan sát các mặt
trăng của sao Mộc, Galilée nghĩ đến một
khả năng khác mà ông cho là chính xác
hơn, đó là “trái đất quay xung quanh mặt
trời” (thuyết nhật tâm) Đó chính là giả
thuyết mà ông đã nêu ra và ông tìm cách
kiểm chứng giả thuyết đó
Còn nghĩa chuyên biệt của giả thuyết
thì tùy thuộc vào cách tiếp cận trong
nghiên cứu: giả thuyết trong nghiên cứu
mô tả khác với giả thuyết trong nghiên cứu
giải thích, và cũng khác với giả thuyết
trong nghiên cứu ứng dụng Đây chính là
điểm mấu chốt khiến nhiều người hiểu sai
và làm sai về giả thuyết nghiên cứu Thật
vậy, có nhiều người hiểu một cách rập
khuôn, máy móc và lệch lạc, như GS Vũ
Cao Đàm đã từng phê phán: “Ở một khoa
khác trong một trường đại học lớn, một vị
phó giáo sư bắt mọi luận văn, luận án (thạc
sỹ và tiến sỹ) phải viết giả thuyết dưới
dạng ‘Nếu…, thì…’ một cách rất khô
cứng” (Vũ Cao Đàm, 2008: 29)
Để hiểu được và áp dụng được việc
nêu giả thuyết, cần phải xác định cách tiếp
cận của nghiên cứu trước khi xây dựng giả
thuyết trong khoa học và/hoặc mục tiêu
nghiên cứu Do đó, cần phải phân biệt các
loại giả thuyết, tương ứng với các cấp độ
nghiên cứu khoa học
2.2 Các loại giả thuyết khoa học và cách
diễn đạt giả thuyết
Theo nghĩa tổng quát của giả thuyết
như đã trình bày ở trên, giả thuyết nào
cũng là một dự đoán về kết quả nghiên
cứu Thế mà kết quả nghiên cứu lại tùy
thuộc vào loại nghiên cứu Vì vậy, giả
thuyết tùy thuộc vào loại nghiên cứu, vào
cách tiếp cận khoa học mà nhà nghiên cứu
đã chọn
2.2.1 Giả thuyết trong nghiên cứu mô tả
Vì mục tiêu của nghiên cứu mô tả là tìm kiếm những kiến thức mới liên quan đến đặc điểm, đặc tính của đối tượng nghiên cứu, nghĩa là nhằm phát họa ra chân dung của đối tượng nghiên cứu, nên giả thuyết cho nghiên cứu mô tả có dạng của một mệnh đề đơn giản có thể nêu lên một đặc điểm: như đã nói ở trên, Copernic, Galilée và nhiều nhà nghiên cứu thiên văn khác nghi ngờ thuyết địa tâm, và đã nghĩ đến giả thuyết “trái đất quay xung quanh mặt trời” và sau đó Galilée đã chứng minh giả thuyết đó là đúng Newton trước khi chứng minh được định luật vạn vật hấp dẫn, cũng đã nghĩ đến “sức hút của trái đất” Gần đây, vào năm 1964 Peter Higgs cũng đã nêu ra giả thuyết về sự tồn tại của hạt boson (hạt của Chúa) và các đặc tính khác của nó bên cạnh các hạt cơ bản khác
Đó là những giả thuyết trong nghiên cứu
mô tả Người ta chỉ làm nghiên cứu mô tả khi trình độ hiểu biết về hiện tượng mà người ta quan tâm còn ít ỏi, và nghiên cứu
mô tả nhằm bổ sung thêm nhiều kiến thức
để khám phá ra bản chất của hiện tượng ngày càng đầy đủ hơn Vì thế, nghiên cứu
mô tả là cách tiếp cận quen thuộc trong nghiên cứu các hiện tượng vượt ra ngoài tầm nhận thức trực quan của con người, như các hiện tượng trong thế giới vi mô và
vĩ mô Trong lĩnh vực xã hội – nhân văn và giáo dục, người ta cũng áp dụng cách tiếp cận mô tả đối với các hiện tượng phức tạp
mà nhận thức trực quan của con người không thể bao quát hết các dữ liệu Vì để tìm hiểu đặc điểm, đặc tính, tính chất của đối tượng nghiên cứu, giả thuyết trong nghiên cứu mô tả nhằm tìm câu trả lời cho những câu hỏi về đặc điểm, tính chất như
“Như thế nào?”, “Khi nào”, “Trong điều kiện nào?”, “Ai?”, “Cái gì?”, “Ở đâu?”…
Trang 9TRẦN THANH ÁI
31
Do đó, cấu trúc của giả thuyết mô tả
cũng tương ứng với câu trả lời cho các
câu hỏi đó, nghĩa là nó nhằm nêu lên các
đặc điểm có thể có của đối tượng nghiên
cứu, như sự tồn tại của đối tượng, hình
thức, quy mô, tính chất… của đối tượng
nghiên cứu
Giả thuyết mô tả chủ yếu được diễn
đạt bằng một câu đơn giản thể hiện một
đặc điểm, tính chất mới mẻ (so với thời
điểm nêu giả thuyết) Thí dụ: “Trái đất
quay xung quanh mặt trời”, “Không khí
ảnh hưởng đến tốc độ rơi của các vật”,
“Có sự sống ngoài thái dương hệ”,
“Ngày nay, học sinh Việt Nam không
thích các môn xã hội – nhân văn”, “Học
sinh ngày càng nói dối”, “Sinh viên Việt
Nam chọn ngành học theo cảm tính”…
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu mô tả,
người ta thường thay giả thuyết bằng các
mục tiêu nghiên cứu cụ thể, nhất là các
nghiên cứu có đối tượng phức tạp, có
nhiều thông số cần phải xác định Các
mục tiêu này đóng vai trò của các “cọc
tiêu” để định hướng cho nghiên cứu Các
mục tiêu nghiên cứu thường được thể
hiện bằng các động từ hành động như
“xác định” (identify), “mô tả”, “khảo
sát”, “đo lường”… Nghiên cứu mô tả chỉ
có giá trị khi mục tiêu nghiên cứu của nó
cung cấp cho cộng đồng những kiến
thức mới mẻ về hiện tượng và sự vật, và
những kiến thức ấy phải có khả năng đặt
nền móng cho những nghiên cứu giải
thích sau này
2.2.2 Giả thuyết trong nghiên cứu giải
thích
Vì nghiên cứu mô tả chỉ cung cấp
những kiến thức ban đầu về bản chất
của sự vật và hiện tượng, nên các nhà
khoa học không chấp nhận dừng lại ở
kết quả của các nghiên cứu mô tả, mà
hướng tới nghiên cứu giải thích Trong
lĩnh vực xã hội cũng như giáo dục, đối
tượng nghiên cứu là các hiện tượng
mang tính động, luôn luôn biến đổi
trong không gian và thời gian, do đó,
nó rất phức tạp Vì thế, để tìm hiểu bản chất của nó, không thể chỉ dừng lại ở những kết quả của nghiên cứu mô tả,
mà phải nghiên cứu sâu hơn để phát hiện ra các mối liên hệ giữa các yếu tố,
mà ta gọi là “biến”, góp phần phát hiện
ra các quy luật chi phối các hiện tượng, tức giải thích hiện tượng Sự phát hiện này vừa có ý nghĩa khoa học luận (tìm hiểu bản chất vấn đề), đồng thời vừa có
ý nghĩa thực tiễn: người ta chỉ có thể
đề ra biện pháp khắc phục các hiện tượng nan giải trong xã hội và giáo dục khi đã biết rõ nguyên nhân căn cơ của chúng, hoặc khi đã phát hiện ra các quy luật chi phối chúng mà thôi Đó cũng chính là lý do khiến nghiên cứu giáo dục chủ yếu là nghiên cứu giải thích Mamdouh Dawoud (1994) cũng cho rằng khoa học nói chung không thể dừng lại ở nghiên cứu mô tả, mà cần phải vươn đến nghiên cứu giải thích:
“Mục tiêu chủ yếu của khoa học là vượt qua khỏi sự mô tả đơn giản các hiện tượng Khoa học nỗ lực cung cấp lời giải thích về các hiện tượng Không chỉ gán những cái tên cho các hiện tượng hay mô tả chúng, cũng không chỉ kết thúc một điều tra bằng các kết quả chẳng hạn như ‘Daniel thi rớt, Raymond hạng nhất’, mà phải cung cấp các biến có thể giải thích sự thất bại của Daniel và sự thành công của Raymond” (1994: 27-28)
Vì mục tiêu của nghiên cứu giải thích là tìm kiếm những nguyên nhân mới mẻ để giải thích một hiện tượng, nên giả thuyết trong loại nghiên cứu này nhằm liên kết hai loại biến trong mối quan hệ nhân – quả Sự liên kết này là kết quả của một quá trình quan sát và tìm hiểu hiện tượng trên thực địa
và nghiên cứu trong tài liệu khoa học: khi quan sát và tìm hiểu thực địa, nhà
Trang 10XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT KHOA HỌC NHƯ THẾ NÀO?
nghiên cứu phát hiện ra sự không khớp
giữa kiến thức có sẵn và hiện tượng, sau đó
nhà nghiên cứu tham khảo tài liệu khoa
học để kiểm chứng, để biết chắc rằng kiến
thức hiện hành không giải thích được
nguyên nhân hay nguồn gốc của hiện
tượng Trong loại nghiên cứu này, giả
thuyết là một câu phát biểu đặt một (hoặc
nhiều) biến độc lập trong mối liên quan với
một biến phụ thuộc: biến độc lập (tức
nguyên nhân) tương ứng với yếu tố được
nhà nghiên cứu gán cho nhiều giá trị khác
nhau để quan sát sự thay đổi của giá trị của
biến phụ thuộc (tức hậu quả, hiện tượng
muốn nghiên cứu) Vì nghiên cứu giải
thích là loại hình nghiên cứu phổ biến
nhất, có nhiều ý nghĩa khoa học nhất, nên
người ta thường lấy giả thuyết trong
nghiên cứu giải thích làm mẫu để định
nghĩa và thí dụ Đó cũng chính là lý do
khiến nhiều định nghĩa mà ta thường gặp
chỉ thích hợp cho nghiên cứu giải thích mà
thôi
Để diễn đạt giả thuyết trong nghiên
cứu giải thích, người ta có thể dùng nhiều
cấu trúc khác nhau, trong đó cốt lõi là sự
liên kết giữa hai loại biến (biến độc lập
và biến phụ thuộc) để tìm hiểu nguyên
nhân của hiện tượng mà mình quan tâm
Các thí dụ sau đây là các cách diễn đạt
khác nhau của một giả thuyết liên kết hai
biến “biết rõ mục tiêu học tập trước”
(nguyên nhân) và “tham gia tích cực” (kết
quả):
- Giả thuyết được diễn đạt bằng câu
nguyên nhân - hậu quả:
“Học sinh chểnh mảng trong việc học
tập vì không biết rõ mục tiêu học tập”
- Giả thuyết được diễn đạt bằng một
cấu trúc câu so sánh :
“Học sinh biết rõ mục tiêu học tập
trước sẽ tham gia tích cực hơn vào việc
học hơn là học sinh không biết rõ mục tiêu học tập”
- Giả thuyết được diễn đạt bằng cấu trúc câu điều kiện “nếu”:
“Nếu được phổ biến mục tiêu học tập trước khi bắt đầu môn học, học sinh sẽ tham gia tích cực vào việc học”
Tóm lại, để nêu một giả thuyết trong nghiên cứu giải thích, người ta có thể dùng nhiều cấu trúc khác nhau, miễn sao nó liên kết được các yếu tố nguyên nhân và hậu quả, để việc thiết kế kiểm nghiệm giả thuyết được dễ dàng và chặt chẽ
2.2.3 Giả thuyết trong nghiên cứu ứng dụng
Vì mục tiêu của nghiên cứu ứng dụng
là tìm cách sử dụng các kiến thức tuyên bố vào việc phục vụ tiện ích xã hội, nên giả thuyết trong nghiên cứu ứng dụng có dạng của một giải pháp cho vấn đề, tức là hàm chứa các kiến thức quy trình Trong KHXH, trong đó có khoa học giáo dục, loại giả thuyết này phức tạp và khó kiểm chứng hơn các loại giả thuyết khác, vì cần phải có thời gian, phương tiện và công cụ
để kiểm chứng giả thuyết Thí dụ trong tâm lý học thực nghiệm, nhiều liệu pháp được cho là có thể mang lại hiệu quả cao, nhưng đánh giá chúng thì vô cùng khó, vì thiếu cơ sở và phương tiện so sánh Trong giáo dục, khi ứng dụng hệ thống tín chỉ vào đào tạo đại học, các nhà quản lý giáo dục đã không tiên liệu được tất cả những biến có thể tác động vào quá trình thực hiện, nên các giải pháp đề ra (tức các thành phần của giả thuyết ứng dụng) thiếu chặt chẽ, nên phải “vừa làm vừa sửa sai”, khiến việc triển khai mất rất nhiều thời gian để điều chỉnh và hoàn thiện, và hậu quả xấu cũng không phải là nhỏ (vì không thể thực nghiệm trong phòng thí nghiệm) Việc kiểm nghiệm cũng không đơn giản, vì phải
so sánh kết quả của quy trình đào tạo cũ và kết quả của việc đào tạo theo phương thức