Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể.1 Theo đó, hành
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÀNH VI
KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM
Chuyên ngành:Luật Kinh Tế
Học phần: Luật Hình sự
Giảng viên phụ trách học phần: ThS Trần Văn Hải
SINH VIÊN THỰC HIỆN: BIỆN VŨ HOÀNG
MÃ SỐ SINH VIÊN: 20A5020731 LỚP: Luật K44G Kinh Tế
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2021
Số phách
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÀNH VI
KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế Học phần: Luật Hình sự
Ý 1
Ý 2
Ý 3
Ý 4
Ý 5
TỔNG
Giảng viên chấm 1 Giảng viên chấm 2
(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2021
Số phách
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BLHS : Bộ luật hình sự
2 TNHS : Trách nhiệm hình sự
3 CQTP : Cơ quan tư pháp
4 NXP : Nhà xuất bản
5 VKSND : Viện Kiểm Sát Nhân Dân
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA HÀNH VI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 3
1.1 Khái niệm hành vi không tố giác tội phạm 3
1.2 Cơ sở của việc quy định hành vi không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam 5
Tiểu kết chương 1 ……….5
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM TRONG BỘ LUẬT BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 7
2.1 Các quy định về hành vi không tố giác tội phạm trong Bộ luật hình sự 2015 7
2.1.1 Mặt khách quan của tội phạm 8
2.1.2 Chủ thể tội phạm 9
2.2 Quy định về hình phạt của Tội không tố giác tội phạm 10
Tiểu kết chương 2 ……… ………11
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT GÓP PHẦN NÂNG CAO HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH VỀ HÀNH VI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 12
3.1 Thực tiễn và công tác phòng, chống về hành vi không tố giác tội phạm ở Việt Nam 12
3.1.1 Thực tiễn vấn nạn về hành vi không tố giác tội phạm ở Việt Nam 12
3.1.2 Thực tiễn công tác phòng, chống hành vi không tố giác tội phạm ở Việt Nam và một số kết quả nổi bật 13
3.2 Kiến nghị, đề xuất góp phần nâng hoàn thiện chế định về hành vi không tố giác tội phạm 13
Tiểu kết chương 3 ………… ………14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, các vấn đề xã hội mới nảy sinh ảnh hưởng đến xu hướng phát triển chung của cả đất nước Quy luật của Thị trường và sự vận động không ngừng của xã hội đòi hỏi bất kỳ một Quốc gia nào cũng phải cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước sớm được hoàn thiện Không hành động phạm tội là một trong những hình thức phạm tội đang có dấu hiệu gia tăng thời gian gần đây trong đó bao gồm hành vi không tố giác tội phạm Về mặt lý luận, xung quanh vấn đề đấu tranh phòng chống tội không tố giác tội phạm, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Do đó, hành vi không tố giác tội phạm cần được nghiên cứu một cách chuyên sâu hơn và liên hệ với các pháp luật của nước ngoài để tăng cường và chỉ ra những bất cập và giải pháp
Xuất phát từ những lý do trên, sinh viên lựa chọn nghiên cứu đề tài Tiểu luận:
“Một số vấn đề về lý luận và quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
hành vi không tố giác tội phạm”
Trang 6CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA HÀNH VI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm hành vi không tố giác tội phạm
Dưới góc độ pháp lí hành vi không tố giác tội phạm là một dạng của hành vi phạm tội Do đó cần nhất thiết phải xuất phát từ khái niệm hành vi phạm tội và so sánh - đối chiếu với hành vi không tố giác tội phạm để xây dựng một khái niệm đầy
đủ và chính xác, làm nền tảng cho lập pháp hình sự và các nghiên cứu chuyên ngành Hành vi phạm tội là một dạng hành vi vi phạm pháp luật thõa mãn đầy đủ các yếu tố của cấu thành vi phạm pháp luật được quy kết là nguy hiểm đáng kể cho
xã hội và phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc của các chế tài luật hình sự Hành vi phạm tội phải hội tụ đầy đủ các dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan Trong
đó, dấu hiệu khách quan bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả, mục đích động cơ của người phạm tội
Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể.1 Theo đó, hành vi khách quan sẽ gồm các các đặc điểm:
Một là, có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, nghĩa là hành vi phạm tội xâm
phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, các quan hệ xã hội được quy định tại Điều 1 BLHS 2015 Do đó, hành vi không tố giác tội phạm là hành vi xâm phạm đến những hoạt động đúng đắn của các CQTP
Hai là, tính trái pháp luật của hình sự của hành vi khách quan là hành vi phạm
tội hải được quy định trong BLHS Một người chỉ bị coi là tội phạm khi họ thực hiện những hành vi pháp luật hình sự cấm Hành vi không tố giác tội phạm đã được các nhà làm luật ghi nhận tại Điều 19, Điều 389 của BLHS 2015
Ba là, hành vi có ý thức và ý chí Người phạm tội phải nhận thức, kiểm soát
được suy nghĩ của bản thân và điều khiển ý chí bằng hành vi vi phạm cụ thể Do đó,
1 Trường Đại học Luật Huế (2020), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB Tư Pháp Hà Nội,
Trang 97-98
Trang 7người thực hiện hành vi không tố giác tội phạm cần phải nhận thức, kiểm soát và điều khiển ý chí của mình
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho các quan hệ
xã hội được luật hình sự bảo vệ2 Biểu hiện ở các dạng như : Thiệt hại vật chất; thiệt hại về thể chất; thiệt hại tinh thần; thiệt hại về phi vật chất Mối quan hệ nhân quả là
sự liên hệ mất thiết giữa hành vi phạm tội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội xuất phát từ hành vi phạm tội đó, giữa nguyên nhân và kết quả Nếu thực tế thiệt hại đó
là không phải kết quả của hành vi phạm tội thì không có cơ để sở để xác định thiệt hại đó là hậu quả nguy hiểm mà hành vi ấy gây ra cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ vì vậy dấu hiệu hậu quả nguy hiểm và mối quan hệ nhân quả đều không bắt buộc phải có trong cấu thành của Tội không tố giác tội phạm
Hành vi không tố giác tội phạm trên nhiều phương diện khác nhau được hiểu theo những cách khác nhau Hành vi không tố giác tội phạm được hiểu là hành vi không báo cho cơ quan có thẩm quyền về một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 hoặc một trong các tội phạm được Bộ luật Hình sự quy định (tại Điều 389) mà mình biết rõ là đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện3 Về phương diện pháp lý, không tố giác tội phạm được BLHS 2015 quy
định: “ Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc
đã được thực hiện mà không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội không
tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Bộ luật này.”4 Nhận thấy rằng BLHS chưa đưa ra khái niệm pháp lý hành vi không tố giác tội phạm mà chỉ liệt kê các trường hợp phải chịu TNHS Do đó việc không cụ thể hóa khái niệm về hành vi không tố giác tội phạm trong quy định pháp luật sẽ gây khó khăn trong việc xác định hành vi và áp dụng pháp luật trong các trường hợp cụ thể
2 Trường Đại học Luật Huế (2020), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB Tư Pháp Hà Nội,
Trang 100-101
3 Trường Đại học Luật Huế (2020), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB Tư Pháp Hà Nội,
Trang 154
4 Điều 19 Bộ luật hình sự 2015
Trang 8Từ những vấn đề trên sinh viên đưa ra khái niệm như sau: Hành vi không tố
giác tội phạm là hành vi phạm tội của một người khi biết rõ tội phạm đang chuẩn
bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không thông báo cho cơ quan
có thẩm quyền biết, mặc dù không tham gia vào thực hiện tội phạm
1.2 Cơ sở của việc quy định hành vi không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam
Trong những số liệu của những năm gần đây, tỷ lệ tội phạm của cơ quan điều tra luôn tăng cao tuy nhiên, số lượng vụ án chưa được khám phá vẫn còn rất lớn Nguyên nhân dẫn đến việc này không chỉ xuất phát từ hiệu quả làm việc của cơ quan chức năng, thủ đoạn ngày càng tinh vi của các đối tượng phạm tội, mà còn phụ thuộc rất lớn vào thái độ tham gia đấu tranh với tội phạm của quần chúng nhân dân Việc người dân không thực hiện nghĩa vụ trong việc tố giác tội phạm không những gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan chức năng, trong nhiều trường hợp còn kéo theo những hậu quả nghiêm trọng cho
xã hội Đặc biệt trong một số trường hợp, việc không tố giác tội phạm có thể là một trong những nguyên nhân gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, ví dụ như trong các vụ khủng bố, giết người, hiếp dâm, Với mức độ nguy hiểm cho xã hội
mà hành vi không tố giác tội phạm được đưa vào pháp luật hình sự từ rất sớm Thời nhà Lê, để bảo vệ lợi ích của nhà nước phong kiến, hành vi không tố giác tội phạm
đã được đưa vào “Quốc triều hình luật” và cho đến năm 1985, khi BLHS ra đời và trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Tội không tố giác tội phạm trở thành một trong những chế định phản ánh các tội phạm xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các CQTP cụ thể quy định tại Điều 19
Tội không tố giác tội phạm được pháp luật hình sự Việt Nam quy định tại Chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp của BLHS Hoạt động tư pháp là một trong những hoạt động của Nhà nước trong việc bảo vệ anh ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của các CQTP Theo Điều 4 BLHS
2015 : “Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh, phòng ngừa và
Trang 9phòng chống tội phạm.” Có thể nói, tố giác tội phạm với cơ quan có thẩm quyền
là một trong những hành động tích cực bởi nếu như biết về một hành vi phạm tội nào đó mà không tố giác thì sẽ tạo ra nhiều khó khăn cho việc ngăn chặn những thiệt hại từ hành vi phạm tội, đồng thời gây ra nhiều trở ngại trong việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử tội phạm
Từ đó có thể rút ra rằng hoạt động của các CQTP giữ vị trí rất quan trọng nên cần phải kiên quyết phát hiện, xử lý bất cứ người nào có hành vi cản trở, gây khó khăn và nhìn nhận tố giác tội phạm là nghĩa vụ của công dân trong công cuộc hỗ trợ Nhà nước đấu tranh với tội phạm Tố giác tội phạm ngoài ý nghĩa ngăn chặn người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, bảo vệ chính mình cũng như người khác khỏi việc vị xâm hại đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp, còn là cách thức giúp cơ quan có thẩm quyền tiếp cận thông tin
về tội phạm để thực hiện công tác điều tra, truy tố, xét xử nhằm đảm bảo thực thi công lý cũng như răn đe, giáo dục người phạm tội
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 của nghiên cứu này, để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, đề tài đã hệ thống hóa và phân tích khái quát về tội phạm , khái niệm về hành vi không tố giác tội phạm, đặc trưng, biểu hiện cơ bản, tác hại của không tố giác tội phạm cũng như khái niệm về CQTP Những vấn đề lý luận nói trên sẽ được đối chiếu với các quy định ở chương 2
Trang 10CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM TRONG BỘ
LUẬT BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
Tội không tố giác tội phạm không phải là quy định mới trong pháp luật hình
sự Việt Nam mà đã được hình thành từ lâu đời, điều đó thể hiện được sự quan tâm của các nhà luật pháp đến tính thiết thực, hậu quả nguy hiểm của hành vi không tố giác tội phạm gây ra Qua việc phân tích cụ thể các vấn đề, sinh viên sẽ phân tích quy định tội không tố giác tội phạm BLHS 2015
2.1 Các quy định về hành vi không tố giác tội phạm trong Bộ luật hình sự 2015
Không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 19 Chương III – Tội phạm
Phần Chung của BLHS 2015 Cụ thể:
Điều 19 Không tố giác tội phạm
1 Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc
đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không
tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 389 của Bộ luật này
2 Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này
3 Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều
389 của Bộ luật này
Hành vi không tố giác tội phạm được xác định dựa trên hành vi tội phạm khác chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự Chính vì vậy, không tố giác tội phạm luôn
có mối quan hệ mật thiết với các hành vi thực hiện tội phạm khác Tuy nhiên, người
Trang 11thực hiện hành vi không tố giác tội phạm không được coi là đồng phạm với người
thực hiện hành vi phạm Cũng giống như tội che giấu tội phạm, hành vi không tố
giác tội phạm có thể là đồng phạm với tội phạm không được tố giác nếu giữa những người trong đồng phạm có sự thỏa thuận, hứa hẹn hoặc bàn bạc trước khi tội phạm được thực hiện.5
2.1.1 Mặt khách quan của tội phạm
Quy định về Tội không tố giác tội phạm tại Điều 390 BLHS 2015 cần được xem xét tại Điều 389 mới có thể xác định được người nào biết rõ một trong cách phạm tội được quy định tại Điều 389 của bộ luận này là phạm tội hay không Quy định này chỉ rõ, một người chỉ được xem là không tố giác tội phạm khi tội phạm mà
họ đã thực hiện hành vi không tố giác đó là những tội liệt kê tại Điều 389 cụ thể là
84 tội danh Ngoài những tội được nêu ra tại Điều 389, người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện dù là với bất kì tội phạm nào cũng không bị truy cứu TNHS về hành vi không tố giác tội phạm.Việc quy định ở dạng liệt kê như vậy có những bất cập như sau:
Một là, không có căn cứ để quy định việc một người thực hiện hành vi không
tố giác tội phạm ở một số tội liệt kê tại Điều 389 là tội phạm còn những tội phạm khác lại không phải Ví dụ như cùng là hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người, gây hậu quả nặng nề cho xã hội nhưng một người chỉ bị coi là phạm Tội không tố giác tội phạm mà họ không tố giác là Tội giết người quy định tại điều
123 BLHS 2015 trong khi đó nếu họ biết về Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126) thì có cần tố giác hay không?
Hai là, không có căn cứ để quy định tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng của tội
phạm này mà lại không quy định tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng của tội phạm khác Việc quy định như vậy sẽ không thể hiện được căn cứ mà các nhà lập pháp dựa vào khi quy định những loại tội phạm cần phải tố giác mà nếu không tố giác thì
sẽ bị truy cứu TNHS Tội không tố giác tội phạm
5 Trường Đại học Luật Huế (2020), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB Tư Pháp Hà Nội,
Trang 155