1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO CHO VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC NÀY.

12 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 67,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những quyền tố tụng dân sự cơ bản và vô cùng quan trong là quyền tự định đoạt của đương sự, là một quyền tự do ý chí của đương sự trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING

TIỂU LUẬN MÔN:

LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Đề tài số 1 :

PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM

BẢO CHO VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC NÀY.

Họ và tên:

Ngày, tháng, năm sinh: …….

MSSV: …

Lớp: ….

Ngành: …….

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

PHẦN NỘI DUNG 4

1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 4

1.1 Khái niệm về quyền tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật dân sự 4

1.2 Cơ sở của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 4

1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 6

2 PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ 6

2.1 QTĐĐ của đương sự trong việc khởi kiện vụ án dân sự 6

2.2 QTĐĐ của bị đơn trong việc đưa ra yêu cầu 7

2.3 QTĐĐ trong việc đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 7

2.4 QTĐĐ trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu 8

2.5 QTĐĐ của đương sự trong thỏa thuận giải quyết vụ án dân sự 8

2.6 QTĐĐCĐS trong việc kháng cáo, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu kháng cáo đối với bản án, quyết định giải quyết VADS 8

3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO CHO VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC NÀY 9

PHẦN KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Nước ta trong giai đoạn phát triển như hiện nay, đứng trước nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đứng trước sự phát triển mới của toàn nhân loại Giai đoạn phát triển này thì xã hội hình thành và tồn tại nhiều quan hệ pháp luật Trong đó các tranh chấp trong quan hệ dân sự phát sinh ngày càng nhiều, dẫn đến việc giải quyết phải luôn đảm bảo được việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định của pháp luật Một trong những quyền tố tụng dân sự cơ bản và vô cùng quan trong là quyền tự định đoạt của đương sự, là một quyền tự do ý chí của đương sự trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của minh trong quan hệ tranh chấp.Tôn trọng sự tự do thỏa thuận và tự định đoạt của đương sự là một trong những nét đặc trưng của quan hệ dân sự và nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự nhằm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước các cơ quan tiến hành

tố tụng Vậy Bộ luật tố tụng dân sự có những quy định nào về các vấn đề pháp lý về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Để làm rõ hơn những luận điểm

này, tác giả đã chọn Đề tài số 1 “Phân tích nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc này” để làm đề tài nghiên cứu trong bài tiểu luận này.

Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu đề tài, tác giả có tham khảo tài liệu từ nhiều nguồn nhưng cũng không tránh khỏi sai sót, kính mong quý thầy cô góp ý để bài tiểu luận của tác giả được hoàn chỉnh hơn Tác giả xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG

SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm về quyền tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật dân sự

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng để họ tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình trong quá trình tham gia tố tụng Đây được xem là nguyên tắc có cội nguồn từ các nguyên tắc trong giao lưu dân sự Trong đó các quan hệ dân sự được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các chủ thể

Xuất phát từ khái niệm quyền tự định đoạt của đương sự :“Là một quyền tố tụng được quy định trong pháp luật TTDS, theo đó đương sự có quyền tự quyết định về việc tham gia TTDS, tự quyết định và sử dụng những biện pháp cần thiết mà pháp luật trao cho nhằm bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp tại Tòa án theo quy định của pháp luật” Từ đó cho thấy, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự chính là sự ghi nhận

về mặt nội dung quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS, đây được xem là những quyền năng cơ bản của các đương sự khi tham gia vào hoạt động tố tụng, chính vì vậy pháp luật quy định quyền tự định đoạt của đương sự là một trong nhưng nguyên tắc cơ bản và quan trọng đối với đương sự nói riêng và trong hoạt động TTDS nói chung

Từ những phân tích trên, có thể rút ra một kết luận: “Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam, theo đó đương sự có quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong việc lựa chọn thực hiện các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, quyết định các quyền, lợi ích của mình trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền tự định đoạt của họ trong TTDS”

Mặc dù, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là sự thể hiện ý chí tự do của đương sự trong việc giải quyết tranh chấp nhưng không có nghĩa là đương

sự được phép sử dụng nó một cách tùy tiện mà phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật

1.2 Cơ sở của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng

dân sự

Cơ sở lý luận: Quyền tự định đoạt trong quy định trong TTDS là sự phản ánh của

quyền tự định đoạt của các chủ thể trong mối quan hệ dân sự” Quyền tự định đoạt của đương sự trong dân sự bao gồm các nguyên tắc: Nguyên tắc tự do, tự cam kết, thỏa thuận( Điều 4 BLDS) Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền dân sự( Điều 9 BLDS) Nguyên tắc hòa giải ( Điều 12 BLDS) Trong TTDS nguyên tắc quyền tự định đoạt thể hiện ở khả năng tham gia tố tụng, tự do định đoạt quyền dân sự của mình và các quyền về phương tiện tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại Từ phân tích trên có thể thấy rằng nguyên tắc quyền tự định đoạt trong tố tụng dân sự là cac quyền được quy định

Trang 5

trong các quy phạm pháp luật hình thức, được phái sinh dựa trên các nguyên tắc giao lưu dân sự trong pháp luật nội dung

Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự luôn gắn liền với quyền tự định đoạt của chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung Có thể nói rằng các quy định của pháp luật nội dung là cơ sở pháp lí để quy định quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Tuy nhiên, quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự còn phụ thuộc vào những quy định của pháp luật về năng lực hành vi chủ thể và thẩm quyền xét

xử của tòa án, Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự có cội nguồn từ các nguyên tắc trong giao lưu dân sự Trong đó, các quan hệ dân sự được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các chủ thể 4 Việc một chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình sẽ dẫn đến tranh chấp Khi tranh chấp được đưa đến tòa án giải quyết, các chủ thể có quyền, lợi ích cần giải quyết trong vụ việc là các đương sự có quyền tự quyết định các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích của mình trước Tòa án và quyết định quyền, lợi ích của mình trong vụ việc

Mặt khác, nguyên tắc quyền tự định đoạt được đặt ra do yêu cầu đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự Theo quy định tại Điều 9 BLTTDS: “Ðương sự có quyền tự bảo vệ hay nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ.” Như vậy, pháp luật cho phép đương sự có quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Và muốn việc đảm bảo quyền và lợi ích của đương

sự thì cần có những quy định giúp đương sự thực hiện tốt điều này Đương sự có quyền khởi kiện, yêu cầu tòa án giải quyết vụ việc dân sự khi quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm Việc yêu cầu và thay đổi yêu cầu này hoàn toàn dựa trên ý chí của đương sự Hơn nữa, để bảo đảm quyền tự bảo vệ của đương sự pháp luật còn quy định trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung yêu câu… Nếu không có quyền tự định đoạt trong TTDS thì sẽ không thể bảo đảm được nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự Bởi vậy quy đinh về quyền tự định đoạt của đương

sự tại điều 5 BLTTDS là rất cần thiết

Các quan hệ dân sự bao trùm lên tất cả các mặt của đời sống xã hội nên các tranh chấp xảy ra cũng rất nhiều Vì vậy, nếu tòa án muốn giả quyết các vấn đề phát sinh một cách nhanh chóng và kịp thời, nâng cao hiệu quả cũng như sự tín nhiệm của nhân dân thì việc quy định Chính vì lẽ đó pháp luật quy định cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức một

số quyền lợi nhất định để họ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị người khác xâm phạm Cụ thể, đương sự( cơ quan, tổ chức, cá nhân) có quyền tự mình thực hiện khởi kiện và yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự tùy vào tính chất của vụ việc Đây là một trong những quyền tố tụng quan trọng của đương sự, nhờ vào quyền tự định đoạt mà đương sự được quyền chủ động trong việc khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dẫn tới vụ việc dân sự được giải quyết nhanh chóng, đúng đắn, khách quan hơn

Cơ sở thực tiễn: Về tính chất, các tranh chấp dân sự không mang tính chất nguy

hiểm như vi phạm quy phạm pháp luật hình sự và chư đến mưc bị coi là tội phạm Các tranh chấp trong dân sự là trách nhiệm giữa các công dân với nhau Khi các tranh chấp

Trang 6

xảy ra, các đương sự được quyền tự do thể hiện ý chí của mình, tự bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình bằng cách yêu cầu tòa án giải quyết vụ việc dân sự của mình Và tòa án chỉ đươc giải quyết khi có yêu cầu của đương sự và khi nhận được yêu cầu của đương sự thì tòa án cần tiến hành xem xét và giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự

1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng

dân sự

Thứ nhất, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự Khi tham gia vào các quan

hệ dân sự và xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, các chủ thể có thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết hay quyết định việc có khởi kiện hay không khởi kiện ra trước Tòa án

để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đương sự yêu cầu tức là phụ thuộc vào ý chí của đương sự từ đó đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự

Thứ hai, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự giúp xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương

sự Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự xác định rõ: “Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”

Thứ ba, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự giúp ổn định trật tự xã hội, giữ vững kỉ cương xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích của nhân dân Pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận và bảo đảm cho các chủ thể trong quan hệ dân sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình đã góp phần làm giảm bớt áp lực giải quyết các tranh chấp của Toà án, giúp cho việc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, tiết kiệm được chi phí

và thời gian của Tòa án và của đương sự

2 PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ

2.1 QTĐĐ của đương sự trong việc khởi kiện vụ án dân sự

Quyền khởi kiện VADS là một trong các quyền TTDS của đương sự, được thực hiện đầu tiên trong quá trình TTDS Với quy định tại các Điều 4, 5, 9, 186, 187 BLTTDS, Nhà nước chính thức ghi nhận quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan tổ chức yêu cầu TA bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác Thực hiện quyền khởi kiện chính này là một biểu hiện của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong khởi kiện VADS Đương sự có thể tự mình hoặc ủy quyền cho người khác khởi kiện VADS (nếu đủ năng lực hành vi TTDS) hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự

sẽ quyết định việc khởi kiện (nếu đương sự không đủ năng lực hành vi TTDS)

Khoản 1 Điều 4 BLTTDS quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác”

Trang 7

Khoản 1 Điều 5 BLTTDS quy định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó” Điều 186 BLTTDS về quyền khởi kiện vụ án: “Cơ quan,

tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ

án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”

Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 184 BLTTDS quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ dân sự thì đương sự được tự định đoạt trong việc yêu cầu áp dụng các quy định về thời hiệu khởi kiện Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khi

có yêu cầu của một bên hoặc các bên và yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc

2.2 QTĐĐ của bị đơn trong việc đưa ra yêu cầu

Bị đơn cũng có quyền quyết định đưa ra yêu cầu phản tố, chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

Khoản 4 và 5 Điều 72 BLTTDS quy định như sau: “3 Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; 4 Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này”

Trong tố tụng dân sự thì quyền phản tố được hiểu là bị đơn khởi kiện ngược lại nguyên đơn về một yêu cầu khác yêu cầu nguyên đơn đưa ra Còn phản đối là việc bị đơn đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ để không chấp nhận hoặc bác bỏ khởi kiện của nguyên đơn Đồng thời, khoản 1 Điều 200 BLTTDS quy định: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”

2.3 QTĐĐ trong việc đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người tham gia vào

vụ kiện của người khác để bảo vệ quyền, lợi ích độc lập của mình đối với đối tượng tranh chấp mà Tòa án đang xem xét và giải quyết Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn, bị đơn nên yêu cầu của họ có thể chống lại cả nguyên đơn, bị đơn Như vậy, khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, là cơ sở pháp lý làm phát sinh các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc khi có đơn khởi kiện hoặc yêu cầu của các chủ thể Đương

sự có quyền quyết định khởi kiện hay không khởi kiện, nội dung khởi kiện và bị đơn có

Trang 8

quyền đưa ra yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập với đương sự

2.4 QTĐĐ trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu

Căn cứ các Điều 70, 71, 217, 245 và 249 BLTTDS, đương sự có quyền quyết định việc thay đổi, bổ sung hay rút yêu cầu Theo khoản 4 Điều 70 BLTTDS thì đương sự có quyền: “Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này” Theo khoản 4 Điều 71 BLTTDS thì nguyên đơn có quyền: “Thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện” Tuy nhiên, tùy từng giai đoạn tố tụng mà việc thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện có thể được tòa án chấp nhận hoặc không, căn cứ khoản 1 Điều 244: “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”

Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc rút yêu cầu tức là quyền quyết định rút đơn khởi kiện đối với nguyên đơn, rút yêu cầu phản tố đối với bị đơn, rút yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Thực chất, việc rút yêu cầu là hành vi định đoạt của đương sự được biểu hiện ở hai khía cạnh là sự từ bỏ yêu cầu (dựa trên luật nội dung) và sự từ bỏ phương tiện bảo vệ yêu cầu bằng con đường

tố tụng (thông qua Tòa án) hoặc chỉ là từ bỏ phương tiện bảo vệ yêu cầu bằng con đường

tố tụng (trong trường hợp đương sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ đối với đương sự khác không muốn tiếp tục tranh chấp với đương sự khác)

2.5 QTĐĐ của đương sự trong thỏa thuận giải quyết vụ án dân sự

Khoản 2 Điều 5 BLTTDS 2015 quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân

sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội” Để tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện quyền này thì Điều 10 BLTTDS 2015 quy định

về hòa giải trong TTDS như sau: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” Cụ thể, theo quy định tại Điều 205 BLTTDS 2015, thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không hòa giải được (Điều 206, 207 BLTTDS) Việc hòa giải phải được tiến hành theo nguyên tắc: tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc

đe dọa vũ lực, bắt các đương sự thỏa thuận không phù hợp ý chí Theo quy định tại Điều

212 BLTTDS: “Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không

có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự”.Còn nếu như đang trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm mà các đương sự có thỏa thuận được với nhau thì HĐXX sơ thẩm hoặc phúc thẩm ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án (Điều 246, 300 BLTTDS)

Trang 9

2.6 QTĐĐCĐS trong việc kháng cáo, thay đổi, bổ sung và rút yêu

cầu kháng cáo đối với bản án, quyết định giải quyết VADS

Quyền kháng cáo bản án, quyết định giải quyết VADS là một quyền tố tụng cơ bản

của đương sự Thông qua việc kháng cáo, đương sự chống lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong kháng cáo, đương sự cũng có quyền tự định đoạt Tại điều 271, 284, 293 BLTTDS năm 2015 đã quy định khá đầy đủ các vẫn đề liên quan đến kháng cáo, đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong việc kháng cáo

3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO CHO VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC NÀY

Thứ nhất, nên quy định rõ ràng và cụ thể hơn nữa sự khác biệt về địa vị tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập so với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập, bởi khi tham gia tố tụng với những quyền

và nghĩa vụ khác nhau thì vai trò của các chủ thể sẽ khác nhau

Thứ hai, không nên quy định trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại tòa phúc thẩm phải được sự đồng ý của bị đơn Bởi nó sẽ vi phạm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự; do trong các tranh chấp dân sự, đương sự được quyền tự mình quyết định yêu cầu hay không yêu cầu Tòa án giải quyết, thì họ cũng có quyền thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của mình ở mọi giai đoạn tố tụng

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

và trình tự, thủ tục giải quyết các việc dân sự Theo hướng có sự chuyển hóa từ loại việc này sang loại việc kia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đương sự khi tham gia vào quá trình tố tụng để đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Thứ tư, việc hiểu và thực hiện pháp luật tố tụng đối với những người tham gia tố tụng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và cần thiết vì, khi những người tham gia tố tụng hiểu

và thực hiện đúng pháp luật tố tụng nói chung và nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự nói riêng, họ sẽ bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc được nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật

Do đó, Nhà nước cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân

Ngày đăng: 12/08/2022, 14:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w