Về văn xuôi tôi đã giới thiệu và trình bày tổng quát trong bộ sách, hai cuốn, “Ý Thức Sáng Tác Truyện,” bao gồm những điều chính yếu cần biết về lý thuyết văn chương, phong trào văn học
Trang 1Thơ Tái Tạo
Giải Thuyết
và Thực Hành Phần Một
Trang 4Insperative Esquisse Press
United State - Vietnam Copyright: Thiannguyen@gmail.com
First Edition 2018
Trang 5“Để có thể sánh vai với thơ thế giới, người làm thơ Việt nhất định phải có kiến thức sâu rộng về văn hóa, văn học toàn cầu và kinh nghiệm thực hành sáng tác đậm đà trung thực Sau đó, phải chọn con đường đi không giống họ, không theo những nhà thơ danh tiếng, để khi thơ Việt được phát hiện trên diễn đàn thế giới, là những kinh ngạc có giá trị trong thi ca và lịch sử.” (Trích trong Sách Chưa Viết, trang đầu tiên.)
Trang 6Tho Tái Tao Thực Hành Văn Học
Biên khảo thơ về giả thiết thơ
ngu yên
Trang 7
Xác Định Đôi Điều
Của Nghĩ
Công việc sửa chữa và tái tạo (sửa-tạo) một văn bản văn chương áp dụng cho mọi thể loại chữ viết Trong cuốn sách này, đặc biệt tôi sẽ bàn thảo nhiều về thi ca, ngoại trừ học thuật tu sửa và tái tạo, sẽ trình bày một số lập luận, học thuyết, kỹ thuật về thơ và sáng tác thơ
Riêng vế giả thiết thơ Tái Tạo là một lập luận mới, dựa lên những tư duy giải quyết: Tại sao nhà thơ thường xuyên lập lại ý tứ thơ của mình? Tại sao nhà thơ thường tắc tị trong lúc đang sáng tác?
Về văn xuôi tôi đã giới thiệu và trình bày tổng quát trong bộ sách, hai cuốn, “Ý Thức Sáng Tác
Truyện,” bao gồm những điều chính yếu cần biết
về lý thuyết văn chương, phong trào văn học, học thuật và kỹ thuật sáng tác văn xuôi từ nửa thế kỷ
19 đến năm 2018 Vì vậy, trong chủ đề Thơ Tái Tạo, tôi xin chú trọng hơn về thơ
Nghệ thuật Sửa-Tạo Văn Bản là công việc thường xuyên thực hiện trước khi tác phẩm được phát hành Hầu hết chú trọng về sửa đổi và điều chỉnh Trong khi, hiện nay, thế kỷ 21, văn học bắt đầu quan tâm đến tái tạo văn bản đã có Đây là một diễn trình phát xuất từ khái niệm tái dụng và tái lập của Hậu Hiện Đại nhưng khác hơn, thay vì sử dụng các văn bản của các tác giả khác, tại sao không tái lập, tái dụng văn bản của chính mình? Công việc này đưa đến quan điểm: Tái dụng tái lập văn bản của người sáng tác sẽ là nghệ thuật tái tạo, sáng tạo lại, từ văn bản đã hiện diện Mục đích: 1- Tạo
Trang 8một văn bản hài lòng hơn, ý nghĩa hơn, thẩm mỹ hơn 2- Tạo một văn bản khác hẳn văn bản cũ trên cùng một số nền tảng đã chọn lựa Kết quả vẫn giữ được di sản của mình và tự cho phép thực hiện lại tác phẩm sau một thời gian suy nghĩ thường xuyên
và sâu xa hơn về những gì muốn viết Chẳng phải hầu hết các tác giả đọc lại tác phẩm của mình đã phát hành đều nhìn thấy có nhiều sơ sót, lỗi lầm hoặc đôi khi, hoàn toàn sai trái?
Hành trình Sửa-Tạo Văn Bản mang vai trò ý thức sáng tác lên ngang hàng hoặc vượt qua uy lực của
vô thức sáng tác đã ngự trị trong thế kỷ 20 Thời đại khoa học kỹ thuật phát triển và ngự trị đã điều khiển vô thức của thế giới Chức năng của ý thức trở thành quan trọng, cần thiết để kiểm soát và quyết định Vượt qua hiểu biết bằng hiểu biết Đồng thời đề phòng những tính tạp nham, vô lý,
mơ hồ, hỗn loạn đến từ vô thức Chọn lựa ưu điểm của vô thức và loại bỏ những khuyết điểm của nó
là một việc phải làm của ý thức
Trong hiện tình thế giới, nghệ thuật Tái Tạo được các nhà sáng tác quan niệm gần gũi với tu sửa, điều chính, thay đổi Nếu có bàn đến tái tạo, dường như chỉ trong phạm vi tái sáng tác, không phải tái sáng tạo
Tiến thêm bước nhảy vọt, nghệ thuật tái tạo là một giả thiết trong nghệ thuật làm thơ, được nghiên cứu để cống hiến cho bất kỳ nhà thơ Việt nào đang tìm cách bứt phá những ràng buộc chung quanh hoặc đang đối diện với tắc tị Tái tạo thơ cũ của mình, tái tạo thơ đã có của thế giới, cõi tái tạo mênh mông sâu thẳm tưởng chừng vô giới hạn Sự hiểu biết và kinh nghiệm về lãnh vực này sẽ tạo cho nhà sáng tác một lòng tự tin và mở rộng khả
Trang 9năng nhận thức, thu thập những gì trước kia còn nghi ngờ, e ngại
Đây không phải là những quan điểm sau cùng, là những suy tư khởi đầu, với hy vọng những nhà thơ tài hoa sử dụng, gia bổ, phát kiến, để vượt lên căn bản này, phát huy và thi thố cùng thế giới, nhất là những thế hệ nhà thơ mai sau
Xin nhận lãnh những sai lầm trong ý định làm sai làm lại, cố làm tốt hơn Xin góp một tay
Ngu Yên cảm kích Houston, Texas, 2018
Trang 10Nghệ Thuật Sửa Tạo
Sửa đổi và tái tạo là hành động văn học, là nghệ thuật sáng tác Không phải là công việc hoàn toàn mới mẻ hoặc một ngành nghệ thuật mới xuất hiện Nhà nghiên cứu Hannah Sullivan xác nhận, phần sửa chữa, sửa đổi văn bản đã có từ xưa Phần tái tạo văn bản tuy hiện diện trong thế kỷ 20 nhưng được xem là phong trào văn học thực nghiệm sáng tác vào thế kỷ 21
Sullivan nhận xét, đối với văn hóa văn chương đương đại, sửa tạo hầu như đồng nghĩa với “đọc lại trong tinh thần phê duyệt” (critical rereading), tiến một bước nữa là “sáng tác thông minh” (intelligent writing.) Theo quan điểm thực hành là từ tái cấu trúc bản nháp đến tái sáng tác văn bản mới Sửa tạo phần lớn thuộc về quan niệm dễ hiểu và
đã được sử dụng Một số khái niệm mới vào cuối thế kỷ 20 đã đưa phương pháp sửa tạo thành nghệ thuật sáng tác hợp lý và hữu hiệu
Nếu tập trung một số nhà văn nhà thơ để hỏi ý kiến
về một vấn đề gì, sẽ không bao giờ có kết quả Hầu như họ sẽ không đồng ý với nhau về bất kỳ một đề tài nào từ chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý, giáo dục, tôn giáo cho đến văn chương văn học Nhưng đặc biệt, gần đây, đa số các nhà sáng tác đều đồng ý về việc sửa chữa văn bản nguyên thủy
là cần thiết để đạt được giá trị tốt hơn Sự đồng thuận này không chỉ đơn giản do hiểu biết mà do kinh nghiệm sáng tác nhiều năm đúc kết Chương trình MFA và một số trường lớp về sáng tác đã
Trang 11khởi sự giảng dạy những phương pháp và kỹ thuật sửa tạo văn bản như học trình chính yếu để hoàn tất tác phẩm
Trong một phỏng vấn với tạp chí The Paris Review, nhà văn Raymond Carver cho biết, thông thường ông sửa đổi văn bản chính vào khoảng hai ba chục lần Không bao giờ ít hơn mười, mười hai lần Joyce Carol Oates tuyên bố, lúc nào bà cũng sửa chữa, làm công việc này mỗi ngày Michael Cunningham xác nhận, ông thường xuyên sửa chữa, lập lại sau khi sửa xong Nhà thơ Charles Simic đồng ý và thêm vào, kể cả những bài đã in,
đã phát hành, ông vẫn tiếp tục sửa
Bên văn xuôi, việc phải sửa chữa văn bản là chuyện đương nhiên Việc tái tạo trong lãnh vực này ít được nhắc tới Tái tạo một câu truyện đã viết, hoặc tái tạo câu truyện của người khác, là một
đề tài và giả thiết cần được nghiên cứu khai phá cho văn học toàn cầu
Bên thi ca, việc sửa chữa bài thơ vẫn còn ngập ngừng, vấp phải những phản đối từ niềm tin cổ điển hoặc huyền thoại về vô thức, cho rằng, thơ đến từ động lực siêu nhiên mang theo tinh túy của ngôn ngữ Việc sửa chữa của trí tuệ sẽ hãm hại bài
thơ hơn là giúp ích Keat đã từng tuyên bố: “Nếu
thơ không đến tự nhiên như lá mọc trên cây thì tốt hơn đừng xuất hiện.” Còn việc tái tạo bài thơ, gần
đây, chỉ được nghe đến trong diễn trình dịch thơ
Có lẽ nên xác định, tái tạo một bài thơ, tinh thần và
kỹ thuật gần giống như nghệ thuật dịch thơ
Hiện trường chưa có sách vở hoặc nghiên cứu quy
mô, tuy nhiên khuynh hướng sửa đổi tiến đến nghệ thuật tái tạo văn bản đang được thực hành và cổ
Trang 12động Có hai câu hỏi căn bản được đặt ra: 1- Sửa đổi và tái tạo khác nhau như thế nào? 2- Căn cước của tái tạo văn bản văn chương là gì?
Cẩm Nang Sửa Chữa Văn Bản
Trong “Acts of Revision A Guide for Writers” (Công việc sửa chữa Cẩm nang cho sáng tác) của
Wendy Bishop mở đầu bằng ẩn dụ “ăn nhiều như con cú” Đã là một nhà văn, nhà thơ, nhất định phải thu thập kiến thức nhiều gấp bội lần những gì viết
ra Như con cú tìm mồi suốt đêm ăn không biết no Những con mồi bao gồm chữ nghĩa, hình ảnh, cảnh trí, hồi tưởng, sách vở, tư tưởng, tình cảm, nuốt vào bất cứ thứ gì như Peter Elbow nhận định
“thu thập tất cả mọi thứ và đặt lòng tin vào nội tâm
để tiêu hóa những gì hữu ích và [loại bỏ] những gì
vô bổ.”
Đối với người Việt ẩn dụ con cú ăn đêm không bằng con bò nhai lại Bò làm lụng cực nhọc dài giờ,
để có sức sản xuất, trong lúc nghỉ ngơi, bò gặm bất
kỳ loại cỏ gì: tươi, khô, héo, ướt, có bao nhiêu nuốt bấy nhiêu, chờ đến chiều tối về chuồng nghiền ngẫm nhai lại Hình ảnh này mới đúng cho một nhà sáng tác Không có nhiều dữ liệu kiến thức, sáng tác èo uột, lập lại và nhàm chán Không nhai lại nghiền ngẫm, sáng tác thô hẹp và hời hợt, thiếu thú vị Thu thập hiểu biết không nhất định bứt tóc
vò tai trước những tác phẩm triết học khó hiểu hoặc những lý thuyết văn học rối rắm chỉ dành cho những ai thích nghiên cứu Biết bao thứ thú vị hay đẹp chung quanh đời sống: cảnh đẹp, ý hay, lời nói bậy, nụ cười, tiếng khóc, thức ăn, rượu, bia, cà-phê, tắm, vợ, hàng xóm, tham nhũng, bạo quyền, giới tính tất cả là cỏ Đã là bò không từ chối cỏ
dù cỏ có gai Bò nhai lại không chỉ ẩn dụ cho sáng
Trang 13tác mà có lẽ cần thiết hơn cho sửa tạo, nhất là khi tái tạo một văn bản văn chương
1 Sửa chữa hoặc sửa đổi văn bản văn chương,
thể hiện nhiều trong thơ, như Bishop viết: “Nói tổng
quát, các tác giả trong bộ sưu tập này xem việc sửa chữa như chuyện thực hành để thay đổi ý nghĩa văn bản qua ngữ pháp, cú pháp, đoạn văn hoặc toàn bài bằng cách thêm vào, xóa bỏ, thay thế, hoặc suy nghĩ lại toàn bộ tác phẩm
Như một biên tập viên, họ quan tâm đến việc bảo đảm văn bản có tính nhất quán và đôi khi phù hợp với „kiểu trong nhà‟ [tức là] theo những đòi hỏi của một tầng lớp nào đó hoặc của nhà xuất bản
Như một người kiểm soát bản thảo, họ kiểm tra với mục đích bảo đảm việc sửa chữa, chỉnh đổi được hoàn tất một cách cẩn trọng và không có lỗi chính
tả, in ấn trong bản trình bày một cách tốt đẹp nhất
Rõ ràng, các thuật ngữ có thể và nên xác định bởi người viết trong mạch văn mà chúng thể hiện Bản sửa-tạo sẽ dẫn người viết từ bản thân đến xã hội, từ nỗi lo ngại của nhà văn đến mối quan tâm của độc giả.” Ở đoạn khác bà viết: “Rõ ràng, để so sánh và đối chiếu, để kiểm soát và viết, để đánh giá và thử nghiệm, đòi hỏi thời gian và lòng nhẫn nại Các nhà văn và những ai làm việc với họ cần học hỏi từ sáng tác trong những rủi ro bằng cách nghiên cứu những sai lầm để [loại bỏ] và kết hợp thành những học thuật và tài năng mới Họ cần có khả năng sửa chữa thay đổi văn bản để xem xét những lựa chọn chồng chất lên nhau như thế nào [ ] Các nhà văn thích thú trong việc tái xét thường
là những người sử dụng song song quy ước và thử nghiệm, như hai đối tác bình đẳng trong quá trình
Trang 14sáng tác [ ] Agatha Christie nói: „Nếu bạn chỉ muốn tự viết cho mình, đây là một vấn đề khác Bạn có thể viết bao nhiêu cũng được, viết theo bất
kỳ cách nào bạn ưa thích, nhưng sau đó có lẽ bạn
sẽ phải tự hài lòng bài viết một mình‟.” (Bishop, 2004: Vii-viii.)
2 Sửa Tạo Dọc Theo Văn Học Ký
Tiền thân của sửa tạo (revision-recreation) là Nghiên Cứu Nguyên Văn Bản (Textual Criticism) nối tiếp cùng tộc hệ (Textual Stemma.) Tuy nhiên, nghiên cứu nguyên văn bản chú trọng truy tầm ý nghĩa và sự mất mát của văn bản nguyên thủy Bắt nguồn từ việc sưu tập và giải thích bộ kinh thánh Trong khi sửa tạo đặt tâm điểm vào giá trị toàn thể của bản văn, bao gồm giá trị thẩm mỹ và giá trị nghệ thuật diễn đạt
Nghiên cứu nguyên văn bản từ thời cổ xưa đã là một phương pháp mang tính chuyên khoa Vào thế
kỷ thứ 3, nhóm học sĩ theo Alexandria đã đưa ra những nguyên tắc và phương tiện để sửa chữa văn bản Họ muốn hệ thống hóa cách sáng tác để
đi đến hiệu quả tốt nhất cho tác phẩm Truyền thống này kéo dài đến thế kỷ 20
Năm 1921, A.E Housman đã nỗ lực đưa nghiên cứu nguyên văn bản vào phạm vi khoa học thực nghiệm Mục tiêu khám phá những lỗi lầm từ từ ngữ đến cú pháp, điều chỉnh ý tứ, trở thành nghệ thuật “nguyên tắc” Khuyết điểm của những luật lệ này được đánh giá như “chó rượt cắn bò chét,” thay vì “Newton nghiên cứu sự chuyển động của tinh tú.” (Sullivan, 2013:19) Sự cứng ngắt và cường điệu của phương pháp khiến văn bản văn chương mất nét tươi mát và bị đóng khung trong
Trang 15khuôn phép Tạo cơ hội cho những lề lối sửa đổi văn bản với tinh thần nghệ thuật vượt lên dẫn đường
Trở lại cuối thế kỷ 18, những yếu tố khoa học kỹ thuật như ngành in ấn phát triển và giấy in rẻ dần,
đã giúp cho việc sửa chữa được quan niệm dễ dàng thực hiện, kể cả việc tái bản Sự kiện này tái diễn khi máy đánh chữ được phát minh và tái diễn huy hoàng hơn khi sáng tác viết bằng computer, việc sửa chữa chữ và câu, cắt dán, viết lại, dễ dàng nhanh chóng gấp mươi lần viết tay hoặc đánh máy
Sự khác biệt giữa viết tay hoặc dùng máy đánh chữ, hoặc gõ bàn computer, hoặc nói để computer
tự động ghi lại, đã được chứng minh có tác dụng mạnh mẽ trong diễn trình sáng tác Không chỉ ảnh hưởng văn pháp và phong cách mà ảnh hưởng trực tiếp ý nghĩ với cảm xúc khi mô tả qua ngôn ngữ Tái tạo văn bản ngày nay dễ dàng hơn khi thực hiện nhưng khó khăn hơn khi xây dựng Nếu chủ trương của chủ nghĩa Lãng Mạn chống đối việc sửa tạo, chủ nghĩa Hiện Thực tiếp theo ủng hộ việc cải thiện văn bản nháp cho đến khi tác giả vừa ý Trong khi nhà văn dòng Lãng Mạn và thời Victoria cho rằng sửa tạo chỉ tô điểm, bọc vỏ bên ngoài Nhà văn theo dòng Hiện Đại thâm nhập, đào sâu văn bản trong việc sửa chữa Trong phần dẫn nhập tác phẩm The Golden Bowl (1904), Henry James xác nhận “sửa đổi” (revision) là phá xuyên (break through) qua văn bản không phải chỉ phục hồi (recover)
Khi nghiên cứu sửa tạo vượt qua mục tiêu cải thiện ngữ pháp và cú pháp, tiến sâu vào cấu trúc và ra
Trang 16ngoài văn bản để tìm hiểu liên văn bản, đã chứng minh, tác phẩm muốn thành công cần thiết việc sửa chữa những “khiếm khuyết” hoặc những gì
“chưa được,” “chưa thông.” Năm 1945, khi luận
văn The Intentional Fallacy của Wimsat và
Beardsley ra đời, đã bao trùm giới phê bình văn chương về việc đặt nghi vấn trước những điều tác giả muốn nói Chính vì trong tác phẩm có nhiều điều tác giả không định nói hoặc nói một cách mơ
hồ, nên việc tác giả phải sửa đổi, điều chỉnh tác phẩm là việc cần thiết như sáng tạo
3 Tái Tạo Văn Bản Văn Chương
Chưa có một ranh giới rõ rệt phân chia giữa sửa chữa thay đổi bản nháp và tái tạo một văn bản mới Cho đến giờ phút này (tháng 9 năm 2017) vẫn chưa có một nguyên tắc, quy luật, quy định nào xác nhận tại sao và khi nào nên tái tạo thay vì sửa đổi Diễn trình từ sửa chữa đến tái tạo không rõ sự phân chia, do đó, những định nghĩa hiện thời về thuật ngữ “sủa tạo” bao gồm luôn cả sửa đổi và tái tạo Khái niệm này dẫn đến hiệu quả thực hành: mỗi tác giả tự phân định phạm vi sửa đổi và phạm
vi tái tạo
Vài khái niệm phân biệt giữa sửa đổi và tái tạo được đề nghị và sử dụng: Sửa chữa đơn giản, tái tạo khi phức tạp Sửa đổi ít, tái tạo thêm bớt nhiều Sửa đổi chi tiết, tái tạo thay đổi cấu trúc Tuy nhiên, không dễ dàng như lý thuyết, khi thực hành, sửa và tạo gắn bó với nhau, có những lúc đồng xuất hiện Sự chồng chất giữa kỹ thuật sửa đổi và
kỹ thuật tái tạo khiến cho nghiên cứu khó tách rời hai phạm vi một cách hữu lý
Trang 17Sửa chữa văn bản ít nhất là sửa từ vựng và ngữ pháp Sửa chữa cao độ nhất là tái tạo Tái tạo, hiểu một cách thông thường là tái sáng tạo Gần gũi khái niệm “phục sinh” và “luân hồi” hơn là “tái sinh.” Giữa hai cực là vô số những khái niệm vá quan điểm của sửa và tạo
Theo tôi, mua một căn nhà cũ, không vừa ý, đập phá hoàn toàn, dùng mảnh đất xây lên ngôi nhà mới, là tái tạo Nếu chỉ thay vách, cất lại bên trong, đổi vị trí phòng, sơn phết màu khác việc đó thuộc
về sửa đổi Tái tạo là làm ra cái mới từ cái cũ Sửa đổi chỉ làm mới cái cũ Mới nhìn hai khái niệm này gần gũi, nhưng thực hành là hai việc khác xa nhau
Có sáng tác cũ ưng ý nhưng đọc lại thấy nhiều khuyết điểm, cấu trúc và cách diễn đạt không thể hiện quan điểm, ý nghĩa như mong muốn Viết lại một bài khác dựa trên ý chính, những tứ văn chủ lực và những thuật ngữ quan trọng, nhưng gia trọng một ý nghĩa khác Sử dụng hình thể, cấu trúc, luận lý mới, thêm vào các tứ văn, thuật ngữ cập nhật, có thể thay đổi tựa đề Đó là tái tạo kiểu luân hồi Trong khi tái tạo kiểu phục sinh chỉ có mục đích gia trọng ý nghĩa của bài thơ cũ cho sâu sắc hơn, rộng lớn hơn Những yếu tố khác đều có thể tái sáng tác
Một sáng tác cũ mang ý nghĩa hay, quan điểm có giá trị nhưng cách xây dựng cấu trúc và diễn đạt không đủ sức sinh động khiến văn bản không thu hút người đọc hoặc không đủ thú vị, không đủ sâu sắc, không đủ kinh nghiệm, để sống lâu Những tác phẩm còn non hoặc chín giấu, thông thường cần tái tạo phục sinh, tái phục sức sống
Trang 18Rất nhiều sáng tác thời trẻ chưa đủ nội lực, hoặc tuy có tầm vóc nhưng phạm nhiều lỗi lầm, sẽ có cơ hội thể hiện hay hơn, sâu sắc hơn, già dặn hơn nếu được sửa tạo Riêng vấn đề tái tạo qua những tác phẩm cũ, tác phẩm người khác, là một việc cần thời giờ và công trình thử nghiệm, cần những nghiên cứu đa diện từ cá nhân sáng tác cho đến xã hội của tác phẩm
Tóm lại, tái tạo trong cơ bản là sáng tạo lại hình thể, nội dung, và cấu trúc trong sắc thái và chất giọng chọn lựa
Vi dụ:
Sửa Tạo Chim Cú Thành Con Vượn
Như Edgar Allan Poe khởi đầu viết về con két biết nói, kết cuộc thành bài thơ con quạ Tôi mới đầu viết bài thơ mang tính huyền ảo về con cú Truyền thuyết phương tây thường cho con cú là bậc thầy
tư duy của rừng xanh Giữ gìn trật tự vùng hoang
dã Cú thức suốt đêm suy gẫm chuyện đời Chỉ những loài thú loài chim nào thức đêm mới có thể học hỏi sự khôn ngoan của cú Rốt cuộc chỉ có dế
và đom đóm nhưng đom đóm lo “selfie” ánh sáng lập lòe, dế bận rộn “hát cho nhau nghe.” Cú buồn thúi ruột Một đêm bí mật mất tích Có lời đồn cú bị thợ săn bắn chết Từ đó, rừng xanh hỗn loạn và kinh dị (Phiên bản 2017.)
Qua nhiều lần sửa tạo và tái tạo con cú trở thành con vượn clone với cánh bay Cơ bản cũng gần như chuyện con cú nhưng phù hợp hơn với thời đại khoa học kỹ thuật Nhất là gần đây chuyện clone thú vật đang được tranh luận và thực hiện tại nhiều quốc gia
Trang 19Clone là một đề tài lớn vì hậu quả có thể thay đổi hoàn toàn niềm tin và xã hội Chưa ai có thể khẳng định điều gì về tác dụng và hậu quả nhưng việc clone con người đã được bàn thảo và không ai có thể ngăn chận những cá nhân có khả năng và tò
mò đang thực hiện ở một nơi bí mật nào đó
Có clone hay không? Câu trả lời còn chờ đợi nhưng văn thơ luôn luôn tiền phong và dự đoán những gì có thể xảy đến cho con người
Tai Nạn Khi Sáng Tạo
Hôm ở sở thú anh chỉ em theo dõi:
con vượn mặt bầm vì bị khỉ đánh, đôi tay dài bất thường cào vào khoảng trống như muốn bắt điều gì
vô hình
Nó ít di động núp trong xó nhìn ra tìm kiếm thiết tha
mà hững hờ khi thấy người sống
Hai má phồng lên chứa đầy hơi nín câm dù ít kêu nhưng tiếng buồn thúi ruột Nó thuộc dòng
Hylobatidae, giống khỉ đột lai chim ưng Một hợp chủng tái tạo thí nghiệm chương trình “vượn biết bay”
Người là con vật khôn ngoan không hoàn hảo khó tạo ra loài thú siêu nhân Con vượn thành hình lỗi
lầm hai cánh quá nhỏ không thể bay mà đi thì quá chán Thả ra khỏi chuồng nó nhảy rất cao Có cánh như chim sẻ, chào mào bay thấp hơn vài thước
Về đêm vượn thường phát ra âm thanh tiếng Napoleon hấp hối căn dặn truyền nhân binh pháp
Trang 20lỗi thời trước bom nguyên tử và chiến tranh phi thuyền
Gần sáng giữa lúc nhá nhem nó trần truồng hú lên kiểu Allen Ginsberg nhưng bí hiểm hơn kiểu Octavio Paz pha lẫn chất giọng đau đớn người bị đóng đinh trên thập tự
Nhưng suốt ngày nó lặng lẽ mồ côi
Có lần anh mơ thấy nó ngồi trước computer viết loại ngôn ngữ dị kỳ vừa gõ xong chữ bay khỏi màn ảnh lạ lẫm hào quang Giấc mơ thường kết thúc không vừa ý, con vượn buồn rầu hóa con cú mất ngủ bay dưới trăng bị thợ săn bắn rụng sao băng
về vô tận
Em xem, báo đăng tin nó chết hôm qua vì khí hậu thay đổi càng ngày càng nóng, có tin đồn, vì nó ẩn dật người ta quên cho ăn, tin khác cho rằng đám khỉ giết nó vì ganh tị nhưng anh biết nó chết vì không thể bay
Sống dính trên mặt đất u mê tối tăm sầu thúi ruột chết cho xong may ra thấy bên kia có gì mới lạ
Bản sửa tháng 7, 2018
Dưới đây là bản nháp sau nhiều lần sửa tạo, trước bản sửa trình bày bên trên
Vượn Lai Ưng
Hôm ở sở thú anh chỉ em xem con vượn mặt
xanh màu b ầm suy nghĩ, đôi tay dài bất thường cào vào trống rỗng như muốn bắt điều gì không
có
Trang 21Nó ít di động núp trong xó nhìn ra thiết tha tìm
kiếm mà hững hờ khi thấy người ta Ngoại trừ
em, nó nháy mắt, nhớ không?
Hai má phồng lên chứa đầy hơi nín câm dù ít kêu nhưng tiếng buồn thúi ruột Nó thuộc dòng
Hylobatidae, giống khỉ đột nhưng lai chim ưng Một hợp chủng tái tạo thí nghiệm chương trình
“vượn biết bay” Nhân mệnh tặng nó đôi cánh
nhưng lỗi lầm cánh nhỏ như chào mào không thể bay mà đi thì quá chán
Khác với loài khỉ vượn nó có hai hòn lòng thòng mới đầu bác học nghĩ nó nhiều dâm tính nhưng không phải nhờ dài cân bằng nó nhảy rất cao Cao như siêu nhân trong tưởng tượng phi hành
Có lần anh mơ thấy nó ngồi trước computer viết loại ngôn ngữ dị kỳ vừa gõ xong chữ bay khỏi màn ảnh lạ lẫm hào quang Giấc mơ thường kết thúc không vừa ý, con vượn buồn rầu hóa con
cú mất ngủ bay dưới trăng bị thợ săn bắn rụng sao băng về vô tận
Em xem, báo đăng tin nó chết hôm qua vì khí hậu thay đổi càng ngày càng nóng, có tin đồn, vì
nó thường ẩn dật người ta quên cho ăn, tin khác cho rằng đám khỉ giết nó vì ganh tị nhưng anh biết nó chết vì không thể bay
Sống dính trên mặt đất u mê tăm tối sầu thúi ruột chết cho xong may ra thấy bên kia có gì mới lạ
Bản sửa tháng 2, 2018
Trang 22Câu Chuyện Thơ Sửa-Tạo
Một bài thơ được sáng tác lần đầu tiên cho đến khi tác giả hài lòng, sẽ rơi vào một trong bốn trường hợp:
1- Giữ nguyên bản không sửa chữa
2- Sửa ít, giữ cấu trúc chỉ thay đổi thuật ngữ, cú pháp, hoặc đôi điều tiểu tiết
3- Tái xét toàn bộ bài thơ, sửa đổi, di chuyển vị trí câu thơ, hoặc thêm bớt tứ thơ
4- Viết lại bài thơ khác từ bài nguyên bản Có thể thay đổi quan điểm, lập luận, hoặc ý thơ Chuyển hứng khởi từ nguyên bản qua văn bản nháp
Nếu không được một trong bốn trường hợp trên, trường hợp thứ năm là hủy bỏ
Trường hợp 2 và 3 là sửa đổi, cải thiện bài thơ (revision) Một số trường hợp 3 và trường hợp 4 là tái tạo, tức là sáng tác lại từ bài thơ đã có (recreation) Trước đây, tác giả quan tâm vấn đề sửa đổi thơ Vào thế kỷ 21, một số tác giả bắt đầu lập luận về tái tạo thơ Nhất là những người viết đã chôn nhiều công phu vào tác phẩm mà không vừa
ý nhưng không muốn hủy bỏ
Việc sửa đổi hoặc tái tạo bài thơ hoặc văn bản nguyên thủy tùy thuộc vào sở học, niềm tin giá trị,
cá tính tác giả và thể loại Ví dụ, thơ Hài Cú hoặc thơ cảm xúc cao, thường được giữ nguyên bản hoặc ít sửa đổi Trong khi thơ trí tuệ hoặc trường
Trang 23ca, thường phải sửa chữa nhiều lần trong một thời gian phù hợp
Suốt lịch sử thi ca, người nổi tiếng làm thơ hay, viết không sửa chữa là Vương Bột thời Sơ Đường Sáu tuổi biết viết văn Mười sáu tuổi nổi danh xuất khẩu thành thơ Ông có thói quen mài mực trước khi lên giường ngủ Lúc vừa thức dậy cầm bút viết ngay Vương Bột để lại bài phú Đằng Vương Các trong kho tàng văn chương Trung Quốc Tuy vậy, vị trí của ông chưa sánh bằng Lý bạch, Đổ Phủ, và Bạch
Cư Dị Phần còn lại hầu hết nhà thơ nào cũng có bài nguyên bản và có bài phải sửa chữa Đa số thơ cần tái xét (edit)
Tôi nghĩ, thế kỷ 21 mang đến nhịp sống: nhanh, rối loạn, và vô cùng phức tạp Những loại thơ nặng cảm tính, nhẹ tư duy sẽ khó thuyết phục hoặc thỏa mãn tâm trí, dù số người đọc thơ ở mức độ đó có thể còn rất ít Để giải trí, thơ sẽ không sánh bằng những phương tiện truyền đạt khác có hình ảnh đính kèm, như phim ảnh, video, âm nhạc, trò chơi điện tử Tuy vậy, đọc văn chương vẫn khác với xem phim ảnh Đọc là chủ động, xem bị thụ động Chủ động tư duy luôn luôn sáng tạo hơn bị lôi cuốn suy nghĩ theo “thủ thuật”, kỹ thuật và ý định của người khác
Đồng thời đa số người 21 sẽ chen chân vào phạm
vi “Chủ nghĩa Vật Chất Tự Nguyện và Tự Trị.” Nghĩa là họ tích cực đua nhau vào niềm tin “thất vọng.” Nơi cuối đường, có lẽ tinh túy thơ sẽ giúp cho tâm trạng “thành công mà trống rỗng” giảm bớt căng thẳng Chủ thuyết Hư Vô mà Nietzsche bàn thảo báo động hơn trăm năm trước đã biến dạng Người đọc nên tìm hiểu Tính Hư Vô là gì? Vì sao người ta tình nguyện thỏa thuận với trống rỗng?
Trang 24Chủ thuyết Tân Hư Vô tranh luận về tâm linh trong
xã hội mới nhưng chưa có giải pháp tích cực và thuyết phục Theo tôi, cách mạng tôn giáo không phải là giải pháp hậu chủ mà chỉ là tiên phát Ngược lại với luật pháp chỉ kềm chế răn đe trừng phạt kẻ cướp nhưng không cảm hóa “tính cướp” trước khi hành động Tân Hư Vô cần những giải pháp thực tế phù hợp với chính trị-kinh tế hơn là triết học và siêu hình Một giải pháp trực tiếp thực hành trên xã hội và nhân tính
Niềm tin “thất vọng” là gì? Thế giới điện tử và kỹ thuật khoa học ngấm ngầm thuần hóa con người theo con đường thỏa mãn, sung sướng với tiện nghi vật chất và vật chất lý tưởng Hơn lúc nào hết, thế kỷ này con người đặt lòng tin vào khoa học và những sản phẩm của kỹ thuật tiên tiến Mức độ lý tưởng của vật chất càng ngày càng cao và sự thỏa mãn không bao giờ có giới hạn Con người dù thất bại hoặc thành công đều mỏi mệt và “cháy” ở mức
độ khác nhau Nhất là tình trạng cháy ngầm, căng thẳng, làm tổn thương tâm trí và nội phủ Cho dù đạt được thành công như sở nguyện vẫn sẽ phát giác sự vô nghĩa khi phải đánh đổi, phải trả giá cao một phần lớn của cuộc sống ngắn ngủi Sự ám ảnh
sẽ đeo đuổi, tác dụng trên tư duy và cảm xúc Thất vọng về thành công tai hại hơn thất vọng vì thất bại (Mời đọc Cultural Materialism „Thuyết Duy Vật
Văn Hóa‟ của Scott Wilson, 1995 Blackwell
Publishers Ltd, USA.)
Tôi nghĩ, thơ cần phải thay đổi theo nhịp sống 21
và làm thơ cần: mở rộng, hiện đại, thâm trầm và chú trọng những gì đang tổn thương con người, nhất là con người cùng tộc (Ở quan điểm này, nhà thơ trong nước được nhiều ưu điểm và cơ hội thực
Trang 25tế phục vụ quê hương một cách cụ thể hơn nhà thơ hải ngoại.)
Về diện văn học thế giới, tôi nghĩ, thơ cần xuất hiện trong một chân dung, hình thể, thái độ, phong thái mới, khác với thơ đã quen thuộc, e chừng lỗi thời, không còn khả năng thu hút người đọc Nhưng thơ mới như thế nào? Câu trả lời còn nằm trong vòng thử nghiệm Không phải như những thời đại cũ, thơ thay đổi theo văn hóa và nhân văn Tác dụng của khoa học kỹ thuật thời nay sẽ mang đến một số động lực và lý do để thơ thay đổi thích nghi với xã hội, nhịp sống đương thời và khuynh hướng tương lai Thơ không thể chỉ biến dạng qua diễn trình văn hóa mà e rằng sẽ phải tái cấu trúc bằng dữ liệu mới, bao gồm chất hợp chủng văn hóa và tác dụng khoa học kỹ thuật
Tuy chưa nhìn thấy thơ tương lai một cách rõ rệt, nhưng trong khí hậu sống đương đại, tôi nghĩ vai trò tái tạo cần thiết cho thơ 21 Thuật ngữ “tái tạo” bao gồm luôn phần căn bản sửa chữa và sửa đổi
Phải chăng Tái Tạo
là sáng tạo khi tái xét?
Tái tạo là hành trình chủ yếu do ý thức điều khiển
Ý thức được trang bị kinh nghiệm và kiến thức về văn học, sáng tác, và đời sống sẽ tác dụng hữu hiệu khi tái xét văn bản Ý thức càng sâu rộng càng kinh nghiệm sự hữu hiệu càng hữu hiệu hơn, đóng góp vào sự thành đạt của bài thơ Những khám phá vào cuối thế kỷ 20 cho thấy phần trí nhớ “ngẫu nhiên” của người viết cần được kiểm duyệt bởi “bộ nhớ dài hạn.” Nghĩa là, “ngẫu nhiên” từ vô thức cần
được tái xét Trong tiểu luận: New Directions in
Trang 26Writing Theory (Phương Hướng Mời Trong Lý Thuyết Sáng Tác) của John R Hayes, trình bày
những nghiên cứu về vai trò “working memory” (phần trí nhớ hiện hành) tác dụng như thế nào khi sáng tạo thành hình (Mời đọc: Handbook of Writing Research của Charles A MacArthur, Steve Graham, Jill Fitzgerald, 2006, Guilord Publications, Inc.)
Một quan điểm nữa cần lưu ý, hình ảnh trong trí nhớ luôn luôn bị tác động bởi tưởng tượng Theo thời gian, hình ảnh đó thay đổi, biến dạng hoặc tự tạo ra những liên hệ không nguyên vẹn như lúc thu thập Vì vậy việc tái xét hình ảnh cần được xảy ra trong lúc thần trí tỉnh táo
Từ khi chủ thuyết của Freud ra đời, vô thức chiếm ngự vị trí sâu rộng trong sáng tác Một trong những
lý do chính vì người ta đối diện với tính bí ẩn của
vô thức nhưng chưa thể giải thích Khả năng vô thức mang đến cho sáng tạo vượt qua sự hiểu biết đương thời, mang tính ảo thuật hoặc ma lực Ý thức sáng tác dường như lùi bước trước sắc thái lộng lẫy đầy quyến rũ của vô thức
Tuy nhiên những gì do vô thức mang đến cho thơ không phải hoàn toàn hoặc luôn luôn đáng được ca ngợi Trong tác phẩm “Art as Technique” 1916, Viktor Shklovsky lập luận về nhận thức trở thành vô thức: “Nếu chúng ta bắt đầu xem xét các quy luật
tổng quát về nhận thức, sẽ thấy nhận thức trở nên
tự động khi trở thành thói quen Vì vậy, tất cả thói quen sẽ đi vào cõi tự động vô thức, ví dụ, một người nhớ lại cảm giác hành động cầm cây viết hoặc nói tiếng ngoại quốc lần đầu tiên và so sánh với cảm giác thực hiện hành động này cả ngàn lần
về sau, người đó sẽ đồng ý với khái niệm trên Thói
Trang 27quen như vậy giải thích các nguyên tắc khi phát biểu binh thường chúng ta đưa ra những câu nói không hoàn tất và những ngôn từ chỉ diễn tả một nửa ” Thói quen diễn đạt từ vô thức cũng tạo nên
nhiều khoảng trống Những khoảng trống này đôi lúc hay, đôi lúc dở, nhiều khi tạo ra ý nghĩa ngầm, gợi ý cao kỳ, nhiều khi vô nghĩa, tạo ra ngớ ngẩn Một trong những công việc sửa-tạo là xóa bỏ những ngớ ngẩn kia Làm sáng tỏ hơn những mù
mờ hoặc làm đẹp lại những trang điểm không cần thiết
Vi dụ: “ để kết thúc màn vũ đặc sắc một hồi trống
dồn liên tục thúc giục các vũ công bay lộn xoay cuồng Khi hồi trống chấn dứt, đoàn vũ biến dạng vào bóng tối dày đặc khói mù ” Đọc đoạn văn này
vì sự quen thuộc với mặt chữ trong cú pháp và tứ văn từ liên văn bản hồi tưởng, vô thức dễ dàng lướt qua không thấy sự sai lầm: “chấn dứt” thay vì chấm dứt Những ai dò chính tả cho văn bản đều
có kinh nghiệm này
Chủ yếu trong luận lý thi ca, một loại “huyền tưởng” thường dùng để biện bác: mơ hồ là bản sắc của thơ Khái niệm này đúng trong quá khứ, không đúng trong thời đại hôm nay Mơ hồ không phải thuộc về thơ mà do vô thức mang vào thơ Sự mơ
hồ hiện diện trong ngôn ngữ và cách diễn đạt Không có văn bản nào dù là văn bản pháp luật hoặc khoa học mà không cưu mang tính mơ hồ
Mơ hồ không chỉ dành riêng cho thơ Trước khi phong trào Tân Văn Hóa và văn học chủ nghĩa Hiện Đại khám phá ra chức năng của lời nói và chữ viết qua ngôn ngữ học, mơ hồ có lý do làm nên huyền thoại, tôi gọi là huyền tưởng, cho thơ Mơ hồ như sương mù phủ lên phong cảnh tạo nên thẩm
mỹ không rõ ràng và đẹp nhờ ở chỗ không rõ ràng
Trang 28Trong khi nắng lên, ánh sáng tỏ lộ mọi vật, tạo ra cảnh đẹp và chiếu sáng lối đi có thể tìm đến Thơ quá khứ và thơ hôm nay khác nhau như vậy
Vô thức là khả năng kết hợp và biến chế những dữ liệu tồn trữ trong trí nhớ cá nhân và trong lịch sử,
xã hội, văn hóa Những hình ảnh, ý tưởng, câu chuyện biến dạng của vô thức, xuất hiện không được chọn lựa Vô thức không có khả năng tự đánh giá và quyết định Đó là chức năng của ý thức Vô thức chỉ đưa đến bất ngờ và hỗn loạn những dữ liệu biến dạng về một chủ đề mà ý thức đang đeo đuổi hoặc đã suy nghĩ trong một khoảng thời gian
Nghệ thuật nào ghi nhận hoàn toàn những gì vô thức đưa đến sẽ thể hiện sự mơ hồ, hỗn loạn, đôi khi ngược ngạo với nhau trong cùng một văn bản
Sự đòi hỏi ý thức phải chen chân vào để kiểm soát những yếu điểm của vô thức là lẽ đương nhiên Tuy vậy, khi sáng tác, lúc vô thức đang chủ động
và biến hóa, đó là lúc ý thức tự động vắng mặt, đó
là lúc vô thức thể hiện những năng lực cao kỳ tiếp cận siêu nhiên, ý thức không có khả năng ngăn chận Ý thức chỉ có thể kiểm soát, chọn lựa và quyết định khi vô thức rút lui về nơi bí ẩn Phải chăng, đó là lúc sửa-tạo?
Trong lãnh vực sáng tác văn chương, nếu vô thức chủ động khi sáng tạo, ý thức chủ động khi sửa-tạo Trong phê bình văn học, từ lâu, ý thức đã được sử dụng để đánh giá vô thức Ngày nay, quan điểm ý thức tái tạo sự sáng tạo đã thành hình một khái niệm mới: “Tái sáng tạo”, sáng tạo trong lúc tái tạo
Trang 29Tuy vậy, khuyết điểm khi sửa-tạo sử dụng ý thức một cách cứng ngắc hoặc cường điệu sẽ giam cầm sinh động của sáng tác, có thể biến tác phẩm thành văn bản điêu khắc, có thể biến thơ thành một luận văn
Trong thời đại kỹ thuật hóa toàn cầu, sự phát triển
cụ thể của mạng lưới, của các thiết bị thông minh, của các não bộ nhân tạo đã mang vai trò ý thức trở lại vị trí chủ động, làm việc chung với vô thức, nếu chưa muốn phát biểu: ý thức đánh giá vô thức Diễn tiến này chỉ mới bắt đầu, chúng ta sẽ làm nhân chứng những phát minh “kỳ lạ” vượt qua sức tưởng tượng từ những kết quả khoa học kỹ thuật
và điện tử trong tương lai Những sự việc như vậy không thể trực tiếp đến từ vô thức mà trí tuệ, ý thức, luận lý, ý chí đóng vai chỉ đạo lẫn thực hành
Độc Giả Và Sửa Tạo
Về phần người đọc: ngôn ngữ, hình ảnh ý nghĩa đến với họ bằng thói quen Nghĩa là vô thức tự động thu nhận cho đến khi nó bừng tỉnh vì bị ý thức đánh thức Theo quan điểm của Hình Thức Luận, nghệ thuật thơ là đánh thức người thưởng ngoạn
ra khỏi sự quen thuộc, cho họ một nhãn quan khác
về đối tượng mà họ đã biết Không cần phải giải thích nhưng điềm chỉ hoặc gợi ý, thậm chí là mô tả đối tượng, cho họ thấy một cách thú vị hoặc thi vị Shklovsky, một trong nhóm chủ trương chủ nghĩa Hình Thức đưa ra nhận định chính xác về sự “làm mới lạ”: “Mục đích của nghệ thuật là truyền đạt cảm
giác về sự vật như được nhận thức, không phải như đã được biết Kỹ thuật nghệ thuật là làm cho đối tượng “không quen thuộc”, để làm cho hình
Trang 30thức khó khăn [thách thức] hoặc gia tăng mức độ khó khăn trong thời gian nhận thức vì quá trình nhận thức là một diễn trình thẩm mỹ, cần phải được kéo dài.” (tcml.)
Quan điểm này có chỗ cần nhấn mạnh: nhận thức
về thẩm mỹ cần được kéo dài Vì ba lý do: 1- Cảm nhận thẩm mỹ bằng trực giác là khả năng thông diễn nhanh và sắc nhưng không rõ rệt vì tạo nhiều cảm xúc Sau đó, khả năng suy luận sẽ tiếp tục mang nhận thức thẩm mỹ đến một cách thực tế hơn 2- Nếu cảm nhận thẩm mỹ bằng tư duy nhất định phải có thời gian để luận lý khám phá và liên kết mạch lạc 3- Thẩm mỹ đến từ diện nghệ thuật
và diện tư tưởng, cả hai đều cần thời gian để thẩm thấu vào tâm tư, hữu dụng cho đời sống Sáng tác đánh thức người đọc trước thẩm mỹ, cần để cho người đọc thời gian tiếp hơi
Khái niệm này cho sáng tác biết: cần phải khơi động sự thức tỉnh, chú ý, quan tâm của người đọc, nhất là đọc thơ Lúc sửa-tạo là lúc tác giả bình tĩnh suy nghĩ về những mô hình sáng tác có khả năng đánh thức độc giả ra khỏi sự tự động của vô thức Đây là một quan điểm đúng đắn, tuy nhiên đã dẫn đến một lầm lẫn: Cố ý gây khó khăn cho người đọc Nếu một bài thơ cưu mang sự khó khăn thẩm thấu không phải vì ý tưởng sâu sắc hoặc mức độ thẩm mỹ cao, thì sự khó khăn đó chỉ là những giả mạo của thủ thuật, sẽ tiêu hủy bài thơ Một công việc khác của sửa-tạo là xóa bỏ những giả mạo mà sáng tác đã vô tình ghi lại trong lúc miên man hoặc
do ý đồ cố tình tạo hiệu quả ngoài lãnh vực văn chương và nghệ thuật (Mời đọc vô số thơ khó hiểu trên mạng lưới.)
Trang 31Người đọc thơ giải trí và người đọc với ý thức đọc thơ là hai cá tính khác nhau và hai lãnh hội khác nhau Một bên là vào mâm cơm ăn thử món nào vừa ý, thích thì khen ngon, không thích chê dở Một bên là lựa ăn những món nào ngon với khẩu vị có tiêu chuẩn và để lại trong cơ thể điều gì bổ dưỡng, học hỏi ít nhiều về hương vị phẩm chất, nâng cao trình độ ẩm thực
Công việc tái xét một bài thơ cũng quan trọng như sáng tạo ra nó Khi sáng tác, không ai biết lúc nào thơ sẽ đến và đến toàn bộ hay không, nhưng khi sửa-tạo, tác giả dành quyền chủ động, chọn lựa, quyết định Đây là lúc nhà thơ cần áp dụng sở học, kinh nghiệm với hai khả năng cần thiết:
1- khả năng sáng tạo từ thơ đã hiện hữu,
2- khả năng tự nhiên hóa việc sửa chữa, nghĩa là tôn trọng sự tự trị của ngôn ngữ và tứ thơ
Sửa-tạo một bài thơ cũng gây hứng thú như lúc sáng tác nguyên bản Tương tựa như “đẩy” bài thơ
về hướng “hay” dần Hoặc lột những lớp vỏ bao bọc để nhìn rõ thơ ẩn núp ở đâu Nếu bản thân của tác giả nhận thức bản sửa tạo không hay hơn bản nháp, nên hủy bỏ, có thể làm lại vào một dịp khác Vấn đề tồn tại là khả năng đánh giá Nhận định giá trị tác phẩm của mình tương tựa như nhận định chân dung và tính tình của người yêu Phải đợi cưới nhau rồi, đôi năm sau, mới rõ thực hư
Riêng về tái tạo, chủ yếu ở quan điểm: Mỗi lần tái tạo bài thơ sẽ là một bài thơ mới Bài thơ mới có thể là bài nháp, nhiều lần nháp cho đến khi có bài thơ mới sau cùng
Trang 32Nhà Thơ Đối Diện
Nghệ Thuật Sửa Tạo
Sửa tạo là diễn trình thực hành văn học Những chủ bút, chủ biên chuyên nghiệp là những người sửa chữa văn bản theo tôn chỉ hoặc khuynh hướng chủ trương của cơ sở văn chương hoặc theo mục tiêu thị trường thương mại của các công ty ấn hành tác phẩm Họ không có nhiệm vụ sửa tạo giá trị văn chương của người khác, ngoại trừ đó là sở thích riêng hoặc có sự đồng ý của tác giả
Sửa tạo là việc thực hành văn học của tác giả Chỉ
có tác giả mới có quyền sửa đổi văn chương của
họ trong mục đích giá trị hóa văn bản mang cá tính
và phong cách không thể thay thế
Sửa tạo bài thơ có phần khác biệt với sửa tạo những thể loại văn bản khác Phạm vi bài thơ ngắn
và cô đậm nên mỗi chữ cao hơn nặng hơn chữ trong các bài văn Mỗi từ ngữ “chủ lực” liên kết các
từ ngữ khác, tứ thơ và liên văn bản, vì vậy thay thế những từ ngữ then chốt sẽ thay đổi cấu trúc bài thơ
Cấu trúc của bài thơ thể hiện qua muôn hình dạng Thông thường do nội dung mà thành hình Những bài thơ ngắn, cấu trúc thường xuất hiện một lần với
tứ thơ Những bài thơ dài, cấu trúc có thể đã tiên liệu, đã dàn trải theo dàn bài Sửa tạo bài thơ ngắn
là kiểm soát lại cấu trúc Sửa tạo bài thơ dài là việc tái kiến trúc tứ và mô hình diễn đạt
Trang 33Thay đổi những mô hình diễn đạt trong câu hoặc trong đoạn có khả năng làm bài thơ chuyển đổi quan điểm hoặc ý nghĩa Khi ý nghĩa của bài thơ thay đổi, nghĩa là sáng tác đang xây dựng một bài thơ mới
Sửa tạo thuộc tính bẩm sinh
Bất kỳ là ai cũng có tính sửa chữa những gì hư, xấu, dở cho tốt đẹp hơn, lành lặn hơn, hữu dụng hơn Sự sửa chữa, làm lại, xảy ra trong đời sống hàng ngày một cách tự nhiên và thường xuyên Sửa tạo phát sinh từ tính hướng thiện, là tập quán của mưu sinh
Riêng về thi ca, sửa chữa và tái tạo có sự không thỏa thuận, đa số vì quan niệm thơ là một sản phẩm tinh hoa của cảm xúc và trí tuệ, đôi khi mang tính siêu nhiên Khiến sự sửa đổi văn bản xuất thần của thơ có vẻ như xúc phạm, hoặc làm hư đi thần khí nguyên sơ Tuy vậy, hầu hết bài thơ từ xưa đến nay đều có sửa chữa ít hoặc nhiều, do đó, văn học xác nhận, sửa tạo thơ là một phần trong bản tính của nhà thơ Ngay từ lúc đầu, trăn trở suy nghĩ ý tứ thơ đang thành hình, đã là sửa tạo Trong lúc sáng tác sự cân đo cú pháp, chọn lựa từ ngữ, xoay chuyển hình ảnh, ẩn dụ, tứ thơ, đã là sửa tạo Sau khi bài thơ thành hình, vẫn tiếp tục sửa Thời chủ nghĩa Hiện Đại, văn học nhấn mạnh vai trò cần thiết của sửa tạo văn bản Thời nay, văn học xem trọng việc sửa tạo, đặt ngang hàng với sáng tạo, trong nhiều trường hợp, tái sáng tạo quan trọng hơn sáng tạo Không phải không có lý
do vững mạnh mà nhà thơ Donald Hall, thi sĩ công huân Hoa Kỳ 2006, tuyên bố:”Nếu nhà thơ muốn
trở thành thi sĩ, nhà thơ phải thúc đẩy mình vào
Trang 34việc sửa tạo Nếu nhà thơ không muốn làm việc này, hãy để nhà thơ từ bỏ thơ để đi sưu tập tem hoặc bán bất động sản.” (Trích trong If the Poet Wants to Be a Poet của Laura Newton TCML.)
Sửa tạo khác biệt giữa người viết chơi và
người viết chuyên
Tuy bẩm sinh nhưng sửa tạo là một diễn trình tu tập Sở học và sở thích là hai yếu tố rèn luyện sửa tạo Kinh nghiệm và nhận thức là hai phương tiện
áp dụng sửa tạo vào văn bản Cả bốn lãnh vực này đều cần thiết được mở rộng đào sâu dọc theo tiến trình sáng tác và tái sáng tác
Đối với người viết chuyên, “tái sáng tác” (rewriting), 1- viết lại là vấn đề tâm điểm xem xét những gì đã viết, để suy nghĩ thêm về nó, đáp ứng những đòi hỏi, làm những quyết định thay thế, chọn lựa, cắt giảm hoặc phong phú hóa, nghĩa là thật sự tái cấu trúc văn bản 2- Viết lại vì khi viết khó biết rõ trong bản thảo đầu tiên Cần phải có thời gian để xác định Khi viết lại có thể gọi là bản nháp, tha hồ gạch xóa thêm bớt Những nỗ lực viết lại sẽ khai thác một số thông tin mới mà kiến thức được tu bổ hoặc
vô thức cung cấp thêm dữ liệu 3- Viết lại, một cách nào đó là từ cấp độ này tìm kiếm thay đổi lên cấp
độ khác, nhất là thay đổi ngôn ngữ để gia tăng hiệu quả
Còn sửa đổi (revising) được các người viết chuyên nghiệp đề nghị: Quy tắc sửa đổi là không bao giờ quá yêu thích văn bản đầu tiên và bản nháp thứ hai Đừng quá tin những câu viết hoặc ý tứ thời thượng Tốt nhất nên chờ đợi, thông thường sau một thời gian, sự sửa đổi sẽ đến dễ dàng
Trang 35Sửa đổi đối với một số kinh nghiệm cho rằng nên tách rời từng mảnh những gì đã viết rồi ráp trở lại Đặt câu hỏi về chính ý tưởng của mình, trả lời những câu hỏi trong khuôn khổ của cấu trúc Kiểm soát các ẩn dụ Nên tìm những ý tưởng có thể mở rộng để khai thác Nên cắt bỏ những chi tiết không cần thiết Những đoạn văn, ý tứ nào cho cảm giác không chắc chắn, nghi ngờ, nên sửa lại nhiều lần cho đến khi có đủ lòng tin, nếu không, nên bỏ đi Hầu hết những nghiên cứu đúc kết cho thấy sự sửa đổi của người viết ít kinh nghiệm chú tâm đến phẩm lượng của câu và mạch văn Hiệu quả rõ rệt nhất là thêm vào hoặc cắt bỏ Trong khi đối với người viết kinh nghiệm, họ sửa đổi trong mọi tầng cấp cấu trúc, cho dù chỉ sửa đổi chi tiết nhưng sẽ ảnh hưởng toàn thể văn bản Thông thường họ xem văn bản đầu tiên như bản ghi những mốc điểm để tìm đến những gì thật sự muốn nói trong những bản nháp tiếp theo
Người viết kinh nghiệm xem việc sửa tạo như một thói quen hoặc một quy luật Quá trình tái diễn sáng tác văn bản và văn bản nháp xảy ra trong nhiều cấp độ và trong nhiều thời điểm khác biệt Có thể phân chia thành nhiều chu kỳ: Chu kỳ đầu chú
ý đến sự nhất quán của chủ đề và ý nghĩa chủ lực của văn bản Chu kỳ tiếp theo mới chú tâm đến ngữ pháp và cú pháp Điều này chỉ có nghĩa, mỗi chu kỳ chú trọng hơn về một yếu tố sáng tác nhưng không phải hoàn toàn không đá động đến những yếu tố kia Những chu kỳ còn lại thông thường họ tập trung vào sự khám phá mới, khám phá lại những gì đã viết
Tóm lại, theo tinh thần chủ trương sửa tạo sau khi tác phẩm nguyên thủy thành hình, những nhà sáng
Trang 36tác kinh nghiệm xem trọng văn bản sửa hơn văn bản nguyên, xem trọng sáng tạo ý thức hơn sáng tạo vô thức, xem trọng học thuật và kinh nghiệm sáng tác hơn khả năng bẩm sinh Hiệu quả sửa tạo như thế nào là do nhận thức riêng của nhà văn, do
đó mô hình mới từ học thuyết cập nhật xuất hiện về sau gọi là: Mô Hình Nhận Thức Sáng Tác (Cognitive Models of Writing,) và mô hình đương đại xây dựng trên Siêu Nhận Thức (Metacognition)
Liên Hệ Giữa Sáng Tác và Tái Sáng tác
Đối với người sáng tác, sửa tạo là học thuật Quá trình sửa tạo sẽ gia tăng kiến thức và kinh nghiệm
về sáng tác Quan trọng hơn, tác dụng của sửa tạo phát triển khả năng nhận thức, nghệ thuật cấu trúc,
và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Laura Newton bàn thảo về hai lãnh diện sửa tạo đối với sáng tác 1- Người sáng tác tự học qua quá trình sửa tạo Trước hết họ sẽ học được ý nghĩa của văn bản quan trọng như thế nào khi được nhất quán Điều này giúp cho họ xác định rõ ràng điều muốn viết và tập trung diễn đạt vào điều đó Việc này tạo ra một thái độ quan tâm đến tái xét văn bản như một thói quen hoặc một quy luật cuối cùng trước ấn bản Tiếp theo, từ những phương pháp sửa tạo tổng quát họ sẽ phát triển phương pháp sửa tạo phù hợp với cá tính và sở thích, một phương pháp sửa tạo riêng, hữu hiệu cho cá nhân Bước vào cấp độ này, người sáng tác đối diện với nghệ thuật sửa tạo, họ đã vượt qua ranh giới kỹ thuật
Giải mã và lấy hơi là hai việc thường xuyên áp dụng khi sửa tạo Mỗi văn bản văn chương có giá
Trang 37trị đều cưu mang một loại mật mã riêng Thông thường mật mã này được xây dựng bởi vô thức, cưu mang tinh túy của bài viết, hầu hết tác giả ít chủ động trong việc cài mật mã Qua diễn tiến sửa tạo, chính tác giả phải giải mã những gì mà vô thức của họ đã cài sâu, giấu kín trong văn bản Sự giải
mã gia tăng sự hiểu biết văn bản và hiểu rõ hơn bản ngã của họ Nhưng việc làm này tiêu hao nội lực, gây mệt mỏi trí tuệ lẫn tâm tư, cần phải có thời gian ngưng nghỉ để lấy hơi Giữa những bản sửa tạo phải có thời gian dài đủ để ý thức lấy lại sự sáng suốt và vô thức âm thầm hoạt động về những
dữ liệu cũ cần thay thế hoặc xóa bỏ và dữ liệu mới cần tiết lộ
2- Người sáng tác tự giải trí hoặc say mê thú vị với nghệ thuật sửa tạo
Nếu sáng tác đã từng say mê, thú vị với sáng tạo, thì tái sang tạo cũng mang đến những lôi cuốn hấp dẫn như vậy
Sự sửa tạo có thể bắt nguồn từ lời phê phán của người khác, nhưng thông thường là từ lời phê phán ngấm ngầm của bản thân khi đọc lại tác phẩm Nếu đọc lại một tác phẩm mà tác giả không nghe ra lời tự phê bình, tác phẩm đó, một là đã hoàn chỉnh theo trình độ của tác giả, hai là nên bỏ
đi
Ví dụ, nói về bài thơ, nhất là những bài thơ dài, dường như sau mỗi lần lấy hơi rồi đọc lại, sẽ cảm thấy có đôi điều bất ổn, chưa chín, thiếu sót hoặc
dư thừa Dễ nhất là viết thêm, khó nhất là cắt giảm
Cả hai kỹ thuật này cần phải quan tâm Kềm chế
“sự thêm” Gia trọng “sự bỏ.”
Trang 38Một bài thơ tương đối dễ sửa từ ngữ và cú pháp nhưng khó sửa tứ thơ Mỗi khi cần thay đổi tứ thơ nên gia tâm suy nghĩ về hình ảnh và vẻ đẹp của tứ mới trong việc hòa hợp với toàn bộ văn bản
Ví dụ: William Carlos Williams sáng tác bài Young
Woman at a Window (Thiếu Phụ Tựa Song Cửa.)
with tears on her cheek
(nước mắt chảy) (trên gò má)
her cheek her cheek on
(trên gò má) (tựa má)
her cheek on her hand
(tựa má vào) (lên bàn tay)
her hand her child
(bàn tay) (con nàng)
this little child in her lap
(đứa bé) (ôm trong lòng) who robs her his nose
(lấy trộm của nàng) (mũi nó)
Trang 39knows nothing of press
(không hề biết) (dí sát)
His theft to the glass
(đồ lấy trộm) (gương cửa)
but rubs his
(nhưng cạ)
nose
(mũi nó)
Bài thơ theo phong cách Hiện Tượng Luận, chỉ mô
tả, không trình bày tâm tình, nghị luận Bản sửa sau cùng cho người đọc “thấy” rõ hơn, thay vì mông lung như nguyên bản Tứ thơ lấy trộm nhan sắc, thời giờ, xuân xanh của người mẹ bị xóa bỏ
vì tứ thơ ra ngoài phạm vi Hiện Tượng Luận và chỉ làm bài thơ dài thêm
Khi sửa đổi thúc đẩy sự tái tạo, một diễn trình mới: tái sáng tạo, viết lại văn bản là cuộc phiêu lưu khác mang đầy lo âu và thú vị Từ tấm bản đồ cũ, Columbus thám hiểm, khám phá vùng đất mới Tái tạo thông thường sẽ đưa văn bản cũ thành một văn bản mới, khác và có khi hoàn toàn khắc hẳn Cũng như sáng tác, tái sáng tác dẫn tác giả đến những nơi không dự định, nhìn thấy những bất ngờ, và đôi khi lạc lối Khi bắt đầu có cảm giác đi lạc, là lúc nên dừng lại, tái sáng tác nên chờ một dịp khác, nên xem lại bản đồ trước khi ra khơi lần tiếp theo Tái tạo bắt đầu nơi sửa đổi không còn thích nghi,
đa số trường hợp, khi những ý tưởng và tứ thơ mới xuất hiện từ bản cũ dẫn đến sự thay đổi quan điểm, hoặc ý nghĩa, hoặc chủ đề khiến tác giả không còn chọn lựa, phải tái tạo hoặc hủy bỏ
Trang 40Nghệ thuật sửa chữa và nghệ thuật tái tạo là hai nghệ thuật cần thiết cho người làm thơ Sự tươi mát, tự nhiên, cao kỳ, bí mật của vô thức đã cho thi
ca một thời rực rỡ, vàng son, không thể chối cãi Nhưng thời điểm tái dụng vai trò ý thức vào văn chương đã gióng chuông Chủ yếu của đời sống là con người thay đổi Văn chương thay đổi theo con người Văn học thay đổi theo văn chương Ý thức kiểm soát vô thức như người chồng kiểm soát hành vi phóng túng của vợ dù những hành vi đó mang lại những tác dụng lạ kỳ và tốt đẹp, nhưng cùng một lúc hành tung đó bí ẩn và suy mộng lẳng
là hành động của ý thức cải thiện những gì vô thức
đã thực hiện.” Một khái niệm cần lưu tâm: Ý thức
và vô thức chỉ là hai thuật ngữ của hai khối vô hình, không thể phân định cụ thể Sự khác biệt mang tình trừu tượng được trí thức phân giải và biện minh Việc đó có thể cần thiết trên lý thuyết Khi thực hành, nghĩa là sống với tác phẩm, ý thức và
vô thức là một, đồng xảy ra, đồng tác động trên hành động sáng tác Sửa đổi hoặc tái tạo tác phẩm
đã hiện diện, nên xem là hành động văn học không phân biệt ý hoặc vô, mặc dù trên luận lý và giải mã, cần phải có ngôn từ và khái niệm rõ rệt
Vi dụ: