1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH LỢI THẾ SO SÁNH HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU

111 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh nghiệm thực tiễn về phát huy lợi thế so sánh trong xuất khẩu hàng nông sản của một số nước và bài học cho Việt Nam .... - Cuối cùng, luận văn đưa ra định hướng và đề xuất hệ thống c

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THANH DUNG

PHÂN TÍCH LỢI THẾ SO SÁNH HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM

SANG THỊ TRƯỜNG EU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN – 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THANH DUNG

PHÂN TÍCH LỢI THẾ SO SÁNH HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là nội dung nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này chưa hề được công bố

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến GS.TS Mai Ngọc Cường đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo - Trường ĐH Kinh tế và QTKD đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá học và trình bày luận văn này Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp đã chia sẻ nhiều tư liệu và kinh nghiệm quý báu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

5 Bố cục của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI THẾ SO SÁNH 5

1.1 Một số vấn đề lý luận về lợi thế so sánh trong xuất khẩu hàng nông sản 5

1.1.1 Xuất khẩu: Khái niệm và vai trò 5

1.1.2 Các lý thuyết về lợi thế so sánh 6

1.1.3 Hàng nông sản và các loại hàng nông sản xuất khẩu 16

1.1.4 Nội dung phân tích lợi thế so sánh trong xuất khẩu hàng nông sản 18

1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế so sánh hàng nông sản xuất khẩu 20

1.2.1 Nhân tố thuộc về sản xuất: 20

1.2.2 Các nhân tố thuộc về tổ chức hoạt động xuất khẩu 25

1.2.3 Nhân tố thuộc về nhà nước: 29

1.2.4 Nhân tố quốc tế 30

1.3 Kinh nghiệm thực tiễn về phát huy lợi thế so sánh trong xuất khẩu hàng nông sản của một số nước và bài học cho Việt Nam 30

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước 30

1.3.2 Bài học cho Việt Nam 35

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 38

2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2.1 Khung phân tích của luận văn 38

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 38

2.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 39

2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 39

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 41

2.3.1 Đo lường mức độ lợi thế so sánh 41

2.3.2 Đo lường mức độ chuyên môn hóa xuất khẩu 42

2.3.3 Phân tích tính ổn định trong cơ cấu lợi thế so sánh tổng thể 43

2.3.4 Tính ổn định trong cơ cấu lợi thế so sánh giữa các ngành và trong nội bộ từng ngành 46

Chương 3: PHÂN TÍCH LỢI THẾ SO SÁNH HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU 49

3.1 Giới thiệu về thị trường EU 49

3.1.1 Lịch sử ra đời của EU 49

3.1.2 Sơ lược về thị trường EU 50

3.2 Tổng quan về xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU 56

3.3 Phân tích lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU 58

3.3.1 Kết quả về chỉ số RCA của Việt Nam 58

3.3.2 Mức độ chuyên môn hóa xuất khẩu của Việt Nam 67

3.3.3 Sự chuyển biến trong cơ cấu lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU 68

3.4 Đánh giá về lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU 74

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.4.1 Những điểm mạnh và yếu về lợi thế so sánh hàng nông sản của

Việt Nam sang thị trường EU 75

3.4.2 Nguyên nhân yếu kém 77

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO LỢI THẾ SO SÁNH HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU 78

4.1 Triển vọng xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sang thị trường EU những năm tới 78

4.1.1 Quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước về xuất khẩu hàng nông sản những năm tới 78

4.1.2 Dự báo nhu cầu hàng nông sản nhập khẩu của thị trường EU những năm tới 79

4.2 Phương hướng nâng cao lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU những năm tới 82

4.3 Những giải pháp chủ yếu để phát huy lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam 85

4.3.1 Nhóm giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU 85

4.3.2 Nhóm giải pháp tăng cường tổ chức hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU 88

4.3.3 Tăng cường sự hỗ trợ của nhà nước cho xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU 91

4.3.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sang thị trường EU 93

4.4 Kiến nghị 95

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa

EU (European Union) Liên minh Châu Âu

HĐBA LHQ Hội đồng bảo an Liên hợp quốc

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

Sơ đồ 2.1 Khung phân tích của luận văn 38 Bảng 3.1: Các thông số của EU năm 2013 52 Bảng 3.2: Cán cân thương mại của EU 55 Bảng 3.3: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU 56 Bảng 3.4: Cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU 57 Bảng 3.5: Kết quả chỉ số RCA hàng nông sản của Việt Nam 60 Bảng 3.6: Tần suất phân phối của chỉ số RCA của Việt Nam 64 Bảng 3.7: Tỷ lệ sản phẩm có chỉ số RCA lớn hơn 1 phân theo 4 nhóm 64 Bảng 3.8: 10 nhóm hàng nông sản có lợi thế so sánh cao nhất của Việt Nam

trong giai đoạn 2000-2001 và 2012-2013 66 Bảng 3.9: Hệ số GINI 67 Bảng 3.10: Kết quả mô hình hồi quy Galtonian 68 Bảng 3.11A: Ma trận xác suất chuyển đổi qua 2 GĐ 2000-2001, 2002-2003 69 Bảng 3.11B: Ma trận xác suất chuyển đổi qua 2 GĐ 2002-2003, 2004-2005 71 Bảng 3.11C: Ma trận xác suất chuyển đổi qua 2 GĐ 2004-2005, 2006-2007 71 Bảng 3.11D: Ma trận xác suất chuyển đổi qua 2 GĐ 2006-2007, 2008-2009 72 Bảng 3.11E: Ma trận xác suất chuyển đổi qua 2 GĐ 2008-2009, 2010-2011 72 Bảng 3.11F: Ma trận xác suất chuyển đổi qua 2 GĐ 2010-2011, 2012-2013 72 Bảng 3.11G: Ma trận xác suất chuyển đổi qua 2 GĐ 2000-2001, 2012-2013 73 Bảng 3.12: Chỉ số đánh giá mức độ di động trong cơ cấu chuyên môn hóa 74

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của đất nước Xuất khẩu tăng trưởng với nhịp độ bình quân khá cao về kim ngạch, đa dạng

và phong phú về mặt hàng Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng và

đã trở thành một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định kinh tế, xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo

Năm 2012, mặc dù tình hình kinh tế thế giới và trong nước có rất nhiều khó khăn, nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 114,57 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2011 và gấp 3,5 lần năm 2005 Kim ngạch xuất khẩu/GDP đạt khoảng 81,7%, cao hơn mức kỷ lục 80,8% của năm 2011 Tốc

độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng GDP (lên đến 3,6 lần) Xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam năm 2013 đạt 132,13 tỷ USD, tăng 15,3%

so với năm trước đó tương ứng tăng 17,61 tỷ USD Tỷ lệ xuất khẩu/GDP và

hệ số tốc độ tăng trưởng đạt cao như trên cho thấy, xuất khẩu là lối ra, là động lực tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Trong đó, xuất khẩu hàng nông sản đóng góp một phần không nhỏ

Năm 2015 đánh dấu lễ kỷ niệm lần thứ 25 mối quan hệ ngoại giao giữa Liên Minh Châu Âu (EU) và Việt Nam Quan hệ ngoại giao đã được thiết lập vào tháng 10 năm 1990 Phái Đoàn Liên Minh Châu Âu tại Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động từ năm 1996 Theo số liệu của Tổng cục Hải Quan cho thấy, EU đã vươn lên trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 20,31 tỷ USD năm 2012, tăng 22,7% so với cùng

kỳ và chiếm 17,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả nước Giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ EU đạt 8,79 tỷ USD, tăng 13,48% Liên Minh châu Âu

đã và đang trở thành một đối tác quan trọng, một thị trường rộng lớn, có khả

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

năng tiêu thụ nhiều loại sản phẩm của Việt Nam như giầy dép, dệt may, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ dân dụng, sản phẩm nhựa, đồ điện tử, và đặc biệt là hàng nông sản

Trong quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, lợi thế so sánh là yếu tố cần thiết để các quốc gia phát huy những ưu thế sẵn có để trao đổi và

bổ sung lẫn nhau nhằm huy động nguồn lực cho quá trình phát triển kinh tế

Và đối với Việt Nam, việc tận dụng tối đa những lợi thế so sánh là điều cần thiết để hội nhập thành công vào nền kinh tế thế giới nói chung và xâm nhập thị trường EU nói riêng

Trong bối cảnh Chính phủ đang đặt ra nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, nước ta phải tìm ra các mặt hàng có lợi thế so sánh cao để đẩy mạnh xuất khẩu nhằm mục tiêu phát triển nhanh và bền vững nhất trong quá trình công nghiệp hoá giai đoạn tiếp theo Đặc biệt với một thị trường tiềm năng nhưng

có sức cạnh tranh lớn như EU, Việt Nam cần thiết phải đầu tư nghiên cứu để

có những chiến lược xuất khẩu phù hợp Nhận thấy tầm quan trọng đó em

xin phép được chọn đề tài: “Phân tích lợi thế so sánh hàng nông sản của

Việt Nam sang thị trường EU” làm đề tài luận văn cao học

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu của đề tài này là phân tích về mặt thực nghiệm cơ cấu và sự chuyển biến về lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam sang khu vực liên minh Châu Âu (EU)

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về lợi thế so sánh Trên cơ

sở đó, đề tài đưa ra các phương pháp cơ bản nhằm đo lường và phân tích cơ cấu lợi thế so sánh

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Đánh giá cơ cấu và sự chuyển biến về cơ cấu lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU

- Tìm ra những nhóm mặt hàng nông sản xuất khẩu sang EU có lợi thế

so sánh cao nhất nhằm hướng đến một cơ cấu xuất khẩu chiến lược

- Phân tích tính ổn định trong cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu: Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường EU Cụ thể ở đây là 66 mặt hàng nông sản ở cấp độ

3 chữ số phân theo tiêu chuẩn SITC

- Phạm vi không gian: Lợi thế so sánh ở nghiên cứu này được xác định

là lợi thế xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Thứ nhất, luận văn đã rút ra được bài học kinh nghiệm về lợi thế so sánh và thực tiễn phát huy lợi thế so sánh tại một số nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam

- Thứ hai, luận văn cũng đi sâu phân tích lợi thế so sánh của các nhóm mặt hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU với các chỉ tiêu nghiên cứu như chỉ số RCA, hệ số Gini

- Thứ ba, luận văn đã tập trung phân tích tính ổn định trong cơ cấu xuất

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang EU bằng cách sử dụng mô hình hồi quy Galtonia và tính toán ma trận xác suất chuyển đổi

- Cuối cùng, luận văn đưa ra định hướng và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm phát huy lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU trong thời gian tới

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ cở lý luận và thực tiễn về lợi thế so sánh

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Phân tích lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU

Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao lợi thế so sánh hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI THẾ SO SÁNH

1.1 Một số vấn đề lý luận về lợi thế so sánh trong xuất khẩu hàng nông sản

1.1.1 Xuất khẩu: Khái niệm và vai trò

1.1.1.1 Kinh tế đối ngoại

Kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế giữa một quốc gia với các chủ thể bên ngoài, bao gồm nhiều lĩnh vực khác như thương mại quốc tế, đầu tư quốc

tế, chuyển giao công nghệ, hợp tác tài chính, tiền tệ quốc tế… Mỗi lĩnh vực này lại bao gồm nhiều nội dung cụ thể khác nhau Trên góc độ khoa học, mỗi lĩnh vực đó, thậm chí một phần của nó, cũng đã và đang trở thành một môn học được nhiều người quan tâm nghiên cứu (Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng, 2008)

1.1.1.2 Khái niệm xuất khẩu

Xuất khẩu được hiểu là hoạt động đưa các hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận Dưới giác độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng hoá và dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác, còn dưới giác độ phi kinh doanh (làm quà tặng hoặc viện trợ không hoàn lại) thì hoạt động xuất khẩu chỉ là việc lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia (Nguyễn Văn Tuân, 2009)

Còn theo điều 28, mục 1, chương 2 luật thương mại Việt Nam 2005, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật

1.1.1.3.Vai trò của xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam

Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu

và tích lũy sản xuất nhằm phục vụ đắc lực cho quá trình công nghiệp hóa đất

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nước Thông thường, nhập khẩu dựa vào ba nguồn ngoại tệ chính là từ xuất khẩu, vốn vay và viện trợ Trong thực tế, xuất khẩu là phương tiện, nhập khẩu

là mục đích Xuất khẩu để phục vụ nhập khẩu các thiết bị, công nghệ hiện đại, nhằm đẩy mạnh sản xuất và phát triển kinh tế

Xuất khẩu được xem là yếu tố quan trọng để kích thích tăng trưởng kinh tế Đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng sản xuất do tính kinh tế nhờ quy mô Nhiều nghề mới ra đời phục vụ cho hoạt động xuất khẩu và kết quả

là GDP sẽ tăng

Xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất Để đáp ứng đòi hỏi khắt khe của thị trường quốc tế, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng đổi mới trang thiết bị, dây chuyền công nghệ để sản xuất hàng hóa một cách có hiệu quả nhất

Xuất khẩu có tác động mạnh tới cơ cấu kinh tế của toàn nền kinh tế, cũng như có tác động tới cơ cấu ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế tương đối và tuyệt đối của đất nước Muốn thúc đẩy xuất khẩu thì các doanh nghiệp phải sản xuất ra các hàng hóa có tính cạnh tranh dựa trên lợi thế của nền kinh tế nước ta Do đó, sẽ dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành

Xuất khẩu có tác động tích cực và trực tiếp đến việc nâng cao mức sống của người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo Khi xuất khẩu tăng, sản xuất phát triển, tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động và nâng cao mức sống của người dân

Xuất khẩu giúp mở rộng và làm sâu sắc thêm các mối quan hệ đối ngoại giữa nước ta với các nước trên thế giới Điều đó có nghĩa là thông qua các quan

hệ kinh tế, quan hệ đối ngoại giữa nước ta và các nước trong khu vực cũng như

trên thế giới ngày càng trở nên khăng khít (Nguyễn Văn Tuân, 2009)

1.1.2 Các lý thuyết về lợi thế so sánh

1.1.2.1 Chủ nghĩa trọng thương

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Từ giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ thứ XVIII, hầu hết các quốc gia ở châu

Âu chịu ảnh hưởng nặng nề bởi chủ nghĩa trọng thương trong việc thống nhất kinh tế và kiểm soát chính trị Có thể nói chủ nghĩa trọng thương là lý thuyết thương mại quốc tế đầu tiên Trong thời kỳ đó, vàng và bạc được lưu hành với

tư cách là đồng tiền thanh toán trong thương mại quốc tế và cũng là thước đo tài sản của một quốc gia Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, sự giàu

có của một quốc gia phụ thuộc vào số lượng vàng và bạc mà quốc gia đó nắm giữ Để thu được nhiều vàng và bạc thì các quốc gia cần phải xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Một quốc gia mà xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu thì đều nhận được sự chi trả bằng vàng, bạc từ phần còn lại của thế giới Chính vì vậy, các nhà trọng thương đều ủng hộ việc điều tiết thương mại quốc tế theo hướng khuyến khích xuất khẩu

Học thuyết trọng thương đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều khiển kinh tế thông qua bảo hộ (Võ Thanh Thu, 2010) Những người theo chủ nghĩa này kêu gọi sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế thông qua việc áp dụng các hàng rào bảo hộ mậu dịch, miễn thuế nhập khẩu cho các loại nguyên liệu phục vụ sản xuất, cấm bán ra nước ngoài sản phẩm thô, thực hiện trợ cấp xuất khẩu Theo các nhà trọng thương thì lao động là yếu tố cơ bản của sản xuất Chính vì vậy, để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thì cần phải hạ thấp lương để giảm chi phí sản xuất

Nhiều học giả cho rằng chủ nghĩa trọng thương là một học thuyết lâu đời, nhưng ảnh hưởng của chủ nghĩa này vẫn còn kéo dài cho đến nay, đặc biệt là trong cách tranh cãi về chính trị và chính sách thương mại của nhiều quốc gia Một trong những lý do nêu trên là quan điểm cho rằng thâm hụt cán cân thương mại là không có lợi và nhập khẩu sẽ làm giảm việc làm trong nước Khi một quốc gia bị thâm hụt trong tài khoản vãng lai thì quốc gia đó phải vay vốn từ phần còn lại của thế giới để mua nhiều hàng hoá và dịch vụ từ phần còn lại của thế giới hơn là quốc gia đó bán hàng hoá và dịch vụ cho phần

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

còn lại của thế giới Tuy nhiên, việc vay vốn này rất có thể cải thiện sức mạnh kinh tế của quốc gia nếu lợi ích từ việc vay vốn này vượt quá chi phí vay

Qua phân tích lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương, người ta nhận thấy

có một số ưu điểm như sau Thứ nhất, chủ nghĩa trọng thương đã biết đánh giá được vai trò của thương mại quốc tế, coi đó là nguồn quan trọng mang

quý kim về cho đất nước Thứ hai, chủ nghĩa trọng thương đã sớm nhận rõ vai

trò quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết quan hệ ngoại thương Thứ

ba, chủ nghĩa trọng thương là lý thuyết kinh tế đầu tiên trong lịch sử được nâng lên như là lý thuyết khoa học

Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm đã nêu ở trên, lý thuyết trọng thương

về thương mại quốc tế bộc lộ một số nhược điểm nhất định Thứ nhất, chủ

nghĩa trọng thương chưa cho phép giải thích được bản chất của thương mại quốc tế, như cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa trong thương mại quốc tế và cũng chưa thấy được tính hiệu quả cũng như lợi ích do quá trình chuyên môn hóa và trao đổi mang lại Thứ hai, chủ nghĩa trọng thương cho rằng một quốc gia chỉ có thể có lợi từ thương mại trên sự hy sinh của một quốc gia khác Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy rằng các quốc gia chỉ mong muốn tham gia vào thương mại quốc tế với nhau khi cả hai quốc gia đều thu được lợi ích

từ thương mại Thứ ba, chủ nghĩa trọng thương hiểu sai về khái niệm “tài

sản quốc gia”, đo lường sự giàu có của quốc gia bằng quý kim Ngược lại, ngày nay sự giàu có của một quốc gia được đo lường bỏi khả năng của quốc gia đó về nguồn lực con người, tài nguyên có thể cung cấp được cho sản xuất và dịch vụ Nguồn lực này càng phong phú, sử dụng càng có hiệu quả thì dòng chảy hàng hoá và dịch vụ thoả mãn con người càng dồi dào, tiêu chuẩn sống của quốc gia càng cao

1.1.2.2 Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Adam Smith là một nhà kinh học cổ điển người Anh Trong cuộc đời của mình ông đã có nhiều tác phẩm về kinh tế Năm 1776, trong tác phẩm “Sự

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

giàu có của quốc gia”, Adam Smith đã không nhất trí với quan điểm “thương mại quốc tế là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không” của các nhà trọng thương Ông bắt đầu bằng một sự thực đơn giản là để cho hai quốc gia thương mại với nhau một cách tự nguyện thì cả hai quốc gia đều phải thu được lợi ích

từ thương mại Nếu một quốc gia có lợi còn quốc gia kia phải chịu thiệt thì quốc gia chịu thiệt sẽ từ chối không tham gia vào thương mại quốc tế nữa Theo Adam Smith thì thương mại tự do sẽ giúp cho việc phân bổ và sử dụng nguồn lực của thế giới có hiệu quả hơn, và từ đó tạo ra lợi ích cho từng nước tham gia vào hoạt động buôn bán (Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng, 2004) Cũng nhờ tác phẩm này mà ngày nay nhiều nơi suy tôn Adam Smith là

“cha đẻ của kinh tế học”

Để chứng minh rằng thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia tham gia thương mại, Adam Smith đã xây dựng khái niệm lợi thế tuyệt đối Khái niệm này nói về khả năng của một quốc gia cần sử dụng nguồn lực ít hơn so với các quốc gia khác để sản xuất ra một hàng hóa nào đó Theo Adam Smith, một quốc gia có lợi thế tuyệt đối hơn so với các quốc gia khác nếu quốc gia đó có khả năng sản xuất nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn với cùng một nguồn lực Ông cho rằng thị trường sẽ điều tiết các hoạt động kinh

tế và đóng vai trò là một bàn tay vô hình phân bổ các nguồn lực Giá đóng vai trò là một nhân tố chủ chốt Cụ thể là giá tăng lên khi có sự khan hiếm và giảm xuống khi có sự dư thừa Các tác nhân thị trường đảm bảo việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ hợp lý

Chấp nhận quan điểm là sự khác biệt về chi phí sản xuất sẽ phi phối sự

di chuyển quốc tế về hàng hóa, Adam Smith đã tìm cách giải thích nguyên nhân tại sao chi phí sản xuất tại các quốc gia lại khác nhau Ông cho rằng hiệu suất của các nhân tố đầu vào quyết định chi phí sản xuất Hiệu suất này do lợi thế tự nhiên và lợi thế có được tạo ra Lợi thế tự nhiên bao gồm các yếu tố liên quan đến thời tiết, đất đai và khoáng sản Trong khi đó lợi thế có được

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

bao gồm các kỹ năng và kỹ thuật đặc biệt Adam Smith lập luận rằng, do có lợi thế tự nhiên và lợi thế có được, một quốc gia có thể sản xuất hàng hóa với chi phí thấp hơn, và do đó trở nên cạnh tranh hơn so với quốc gia khác Chính

vì vậy, Adam Smith nhìn nhận khả năng cạnh tranh từ mặt cung của thị trường Adam Smith đã đưa ra một số chỉ trích quan trọng đối với chủ nghĩa trọng thương Một là, thương mại tự do mang lại lợi ích cho các bên tham gia thương mại Hai là, chuyên môn hoá sản xuất cho phép thực hiện lợi thế theo quy mô, và như vậy nâng cao hiệu quả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ba là, trong một môi trường tự do thương mại mà không có sự can thiệp của chính phủ thì phúc lợi công cộng sẽ tăng lên do có sự cạnh tranh

Như vậy, Adam Smith ủng hộ tự do thương mại Theo ông, tự do thương mại thúc đẩy phân công lao động quốc tế và cho phép các quốc gia có thể tập trung vào sản xuất hàng hóa mà họ có thể sản xuất với chi phí thấp nhất Tuy nhiên, lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích được một phần thương mại quốc tế Lợi thế tuyệt đối không giải thích được trường hợp khi một quốc gia nào đó lại bất lợi thế hơn so với các quốc gia còn lại trong việc sản xuất tất cả các hàng hoá và dịch vụ thì liệu quốc gia đó có nên tham gia vào thương mại quốc tế hay không Vì sự hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trước tình hình phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế nên đã ra đời lý thuyết lợi thế tương đối, còn gọi là lợi thế so sánh

1.1.2.3 Lợi thế so sánh của David Ricardo

David Ricardo là nhà duy vật và nhà kinh tế học người Anh gốc Do Thái Ông được C.Mác đánh giá là người “đạt tới đỉnh cao nhất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển” David Ricardo cho rằng lợi thế tuyệt đối không phải

là điều cần hoặc đủ để thương mại diễn ra giữa hai quốc gia Chẳng hạn, nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối đối với tất cả mọi hàng hoá và dịch vụ thì quốc gia đó sẽ sản xuất và xuất khẩu mọi thứ và không nhập khẩu thứ gì cả

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nếu quốc gia này muốn xuất khẩu để thu ngoại tệ phục vụ cho việc nhập khẩu

thì lợi thế tuyệt đối sẽ không có giá trị nữa

Chính vì vậy, năm 1817, nhà kinh tế học David Ricardo phát triển tư tưởng “lợi thế so sánh” thành thuyết “lợi thế so sánh” hay còn gọi là quy luật

“lợi thế tương đối” Theo nguyên tắc của lợi thế so sánh thì một quốc gia được cho là có lợi thế so sánh về một hàng hoá hay dịch vụ nếu quốc gia đó sản xuất với chi phí cơ hội thấp hơn so với quốc gia khác Điều đó cũng có nghĩa là bất kì quốc gia nào cũng có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế

dù quốc gia đó có hay không có các điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn hẳn các

quốc gia khác

Quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo là một trong những quy luật quan trọng nhất, đặt cơ sở, nền móng cho mậu dịch quốc tế và được ứng dụng rộng rãi nhất Cho đến nay, bản chất của quy luật lợi thế so sánh của Ricardo vẫn không thay đổi, nó đúng với bất kỳ một quốc gia nào Theo quy luật này thì thậm chí một quốc gia kém hiệu quả hơn (bất lợi thế tuyệt đối) so với quốc gia kia trong việc sản xuất cả hai hàng hoá thì cả hai quốc gia vẫn có thể thu được lợi ích từ thương mại Quốc gia đó sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu hàng hoá mà nó có bất lợi thế tuyệt đối ít hơn (hàng hoá có bất lợi thế so sánh) và nhập khẩu hàng hoá mà nó có bất lợi thế tuyệt đối lớn hơn (hàng hoá

có bất lợi thế so sánh) Nói cách khác, một quốc gia sẽ có lợi hơn khi sản xuất

và xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tương đối hay giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia (Trần Văn Hòe và Nguyễn Văn Tuấn, 2007)

Ưu điểm của quy luật lợi thế so sánh là nó đi xa hơn lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ở chỗ chứng minh rằng tất cả các quốc gia đều có lợi khi

giao thương với nhau bất kể quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối hay không Tuy

nhiên, lý thuyết này cũng gặp phải một số hạn chế nhất định Một là, David

Ricardo đã dựa trên hàng loạt các giả thiết đơn giản hóa lý thuyết về giá trị

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lao động để chứng minh cho quy luật này Trong khi đó trên thực tế lao động không phải là đồng nhất; những ngành khác nhau sẽ có cơ cấu lao động khác nhau, với những mức thu nhập khác nhau Ngoài ra, hàng hóa sản xuất không chỉ có lợi thế về lao động, nó còn nhiều yếu tố khác như: đất đai, vốn, khoa học-công nghệ… nhất là hiện nay, yếu tố lợi thế về lao động dần dần bị thu hẹp lại giữa các quốc gia, các yếu tố khác như đất đai, vốn, khoa học - công

nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng Hai là, lý thuyết lợi thế so sánh không tính đến cơ cấu về nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước Ba là, lý thuyết

không giải thích được nguồn gốc phát sinh thuận lợi của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó, cho nên không giải thích triệt để nguyên nhân sâu

xa của thương mại quốc tế Bốn là, các phân tích của Ricardo không đề cập

tới chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hóa và hàng rào bảo hộ mậu dịch mà các nước dựng lên Các yếu tố này ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của thương mại quốc tế Năm là, học thuyết này không xác định được tỷ lệ giao hoán quốc tế, tức là giá cả quốc tế, căn bản vẫn là hàng đổi hàng Cuối cùng, trong thực tế có thể xảy ra trường hợp cả hai quốc gia đều có bất lợi thế tuyệt đối giống nhau Trong trường hợp này, cả hai quốc gia đều không thu được lợi ích từ thương mại Do đó, quy luật lợi thế so sánh có một trường hợp ngoại lệ,

và để cho quy luật luôn luôn đúng thì quy luật này có thể được phát biểu như sau: Thậm chí nếu một quốc gia kém hiệu quả hơn trong việc sản xuất cả hai hàng hoá so với quốc gia khác thì cả hai quốc gia vẫn thu được lợi ích từ thương mại, trừ khi bất lợi thế tuyệt đối của quốc gia này so với quốc gia kia

có cùng tỷ lệ đối với cả hai hàng hoá

1.1.2.4 Sự sẵn có các yếu tố sản xuất và lợi thế so sánh

Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo không giải thích được nguyên nhân xuất hiện lợi thế so sánh và vì sao các nước khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau Để khắc phục hạn chế này, hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Heckscher và Ohlin đã phát triển lý thuyết lợi thế so sánh thông

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

qua việc xác định nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu

tố sản xuất Lý thuyết của Heckscher và Ohlin dựa trên các giả định sau đây

- Một là, thế giới chỉ có hai quốc gia, hai yếu tố sản xuất (vốn và lao động) và hai loại hàng hoá

- Hai là, hai quốc gia sử dụng cùng một công nghệ sản xuất hàng hoá giống nhau và thị hiếu của các dân tộc là giống nhau

- Ba là, các sản phẩm khác nhau cần các yếu tố sản xuất ở các tỷ lệ khác nhau Chẳng hạn, việc sản xuất gạo cần tỷ lệ lao động tương đối lớn hơn trên mỗi đơn vị vốn, trong khi đó việc sản xuất ô tô cần nhiều vốn hơn trên mỗi đơn vị lao động Trong trường hợp này, gạo được gọi là mặt hàng thâm dụng lao động, còn ô tô được gọi là mặt hàng thâm dụng vốn

- Bốn là, các quốc gia khác nhau có các yếu tố sản xuất sẵn có khác nhau Một quốc gia được coi là dư thừa tương đối về vốn khi tỷ lệ vốn/lao động của quốc gia này lớn hơn so với quốc gia kia Ngược lại, một quốc gia được cho là dư thừa tương đối về lao động khi tỷ lệ vốn/lao động của quốc gia này nhỏ hơn so với quốc gia kia

- Năm là, tỷ lệ đầu tư và sản lượng của hai loại hàng hoá trong hai quốc gia là một hằng số Cả hai quốc gia đều chuyên môn hoá sản xuất không hoàn toàn

- Sáu là, các yếu tố sản xuất di chuyển tự do trong phạm vi một quốc gia nhưng không di chuyển giữa các nước

- Bảy là, thương mại tự do, không có hàng rào thuế quan và phi thuế quan, và chi phí vận chuyển bằng không

Lý thuyết của Heckscher và Ohlin chứng minh rằng một nước sẽ thu được lợi ích thông qua việc trao đổi hàng hoá Quốc gia dư thừa tương đối về vốn nên tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng thâm dụng vốn Ngược lại, quốc gia dư thừa lao động một cách tương đối nên tập trung sản xuất và xuất khẩu hàng hoá thâm dụng lao động Thương mại quốc tế dựa vào

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sự khác biệt về yếu tố sản xuất hiện có của mỗi nước Chẳng hạn, Nhật Bản chuyên môn hoá vào sản xuất hàng công nghệ cao vì Nhật Bản có nguồn lao động có tri thức cao và dồi dào nguồn vốn Ngược lại, Argentina lại chuyên môn hoá sản xuất nhiều sản phẩm nông nghiệp vì quốc gia này có nhiều đất màu mỡ và nguồn lao động với chi phí thấp

Như vậy, học thuyết Heckscher và Ohlin khuyến khích tất cả các quốc gia tham gia vào quá trình thương mại quốc tế, ngay cả những nước không có lợi thế tuyệt đối Tuy nhiên, học thuyết này cũng có những hạn chế nhất định

Nó không cho phép giải thích được mọi hiện tượng của thương mại quốc tế, đó

Mặc dù còn một số hạn chế trước thực tiễn phát triển phức tạp của thương mại quốc tế hiện đại ngày nay nhưng quy luật này vẫn đang là quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế Sự lựa chọn những mặt hàng xuất khẩu phù hợp với lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn

có sẽ là điều kiện cần thiết để các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

triển có thể nhanh chóng tham gia vào sự phân công lao động quốc tế và hợp tác trong thương mại quốc tế

1.1.2.5 Tự do hóa thương mại và lợi thế so sánh

Tự do hoá thương mại là việc giảm thiểu hoặc loại bỏ những hàng rào

mà các quốc gia xây dựng nên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho luồng hàng hoá và dịch vụ di chuyển từ nước này sang nước khác trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng Những hàng rào nói trên có thể là hàng rào thuế quan hoặc hàng rào phi thuế quan (hạn ngạch, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, giấy phép xuất nhập khẩu, quy định về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá v.v ) Các rào cản thương mại nói trên đều là những đối tượng của các hiệp định mà WTO đang giám sát thực thi

Tự do hoá thương mại dẫn đến những thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế của các nước Đặc biệt, việc giảm thiểu mức độ bảo hộ mậu dịch sẽ tạo điều kiện cho các ngành có lợi thế so sánh phát triển một cách tương đối

và thu hẹp một cách tương đối của các ngành công nghiệp không có lợi thế so sánh so với phần còn lại của thế giới Điều này cho thấy rằng mức độ và bản chất của sự chuyên môn hoá sẽ có tác động nhất định đến nền kinh tế thực hiện tự do hoá bởi lẽ việc tái cơ cấu lại nền kinh tế sẽ làm dịch chuyển các nguồn lực phục vụ cho sản xuất Do đó, chi phí điều chỉnh liên quan đến sự thay đổi về cấu trúc nền kinh tế có thể là khá lớn và các quốc gia cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng để giảm thiểu những tác động bất lợi của việc điều chỉnh này Hơn nữa, thay đổi cơ cấu chuyên môn hoá cũng có thể có tác động đáng

kể đến tăng trưởng kinh tế và phúc lợi Mở cửa nền kinh tế cho phép chuyên môn hoá cao hơn, nâng cao năng suất thông qua vừa làm vừa học, nhưng nó cũng có thể kích thích chuyên môn hoá ở những ngành không cần nhiều tiến

bộ khoa học công nghệ, làm cho tăng trưởng chậm lại và giảm phúc lợi

Hội nhập nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới là một chiến lược đúng đắn, những chiến lược này sẽ kéo theo những chi phí mà các quốc

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

gia cần quan tâm Hiểu rõ chi phí điều chỉnh có khả năng xảy ra là một yếu tố quan trọng trên quan điểm của chính sách kinh tế Cũng cần lưu ý rằng lợi thế

so sánh không phải là tĩnh, và nó được xác định một phần bởi chính sách công Các chính sách tạo thuận lợi cho việc phân bổ nguồn lực và nâng cao kỹ năng là rất cần thiết

1.1.3 Hàng nông sản và các loại hàng nông sản xuất khẩu

a Quan điểm về hàng nông sản của Việt Nam

Theo khái niệm của Việt Nam: Nông sản hàng hóa là thành phần tổng sản lượng giao nộp nhà nước và bán ra ngoài, sau khi dã trừ đi phần tiêu dùng

cá nhân và mở rộng tái sản xuất nông nghiệp (giống, thức ăn)

Trong định nghĩa trên khái niệm sản phẩm nông nghiệp bao gồm các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi cụ thể là nhóm mặt hàng rau củ quả; các loại sản phẩm ngũ cốc như gạo, ngô sắn; các sản phẩm từ thịt trứng…Như vậy, theo quan điểm của Việt Nam, nông sản hàng hóa chỉ bao gồm các sản phẩm thu hoạch trực tiếp từ cây trồng vật nuôi chứ không bao gồm các sản phẩm chế biến từ cây trồng vật nuôi đó như bánh kẹo, rượu bia Quan điểm này có những khác biệt rất rõ so với quan điểm của tổ chức nông lương thế giới (FAO) và đặc biệt của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ (USND - United Stated Department of Agriculture) sẽ được trình bày dưới đây

b Khái niệm hàng nông sản của FAO

Theo FAO, hàng nông sản là tập hợp của nhiều nhóm hàng hóa khác nhau bao gồm: Nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới, nhóm hàng ngũ cốc, nhóm hàng thịt và các sản phẩm từ thịt, nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm

từ dầu, nhóm hàng sữa và các sản phẩm từ sữa, nhóm hàng nông sản nguyên liệu, nhóm hàng rau quả

Nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới bao gồm các sản phẩm chủ yếu như

cà phê, ca cao, chè đường, chuối, các loại quả mùi, hạt tiêu

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nhóm hàng ngũ cốc và sắn bao gồm lúa mì, lúa gạo, các loại ngũ cốc hạt thô (kê, ngô…) và sắn

Nhóm hàng thịt bao gồm các sản phẩm chủ yếu như thịt bò, thịt lợn, thịt gia cầm và các loại thịt khác

Nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm từ dầu bao gồm các sản phẩm chủ yếu như các loại hạt có dầu (đậu tương, hạt cải dầu, hạt hướng dương…), các loại dầu thực vật và chất béo (dầu đỗ tương, dầu cọ dầu cải, dầu hướng dương, dầu cọ, dầu dừa, dầu hạt bông, dầu lanh và các loại dầu từ sinh vật biển (bao gồm cả dầu cá), các sản phẩm từ dầu (khô dầu đậu tương, khô dầu hướng dương, khô dầu cải, khô dầu cọ, bột đậu tương, bột cá…)

Nhóm hàng sữa và các sản phẩm sữa bao gồm: bơ, phomat và các sản phẩm làm phomat, sữa đặc, sữa bột và các sản phẩm khác

Nhóm hàng nông sản nguyên liệu thô bao gồm: bông đay, sợi, cao su thiên nhiên, các loại da thú…

Nhóm hàng rau quả bao gồm: các loại rau, của và quả (không phải là các loại quả nhiệt đới)

Nhóm hàng động vật sống (không tính các loại động vật hoang dã và quý hiếm)

c Khái niệm hàng nông sản của bộ nông nghiệp Mỹ

Theo định nghĩa của bộ nông nghiệp Mỹ: Sản phẩm nông sản, đôi khi còn được đề cập như các sản phẩm thực phẩm và sợi bao gồm tập hợp nhiều mặt hàng khác nhau từ các sản phẩm chưa chế biến như đậu tương, ngũ cốc, lúa mì, gạo, bông thô, tới các thực phẩm đã qua chế biến và có giá trị như xúc xích, bánh ngọt, kem, bia, rượu và các đồ gia vị được bán trong các cửa hàng bán lẻ hoặc nhà hàng

Tất cả các sản phẩm thuộc các chương từ chương 1 đến chương 24 (trừ các sản phẩm thủy sản trong chương 3 và chương 16 trong biểu thuế hài hào - xem phụ lục các sản phẩm nông sản trong biểu thức hài hòa) là các sản phẩm

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nông sản Các sản phẩm này thường là những nhóm mặt hàng sau: các mặt hàng ngũ cốc; các mặt hàng cho chăn nuôi; các sản phẩm từ ngũ cốc như bánh

mỳ và mì ống; Các sản phẩm chăn nuôi bao gồm động vật sống, thịt, da động vật chưa thuộc, trứng…Các sản phẩm trồng trọt bao gồm hoa quả tươi, hoa quả chế biến, rau, các sản phẩm từ vườn ươm và bia rượu, thuốc lá chưa chế biến; các sản phẩm nhiệt đới như đường, cà phê, cacao Một số các sản phẩm khác ngoài các chương từ 1 đến 24 cũng được coi là các sản phẩm nông nghiệp bao gồm các sản phẩm dầu mỡ và các sản phẩm từ dầu (chương 13), cao su thô

sơ (chương 40), da thú sơ (chương 41), len và bông (chương 51-52)

Một số sản phẩm được sản xuất từ cây trồng và động vật nhưng không được coi là hàng nông sản bao gồm: sản phẩm sợi cotton, sợi chỉ, vải, sợi dệt

và quần áo, da và các sản phẩm trang trí làm bằng da, thuốc lá điếu, xì gà, rượu mạnh Tuy nhiên những sản phẩm này vẫn được đưa vào cơ sở dữ liệu thương mại của USDA bên cạnh những sản phẩm được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp như hóa chất nông nghiệp, phân bón, máy móc nông nghiệp

Các sản phẩm nuôi trồng, đắt bắt là những mặt hàng phi nông nghiệp vì giá trị thực phẩm của nó có những khác biệt căn bản so với những sản phẩm nông nghiệp nêu trên và trên thực tế các sản phẩm này được FAS (cơ quan hải quan ngoại) hợp tác với ngành công nghiệp để đẩy mạnh xuất khẩu Các sản phẩm gỗ rắn cũng là các sản phẩm phi nông nghiệp bởi vì FAS hợp tác với ngành công nghiệp Mỹ để đẩy mạnh xuất khẩu

Qua các định nghĩa hàng nông sản (Agriculture produce) trên ta thấy mỗi nước và tổ chức có các định nghĩa riêng của mình về hàng nông sản, có thể thấy quan điểm về hàng nông sản của Mỹ rộng hơn so với quan điểm của chúng ra rất nhiều Nếu như ở Việt Nam các mặt hàng như bánh kẹo, rượu bia được xếp vào các mặt hàng công nghiệp nhẹ thì theo quan điểm của Mỹ đây lại là các mặt hàng nông sản Nghiên cứu khái niệm nông sản của Mỹ là việc làm cần thiết cho phép các nhà xuất khẩu Việt Nam biết được nhóm hàng,

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

mặt hàng nào được xếp vào hàng nông sản đề có thể xác định được mức thuế

và yêu cầu đối với hàng nông sản của Mỹ khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ

1.1.4 Nội dung phân tích lợi thế so sánh trong xuất khẩu hàng nông sản

Thứ nhất, mức độ lợi thế so sánh

Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học phát biểu rằng mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối

có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác) Nói cách khác, một quốc gia có lợi thế so sánh trong việc sản xuất một sản phẩm nếu chi phí cơ hội của việc sản xuất sản phẩm trong quốc gia thấp hơn chi phí cơ hội của việc sản xuất sản phẩm đó ở các quốc gia khác (Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng, 2008)

Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa

Nguyên tắc lợi thế so sánh là khái niệm trọng yếu trong nghiên cứu thương mại quốc tế Nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel năm 1970 Paul Samuelson đã viết: "Mặc dù có những hạn chế, lý thuyết lợi thế so sánh vẫn

là một trong những chân lý sâu sắc nhất của mọi môn kinh tế học Các quốc gia không quan tâm đến lợi thế so sánh đều phải trả một cái giá rất đắt bằng mức sống và tăng trưởng kinh tế của chính mình”

Thứ hai, chuyên môn hóa xuất khẩu

Cùng với sự bùng nổi của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trường quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp Xuất khẩu là một trong những con đường quen thuộc để các

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

doanh nghiệp thực hiện kế hoạch bành trướng, phát triển, mở rộng thị trường của mình

Chuyên môn hóa xuất khẩu tạo điều kiện cho các quốc gia mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do quốc gia đó sản xuất ra Nhờ có chuyên môn hóa xuất khẩu mà tên tuổi của mặt hàng không chỉ được các khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị trường nước ngoài Chuyên môn hóa xuất khẩu cũng là một dấu hiệu giúp nhận biết về lợi thế so sánh của một quốc gia

Thứ ba, tính ổn định trong cơ cấu lợi thế so sánh tổng thể, so với các ngành và nội bộ ngành

Trên thực tế, có nhiều phương pháp xác định mức độ ổn định (di động)

về giá trị của chỉ số lợi thế so sánh đối với các nhóm hàng giữa hai thời điểm

t 1 và t 2 Tuy nhiên, trong luận văn này, tác giả sử dụng một số phương pháp thường được áp dụng trong các nghiên cứu về thương mại Để có thể xây dựng ma trận xác suất chuyển đổi Markov thì chỉ số BI cần được chia thành 4 nhóm (Hinloopen và van Marrewijk, 2001) Các nhóm phân loại đó bao gồm: Nhóm a là nhóm hàng không có lợi thế so sánh, nhóm b là nhóm hàng có lợi thế so sánh thấp, nhóm c là nhóm hàng có lợi thế so sánh trung bình và nhóm

d là nhóm có lợi thế so sánh cao Trên cơ sở phân nhóm của Hinloopen và van Marrewijk, tác giả đã xây dựng ma trận xác suất chuyển đổi nhằm phân tích

sự di chuyển giữa các nhóm a, b, c và d

1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế so sánh hàng nông sản xuất khẩu

1.2.1 Nhân tố thuộc về sản xuất: hoàn thiện tổ chức quản lý sản xuất, nâng

cao hiệu quả, giảm chi phí sản xuất

1.2.1.1 Chất lượng nguồn nhân lực

Theo bài viết của TS Vũ Thị Mai thì “chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mực tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngươi lao động” Hay chất lượng nguồn

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhân lực có thể được hiểu là:” trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”

Chất lượng nguồn nhân lực có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng

và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn

Mối quan hệ giữa nguồn lao động với phát triển kinh tế thì nguồn lao động luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế Theo nhà kinh tế người Anh, William Petty cho rằng lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất; C.Mác cho rằng con người là yếu tố số một của LLSX Trong truyền thống Việt Nam xác định ''Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" Nhà tương lai Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, theo ông ta "Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên" (Power Shift-Thăng trầm quyền lực- Avill Toffer)

Thứ nhất là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực, nguồn lao động là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác

Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất

kỹ thuật, khoa học công nghệ… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó NNL được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, NNL với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

với NNL một cách có hiệu quả Vì vậy, con người với tư cách là NNL, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu hội đủ bốn điều kiện:

+ Một là, quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn

+ Hai là, quốc gia đó biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó + Ba là, quốc gia đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông đảo

+ Bốn là, quốc gia đó có các nhà doanh nghiệp tài ba

Thứ hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN

Khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH, HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng NNL, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và phát triển bền vững Đảng

ta đã xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững

Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nhằm phát triển bền vững

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thứ tư là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn

1.2.1.2 Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất

Thuật ngữ KH-CN thể hiện sự đồng hành gắn bó giữa lý luận, lý thuyết

và thực tiễn, thực hành, giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tế Nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghệ Cuộc cách mạng KH-CN lần nhất (thế

kỷ XVIII), bắt nguồn từ giai đoạn thay thế lao động thủ công bằng lao động

cơ giới, lần thứ hai (thế kỷ XIX) tiêu biểu là sản xuất điện năng và nền sản xuất đại cơ giới và lần thứ ba, động lực chính là KH-CN, hình thành từ giữa thế kỷ XX Nội dung cơ bản của mỗi cuộc cách mạng là sự thay thế công cụ sản xuất thô sơ, thủ công, quá trình sản xuất lạc hậu, đơn biệt bằng áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, tiến dần lên cơ khí hoá, tự động hoá, sản xuất dây chuyền hiện đại với những nguồn năng lượng mới,

đó là cải tiến, thay thế, sáng chế ra những hệ thống công cụ mới, trên cơ sở đó nâng cao năng suất lao động, tăng của cải cho xã hội

KH-CN mang lại nhiều lợi ích đối với sự phát triển quốc gia, giúp đẩy

nhanh CNH-HĐH, thay thế công nghệ cũ bằng công nghệ mới hiện đại, nâng cao năng suất lao động, hàng hóa, của cải vật chất tăng cao, đất nước ngày càng phát triển và có vị thế về kinh tế trong quá trình hội nhập Ngoài ra, KH-

CN giúp nâng cao chất lượng y tế, quốc phòng, an ninh, về máy móc, phương tiện Đời sống nhân dân từng bước cải thiện, quốc phòng an ninh ngày càng hiện đại Tăng cường sức mạnh phòng thủ đất nước, hiện đại hóa máy móc, công nghệ trong các lĩnh vực như: văn hóa, giáo dục Rút ngắn thời gian thực hiện ý tưởng, vòng đời các sản phẩm KH-CN, giải phóng người lao động khỏ trực tiếp, thay đổi các quan hệ xã hội, thể hiện

hào khí dân tộc

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ngày nay KH-CN trở thành LLSX trực tiếp, thúc đẩy tốc độ phát triển công nghiệp ngày càng nhanh như thế kỷ XVIII phải mất 100 năm, đầu thế kỷ

XX khoảng 30 năm, vào thập niên 70 - 80 còn 20 năm, thập niên 90 chỉ còn trên dưới 10 năm Vì vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 1990

so với 1982 tăng 28,5% - khối lượng thương mại thế giới tăng 57,9% (IMF 10/1990) Trong 5 năm đầu thế kỷ XXI, GDP của thế giới tăng 40,5% Chu kỳ thay thế sản phẩm trước đây từ 15 - 20 năm, ngày nay chỉ còn 3 - 5 năm Cho nên, quãng thời gian cần thiết để tăng gấp đôi GDP theo đầu người đã được rút ngắn một cách ổn định Nếu như Anh mất 58 năm (từ 1780), Mỹ 47 năm (từ 1839), Nhật 34 năm (từ 1880) thì sau Đại chiến thế giới thứ hai, cuộc cách mạng KH-CN lần thứ ba còn đẩy tốc độ này lên nhanh hơn như: Braxin 18 năm,Indonesia 17 năm, Hàn Quốc 11 năm, Trung Quốc 10 năm Trong vòng

20 năm (từ 1970 - 1990) sản xuất của cải trên thế giới đã tăng 2 lần, vượt khối lượng được sản xuất ra trong 230 năm trước (1740 - 1970)

KH-CN đóng vai trò to lớn trong nông nghiệp như: lai tạo, nhân giống cây trồng mới nhằm tăng năng suất và thay thế giống cây trồng ngoại nhập Các nhà khoa học đãtuyển chọn và đưa vào sản xuất gần 170 giống lúa mới, trong đó có nhiều giống lúa chịu được phèn, chua, mặn, góp phần mở rộng diện tích trồng lúa, mang lại hiệu quả cao, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có hàng chục loại giống lúa lai (Việt lai 20, 24, giống ngô lai), công nghệ chuyển đổi giới tính cá rô phi, cà mè vinh, lai tạo giống hoa mới, Bên cạnh đó KH-CN đóng vai trò quan trong công nghiệp và xây dựng như: sản xuất xi măng, giếng khoan chủng loại G, chế tạo chất nổ ANFO chịu nước có sức công phá lớn, máy cắt plasma - khí ga, xây dựng trạm thu vệ tinh NOAA, ứng dụng công nghệ đúc đẩy, thi công cầu dây văng, đã tự chủ, sản xuất được nhiều loại thiết bị cơ khí chính xác, thiết bị siêu trường, siêu trọng,… xây dựng nhà cửa, nhiều công trình ngầm sâu, vượt xa,

1.2.1.3 Công tác tổ chức quản lý sản xuất

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm người để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì công tác tổ chức quản lý đã trở thành yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp các hoạt động của các cá nhân

Ta biết rằng để tạo ra sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của đời sống và phát triển kinh tế, nhất thiết phải tiến hành phân công lao động và hợp tác sản xuất

Sự xuất hiện của công tác tổ chức quản lý sản xuất như là kết quả tất nhiên của việc chuyển các quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành các quá trình lao động phải có sự phối hợp Sản xuất và tiêu thụ mang tính tự cấp, tự túc do một cá nhân thực hiện không đòi hỏi quản lý Ở một trình độ cao hơn, khi sản xuất và kinh doanh mang tính xã hội rõ nét và ngày càng sâu rộng hơn, khi đó công tác quản lý sản xuất là điều không thể thiếu

Theo C.Mác, “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chi phối đó phải làm chức năng chung, tức là chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa vận động chung của cơ chế sản xuất với sự vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ sở sản xuất

đó Một nhạc sĩ độc tấu tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”

Có thể nói công tác quản lý tổ chức sản xuất tốt suy cho cùng là do biết

sử dụng có hiệu quả những cái đã có để tạo nên những cái chưa có trong xã hội Vì vậy, quản lý chính là yếu tố quyết định nhất cho sự phát triển của một quốc gia và các tổ chức trong đó

1.2.2 Các nhân tố thuộc về tổ chức hoạt động xuất khẩu

1.2.2.1.Công tác tìm kiếm thị trường

Trong nền kinh tế thị trường các nhà sản xuất kinh doanh phải tập trung mọi nỗ lực của mình vào kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng và tồn tại trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường Luôn luôn xem xét đánh

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

giá thị trường với những biến động không ngừng của nó Sự hiểu biết sâu sắc

về thị trường sẽ tạo điều kiện cho các nhà sản xuất kinh doanh phản ứng với những biến động của thị trường một cách nhanh nhạy và có hiệu quả Nghiên cứu thị trường là xuất phát điểm để hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó tiến hành lập ra các chiến lược kinh doanh và chính sách thị trường

Có thể nói nghiên cứu thị trường là chìa khoá của sự thành công, nó có vai trò vô cùng quan trọng, đã có rất nhiều công ty, các hãng khác nhau đã trở nên phát đạt và nổi tiếng nhờ chú trọng đến hoạt động nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường là việc cần thiết đầu tiên đối với doanh nghiệp khi bắt đầu kinh doanh cũng như đang kinh doanh nếu doanh nghiệp muốn phát triển hoạt động kinh doanh của mình Như vậy nghiên cứu thị trường có vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là công cụ giúp cho doanh nghiệp hiểu khách hàng và có thể chinh phục khách hàng thông qua việc thu thập và xử lý thông tin đáng tin cậy về thị trường, nguồn hàng, thị trường bán hàng của doanh nghiệp Khi nghiên cứu thị trường nguồn hàng hay người cung cấp chúng ta cần xem xét ký kết nhiều yếu tố: đặc điểm của nguồn sản xuất, tổ chức sản xuất, phương thức bán và chính sách tiêu thụ của nguồn cung ứng, mối quan hệ bán hàng, chi phí vận chuyển hàng hoá và thoả thuận của người cung ứng với hãng khác để cung ứng hàng hoá nhưng quan trọng hơn là cả thị trường bán hàng Thực chất nghiên cứu thị trường là nghiên cứu khách hàng cuối cùng cần hàng hoá sử dụng để làm gì? Nghiên cứu khách hàng trung gian có nhu cầu và khả năng đặt hàng như thế nào? có thể nói nghiên cứu thị trường bán hàng như một công cụ khoa học để tìm hiểu mà khách hàng mong muốn cũng như xác định lượng cung ứng đối v sản phẩm, dịch vụ và giá cả; việc suy đoán khách hàng mong muốn loại hàng hoá nào đó với số lượng nào đó là một khách hàng việc làm không có cơ sở khoa học, rất dễ sai lầm

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nhìn chung, vai trò của nghiên cứu thị trường được thể hiện cụ thể như sau:

Trong điều kiện hoạt động ít có hiệu quả, nghiên cứu thị trường có thể phát hiện các nguyên nhân gây ra tình trạng trên, từ đó đưa cách khắc phục bằng cách loại bỏ hay cải tiến cách làm cũ

- Nghiên cứu thị trường nhằm thu thập các thông tin cần thiết cho việc tìm kiếm những cơ hội kinh doanh mới bên thị trường và khai thác triệt để thời cơ khi chúng xuất hiện Tiềm năng của doanh nghiệp được tận dụng tối

đa nhằm khai thác có hiệu quả cơ hội kinh doanh trên thị trường

- Nghiên cứu thị trường cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin nhằm tránh và giảm bớt những rủi ro do sự biến động không ngừng của thị trường đến hoạt động kinh doanh đồng thời đề ra những biện pháp ứng phó kịp thời đối với những biến động đó

- Thông qua nghiên cứu thị trường để thu thập thông tin cần thiết phục

vụ cho hoạch định chiến lược và kế hoạch Marketing, tổ chức và thực hiện

- Nghiên cứu thị trường hỗ trợ cho mọi hoạt động kinh doanh của công

ty thông qua việc nghiên cứu thái độ của người tiêu thu đối với sản phẩm của doanh nghiệp

Như vậy: Nghiên cứu thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào; sự thành bại của doanh nghiệp một phần có sự đóng góp của hoạt động nghiên cứu thị trường

Tuy nhiên cũng không nên quá đề cao vai trò của nghiên cứu thị trường

vì nó không thể tự giải quyết được tất thảy mọi vấn đề kinh doanh Mọi kết quả nghiên cứu đều phải qua thử nghiệm trước khi áp dụng

1.2.2.2 Xây dựng thương hiệu cho hàng xuất khẩu

Thực tế cho thấy, hầu hết những mặt hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam được xuất khẩu vẫn chỉ ở dạng xuất thô, xuất khẩu nguyên liệu hoặc nếu

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đã qua chế biến thì lại mang tên của đối tác nước ngoài Nguyên Bộ trưởng

Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển cho rằng: Giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam so với các nước có trình độ tương đương thấp hơn nhiều Một trong những nguyên nhân là việc xây dựng thương hiệu cho hàng nông sản chưa được quan tâm đúng mức

Việt Nam hiện đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo, thế nhưng giá trị lại thấp - lý do rất đơn giản là vì chưa có thương hiệu, do đầu tư dàn trải, không tập trung vào những giống lúa chất lượng cao nên thường chỉ xuất được gạo từ lúa cao sản, chất lượng thấp Sản lượng nhiều mà giá trị không được bao nhiêu

Cá tra Việt Nam hiện có mặt ở 125 thị trường thế giới, nhưng câu chuyện thương hiệu vẫn là rào cản khiến phần lớn cá tra Việt Nam xuất khẩu dưới cái tên của các nhà nhập khẩu, người tiêu dùng thế giới ít biết đến sản phẩm đặc thù của Việt Nam Còn với ngành dệt may, bà Nguyễn Thị Thanh Huyền- Tổng giám đốc Công ty Cổ phần May 10 - cho biết: Ngành may mặc của Việt Nam chưa có một thương hiệu nào đủ mạnh để cạnh tranh với thế giới, cũng như ngành nông sản hay thủy hải sản vậy

Bà Nguyễn Thị Minh Lý- Phó giám đốc Trung tâm Chứng nhận Phù hợp - QUACERT - nhận xét: Khi tham gia thị trường toàn cầu, nếu nông sản Việt Nam cứ tiếp tục cạnh tranh bằng giá thì không những chúng ta không thể

có lãi suất cao để duy trì chất lượng thương hiệu mà còn có nguy cơ tự đánh mất thị trường xuất khẩu

Là đơn vị đầu mối của Chương trình Xúc tiến thương hiệu quốc gia, ông Đỗ Thắng Hải- Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương)

- bày tỏ lo ngại: Thương hiệu vẫn là điểm yếu của các doanh nghiệp Việt Nam Theo ông Hải, càng hội nhập sâu thì thương hiệu hàng Việt càng bị che

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lấp bởi các thương hiệu lớn trên thế giới và điều này cũng đồng nghĩa với việc giá trị của sản phẩm Việt không cao, không có vị trí xứng tầm trên thị trường quốc tế

Xây dựng phát triển thương hiệu hàng xuất khẩu là việc không thể chậm trễ, cần một chiến lược tổng thể, bài bản, tạo sự liên kết giữa các doanh nghiệp để làm nên những sản phẩm mang thương hiệu quốc gia Gợi ý để xây dựng thương hiệu cho hạt gạo Việt, Giáo sư - Tiến sĩ Võ Tòng Xuân cho rằng: Phải bắt đầu từ doanh nghiệp Sự hợp tác của doanh nghiệp và nông dân cùng với nghiên cứu của các nhà khoa học sẽ tạo ra vùng sản xuất rộng lớn

Trong chiến lược phát triển xuất khẩu giai đoạn 2011-2020, Chương trình xây dựng thương hiệu quốc gia được đề cập là một trong những nội dung quan trọng của các biện pháp tăng xuất khẩu Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng thương hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý cho những mặt hàng nông sản có thế mạnh

1.2.3 Nhân tố thuộc về nhà nước: Hỗ trợ hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp

1.2.3.1 Tạo hành lang pháp lý cho xuất khẩu hàng nông sản

Một quốc gia có hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ và nhất quán, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế sẽ tạo nên hành lang pháp lý rõ ràng cho các hoạt động kinh tế đối ngoại Điều này sẽ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu nói chung và xuất khẩu hàng nông sản nói riêng Vì vậy mà hành lang pháp lý cũng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định việc xuất khẩu hàng hóa sang thị trường thế giới

1.2.3.2 Hỗ trợ xâm nhập thị trường quốc tế

Việc tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất trong nước xâm nhập thị trường quốc tế, tham gia hợp tác quốc tế trong xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành một xu thế thương mại mới và một nguyên tắc công bằng hơn trong quan hệ thương mại quốc tế Để phát huy lợi thế trong

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

xuất khẩu, nhà nước cần có quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng nhằm chủ động tham gia các hiệp hội sản xuất và xuất khẩu hàng hoá quốc

tế, kết hợp tổ chức các hiệp hội theo ngành hàng Thông qua hiệp hội, các thành viên có thể trao đổi kinh nghiệm và chia sẻ thông tin với nhau, tạo điều kiện hỗ trợ và thúc đẩy hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của toàn ngành cũng như của từng thành viên trong ngành; làm đầu mối trao đổi thông tin trong và ngoài nước cũng như vấn đề về kinh doanh thương mại nhằm sử dụng hợp lý, tiết kiệm vốn và nâng cao khả năng cạnh tranh của từng thành viên hiệp hội

1.2.4 Nhân tố quốc tế

Trong thương mại quốc tế bao giờ cũng cần có bạn hàng hay đối tác thương mại Qua mô hình thương mại nhiều nước, có thể thấy một nước đang phát triển như Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác buôn bán với nhiều nước đặc biệt là các nước lớn là phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam trong phân công lao động quốc tế Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển sản xuất hàng xuất khẩu Thông qua những chính sách của nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh hợp tác trong sản xuất nông sản xuất khẩu thông qua kênh huy động vốn đầu tư

Phối hợp chính sách thương mại của các nước trong khu vực trong việc thực hiện hoạt động xuất khẩu nông sản Bên cạnh đó, cần kết hợp tổ chức các

hiệp hội theo ngành hàng để phối hợp hành động trên thị trường quốc tế

1.3 Kinh nghiệm thực tiễn về phát huy lợi thế so sánh trong xuất khẩu hàng nông sản của một số nước và bài học cho Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước

1.3.1.1 Thái Lan

Vào thập kỷ 50, Thái Lan là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới Tuy nhiên, nguồn lực sẵn có của Thái Lan trong giai đoạn trước khi công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu được đánh giá là rất có tiềm năng Thái Lan là

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

một đất nước có tiềm năng dồi dào về tài nguyên thiên nhiên và lao động Do điều kiện đất đai trù phú, Thái Lan là một trong những nước có khả năng gieo

trồng các loại cây nhiệt đới

Vào năm 1970, Thái Lan được đánh giá là nước có sự giàu có và dồi dào về tài nguyên nông nghiệp, diện tích đất canh tác, lực lượng lao động, dung lượng thị trường và những ngành sản xuất cần nhiều lao động Nhờ những tiềm năng sẵn có này, Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu có hàm lượng tài nguyên và lao động cao Ba mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Thái Lan năm 1976 là gạo, bột sắn và ngô Trong cơ cấu xuất khẩu hàng hoá năm 1980, xuất khẩu hàng hoá nông nghiệp chiếm 46,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, khai khoáng chiếm 11,6% và hàng chế tạo tập trung nhiều lao động như dệt may, giày da, chế biến hoa quả, đồ trang sức… chiếm 32,3% Bước sang thập kỷ 90, lợi thế so sánh về tài nguyên và lao động của Thái Lan đã giảm xuống tương đối Thái Lan đứng trước các đối thủ mới xuất hiện có lợi thế so sánh về tài nguyên và lao động tốt hơn như Trung Quốc, Ấn Độ Để thích ứng với tình hình mới, Thái Lan đã chuyển hướng đầu

tư sang các ngành có hàm lượng vốn và công nghệ tốt hơn như máy tính, đồ điện gia dụng, linh kiện điện tử, máy móc… Còn đối với các mặt hàng xuất khẩu truyền thống, Thái Lan tập trung đầu tư đáng kể cho nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất, đầu tư về cơ sở hạ tầng để sản xuất hàng hoá tập trung, đầu tư vào khâu chế biến, bảo quản đồng bộ, đặc biệt là đầu tư vào thiết kế bao bì hấp dẫn người mua Ngoài ra, Thái Lan còn ban hành quy định về chất lượng sản phẩm xuất khẩu

Về cơ bản, lợi thế so sánh của Thái Lan vẫn tập trung chủ yếu ở những ngành công nghiệp sử dụng nhiều tài nguyên, nhưng cũng đã có dấu hiệu chuyển dần sang các ngành có hàm lượng công nghệ cao hơn

1.3.1.2 Phi-líp-pin

Là một đất nước có giàu nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm các sản

Ngày đăng: 13/07/2021, 18:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Balassa, B. (1965) „Trade Liberalization and Revealed Comparative Advantage,‟ The Manchester School of Economic and Social Studies 33: 99-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Manchester School of Economic and Social Studies 33
12. Balassa, B. (1977) „'Revealed' Comparative Advantage Revisited: An Analysis of Relative Export Shares of the Industrial Countries, 1953-1971,‟The Manchester School of Economic & Social Studies 45 (4): 327-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Manchester School of Economic & Social Studies
13. Balassa, B. (1986) „Comparative Advantage in Manufactured Goods: A Reappraisal,‟ The Review of Economics and Statistics 68 (2): 315-319 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Review of Economics and Statistics
14. Balassa, B. and Bauwens, L. (1987). Intra-industry Specialization in a Multi-Country and Multi-Industry Framework. The Economic Journal 97: 923-939 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economic Journal 97
Tác giả: Balassa, B. and Bauwens, L
Năm: 1987
16. Bowen, H. P. (1983), „On the Theoretical Interpretation of Indices of Trade Intensity and Revealed Comparative Advantage,‟ Weltwirtschaftliches Archiv 199 (3): 464-472 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Weltwirtschaftliches Archiv
Tác giả: Bowen, H. P
Năm: 1983
17. Bowen, H. P. (1985), „On Measuring Comparative Advantage: A Reply and Extension,‟ Weltwirtschaftliches Archiv 121 (3): 464-472 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Weltwirtschaftliches Archiv
Tác giả: Bowen, H. P
Năm: 1985
18. Bowen, H. P. (1986), „On Measuring Comparative Advantage: Further Comments,‟ Weltwirtschaftliches Archiv 199 (3): 379-381 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Weltwirtschaftliches Archiv
Tác giả: Bowen, H. P
Năm: 1986
19. Brasili, A., Epifani, P. and Helg, R. (2000), „On the Dynamics of Trade Patterns,‟ De economist 148 (2), 233-257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: De economist 148
Tác giả: Brasili, A., Epifani, P. and Helg, R
Năm: 2000
24. Grigorovici, C. (2009), „Analyzing the Degree of Specialization in Romania‟s Services Trade,‟ Romanian Journal of Economic Forecasting 10 (1): 95-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Romanian Journal of Economic Forecasting 10
Tác giả: Grigorovici, C
Năm: 2009
25. Guerrieri, P. and Iammario, S. (2007), „The Dynamics of Export Specialization in the Regions of the Italian Mezzogiorno: Persistence and Change,‟ Regional Studies 41 (7): 933-948 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Regional Studies 41
Tác giả: Guerrieri, P. and Iammario, S
Năm: 2007
26. Hillman, A.L. (1980). Observation on the Relation between Revealed Comparative Advantage and Comparative Advantage as Indicated by Pre- Trade Relative Prices. Weltwirtschaftliches Archiv, Vol. 116, 315-321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Weltwirtschaftliches Archiv
Tác giả: Hillman, A.L
Năm: 1980
27. Hinloopen, J. and C. Van Marrewijk (2001), „On the Empirical Distribution of the Balassa Index,‟ Weltwirtschaftliches Archiv 137: 1-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Weltwirtschaftliches Archiv
Tác giả: Hinloopen, J. and C. Van Marrewijk
Năm: 2001
28. Kalirajan, K. P. and Shand, R. T. (1998). Trade Flows between Australia, India and South Africa: A Growth Triangle?. Economic Papers 17: 89-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Papers 17
Tác giả: Kalirajan, K. P. and Shand, R. T
Năm: 1998
1. Từ Thuý Anh (2010), Kinh tế học quốc tế, Nhà xuất bản tài chính Khác
2. Nguyễn Thị Bằng (2008), Giáo trình kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản tài chính. Lao động - Xã hội Khác
3. Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng (2008), Giáo trình kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Khác
4. Trần Văn Hòe và Nguyễn Văn Tuấn (2007), Giáo trình thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân Khác
5. Tổng cục thống kê (2013), Niên giám thống kê 2012, Nhà xuất bản thống kê - Hà Nội Khác
6. Tổng cục thống kê (2010), Xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam 2008, Nhà xuất bản thống kê - Hà Nội Khác
7. Tổng cục thống kê (2013), Xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam 2011, Nhà xuất bản thống kê - Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w