1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dch thut va ky hiu hc

27 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 605,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Thôi, chào nha, tôi phải đi rồi, mong có ngày gặp lại.” Ký hiệu học cho những ký hiệu không ngôn ngữ trong cùng một bối cảnh, để người nhận có thể tiếp cận với ý nghĩa bản gốc, mà khô

Trang 1

Dịch Thuật

Ký Hiệu Học

Ngu Yên

Trang 2

Dịch Thuật và Ký Hiệu Học

Vai trò Ký hiệu học trong dịch thuật

Nếu một người nói: “Xin chào Tôi phải đi Hẹn gặp

lại.” Rồi quay lưng rảo bước, không nhìn lui Dịch câu này sát nghĩa là đúng “Bye I have to go, See you later.” Nhưng cũng người đó, nói như vậy, rồi

ngập ngừng, tâm tình bịn rịn, rốn ngồi chẳng tiện,

dứt về chỉn khôn (Kiều); câu nói, không chừng phải

dịch khác đi, không theo sát nghĩa đen, thì mới tỏ

tâm tư của người giã biệt “Thôi, chào nha, tôi phải

đi rồi, mong có ngày gặp lại.” Ký hiệu học cho

những ký hiệu không ngôn ngữ trong cùng một bối cảnh, để người nhận có thể tiếp cận với ý nghĩa bản gốc, mà không bị qui tắc chữ nghĩa, ký hiệu ngôn ngữ, làm mờ nhạt tâm tình, ý muốn Ký hiệu học ra đời, khi được áp dụng vào dịch thuật, đó là khúc quanh lớn chia lìa dịch truyền thống và dịch hiện đại

Trong tác phẩm "Wittgenstein in Translation"

(Wittgenstein trong Dịch Thuật) của Dinda L

Gorlée De Gruyter Mouton, 2012,) ký hiệu học được bày tỏ vai trò trong chuyển dịch

Ký hiệu học liên quan đến dịch thuật trên những căn bản chính, được gọi chung là Semiotranslation:

• Khi dịch từ ngữ, dịch nghĩa đen và nghĩa bóng không phải là chuyện khó khăn Dịch nghĩa ám

Trang 3

chỉ của từ ngữ, hoặc cụm từ, hoặc mệnh đề qua ẩn dụ, hoặc tượng trưng không phải dễ dàng, nhất là trong thơ Nghĩa ám chỉ thường

dễ nhận ra trong ngôn ngữ gốc nhưng khó tìm

ra sự tương đương hoặc giải thích lại trong ngôn ngữ dịch

• Để dịch tường tận tâm ý của tác giả, trước hết phải phân tích toàn thể những ám chỉ, tượng trưng, ẩn dụ, hoán dụ trước khi bắt tay chuyển dịch Ký hiệu học sẽ là cơ bản tiếp cận

để giải quyết vấn đề này Cho dù trong hệ thống ký hiệu có những mâu thuẫn giữa các nhà tư tưởng trước sau như sự khác biệt giữa Jacques Lacan và Ferdinand de Saussure trong nan đề nghĩa đen, nghĩa bóng của chữ

• Khi dịch câu văn, dịch thuật phải so sánh giữa hai văn phạm, hai cấu trúc, hai văn hóa của bản gốc và bản dịch Ký hiệu học có thể đảm đang phần lớn những khó khăn này một cách khoa học về diện cấu trúc và ngữ pháp

• Khi dịch cho văn vẻ như một bản văn chương, không phải là một bài luận hoặc bài viết thường, dịch thuật phải đối phó với phong cách

và sắc điệu của văn bản gốc Hai chữ có nghĩa tương đương qua tự điển chỉ có tính tương đối

và thường khi làm kém văn vẻ, khó hiểu Dùng chữ hoặc cụm chữ ở bản gốc so sánh với những chữ có thể dịch trong mẫu ngữ, sẽ làm cho câu văn dễ trong sáng, hợp lý và dễ dân

Trang 4

tộc hóa câu văn ngoại quốc Ví dụ, sử dụng chương trình GraphWords để tìm hiểu khả năng tương đương, tương tựa, đồng nghĩa, phóng nghĩa (graphwords.com)

• Ngoài ra, chức năng của ngôn ngữ cũng là chức năng của ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ dịch Những chức năng và cấp bậc ngôn ngữ trong hệ thống sẽ giúp dịch giả thấy rõ và tái tạo chữ nghĩa theo văn phong của tác giả, ví

dụ, tác giả sử dụng ngôn ngữ ở cấp bậc bác học, dịch giả phải sử dụng ngôn ngữ dịch trong cấp bậc bác học để chuyển dịch tương đương Khi đã xác định cấp bậc ngôn ngữ, thì những từ ngữ thô thiển, văn phong bình dân xuất hiện, phải bị loại bỏ

Ký hiệu học nói chung, xem "Một bản dịch có nghĩa

là một cái gì mới xuất hiện trong một thời gian (một ngày) và trong một không gian đặc biệt nào đó, không chỉ đơn thuần là một bài tập tượng thanh của văn bản gốc 'sao chép-cắt dán' vào một ngôn ngữ khác."

Hiệu quả của ký hiệu trên văn bản

Werner Winter nhận định:

1- Mỗi từ ngữ chỉ là một yếu tố cô lập trong một toàn thể, gọi là hệ thống ngôn ngữ, liên hệ với những thành phần khác trong cùng hệ thống, nhưng khác biệt trong ngôn ngữ khác

Trang 5

2- Mỗi ý nghĩa chỉ đơn thuần là một yếu tố trong toàn bộ hệ thống gồm nhiều thành phần, vào trong đó, lời lẽ được phân biệt khi sử dụng Ví

dụ, mẹ là chữ chung nhưng trong hệ thống chia thành mẹ ruột, mẹ vợ, mẹ chồng, mẹ nuôi, mẹ lớn, mẹ nhỏ, mẹ kế, mẹ thừa…Ý nghĩa được cất giữ trong trí nhớ theo một cơ cấu phức tạp

Ý nghĩ chung đụng với nhau trong trí nhớ, tạo thành nội hàm tương quan Do đó, ý nghĩa và suy nghĩ trở thành khác nhau cho dù dùng chung một số kiến thức Ký hiệu giống nhau, chưa hẳn đã giống nhau, đã đồng nghĩa, đã tương đương Mà ký hiệu chỉ có ý nghĩa thật sự trong bối cảnh và thời điểm riêng biệt đó 3- Liên hệ ngữ nghĩa giữa một từ và các từ khác nằm cùng một hệ thống từ vựng, nhưng khác biệt trong ngôn ngữ ngoại

4- Sự phân phối của một hình thái ngôn ngữ trong lời nói hoặc văn bản, thật sự đã xảy ra trước

đó Những gì chúng ta diễn đạt từ trí nhớ, tức

là việc đó đã xảy ra, dù chúng ta nói về hiện tại Nói một cách khác, qua ngôn ngữ, hiện tại chỉ

là những gì của quá khứ được tái tạo hoặc sao

y Điểm này nêu rõ, dịch bắt đầu từ quá trình tìm lại trí nhớ và quá khứ của ngôn ngữ gốc (Corness 2011:11-12.)

Dịch là thực hành ký hiệu

Có thể gọi là ký hiệu học dịch Khái niệm dịch là phương tiện thông đạt, thông tin và quan tâm về

Trang 6

việc sử dụng, giải thích, thao tác ý nghĩa của thông điệp Trong khi đó, ký hiệu học cũng làm cùng một công việc như dịch về khía cạnh thông đạt

Khi thay đổi từ vựng hoặc văn phạm từ bản gốc qua bản dịch, không chỉ đơn thuần thay đổi chữ nghĩa và qui tắc pháp ngữ như dịch truyền thống; dịch hiện đại, xem sự thay đổi này là chuyển tiếp ký hiệu, bao gồm luôn ký hiệu ngầm và ký hiệu ngoài văn bản [như ý tại ngôn ngoại nhưng khoa học hơn vì phải chứng minh với ký hiệu, không phải chỉ bằng cảm đoán hoặc vịn vào kinh nghiệm.]

Khi thay đổi hoặc chuyển tiếp ký hiệu gốc qua dịch, tức là chuyển hình ảnh (văn cảnh) từ bản gốc qua bản dịch với hình ảnh tương đương hoặc tiếp cận giống nhau hoặc đồng dạng Sư thay đổi xảy ra với điều kiện, giao tiếp ký hiệu, không thể làm thay đổi

ý nghĩa của bản gốc, chỉ có thể làm cho rõ hơn, hay hơn

Khi áp dụng ký hiệu học vào dịch, công việc chuyển dịch sẽ rõ rệt hơn vì sự phân tích và chứng minh ý nghĩa trong Ký hiệu học đã có những phương pháp và kỹ thuật khá định vị

Tóm lược khái niệm Ký hiệu dịch từ De Saussure và Pierce

De Sussure cho rằng mọi ngôn ngữ đều là hệ thống, một cơ cấu ký hiệu có thể hiểu Và các hệ thống ngôn ngữ tuy khác nhau nhưng liên hệ với nhau Tất cả văn bản đều có thể phân tích như ký

Trang 7

hiệu Tìm ngữ hình, ngữ thái, ngữ nghĩa, ý ám chỉ của văn bản gốc để chuyển từng yếu tố sang bản dịch, theo thứ tự quan trọng ưu tiên Ví dụ ngữ nghĩa quan trọng hơn ngữ hình Eugene Nida nhận

xét: “ Ngôn ngữ bao gồm nhiều hơn ý nghĩa của biểu tượng và tập hợp của biểu tượng, cơ bản là ký hiệu trong sinh hoạt Nói một cách khác, ký hiệu hoạt động cho một mục đích cụ thể hoặc một mục tiêu VÌ vậy, phải phân tích những truyền tải thông tin trong điều kiện của chiều hướng đa năng (dynamic dimension, chiều hướng năng động.) Đặc biệt chiều hướng này quan trọng đối với dịch thuật,

vì tạo ra những thông điệp (ý nghĩa) tương đương

là một quá trình, không phải chỉ đơn thuần, tìm kiếm những phù hợp cho các thành phần trong một diễn ngôn, nhưng phải tái tạo toàn thể cá tính đa năng của thông đạt Nếu không có cả hai yếu tố, thì hiệu quả khó được xem là tương đương, trong bất

kỳ ý nghĩa thực tế nào.”

Nida là một trong những người mở đường ủng hộ việc áp dụng học thuật theo hệ thống về diễn trình dịch thuật

Dọc thời gian, theo sự phát triển của Ký hiệu học, quan niệm ban đầu của De Saussure và Pierce trở thành lỗi thời, tuy nhiên những luận lý căn bản vẫn ảnh hưởng trực tiếp và gián tiến đến tiến trình dịch thuật Quan niệm của Pierce về sau được khai triển bởi Jakobson, trong ba loại chuyển dịch: Intragual translation, Interligual translation và Intersemiotic translation [đã trình bày] Ông trở thành một trong

Trang 8

những người đầu tiên áp dụng ký hiệu học vào dịch thuật

Một học giả người Séc, Popovic, trong Dictionary

for the Analysis of Literary Translation, vi ết: “ Khía cạnh ngữ nghĩa trong dịch thuật là sự quan tâm về những gặp gỡ khác trong quá trình dịch Đó là hậu quả của việc thực hành bản dịch trong một thời gian và không gian khác biệt.”

Người theo chân Popovic, học giả Levy, trong Die Literarische Ubersetzung Theorie einer Kunstgattung, đưa ra phương pháp dịch ký hiệu như tái tạo hình ảnh Hình ảnh này, tự thân, bao gồm ý nghĩa và sắc thái xã hội văn hóa “Dịch thuật

là tạo ra những gì ý nghĩa nơi người đọc, qua tưởng tượng mà người dịch nhận được từ bản gốc.” Còn

được xem là thuyết Ảo Tưởng (Illusionism.)

Trong Universe of the Mind (1990), Juri Lotman

đưa ra quan niệm Semiosphere, diễn trình ký hiệu học toàn cầu này chủ yếu về liên văn hóa Ngày nay, được áp dụng trong nhiều lãnh vực, kể cả y khoa, sở thú, địa lý…Một trong điểm căn bản của

ký hiệu học văn hóa là văn chương, cũng là một sản phẩm từ văn hóa và góp phần tạo ra văn hóa

Do đó, dịch thuật liên quan sâu đậm với văn hóa, cần sử dụng những phương pháp phân tích văn hóa của ký hiệu học (Gorlée 1994: 16-20.) Nói tóm lại, quan niệm của ký hiệu học từ căn bản: giải mã và ráp mã, cho đến những lý thuyết hiện đại liên quan đến xã hội văn hóa, nhân chủng và

Trang 9

dân tộc học đều hữu ích khi áp dụng vào dịch thuật trên hai ngôn ngữ gốc và dịch

Một phạm vi chung giữa dịch và ký hiệu học là

Tương Quan Nội Hàm Giữa Liên Văn Bản: Intertextuality

Khu vực này khởi đầu từ lý thuyết, có gốc rễ tận thời điểm của Saussure, Bakhtin, T,S, Elliot và nhà ký hiệu học người Pháp, Julia Kristeva Theo Kristeva, Tương quan nội hàm giữa Liên Văn Bản

là tính hổ tương của từ ngữ trên hai trục Ngữ đoạn (trục ngang) và Mẫu ngữ (trục đứng) [Xem Ký Hiệu Học, bộ 1.] Ký hiệu của mỗi từ liên hệ với ký hiệu của các từ khác trong cùng văn bản Chẳng những liên hệ hàng ngang theo cú pháp, mà còn liên hệ hàng dọc theo ý đồ của tác giả

Dưới mắt nhà ký hiệu học, tác phẩm văn chương được xây dựng bởi mã hiệu hình thể và hệ thống dọc theo lịch sử văn học Có nghĩa là, cùng một tác giả, văn bản sau có liên hệ với văn bản trước, được xây dựng theo sự phát triển của tư duy và kinh nghiệm, do đó ý nghĩa của từ ngữ, của văn bản có sự liên quan sâu rộng hoặc đối nghịch Và không có tác phẩm nào hoàn toàn độc lập, tất cả đều ảnh hưởng lẫn nhau trong thời gian, trong văn học dân tộc và văn học thế giới

Điểm nhấn của Intertextuality được sử dụng nhiều nhất trong vai trò kỹ thuật “Mẫu Ngữ” là một khía cạnh đang được phát triển gần đây của dịch thuật,

có mục tiêu giải quyết những khó khăn vì ý nghĩa

Trang 10

tương đương của từ ngữ, trong toàn bộ ngữ pháp của câu hoặc của văn bản Nhất là trong thi ca Ví dụ:

“Sầu riêng càng chất càng đầy.”

“ Riêng sầu càng chất càng đầy.”

Chữ “riêng” đầu tiên có nghĩa là personal (Anh), osobisty (Ba Lan), personnel (Pháp) trong khi chữ “riêng” thứ hai có nghĩa là only (Anh), seul (Pháp)

“Riêng sầu riêng chất riêng đầy.” Dịch câu này vô cùng khó khăn: 1- vì từ ngữ “riêng” sẽ phải xác định ý nghĩa rõ ràng, Riêng sầu, riêng chất, riêng đầy 2- Nếu không ngắt nhịp hai mà ngắt nhịp như: Riêng sầu riêng, chất riêng đầy; ý nghĩa “riêng” sẽ

và thói quen của tác giả, giúp việc phán đoán thêm chính xác

Một ví dụ khác cho thấy phải tìm ý nghĩa của từ ngữ trong toàn bộ cốt truyện, đoạn văn, hoặc ý đồ tác giả:

Trang 11

“ Tôi nhìn cô gái với ống nhòm,” có hai nghĩa: 1-

Tôi nhìn qua ống nhòm và thấy cô gái 2- hoặc tôi nhìn cô gái đang mang ống nhòm Mỗi nghĩa sẽ mang đến câu dịch khác nhau Và chỉ có một câu dịch đúng trong tình huống hoặc trong cốt truyện Việc này dẫn đến dịch theo Khung Ngữ Nghĩa, Frame Semantics

Charles Fillmore nhận định: “Ý nghĩa do hoàn cảnh

tương đối hóa.” Trong đoạn văn tả tình cảnh xảy ra,

sẽ cho biết cô gái với ống nhòm trong một nghĩa xác định Ngược lại, từ ngữ phải được chọn lựa cẩn trọng, vì nó cho người đọc tình cảnh xảy ra Ví dụ:

I spent three hours on land this afternoon và I spent three hours on the ground this afternoon Câu trên

cho thấy, đến bằng đường biển; câu dưới cho thấy

đến bằng đường hàng không, dù on land và on the ground có cùng một nghĩa trong tình huống này Nhìn từ diện ký hiệu, dịch liên hệ tùy thuộc vào cấu trúc, bao gồm cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc văn bản, của cả hai: Bản gốc và bản dịch Bản gốc dùng để phân tích cấu trúc và bản dịch dùng để tái tạo cấu trúc đã phân tích

Cấu Trúc Luận và Dịch

Cấu Trúc Luận phát nguồn từ Ký Hiệu Học, tất nhiên, liên quan sâu đậm đến dịch thuật Bắt đầu với căn bản: Phân biệt giữa hình thức và ý nghĩa trong cấu trúc của từ ngữ và văn bản Ngôn ngữ là

Trang 12

đối tượng của phương pháp này, bất luận là ngôn ngữ nào, điều này khiến ngôn ngữ thế giới gần gũi nhau hơn qua lãnh vực khoa học

Cấu Trúc Luận cung cấp những lý thuyết ngôn ngữ, trở thành căn bản cho dịch thuật Học giả của Cấu Trúc Luận tin rằng những nền văn hóa khác nhau có thể phân tích qua cơ cấu của ngôn ngữ, cấu trúc của ký hiệu Nỗ lực này đưa đến sự thành lập “Hệ Thống Đồng Nhất”, Homogenous System Cấu Trúc Luận giúp cho dịch thuật phân định rõ rệt giữa hình thái và ý nghĩa của văn bản hoặc lời nói Căn bản là hình thái ngôn ngữ thuộc về ngôn ngữ đặc thù của một dân tộc Trong khi ý nghĩa trong ngôn ngữ có tính toàn cầu Thông thường có thể chia sẻ với nhiều dân tộc trên thế giới và dọc theo chiều lịch sử Cấu Trúc Luận ảnh hưởng sâu đậm trên lãnh vực tìm hiểu hành vi của con người Saussure được xem là cha đẻ của “Học THuật Ngôn Ngữ” và Tân Cấu Trúc Luận Thể hiện trong phong trào Cấu Trúc Luận Hoa Kỳ (American Structuralism Movement)

Cấu Trúc Luận phân biệt rõ ràng giữa những vai trò khác nhau trong quá trình dịch thuật Hình đồ bên dưới cho thấy, dịch giả vừa là độc giả vừa là tác giả Đối với văn bản gốc, dịch giả là người đọc Một người đọc thận trọng, kỹ lưỡng gần như một nhà nghiên cứu, dù tài tử hay chuyên nghiệp Sau đó, dịch giả trở thành tác giả sáng tác văn bản dịch, theo nghĩa tái tạo Như một người viết, đại diện cho

Trang 13

tác giả nguyên bản, mô tả lại tác phẩm trong phạm

vi ý nghĩa, bao gồm nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa

ám chỉ, nghĩa văn hóa và thể hiện bằng thẩm mỹ của văn chương

Dịch thuật đối với Cấu Trúc Luận chủ yếu là giải

mã hệ thống ký hiệu, mã hiệu, phó mã hiệu trong văn bản chính; rồi ráp mã những ký hiệu, mã hiệu này vào bản dịch với phong cách văn học

Dĩ nhiên, đây là công thức đơn giản, trong thực tế

sự phức tạp và công phu nằm ở giải mã và ráp mã Giải mã liên quan với trực giác và kiến thức ngoại ngữ, văn chương, xã hội, văn hóa và dân tộc học; nghi vấn với phong cách và ý định của tác giả Ráp

Ngày đăng: 15/12/2021, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w