1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

khoa hc v cac ky hiu science of signs

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 229,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong từ vựng của Edward Sapir, “mỗi một hình mẫu văn hóa và mỗi hành động đơn lẻ trong các hành vi xã hội đều có liên quan tới giao tiếp hoặc bằng các giác quan cụ thể hoặc tiềm ẩn.”2 R

Trang 1

KHOA HỌC VỀ CÁC KÝ HIỆU

Terence Hawkes

Lời người dịch: Các biểu tượng trong văn học nghệ thuật là một đối tượng nghiên cứu vô cùng rộng lớn Tính đa nghĩa và trừu tượng của biểu tượng đôi khi khiến cho chúng ta bị “ngợp” trong

rừng biểu tượng (the forest of symbols - thuật ngữ của Victor Turner) Để tiếp cận đối tượng vô

cùng hấp dẫn nhưng cũng hết sức phức tạp này, nhà nghiên cứu không thể không có những “công cụ” nghiên cứu Một trong những công cụ hiệu quả nhất để tiếp cận đối tượng nghiên cứu này là

phương pháp luận của ký hiệu học trong khoa học về các ký hiệu Ở Việt Nam hiện nay, ký hiệu

học mới chỉ được tiếp cận ít nhiều dưới góc nhìn của ngôn ngữ học, văn học, mà chưa được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực văn hoá nghệ thuật Thông qua bản dịch này chúng tôi muốn giới thiệu một cách nhìn sâu s ắc đối với các hệ thống lý thuyết về ký hiệu học của Terence Hawkes với việc giới thiệu những góc nhìn khác nhau về cấu trúc luận và ký hiệu học Qua đây, tác giả đã cho chúng ta thấy được cấu trúc luận và ký hiệu học quan hệ chặt chẽ với nhau như thế nào: “S ự hấp dẫn của hai lĩnh vực này về cơ bản không tách rời nhau và, trong dài hạn, cả hai đều cần phải được đưa vào một lĩnh vực thứ ba phù hợp hơn, bao hàm nhiều lĩnh vực được gọi đơn giản là giao tiếp (communication) Với bối cảnh đó, bản thân cấu trúc luận sẽ trở nên nổi bật như một phương

pháp phân tích kết nối các lĩnh vực ngôn ngữ học, nhân học và ký hiệu học.” Khoa học về các ký hiệu chính là phần quan trọng nhất trong cuốn sách Cấu trúc luận và Ký hiệu học (Structuralism

and Semiotics) của ông Từ cách nhìn đó chúng ta có thể áp dụng được phần nào nền tảng lý thuyết căn bản này để làm công cụ trong việc tìm hiểu ý nghĩa của các biểu tượng trong văn học nghệ thuật

Đinh Hồng Hải

Khái niệm của một “khoa học về các ký hiệu,” được hiểu một cách độc lập và (như những gì chúng ta đã đề cập trong trường hợp của một số khái niệm liên quan đến ngôn ngữ học) trong cùng một thời điểm được đưa ra bởi các nhà lý thuyết bên kia bờ Đại tây dương,

đã trở thành một trong những khái niệm hiệu quả nhất bắt nguồn từ các nhà cấu trúc luận nói chung trong hai thập niên qua, và không dễ dàng gì để xác định nó Cả hai thuật ngữ

semiology và semiotics đều được sử dụng để nói đến khoa học này, sự khác nhau duy nhất

giữa chúng đó là semiology được những người châu Âu ưa thích, với sự tôn trọng đối với cách gọi của Saussure dành cho lĩnh vực này, và semiotics có xu hướng được những người

nói tiếng Anh ưa thích hơn, với sự tôn trọng đối với cách gọi của nhà ký hiệu học người Mỹ Charles Sander Peirce1 Lĩnh vực ký hiệu học dĩ nhiên rất rộng lớn, bắt đầu từ những

nghiên cứu về hành vi giao tiếp của các loài động vật (ký hiệu học động vật-zoosemiotics)

tới những phân tích về các hệ thống ký hiệu biểu tượng như giao tiếp thông qua điệu bộ cơ

thể con người (kinesics và proxemics) các ký hiệu khứu giác (“sự mã hóa” của các mùi

hương), lý thuyết mỹ học, và tu từ học2 Hầu hết, các ranh giới của nó (nếu có) đều có sự giáp giới với những gì thuộc về thuyết cấu trúc: sự hấp dẫn của hai lĩnh vực này về cơ bản không tách rời nhau và, trong dài hạn, cả hai đều cần phải được đưa vào một lĩnh vực thứ

ba phù hợp hơn, bao hàm nhiều lĩnh vực được gọi đơn giản là giao tiếp (communication).

Với bối cảnh đó, bản thân cấu trúc luận sẽ trở nên nổi bật như một phương pháp phân tích kết nối các lĩnh vực ngôn ngữ học, nhân học và ký hiệu học3 Do đó tôi sẽ cố gắng đưa ra những nét vắn tắt nhất về ký hiệu học trước khi thu hẹp phạm vi thảo luận với một sự cân nhắc kỹ lưỡng về một số những ẩn dụ dành cho những sinh viên ngành văn học

Bài này trích trong cuốn sách Cấu trúc luận và Ký hiệu học (Structuralism and Semiotics) của Terence Hawkes, Nxb Đại học California ấn hành tại Hoa Kỳ năm 1977 Phần dịch nằm trong chương 4: A science of

signs (Khoa học về các ký hiệu), tr.123-150.

1 Xem trong ghi chép xuất sắc của Pierre Guiraud, Semiology, tr.1-4

2 Xem trong nghiên cứu phần nào làm nản chí của Umberto Eco, A Theory of Semiotics, tr.9-14

3 Đề xuất của Barthes về việc đảo ngược hệ thống thang bậc của Saussure và đề cử ký hiệu học như một phần

của ngôn ngữ học, Elementary of Semiology, tr.II

1

Trang 2

Đã từng xảy ra những tranh luận rằng trong các xã hội loài người, ngôn ngữ rõ ràng

đã đóng vai trò điều khiển và về cơ bản nó mang ý nghĩa chủ đạo của giao tiếp Nhưng có thể thấy rõ rằng con người còn giao tiếp với nhau bằng các phương tiện phi ngôn từ khác và

với những cách thức có hệ quả hoặc phi ngôn ngữ (mặc dù thể thức (mode) của ngôn ngữ vẫn đang hình thành và chi phối) hoặc nó phải có tác động ‘kéo giãn’ (stretching) khái niệm ngôn ngữ của chúng ta cho tới khi nó bao hàm các lĩnh vực phi ngôn từ Trên thực tế, ‘kéo

giãn’ chính xác là một thành tựu to lớn của ký hiệu học ‘Những gì ký hiệu học đã khám

phá ra,’ theo Julia Kristeva, ‘…đó chính là quy tắc chủ đạo (law governing) hoặc, nếu một

ai đó muốn nhấn mạnh hơn, sự cưỡng bức diện rộng (major constraint) ảnh hưởng đến bất

kỳ một hành động xã hội nào nằm trong cái thực tại mà nó biểu đạt; ví dụ khi nó được phát

âm giống như một ngôn ngữ.’1 Nói cách khác, không có ai chỉ giao tiếp bằng lời nói Mọi hành động giao tiếp đều bao hàm trong đó sự chuyển tải những thông điệp thông qua ‘ngôn ngữ’của điệu bộ, cử chỉ, tư thế, trang phục, kiểu tóc, hương thơm, giọng nói, bối cảnh xã hội,v.v… từ trên xuống dưới, thậm chí ở cả những bất đồng với những gì ngôn từ thực sự

muốn nói Và thậm chí khi chúng ta không nói hoặc bắt buộc phải nói, những thông điệp từ những ‘ngôn ngữ’ khác cũng len đầy trong chúng ta: tiếng còi ô tô, tiếng thét, ánh đèn flash,

những quy tắc hạn chế, những tuyên bố giữ lại, những mùi hương dễ chịu hoặc khó chịu,

những khẩu vị thích thú hoặc ghê tởm, thậm chí ‘cảm nhận’ của những chủ thể có tính hệ

thống kết nối những thứ có ý nghĩa đối với chúng ta Vai trò của con người trong thế giới, như bối cảnh đã được đề cập, là tinh hoa của sự giao tiếp Anh ta là, như Greimas đề cập, người gửi và nhận các thông tin: anh ta thu thập và phổ biến thông tin Trong từ vựng của Edward Sapir, “mỗi một hình mẫu văn hóa và mỗi hành động đơn lẻ trong các hành vi xã hội đều có liên quan tới giao tiếp hoặc bằng các giác quan cụ thể hoặc tiềm ẩn.”2

Roman Jakobson đã đề xuất một cách tiếp cận đối với toàn bộ hệ thống ký hiệu này bắt đầu bằng việc cân nhắc tới những điểm bao quát căn bản như sau:

Mọi loại thông tin đều được tạo bởi các ký hiệu; tương ứng với điều đó, khoa học về các ký

hiệu được gọi bằng thuật ngữ ký hiệu học có quan hệ với các yếu tố nền tảng cơ bản này là

cơ sở cho cấu trúc của tất cả các ký hiệu bất kỳ loại nào, và với những đặc tính đối với nội hàm của chúng trong thông tin, cũng như với những đặc trưng riêng biệt của các hệ thống

ký hiệu khác nhau, và trong vô vàn loại thông tin khác nhau sử dụng các loại ký hiệu khác

nhau ( “Ngôn ngữ trong mối liên hệ tới các hệ thống giao tiếp khác” Tuyển tập Roman Jakobson, Tập II, tr.698).

Nghiên cứu về các hệ thống ký hiệu hiện có, Jakobson tiếp tục, xuất phát từ một

nhận thức sơ khai và một quan niệm cổ xưa cho rằng một ký hiệu có hai thể (aspect): ‘một thể nhận thức trực tiếp gọi là signans và một thể gián tiếp được gọi là signatum’ (Sđd, tr.699) Điều này về bản chất không có gì khác so với sự phân biệt giữa signifier (cái biểu đạt) và signified (cái được biểu đạt) được ghi lại bởi Sausure: cả hai nhân tố đều có chức

năng giống như các khía cạnh trong ‘khối thống nhất không thể nào chia cắt’(indissoluble unity) của ký hiệu, và rất nhiều mối quan hệ khác nhau giữa chúng đã hình thành nên nền tảng của các cấu trúc ký hiệu học

Trên thực tế, nhà sáng lập ký hiệu học Mỹ Charles Sander Peirce (1839- 1914), đã đưa đề xuất về sự phân loại các ký hiệu phức tạp một cách chính xác trong phạm vi của các

mối quan hệ khác nhau mà mỗi cái sẽ biểu thị cho signans và signatum, hoặc signifier và

signified Với cách làm như vậy, ông cho rằng cái mà ông đang đối diện không phải gì khác

mà chính là những nền tảng của logic học

Với quan điểm của Peirce, logic học tồn tại một cách độc lập cả về mặt lý luận và thực tiễn Những nền tảng cơ bản của nó không phải là các chân lý đương nhiên mà là những sự ‘xác định và phân loại’ (Tuyển tập C.S.Peirce, Tập 3, mục 149) và những điều này rút cục đến từ bản chất và chức năng của các ký hiệu3 Kết quả là, logic có thể được

1 Julia Kristeva, ‘Hệ thống và chủ đề nói,’ Times Literary Supplement, 12/10/1973, tr.1249.

2 Tuyển tập ngôn ngữ, văn hóa, và nhân cách (Selected Writings in Language, Culture and Personality, tr.104.

3 Các nguồn tham khảo chính là Các bài báo sưu tầm của C.S.Peirce (8 tập), Charles Hartshorne, Paul Weiss

và Arthur W.Burk (Cambridge, Mass: tạp chí của đại học Harvard, 1931-58) Một biên tập toàn diện 15

quyển về tác phẩm của Peirce với sự biên soạn sẵn: xem trong Bibliography, p.180 Tác phẩm Một sự giới

thiệu về triết học của Piece của James K.Feibleman (London: Allen & Unwin, 1960) đưa ra một bài bình luận

2

Trang 3

nhìn nhận như ‘một khoa học về các quy luật chung cần thiết của các ký hiệu’ (Sđd, tập 2, mục 227) Logic, đó chính là, khoa học về các ký hiệu

Một ký hiệu hoặc sự đại diện (representamen - thuật ngữ của Peirce) chính là ‘một

cái gì đó đại diện cho ai đó bằng một cái gì đó trong các quan hệ hoặc khả năng nào đó’

(sđd, tập 2, mục 228): nó là ‘mọi thứ để xác định một thứ gì khác (sự biểu thị của nó - it’s interpretant) để ám chỉ đến một đối tượng mà bản thân nó được quy vào (đối tượng của nó

– it’s object)” (sđd, tập 2, mục 303) Vì vậy một ký hiệu đại diện cho một cái gì đó (đối tượng của nó); nó đại diện cho những gì đó của một ai đó (sự biểu thị của nó – its

interpretant); và cuối cùng nó thay thế những gì của một ai đó trong một vài phương diện (các phương diện này được gọi là nền móng - ground của nó) Những khía cạnh đó, sự đại

diện (representamen), đối tượng (object), sự biểu thị (interpretant) và nền móng (ground) do

vậy có thể được xem như để đề cập đến các ý nghĩa mà các ký hiệu đã biểu đạt thông qua chúng; mối quan hệ giữa chúng quyết định bản chất rõ ràng đối với tiến trình của ký hiệu học

Pierce cho rằng, các mối quan hệ thường liên quan tới ba yếu tố, sự đại diện hoặc

ký hiệu, đối tượng, và nền móng trong ba loại cấu trúc ‘tam vị’ (triadic) hoặc ‘tam đoạn’ (trichotomies) còn một nhân tố thứ tư, sự biểu thị (interpretant), được cho là:

(a) “quan hệ tam vị so sánh” (triadic relations of comparison) hoặc những khả năng thuộc logic dựa trên loại ký hiệu Đó là qualisign, “tính chất” này hoạt động như một ký hiệu một khi nó được thể hiện; sinsign, một sự vật hoặc hiện tượng có thật hoạt động đơn giản và

đơn lẻ (singly – như đã đề cập ở tiền tố sin) là một ký hiệu; và legisin, một quy luật hoạt

động như ký hiệu (ví dụ, không nằm trong cấu trúc của một đối tượng đơn độc nhưng là hành động trừu tượng của một bộ quy tắc hoặc các yếu tố cơ bản: ngữ pháp hoạt động giống

như một legisin tuần hoàn trong ngôn ngữ).

(b) “quan hệ tam vị trình diễn” (triadic relations of performance) bao gồm toàn bộ thế giới thực, căn cứ vào loại nền móng Đó là icon, một cái gì đó có chức năng giống như một ký hiệu thông qua ý nghĩa của những đặc trưng bản thân giống với đối tượng; index, một cái gì

đó có chức năng giống như một ký hiệu bởi hệ quả thực tế hoặc quan hệ nhân quả với đối

tượng; symbol, một cái gì đó có chức năng giống như một ký hiệu bởi một số ‘quy tắc’ theo

thông lệ hoặc sự kết hợp theo thói quen giữa bản thân nó và đối tượng.

(c) “quan hệ tam vị tư tưởng” (triadic relations of thought) dựa trên loại đối tượng Đó là

rheme (hoặc seme), là một ký hiệu biểu thị khả năng hiểu biết về một đối tượng của cái biểu

đạt, anh ta cần có cơ hội kích hoạt hóa hoặc viện dẫn đối tượng; dicent (hoặc dicisign hoặc

pheme) là cái truyền đạt thông tin về đối tượng của nó, đối diện với một ký hiệu xuất phát

từ những gì thông tin có thể được đưa ra; xét về lý, một ký hiệu của đối tượng rút cục không

phải là một cái gì đơn lẻ mà là một quy tắc

Peirce tiếp tục đề xuất về một vài kiểu kết hợp khác nhau của chín loại ký hiệu đã

mô tả ở trên để tạo ra mười loại ký hiệu: ví dụ, một dicent-symbol-legisign (sự truyền

đạt-ký hiệu-biểu tượng); một rhematic-indexical-sinsign (một biểu hiện-chỉ số-hiểu biết);

dicent-indexical-sinsign (một biểu hiện-chỉ số-truyền dẫn),v.v Các kiểu kết hợp giữa mười

loại ký hiệu cơ bản đã tạo ra sáu mươi sáu (66) loại ký hiệu chi tiết hơn và những nhóm

khác nhau trong thành tựu cơ bản hết sức quan trọng này trong phân tích của Peirce và hệ thống hóa logic1

Tính phức tạp trong hệ thống của Pierce rõ ràng nảy sinh từ thực tế rằng, từ quan điểm xuất phát của ông, bất cứ cái gì ở tình trạng cô lập, được kết nối với một thứ gì đó và

‘được diễn giải,’ đều có chức năng như một ký hiệu Điều này có nghĩa là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất mà ở đó các ý niệm của ông về ký hiệu sẽ có tác dụng hữu ích đối với nhận thức luận: sự phân tích về quá trình ‘nhận biết’ chính nó; và làm sao có sự tri nhận

đó Cả hai đều hướng tới sự giản hoá, và bởi vì trọng tâm của nó đối với kinh nghiệm của chúng ta về thế giới thực, những người diễn giải của Pierce cho đến nay đều có ý định giới hạn sự chú ý của họ tới tính ứng dụng trong lý thuyết của ông vào lĩnh vực này Theo Pierce, cái sườn chính cho sự tồn tại của tri thức có được từ sự khẳng định của những mệnh

đầy hữu ích và hệ thống hóa tác phẩm của Peirce Xem cụ thể, tr 81-95 và 197.

1 Trong một bài phê bình gay gắt trong các phạm trù của Peircce, xem của Umberto Eco, sđd, tr 178

3

Trang 4

đề thông qua ‘bộ ba’ ký hiệu: icon, index, symbol Bởi vậy tầm quan trọng của chúng yêu

cầu chúng ta phải đưa ra một cái nhìn sâu sát hơn

Trong icon, mối quan hệ giữa ký hiệu và đối tượng, hoặc cái biểu đạt và cái được

biểu đạt, chứng tỏ, để sử dụng mệnh đề của Peirce, một ‘tổng thể các đặc tính’: một sự tương tự hoặc ‘ăn khớp’ tương đồng được đưa ra bởi ký hiệu, được thừa nhận bởi người

nhận Do đó một biểu đồ hoặc một bức tranh sẽ có mối quan hệ mang tính hình tượng đối

với chủ thể của nó tới một khi thay thế được cho nó: đó là cái biểu đạt thay cho chủ thể

được biểu đạt của nó theo lối hình tượng.

Trong index, mối quan hệ rất cụ thể, thực tế và thường là một sự liên tục, loại quan

hệ nhân quả Điểm căn bản ở đây chính là cái biểu đạt có mối quan hệ với cái được biểu đạt

của nó là phương thức biểu thị Một tiếng gõ lên cánh cửa chính là một sự biểu thị/chỉ dấu

cho sự có mặt của một ai đó, và âm thanh của tiếng còi xe ô tô là một ký hiệu của sự có mặt

của chiếc ô tô trong phương thức tương tự Khói là một sự biểu thị/chỉ dấu của lửa Một cái chong chóng đang quay là một sự biểu thị/chỉ dấu của hướng gió

Trong symbol, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt mang tính tùy ý;

nó yêu cầu sự hiện diện thực sự của người giải thích để đưa ra ý nghĩa của sự kết nối Và đương nhiên, theo quan điểm của Sausure, chúng ta có thể nói rằng đa số sự biểu thị hệ thống của các ký hiệu trong phương thức này xuất hiện trong ngôn ngữ Điểm cơ bản tôi

muốn nhấn mạnh, hoặc quan sát của tôi về một chiếc lá có thể được cho rằng đó là sự biểu

thị của một cái cây; nơi bức tranh hoặc biểu đồ của tôi về một cái cây lại tạo thành một hình tượng cây, cách nói của tôi về từ ‘cây’- tree (hoặc arbre, hoặc baum, hoặc arbor)

chính là biểu tượng của cái cây bởi vì ở đó không cố hữu, sự cần thiết của tính ‘giống cây’

nằm trong cái biểu đạt: mối quan hệ của nó với một cái cây thực về cơ bản vẫn là tuỳ ý (hoặc ‘bị quy gán,’ như cách sử dụng thuật ngữ của Peirce) chỉ giữ được thông qua cấu trúc của ngôn ngữ nơi nó xuất hiện, mà không phải đề cập đến bất kỳ một lĩnh vực kinh nghiệm nào hơn thế

Điểm quan trọng cần lưu ý ở đây chính là “bộ ba” liên quan tới nhau, không phải

các loại ký hiệu loại trừ lẫn nhau, nhưng ba phương thức của một mối quan hệ giữa ký hiệu

và đối tượng hoặc cái biểu đạt và cái được biểu đạt cùng tồn tại trong một hình mẫu của một hệ thống thứ bậc mà ở đó một cái có ưu thế vượt trội hơn hai cái kia Như Jakobson đã

quan sát, chúng ta có các hình tượng mang tính biểu tượng (symbolic icons), các biểu

tượng mang tính hình tượng (iconic symbols),v.v và một hình mẫu chiếm ưu thế sau cùng

của ký hiệu sẽ phụ thuộc vào bối cảnh (context) sau cùng của nó (tiếng còi của một chiếc

xe ô tô đã được sử dụng, trong một bộ phim, biểu đạt việc cấp cứu, sự an toàn, hơn là sự suy hiểm, thảm họa,v.v ) Vì vậy một tín hiệu giao thông có thể, trong các phạm vi của sự

nhận thức, có thể được cho là để kết hợp biểu thị/chỉ dấu (chỉ ra một tình huống và yêu cầu ngay lập tức, một hành động có liên quan đến nhân quả) và biểu tượng (màu đỏ, trong xã

hội của chúng ta, đó là tín hiệu ‘nguy hiểm,’ ‘yêu cầu dừng lại’; tín hiệu màu xanh thì ngược lại, và những màu sắc có liên quan này tùy thuộc vào tính đối ngẫu thông qua hệ

thống tín hiệu đèn giao thông, như những biểu tượng).

Phân tích của Peirce đã cho chúng ta một sự hình dung đúng đắn về sự tồn tại của các loại ký hiệu, về cách mà các ký hiệu hoạt động, và những thủ tục gì chi phối cách sử dụng của chúng ta đối với chúng Tầm quan trọng bao trùm các lý thuyết của ông và tính phức tạp của một loạt các bản viết của ông về chủ đề này có nghĩa rằng ý nghĩa về sự đóng góp của ông cho lý thuyết của ký hiệu học phải được thừa nhận một cách rộng khắp Có lẽ

sự gia tăng một cách nhanh chóng gần đây của mối quan tâm tới chủ đề này rút cục sẽ công nhận vị thế thực sự của ông

Trong khi đó, rất nhiều ý kiến khác cũng được lắng nghe1, và trong sự thiếu vắng của một sự nhất trí toàn thể để chấp nhận lý thuyết của ký hiệu học, giờ đây chúng ta có thể

1 Một ý kiến hay về một loạt tác phẩm gần đây có thể được có được từ hai vấn đề của Times Liteary Supplement đã bình bầu cho chủ đề này dưới nhan đề “The Tell- Tale Sign: một nghiên cứu về ký hiệu học” 5

và 12/10/1973; trong tác phẩm gần đây của Umberto Eco A Theory of Semiotics, đã đưa ra một ý hay, một cách khái quát, ghi chép về luồng tư tưởng “ state of play” và tác phẩm Semiology của Pierre Guiraud, mặc

dù ít cập nhật hơn, cũng đã tìm cách giải quyết vấn đề trọng tâm một cách đáng nể.

4

Trang 5

đạt được một vài cách hiểu hữu ích hơn nữa bằng cách từ Mỹ quay trở lại với châu Âu, và

từ một ‘cha đẻ’ của ký hiệu học tới những người khác: tới phương thức giao tiếp ngôn ngữ được đưa ra bởi Saussure

Một trong những người làm sáng tỏ rõ nhất về chủ đề ký hiệu học theo quan điểm của Saussure chính là Roland Barthes Trong một bài tiểu luận của ông “Huyền thoại ngày nay”1 ông đã đưa ra một trường hợp rằng bất kỳ một phân tích về ký hiệu học nào đều phải

mặc nhiên công nhận mối quan hệ giữa hai thuật ngữ cái biểu đạt và cái được biểu đạt điều

này không phải là một cái gì đó thuộc về ‘tính ngang bằng’ mà là thuộc về ‘tính tương

đương.’ Những gì chúng ta nắm giữ được trong mối quan hệ này không phải là sự sắp xếp thứ tự liên tiếp bởi một thuật ngữ dẫn tới các thuật ngữ khác, mà là mối tương quan thống

nhất chúng với nhau Trong sự chú ý về ngôn ngữ (như tôi đã đặt tên nó ở trên) ‘quan hệ

cấu trúc’ giữa hình ảnh tượng thanh∗ (cái biểu đạt) và khái niệm (cái được biểu đạt) đã tạo

nên những gì mà Saussure gọi là ký hiệu ngôn ngữ Trong mối quan tâm về một hệ thống

phi ngôn ngữ, Barthes cho rằng, ‘tổng thể liên kết’(associative total) này của cái biểu đạt và

cái được biểu đạt đơn giản sẽ cấu thành ký hiệu.

Ví dụ của ông chính là một bó hoa hồng Nó có thể được sử dụng để biểu đạt sự đam mê Khi nó mang ý nghĩa như vậy, bó hoa hồng chính là cái biểu đạt, sự đam mê là cái

được biểu đạt Mối quan hệ giữa hai ‘tổng thể liên kết’ này sẽ tạo ra thuật ngữ thứ ba, bó

hoa hồng là một ký hiệu Và, là một ký hiệu, điều rất quan trọng để hiểu rằng bó hoa hồng là

một thứ tương đối khác so với bó hoa hồng khi là một cái biểu đạt: đó chỉ là, một sản phẩm

của vườn tược Khi là một cái biểu đạt, bó hoa hồng rỗng không, khi là một ký hiệu bó hoa hồng chứa đầy hàm ý Cái đã làm đầy nó (với ý nghĩa) là một sự kết hợp giữa ý định của tôi

với bản chất của các phương thức quy ước của xã hội và các kênh truyền tải đã đem đến cho tôi một loạt các phương tiện để đạt được mục đích Loạt phương tiện này rất rộng lớn, nhưng đã được quy ước hóa và vì vậy rất hạn chế, và nó đã mang đến một hệ thống phức tạp về cách thức biểu đạt:

…đưa ra một viên đá cuội màu đen: tôi có thể dùng nó để biểu đạt theo một vài cách, nó chỉ

là một cái biểu đạt; tuy nhiên nếu tôi cầm nó với một điều được biểu đạt đã được xác định (một án tử hình, ví dụ, trong một lá phiếu vô danh), nó sẽ trở thành một ký hiệu.

(Mythologies, tr.113).

Tuy nhiên, quá trình biểu đạt không kết thúc ở đó, Barthes tiếp tục cân nhắc cách thức mà ở đó ‘huyền thoại’ biểu đạt trong xã hội (và thông qua ‘huyền thoại’ ông muốn nói, giống như những gì chúng ta nhìn thấy ở trên, thần thoại ‘cổ điển’ không giống như hệ thống phức tạp của các hình ảnh và tín ngưỡng mà một xã hội xây dựng nên để chống đỡ và xác nhận ý nghĩa tự thân của nó: ví dụ như kết cấu của ‘ý nghĩa’ trong hệ thống của nó)

Trong trường hợp của huyền thoại, ông cho rằng, chúng ta sẽ tìm lại quá trình biểu đạt gồm ba phần đã được mô tả ở trên: cái biểu đạt, cái được biểu đạt, và sản phẩm của chúng, ký hiệu Tuy nhiên, huyền thoại vẫn có những nét riêng biệt mà ở đó nó luôn có

chức năng giống như một hệ thống ký hiệu thứ hai được xây dựng trên nền tảng của một loạt ký hiệu đã tồn tại trước nó Do đó nó đóng vai trò của một ký hiệu (ví dụ ‘tổng thể liên kết’ của cái biểu đạt và cái được biểu đạt) trong hệ thống đầu tiên sẽ trở thành một cái biểu

đạt trong hệ thống thứ hai Vì vậy, ở đâu ngôn ngữ cung cấp một phương thức cho những gì

mà chúng ta gọi là ý nghĩa tiền đề (như trong trường hợp về bó hoa hồng), hình mẫu (hoặc

tính thần thoại) cho ý nghĩa thứ hai sẽ phức tạp hơn:

Mọi thứ xảy ra như thể huyền thoại đã chuyển đổi hệ thống chính thức của ý nghĩa đầu tiên qua một bên Khi sự chuyển đổi này là thiết yếu cho việc phân tích về huyền thoại, tôi sẽ trình bày nó theo cách dưới đây, nó sẽ được hiểu, đương nhiên, việc mô hình hóa ở đây chỉ là một phép ẩn dụ:

1 Cái biểu đạt 2 Cái được biểu đạt

1 Thông tin này nằm ở phần cuối của Mythologies, tr.109- 59.

Thuật ngữ sound-image chúng tôi dịch là hình ảnh tượng thanh, một số dịch giả khác dịch là hình ảnh thính

giác (Trịnh Bá Đĩnh)

5

Trang 6

ngữ

HUYỀN

THOẠI

3 Ký hiệu

III KÝ HIỆU

Mythologies, tr.115 Nói cách khác, huyền thoại vận hành bằng cách đưa ra một ký hiệu đã được hình thành trước đó (với ‘đầy’ ý nghĩa biểu đạt) và ‘rút cạn’ nó cho đến khi nó trở thành một cái biểu

đạt ‘trống rỗng.’ Một trong những ví dụ được biết đến nhiều nhất của Barthes được mô tả

như sau:

Tôi đang ở hiệu cắt tóc, và một bản sao về Paris-Match được đưa đến cho tôi Trên bìa

ngoài, một người thanh niên da đen trong bộ đồng phục Pháp đang chào đón, với đôi mắt

đang ngước lên, như dán vào một cờ tam tài Tất cả đây là ý nghĩa của bức tranh Tuy

nhiên, cho dù có ngây thơ hay không, tôi nhìn thấy rất rõ những gì nó biểu đạt với tôi: rằng Pháp là một đế chế vĩ đại, rằng tất cả những người con của đất nước, không phân biệt sắc tộc, phục vụ một cách trung thành dưới quốc kỳ, và rằng ở đây sẽ không có câu trả lời nào tốt hơn cho những người phỉ báng chủ nghĩa thực dân đã được viện ra hơn là tỏ rõ nhiệt tâm bởi hình ảnh người da đen đang phục vụ cái gọi là những kẻ áp bức Bởi vậy một lần nữa tôi lại đứng trước với một hệ thống ký hiệu học có ý nghĩa lớn hơn: đó là một cái biểu đạt,

bản thân nó được hình thành bởi một hệ thống trước đó (một người lính da đen đang đưa ra

một kiểu chào Pháp); đó là cái được biểu đạt (đó là một sự pha trộn có chủ tâm giữa tính

chất Pháp với tính quân sự); cuối cùng, đó là sự có mặt của cái được biểu đạt thông qua cái

biểu đạt (Mythologies, tr.116).

Barthes tiếp tục đề xuất rằng thuật ngữ thứ ba trong huyền thoại (thuật ngữ mà trong

ngôn ngữ chúng ta gọi là ký hiệu) nên được gọi là ý nghĩa biểu đạt (signification), rằng thuật ngữ đầu tiên (cái được biểu đạt) nên được gọi là hình mẫu (form) và thuật ngữ thứ hai (cái được biểu đạt) nên được gọi là khái niệm (concept) Vì vậy, tại vị trí đầu tiên của ý nghĩa biểu đạt, của ngôn ngữ, mối quan hệ của cái biểu đạt với cái được biểu đạt sẽ sản sinh ra ký hiệu, trong phần thứ hai của ý nghĩa biểu đạt, của thần thoại, mối quan hệ của

hình mẫu ( ví dụ như vị trí thứ nhất của ký hiệu) với khái niệm sẽ sinh ra ý nghĩa biểu đạt

Với ý nghĩa biểu đạt chúng ta có, tất nhiên, bắt gặp một sức mạnh vô biên, bởi vì sự

che dấu, được đạo diễn thành ý nghĩa ở một cấp độ mà ở đó một ấn tượng về ‘món quà của Chúa – god-given’ hoặc ‘tự nhiên – natural’ thực sự phổ biến, rộng lớn hơn bởi vì chúng ta không thể lĩnh hội quá trình được tạo ra theo cách thông thường Phân tích của Barthes về

tiến trình ký hiệu (semiosis), tiếp nối qua quan điểm của Sausure ở cấp độ này, bắt đầu đưa

chúng ta tới ‘hậu trường – behind the scenes’ như nó đã từng tồn tại trong bản thân cấu trúc

của thế giới chúng ta đang sống

Có thể thấy kết quả của quan niệm này khi Barthes áp dụng nó vào quá trình biểu

đạt ý nghĩa mà chúng ta thường gọi là ‘nội hàm – denotation’ và ‘ngoại hàm

-connotation.’1 ‘Nội hàm’ thông thường được chúng ta đưa ra với ý nghĩa sử dụng trong ngôn ngữ tới ý nghĩa về những gì nó muốn nói tới; ‘ngoại hàm’ có ý nghĩa sử dụng trong ngôn ngữ theo cách là nghĩa của của một cái gì đó hơn là những gì nó được nói ra Và, đương nhiên ‘ngoại hàm’ là đặc điểm trọng tâm của ‘văn học’ hoặc ‘mỹ học’ trong việc sử dụng ngôn ngữ Theo quan điểm của Barthes, ngoại hàm đại diện cho một ‘sự ăn khớp – gearing up’ từ nội hàm giống như huyền thoại đã được tạo ra từ ý nghĩa thông thường Bởi

vậy, ngoại hàm xuất hiện khi ký hiệu là kết quả của một mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trước đó trở thành cái biểu đạt xa hơn

hệ thống đầu tiên tiếp tục là n ội hàm của hệ thống thứ hai… tức là biểu hiện của ngoại hàm Bởi vậy chúng ta sẽ nói rằng một hệ thống hàm nghĩa là một hệ thống tạo ra sự biểu

hiện (ví dụ cái biểu đạt) chính nó được cấu thành bởi một hệ thống biểu đạt: các trường hợp

1 Hiện nay thuật ngữ này chưa được sử dụng một cách thống nhất ở Việt Nam Chẳng hạn, Từ điển Tiếng Việt

(Hoàng Phê) gọi là nội hàm và ngoại diên, một số tài liệu khác gọi là ngoại diện Trịnh Bá Đĩnh sử dụng là

vật biểu và hàm biểu.

6

Trang 7

chung của ngoại hàm đương nhiên sẽ bao gồm những hệ thống phức tạp của các ngôn ngữ hình thành nên hệ thống đầu tiên (đó là, chẳng hạn như, trường hợp của văn học) 1

Nói tóm lại, những cái biểu đạt của ngoại hàm được tạo bởi các ký hiệu (cái biểu đạt

có liên quan đến cái được biểu đạt) của hệ thống ý nghĩa, và điều này tạo ra ngoại hàm, và văn học ở tầm rộng, là một trong số ‘những hệ thống biểu đạt thứ hai’ mà chúng ta đặt đặc trưng lên trên toàn bộ ‘hệ thống ‘thứ nhất’ của ngôn ngữ

Ở đây cũng tồn tại một tình huống ngược lại khi ký hiệu của mối quan hệ trước cái

biểu đạt-cái được biểu đạt đã trở thành cái được biểu đạt của một cái gì đó xa hơn Trong

trường hợp này, hệ thống ‘thứ hai’ trở thành một siêu ngữ (metalanguage) Đây chính là bối cảnh của bản thân ký hiệu học Nó hoạt động như một siêu ngữ/siêu ngôn ngữ, trong khía cạnh của tiến trình ký hiệu (semiosis) được nghiên cứu.

Con người hiện ra trong bất kỳ khía cạnh nào của các cấu trúc ký hiệu học đều mang bản chất thâm căn cố đế phức tạp của các nhà sản xuất ký hiệu Như đã đề cập trong tác phẩm của Levi-Strauss và những người khác, bất kỳ phương diện nào trong các hoạt động của con người đều chứa đựng khả năng tạo ra hoặc trở thành ký hiệu; chúng ta chỉ phải ‘kích hoạt’ nó theo đúng như những gì diễn ra trong các quá trình ở trên Như Umberto Eco đã nói, một ký hiệu là bất kỳ cái gì có thể được dẫn ra giống như ‘sự thay thế ý nghĩa cho một cái gì khác.’2 Như vậy, không có cái gì trong thế giới loài người chỉ đơn thuần vị

lợi (utilitarian): thậm chí các công trình xây dựng thông thường nhất cũng tổ chức không

gian theo một vài cách khác nhau, và trong quá trình biểu đạt, đưa ra một số loại thông tin

về các vị thế xã hội, những giả định trước của nó có liên quan tới bản tính con người, chính trị, kinh tế, hơn thế họ công khai quan tâm tới nơi cư trú, giải trí, chăm sóc y tế, hoặc bất kỳ cái gì Tất cả năm giác quan khứu giác, xúc giác, vị giác, thính giác, thị giác đều có chức năng trong quá trình hoạt động của ký hiệu: dù đó là người tạo ra ký hiệu hay người nhận

ký hiệu Việc sử dụng nước hoa, chất liệu quần áo, theo những cách mà ở đó các mùi được tạo ra bởi dấu hiệu tình trạng chế biến, vị trí, ‘cá tính’, ‘tính chất lạ’ làm nên rất nhiều vẻ Hơn thế, mỗi giác quan phản ứng khác nhau đối với các hệ thống tín hiệu đã được phác họa

để khai thác chúng trong các hệ thống thang bậc khác nhau Có thể hình dung đó như là

một ngôn ngữ nấu nướng, ở đó mỗi món ăn là một lời nói (parole), và trong mối quan hệ với vị giác là giác quan được khai thác nhiều nhất, mặc dù thị giác và khứu giác đều có các vai trò của chúng Công bằng mà nói, không có nghi ngờ gì về một ngôn ngữ của nước hoa

và như Barthes chứng minh một cách đầy đủ chi tiết (với sự phức tạp, trong Systeme de la

Mode - Hệ thống mốt của ông) về ‘thời trang’ và trong bài viết về thời trang ở phương diện

rộng3 Dù vậy, như Jakobson đã đề cập, nó là bằng chứng cho thấy rằng ‘hệ thống ký hiệu được xã hội hóa, phong phú và thích hợp nhất trong xã hội loài người căn cứ vào cái nhìn

và sự lắng nghe’ (sđd tr.701)

Các ký hiệu thuộc âm thanh có sự khác biệt cơ bản về đặc điểm so với các ký hiệu thuộc hình ảnh Đầu tiên là sử dụng thời gian, không phải không gian, như một nhân tố cấu trúc chính Sau đó sử dụng không gian hơn là thời gian Về phương diện âm thanh, các ký

hiệu ‘thời gian’ có đặc tính biểu tượng: thị giác, các ký hiệu ‘không gian’ có đặc tính hình

tượng Các ký hiệu trước đó, đầy phức tạp, nhường chỗ cho lĩnh vực nghệ thuật có hình

thức chủ yếu thuộc ngôn ngữ nói và âm nhạc Sau đó, các ký hiệu nghe nhìn, nhường chỗ cho lĩnh vực nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc,v.v Và đương nhiên, vượt ra khỏi sự khái quát hóa này, là những hình thức nghệ thuật được tạo ra bởi sự kết hợp của cả hai hình thức trên: kịch, opera, phim ảnh, truyền hình,v.v

Các ký hiệu có thể vừa được tạo ra một cách hữu cơ (organically), bởi con người, vừa bằng công cụ (instrumentally), thông qua sự mở rộng công nghệ của con người Ngôn

ngữ là hệ thống ký hiệu hữu cơ ‘tinh khiết’ nhất Mọi ảnh hưởng từ sự biểu đạt của nó đều

có nghĩa, và nó chỉ được tạo ra bởi con người Khi có ‘sự mở rộng’ của con người, cái mà

chúng ta gọi là trung gian (medium), một thành tố hữu cơ căn bản trở nên chiếm ưu thế so

1 Elements of Semiology, tr 89-90 Câu trong dấu ngoặc đầu tiên do tôi lồng vào.

2 Sđd tr.7

3 Xem trong bản ghi chép của Barthes về “các hệ thống biểu thị” của áo quần, thức ăn, ô tô và đồ gia dụng,

trong Các thành tố của ký hiệu (Elements of Semiology), tr 25-30.

7

Trang 8

với những cái khác (điện thoại có được hiệu quả này về mặt tiếng nói; phim câm cũng có được hiệu quả tương tự về điệu bộ cơ thể) sau đó nó sẽ có tác động khó tránh tới tính chất

của diễn ngôn (discourse) Đó là, phương tiện trung gian sẽ bắt đầu có tác động tới thông

điệp Khi điều này trở thành hình thái cực đoan, chúng ta sẽ nhận thấy bản thân mình phải đứng trước, không phải với một phương tiện trung gian với những sự truyền dẫn đơn giản

một thông điệp được đóng gói sẵn, mà là một hệ thống ký hiệu tự trị (autonomous), với một

“đời sống” của nó - đó là, những thông điệp - của chính bản thân nó

Một trong những ví dụ quan trọng nhất về quá trình này chính là hệ thống chữ viết của một ngôn ngữ Mặc dù chúng ta, trải qua nhiều kinh nghiệm, đã thành thói quen với

chính hệ thống chữ viết của mình, không nghi ngờ gì khi nó không đơn giản là việc ghi lại

ngôn ngữ của chúng ta Như Jakobson đã đề cập:

Ngôn ngữ chữ viết có thiên hướng phát triển các thuộc tính cấu trúc cá biệt của nó nên lịch

sử của hai ngôn ngữ khác biệt hàng đầu, nói và viết, là sự phong phú trong mối quan hệ biện chứng giữa những những tính kháng cự và hấp dẫn đan xen (sđd tr.706).

Và do đó, khi chúng ta đưa câu hỏi ký hiệu học có thể đóng góp gì cho nghiên cứu

về văn học, ‘thuộc tính cấu trúc cá biệt’ của chữ viết rõ ràng sẽ là yếu tố trọng yếu, như chúng hình thành, về mặt ký hiệu học, phần lớn những gì trong mọi bản viết truyền đạt Chữ viết, sau tất cả, kết hợp hai loại của ký hiệu Ngôn ngữ, thông thường có thuộc tính âm

thanh, tạo ra hình ảnh thị giác khi nó được viết ra hoặc được thể hiện dưới hình thức in ấn Đối với vai trò của ký hiệu âm thanh thuộc thời gian giống như tác nhân cấu trúc của nó vì

vậy mà được cộng thêm (và với một giác quan, quá trình này là một sự giảm bớt) vai trò

của ký hiệu thị giác đối với không gian Vì vậy chữ viết tác động mạnh tới ngôn ngữ bởi

một tính chất tuyến tính, một tính chất liên tục và một sự tồn tại lý tính trong không gian

mà ngôn ngữ nói không thể có được Hơn nữa, những gì mà chúng ta đã đề cập ở trên, các

ký hiệu âm thanh ‘thuộc thời gian’ có xu hướng (theo thuật ngữ của Peirce) mang đặc tính

biểu tượng (symbolic), nơi các ký hiệu thị giác ‘thuộc không gian’ có xu hướng mang đặc

tính hình tượng Nó cho thấy rằng, trong ngôn ngữ chữ viết, cả hai loại ký hiệu sẽ luôn luôn

có mặt và có khả năng biểu thị ý nghĩa

Vì vậy, hai thể loại (genres) đặc biệt của ngôn ngữ ở dạng chữ viết, thơ và văn xuôi, phát ra những thông điệp hình tượng về bản chất của chúng thông qua các ý nghĩa thị giác của thuật in máy trên (cũng như dưới) các thông điệp biểu tượng trong nội dung của chúng.

Một bài thơ được ‘trình bày’ theo một hình thức khác với một đoạn văn xuôi: một tiểu thuyết ‘giống như’ một tiểu thuyết, không giống với một cuốn sách giáo khoa Người viết

có thể lựa chọn để tăng, hoặc giảm, sức mạnh cho thông điệp mang tính hình tượng, trong mối quan hệ với thông điệp mang tính biểu tượng được phát ra bởi ‘nội dung’ của bản viết,

tuỳ thuộc vào tính chất của toàn bộ thông điệp mà tác giả muốn nói tới

Tác giả của, lời nói, một cuốn tiểu thuyết trinh thám, thường quan tâm chủ yếu tới nội dung, và sẽ có thể tìm thấy bất kỳ một thông điệp mang tính hình tượng nào hơn ‘đây là một cuốn tiểu thuyết trinh thám’ đơn thuần là một sự can thiệp Nói cách khác, một tiểu thuyết gia như Joyce có thể mong muốn nâng mức độ hình tượng của toàn bộ thông điệp để

từ đó khái quát hóa sự căng thẳng, sự châm biếm, bình luận xã hội,v.v Vì vậy, một đoạn

trong tác phẩm Ulysses, thông điệp hình tượng ‘đây là một cuốn tiểu thuyết’ đột nhiên thay

đổi:

Đôi mắt câm lặng Không hề gì Có lẽ hối tiếc khi nhận ra anh ta Kéo qua anh ta theo hướng đó.

Cám ơn Chúng ta đã có một buổi sáng thật tuyệt vời.

GIỮA TRUNG TÂM THỦ PHỦ AI-LEN

TRƯỚC KHI NHỮNG ĐƯỜNG XE ĐIỆN CHÍNH CỦA NELSON CHẬM LẠI, CHUYỂN HƯỚNG, THAY ĐỔI toa xe, khởi đầu với Blackrock, Kingstown và Dalkey, Clonskea, Rathgar và Terenura…

NGƯỜI MANG MŨ MIỆN

Dưới cổng vòm của bưu điện trung tâm những người đánh giày chào mời và đánh bóng…

(Ulysses, tr.107-8)

- và chuyển thành ‘đây là một tờ báo.’

8

Trang 9

Tương tự như vậy, đoạn văn sau trong tiểu thuyết của Christine Brooke Rose THÔNG QUA việc sử dụng thông điệp biểu tượng ở mức độ cao:

Trừ phi chiếc gương được dời tới

đột ngột cách ly

Chẳng nhìn thấy gì trong

thực tại

của

cái

ý nghĩ

không

tất cả với người kể câu chuyện này dù đó chỉ là một cách nói khi chữ viết bằng cách nào đó tồn tại nhưng với các mức độ khác nhau trong sự thể hiện theo sở thích hoặc muốn nhấn mạnh khoảng cách câu chữ hoặc

ở một loạt sự biểu đạt âm thanh giống như Ali Nouremin không râu Marx không ghi chép mà nhìn chăm chú với đôi mắt mê hồn đã phá vỡ

chuỗi rời rạc với một cái nhìn chăm chú

Nhưng nó cần điều chỉnh (tr.32)

Trong các bài thơ sau, cả E.E.Cummings và William Carlos William đều dựa vào thị giác, những ký hiệu hình tượng giống như những thành phần quan trọng của toàn bộ thông điệp:

‘dĩ nhiên là sẽ đến châu Mỹ thần tiên tôi yêu em vùng đất của những hành giả luôn hướng về phía trước rằng em có thấy ánh ban mai rực rỡ

đất nước đó thuộc về những thế kỷ đến và đi

và chúng ta chẳng phải lo lắng một điều gì trong mọi ngôn ngữ dù câm-hay-điếc bởi những người con vinh quang đã hiến máu đào bởi những lời ca thán ngọt ngào

về cái đẹp có gì hơn những người đã mất như vinh quang của những anh hùng

ai xông lên như sư tử trong những cuộc tàn sát chẳng hề nghĩ xem họ đã chết vì điều gì rồi tiếng nói tự do sẽ trở nên câm lặng?’

Anh đã nói Và uống nhanh chóng một cốc nước

E.E.Cummings

Điều Muốn Nói (This Is Just To Say)

Tôi đã ăn những quả mận chúng đã ở trong thùng lạnh với chúng bạn có thể tiết kiệm bữa sáng tha thứ cho tôi chúng rất ngon rất ngọt

và mát lạnh

William Carlos Williams

Bài thơ của Cummings đã sử dụng phương tiện hình ảnh để truyền tải thông điệp ‘đoạn văn này không có mẫu’(thói quen của ông thể hiện ở chính cái tên của ông, ‘e.e.cummings’

tương tự với cách mô tả một thử nghiệm thị giác làm xóa mờ cái tôi [ego] xâm nhập).

Trong khi đó, ở một tầm mức thính giác, hình thức ‘thơ’ của bài thơ đương nhiên có cấu

9

Trang 10

trúc ở mức độ cao hơn về âm vần và nhịp điệu thông thường được nhận ra ở thể thơ Sonnet

(thơ 14 câu-ND) Thông điệp ‘đây là một bài thơ Sonnet’ được phát ra bởi hình mẫu biểu

tượng vì vậy hiệu ứng được nhìn nhận bị lấn át bởi thông điệp có liên quan tới tính phi hình

thức (ví dụ ‘đây không phải là một bài thơ Sonnet’) được đưa ra trong phương thức hình

tượng giống như - và điều này, có lẽ, là ‘toàn bộ’ thông điệp của bài thơ - đã kế thừa, các

hình mẫu xã hội truyền thống đã bị áp đảo và bị bóp nghẹt bởi những miệng lưỡi của nhà chính trị Sự thoái hoá cuối cùng được đưa tới bởi chiến tranh, nó dường như, nằm trong sự tan rã sức mạnh hình thức của ngôn ngữ: phần chính nội dung bài thơ được tạo bởi những mảnh ghép của những bài hát về lòng yêu nước và những khẩu hiệu

Trong bài thơ của William Carlos Williams, chúng ta nhìn thấy quá trình gần như đảo nghịch Ở đây sự áp đặt mới và tình trạng xáo trộn những gì đáng ra là một việc bếp

núc tầm thường của văn bản được đưa ra bởi một thông điệp hình tượng của thị giác cho

rằng ‘đoạn viết này tạo thành một bài thơ’: đó là, ‘những chữ này có ý nghĩa vượt xa ý

nghĩa công khai của chúng.’ Trong khi đó, các ký hiệu biểu tượng được đưa ra thiếu đi một

cái gì đó thuộc về sự biểu đạt của ‘chất thơ’ do văn hóa dẫn dắt chúng ta tìm kiếm và chờ đợi Qua những phương tiện này, bài thơ có thể khiến chúng ta suy nghĩ về những gì mong đợi thực sự và cho dù chúng ta ủng hộ chúng hay không Nó thậm chí làm chúng ta nghĩ tới bản chất của các quy ước xã hội dành cho ‘các bài thơ’ một cách ‘đầy ý nghĩa,’ nhưng lại

phủ nhận nó với những hình thức bày tỏ khác Vì vậy việc sử dụng các phương tiện hình

tượng đã phá vỡ sự trông đợi của chúng ta, cả hai bài thơ đã chứng tỏ sự xáo trộn về nền

tảng.1

Điều này đương nhiên không phải để nói rằng, ít nhiều ám chỉ trực tiếp tới bản thân chúng, các bài thơ dù sao cũng bất thường Trường hợp này có hơn một lần được tạo ra đó

là tất cả các tác phẩm nghệ thuật văn chương tự động-đề cập(auto-referential) tới một mức

hiển nhiên Và nó dường như cho thấy rằng, ưu thế sẵn có của phương thức ngôn ngữ, những gì thực sự thuộc ‘chức năng thẩm mỹ’ của ngôn ngữ cũng sẽ thuộc ‘chức năng thẩm mỹ’ của hệ thống ký hiệu ở mức độ rộng Như Jakobson đã đưa ra nhận định:

‘…ký hiệu lồng trong một thông điệp sẽ biểu đạt chính bản thân nó, được liên kết một cách bền vững với chức năng thẩm mỹ của các hệ thống ký hiệu.’ (sđd tr.704)

Nói cách khác, nếu văn chương bao gồm ít nhất một phần của các ký hiệu thì nó không biểu

đạt theo cách ‘thông thường’ bởi vì chúng biểu đạt chính bản thân chúng, sau đó ‘chức năng thẩm mỹ’ của tất cả các hệ thống ký hiệu khác có lẽ sẽ được cho là có liên quan một cách

hệ thống với sự phá vỡ ‘các quy tắc’ có ý nghĩa tương tự Hơn nữa, các quy tắc không chỉ

yêu cầu một cách biểu đạt vượt quá bản thân nó về cái được biểu đạt (signans-cái biểu đạt

& signatum-cái được biểu đạt - ND), mà nó còn yêu cầu không được mập mờ Chưa kể tới,

sử dụng nguyên tắc thẩm mỹ trong ngôn ngữ, cái biểu đạt cho thấy, như chúng ta đã biết, ở

mức độ cao của ‘đa nguyên’(plurality): đó là, sự mơ hồ Và, như Umberto Eco bình luận,

‘nói theo ngôn ngữ ký hiệu, sự mơ hồ phải được xác định giống như một phương thức phá rối các quy tắc mã hóa.’2

Dường như theo sau một phân tích ký hiệu học của tất cả ‘các chức năng thẩm mỹ’ phải

được đặt trong một giác quan để nhìn chúng như một thể chế nghịch (paradoxical

institutionalization) trong việc phá vỡ-quy tắc (một khái niệm không còn xa lạ, nó sẽ được ghi nhớ, xuất phát từ quan điểm được đưa ra bởi Jakobson khi cho rằng nghệ thuật thơ tiêu biểu cho ‘sự phá cách có tổ chức được gửi vào một bài nói thông thường’) Vì vậy nghệ thuật xuất hiện như là một cách để kết nối ‘các thông điệp’ với nhau, để tạo ra ‘các bản văn’

mà ở đó vai trò ‘phá vỡ-quy tắc’ của sự mơ hồ và tự vấn được khuyến khích và ‘tổ chức’

để, như Umberto Eco nhìn nhận:

1 Dẫn theo thảo luận đáng chú ý của Culler về bài thơ của Williams (sđd tr.175- 6) với những gì ghi chép ở trên thực sự phù hợp Rõ ràng mặc dù tôi đồng ý rằng “khi nó được ghi chép lại giống như một bài thơ quy ước về ý nghĩa bắt đầu hoạt động,”tôi không chấp nhận bàn luận của Culler khi cho rằng “do vậy chúng ta phải cung cấp một chức năng mới để biện hộ cho bài thơ.” Sự biện hộ cho bài thơ với tôi dường như thuộc về câu hỏi tiềm ẩn của nó về “quy ước của ý nghĩa” Do chính vị thế của bản thân nó và quá trình xã hội đã quyết định phản ứng của chúng với ngôn ngữ của bài thơ.

2 Umberto Eco, sđd tr.262

10

Ngày đăng: 16/12/2021, 11:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

hình mẫu (ví dụ như vị trí thứ nhất của ký hiệu) với khái niệm sẽ sinh ra ý nghĩa biểu đạt. - khoa hc v cac ky hiu science of signs
hình m ẫu (ví dụ như vị trí thứ nhất của ký hiệu) với khái niệm sẽ sinh ra ý nghĩa biểu đạt (Trang 6)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w