1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

C s LY THUYT v CHUYN DCH c CU KI

109 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói một cách khác khi nhận đề tài này, nhóm nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý thuyết của vấn đề này nhằm : - Giúp các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách nắm r

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH- MARKETING

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

(ĐỀ TÀI NHÁNH)

ĐỀ TÀI :

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU KINH TẾ VÀCHUYỂN ĐỔI

MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

GIAI ĐOẠN 2011-2020

ĐƠN VỊ THỰC HIỆN : KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC NHÓM TH ỰC HI ỆN Đ Ề TÀI :

1 TS Phan Văn Thăng Chủ nhiệm đề tài

2 Th.S Trần Nhân Phúc P Chủ nhiệm đề tài

3 Ts Nguyễn Thị Mỹ Dung

4 Th.Nguyễn Thanh Lâm

5 Th.S Nguyễn phi Hoàng

6 Th.S Cao Huỳnh Thị Thanh Trúc

TP H ồ Chí Minh 2011-2012

Trang 2

DANH SÁCH NHÂN SỰ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 TS Phan Văn Thăng Trưởng Khoa ĐTSĐH Chủ nhiệm đề tài

2 Th.S Trần Nhân Phúc Chuyên viên Khoa ĐTSĐH P Chủ nhiệm đề tài

3 Th.Nguyễn Thanh Lâm Giảng viên khoa QTKD

4 Th.S Nguyễn Phi Hoàng Giảng viên khoa QTKD

5 Th.S Cao Huỳnh Thị Thanh Trúc Chuyên viên Khoa ĐTSĐH Thư ký đề tài

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Thành Phố Hồ chí minh là một thành phố trực thuộc trung ương và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Từ xưa đến nay Thành phố vẫn thường giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam Theo những số liệu hiện có thì Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài1, lực lượng lao động của thành phố là khá dồi dào Vào năm 2005 có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi lao độngnhưng vẫn đang tham gia làm việc2 Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người ở Thành Phố

Hồ Chí Minh đạt 2.800USD/năm, cao hơn khá nhiều so với trung bình cả nước- 1168 USD/năm3 Tổng GDP cả năm 2010 đạt 418.053 tỷ đồng (tính theo gía thực tế khoảng 20,902 tỷ USD), tốc độ tăng trưởng đạt 11.8%4

Xét về tổng thể , nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh là tương đối lớn và đa dạng về nhiều mặt, từ khai thác mỏ , nông nghiệp, lâm nghiệp , thủy sản , công nghiệp chế biến, điện tử, cơ khí, xây dựng đến du lịch , tài chính Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2% 5

Tính đến giữa năm 2006 , 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND 6 Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007 7 Riêng trong năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD 8 Trong bảng xếp hạng

về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, thành phố Hồ Chí Minh xếp ở vị trí thứ 20/63 tỉnh thành 9

Mặc dù đã đạt được những thành tích rất đáng khâm phục như vậy nhưng để đưa nềnkinh tế của thành phố nói riêng và cả nước nói chung trở thành nền kinh tế phát triển thì thành phố còn phải phấn đấu rất nhiều Những gì mà thành phố đã đạt được vẫn chưa thực

sự dựa vào nền công nghệ , kỹ thuật cao và tiên tiến, những nền móng, trụ cột để phát triển bền vững và lâu dài vẫn chưa được hình thành Hiện tại nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình

độ công nghệ hiện đại Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68

cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến 10 Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp cũng gây khó khăn cho nền kinh tế 11

Để thoát khỏi “ bẫy thu nhập trung bình” Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đặc biệt là thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, hướng tới chiều sâu Chính trong những điều kiện như thế việc nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của

1 Số liệu 2005 trên trang web của Thành phố.

2 Nguồn lao động trên trang web của Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

3 Kinh Te Vi Mo - Dau Tu tren trang cafef.vn

4 10 điểm nổi bật trong tình hình kinh tế-xã hội của thành phố Hồ Chí Minh trog năm 2010

5 Chỉ tiêu tổng hợp giai đoạn 2001 - 2006, trên trang Web của Thành phố.

6 Trang Web của Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.

7 Hàn Ni, " TPHCM dẫn đầu thu hút vốn FDI vì biết cách bứt phá " Sài Gòn giải phóng, 3 tháng 11, 2007.

8 TPHCM sau 1 năm gia nhập WTO - Vượt lên chính mình

9 Lào Cai và Bắc Ninh 'vượt vũ môn' ngoạn mục” Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

10 Thành phố Hồ Chí Minh: Chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại, Mạng thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

11 TPHCM sau 1 năm gia nhập WTO - Vượt lên chính mình , Trung tâm thông tin thương mại.

Trang 4

TP.HCM theo hướng cạnh tranh giai đoạn 2011-2020 là hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

Để làm được công việc này thì nghiên cứu cơ sở lý thuyết của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của TP.HCM là một việc làm hết sức cần thiết Thực hiện tốt công việc này sẽ làm cơ sở đúng đắn và khoa học cho việc nghiên cứu thực tế và đề ra các quyết sách cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của thành phố Nói một cách khác khi nhận đề tài này, nhóm nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý thuyết của vấn đề này nhằm :

- Giúp các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách nắm rõ được cơ sở lýluận tiên tiến nhất hiện nay về các vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi

mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng cạnh tranh ;

- Đề xuất các hướng và biện pháp áp dụng các mô hình lý thuyết một cách phù hợpnhất với điều kiện cụ thể của Thành Phố để phân tích và hoạch định chính sách vềchuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướngcạnh tranh

- Góp phần tạo nên những tài liệu nghiên cứu bổ ích cho sinh viên, học viên sau đạihọc và các nhà nghiên cứu khác

Vì vấn đề nghiên cứu là khá rộng lớn, nội dung nghiên cứu này chỉ nhằm vào việcthực hiện đơn đặt hàng của hội đồng khoa học của nhà trường là tập trung vào việc làm rõcác vấn đề sau:

- tổng quan lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tế và cạnh tranh quốc gia;

- phân tích khái quát các lý thuyết về cơ cấu kinh tế theo hướng cạnh tranh sau suy thoái kinh tế toàn cầu;

- khái quát kinh nghiệm của một số nước trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng cạnh tranh;

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã cố gắng sử dụng các tài liệu mới nhất của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước và các vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế và

chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng cạnh tranh

Một phần của kết quả nghiên cứu đã được đăng trong số xuân của tạp chí nghiên cứu tài chính marketing của nhà trường

Những đóng góp chính của công trình là làm rõ được các vấn đề sau :

1/ Các khái niệm : mô hình tăng trưởng kinh tế, cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh ngành2/ Hệ thống các mô hình tăng trưởng kinh tế và cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh ngành 3/ Sự thể hiện của mô hình tăng trưởng kinh tế đối với TP.HCM

4/ Phân tích, khái quát lý luận và thực tiễn về khủng hoảng tài chính-tiền tệ và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế TP.HCM trênhai mặt cơ hội và thách thức ;

5/ Phân tích nội hàm của cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế TP.HCM theo hướng cạnh tranh hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu ;

6/ Thiết lập các tiêu chí đánh giá cơ cầu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế TP.HCM theo hướng cạnh tranh của sau suy thoái kinh tế toàn cầu

7/ Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc

8/ Kinh nghiệm và bài học của Singapore

9/Kinh nghiệm và bài học của Thái Lan

10/.Kinh nghiệm và bài học của Malaysia

Hy vọng những kết luận của công trình nghiên cứu này sẽ giúp ích được cho các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách làm rõ được con đường và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Thành Phố Hồ Chí Minh theo hướng cạnh tranh tới 2020

Trang 6

I/ TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CẠNH TRANH QUỐC GIA 1.1/ Các khái niệm : mô hình tăng trưởng kinh tế, cạnh tranh quốc gia,

cạnh tranh ngành

1.1.1/khái niệm mô hình tăng trưởng kinh tế

1.1.1.1/ Khái niệm tăng trưởng kinh tế , các mô hình tăng trưởng kinh tế và

các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế

Để nghiên cứu sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia và các vùng, người ta sử dụngmột công cụ hết sức hữu ích , đó là mô hình tăng trưởng kinh tê Mô hình tăng trưởng kinh

tế là công cụ diễn tả các mối quan hệ cũng như diễn biến sự tương tác giữa các yếu tố tácđộng đến tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu các mô hình tăng trưởng kinh tế sẽ cho chúng tacái nhìn rõ hơn về sự tương quan giữa các yếu tố trên cũng như đánh giá được tính phù hợpcủa các mô hình kinh tế với từng giai đọan trong lịch sử phát triển kinh tế của mỗi quốc gia,mỗi vùng Từ trước đến nay trong các tài liệu kinh điển về nghiên cứu sự tăng trưởng kinh

tế của các quốc gia đã có rất nhiều mô hình được đề xuất, nỗi bật nhất trong những mô hìnhnhư thế là các mô hình chủ yếu dưới đây

a) Mô hình Harrod - Domar

Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 của thế kỷ XX hai nhà kinh tế họcRoy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ trong khi nghiên cứu một cách độc lập về cácmối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước phát triển, đã cùng đưa ra môhình giải thích hiện tượng này Về thực chất mô hình Harrod – Domar cho phép người tađánh giá được mối liên hệ giữa sản lượng và tỷ lệ thất nghệp của một quốc gia, trên cơ sởxem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và nhu cầu vốn của nền kinh tế

Tư tưởng cơ bản của mô hình Harrod-Domar là nhận định: mức tăng trưởng của nềnkinh tế phụ thuộc hữu cơ vào tổng tư bản hay còn gọi là tổng các yếu tố đầu tư vào nền kinh

tế đó Trong đó, tổng đầu tư sẽ được trang trải bằng tổng tiết kiệm của nền kinh tế quốc gia

Từ đó suy luận ra mối quan hệ giữa tăng trưởng và đầu tư trên cơ sở đánh giá mối quan hệgiữa tăng trưởng và tiết kiệm Những giả thiết cơ bản ở đây là:12

Năng lực sản xuất của nền kinh tế tại thời điểm t chỉ phụ thuộc vào vốn, không tính tớilao động cũng như tiến bộ công nghệ

Sự gia tăng của lượng vốn trong chu kỳ xem xét là do đầu tư trong chu kỳ (như vậy đầu

tư không có độ trễ và không xét tới khấu hao vốn)

Điều kiện cân bằng : Năng lực sản xuất của nền kinh tế bằng tổng cầu

Ngoài những điều kiện trên mô hình này cũng giả định ưu tiên như sau 13

1: Đầu ra là một hàm số của vốn đầu tư

2: Sản phẩm biên tế của vốn là hằng số, hàm số sản xuất có dạng hàng

số của đầu ra so với quy mô Điều này ngụ ý là sản phẩm cận biên của vốn và sản phẩm trung bình là bằng nhau.

3: Vốn là cần thiết cho đầu ra.

4: Sản phẩm của tỷ lệ tiết kiệm và đầu ra tương đương với tiết kiệm, bằng với đầu tư

12 Mô hình tăng trưởng kinh tế địa phương và áp dụng cho tỉnh Bình Định; Nguyễn Duy Thục

13 http://en.wikipedia.org/wiki/Harrod%E2%80%93Domar_model

Trang 7

5: Sự thay đổi về vốn đầu tư tương đương với đầu tư trừ khấu hao của vốn đầu tư

Ở đây Y đại diện cho đầu ra sản lượng , bằng với thu nhập, và K là vốn đầu tư, Slà tổng tiết kiệm, s là tỷ lệ tiết kiệm, và I là đầu tư, δ là tỷ lệ khấu hao của vốn đầu tư

Nếu đặt K/ Y = v, khi đó v được gọi là hệ số gia tăng vốn – sản lượng hay còngọi là hệ số ICOR ( Increment Capital – Output Ratio : K/Y ) Hệ số ICOR sẽ cho chúng

ta biết số vốn cần thiết để gia tăng 1 đơn vị sản lượng đầu ra

Mô hình này mô tả nguồn gốc của tốc độ tăng trưởng sản lượng là các quan hệ códạng sau :

Một cách thay thế khác (và có lẽ là đơn giản) về nguồn gốc là như sau, với dấuchấm (ví dụ, ), biểu thị tỷ lệ phần trăm tốc độ tăng trưởng Trước tiên, các giả định (1) -(3) nghĩa là đầu ra và vốn là liên quan tuyến tính Như vậy những giả định này tạo ra tốc độtăng trưởng bằng nhau giữa hai biến Đó là,

Do c là sản phẩm biên tế của vốn, nó là một hằng số, chúng ta có

Tiếp theo, với giả định (4) và (5), chúng ta có thể tìm thấy tốc độ tăng trưởng vốn,

Tóm lại , tích của tỷ lệ tiết kiệm và sản phẩm biên tế của vốn trừ đi tỷ lệ khấu haovốn bằng tốc độ tăng trưởng sản lượng Chính vì lẽ này mà việc nâng cao tỷ lệ tiết kiệm,tăng sản phẩm biên tế của vốn, hoặc giảm tỷ lệ khấu hao sẽ tăng tốc độ tăng trưởng sảnlượng, đây là những phương tiện để đạt được tăng trưởng trong mô hình Harrod-Domar

Mặc dù mô hình Harrod-Domar bước đầu đã được tạo ra để giúp phân tích chu kỳ

Trang 8

kinh doanh, sau đó được điều chỉnh để giải thích sự tăng trưởng kinh tế Ý nghĩa của nó làtăng trưởng phụ thuộc vào số lượng lao động và vốn, đầu tư nhiều hơn dẫn đến tích lũy vốn,tạo ra tăng trưởng kinh tế.Mô hình cũng có tác động đối với các nước ít phát triển kinh tế(LEDC) , lao động là một nguồn cung dồi dào ở những nước này, nhưng vốn đầu tư thìhiếm hoặc không có, điều đó làm chậm tiến bộ kinh tế LEDC không có đủ thu nhập trungbình để bảo đảm tỷ lệ tiết kiệm cao, và do đó tích lũy vốn để đầu tư là thấp.

Mô hình này ngụ ý rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào chính sách tăng cườngđầu tư, bằng cách tăng cường tiết kiệm, và sử dụng đầu tư hiệu quả hơn thông qua các tiến

bộ công nghệ Điều thú vị là ở chỗ : mô hình này đưa đến kết luận rằng, một nền kinh tếkhông nằm trong tình trạng có việc làm đầy đủ và tốc độ tăng trưởng ổn định tự nhiên,tương tự như niềm tin của Keynes

Mô hình Harrod-Domar chỉ xét mối quan hệ của tăng trưởng với yếu tố vốn đầu vàomà bỏ qua nhiều yếu tố khác như tiến bộ khoa học ,kỹ thuật, công nghệ, lao động, mở cửa thịtrường và hội nhập v.v nên chưa phản ánh được đầy đủ các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh

tế Mặc dù còn khiếm khuyết nhưng đây vẫn là một mô hình tương đối đơn giản , dễ ướclượng nên cũng sẽ dễ được áp dụng vào thực tiễn để phân tích và lập kế hoạch phát triển ở cácquốc gia ( các vùng) Với tỷ lệ khấu hao vốn ước lượng được và với mục tiêu tăng trưởngcho trước thì từ mô hình sẽ tính được tỷ lệ tiết kiệm cần thiết cho tăng trưởng

Mô hình Harrod-Domar ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XX, mô hình này đãđược áp dụng vào việc lập kế hoạch phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển trongcác thập kỷ 50-60 của thế kỷ XX 14 Việc áp dụng mô hình này kết hợp với các mô hìnhkhác trong việc lập kế hoạch phát triển kinh tế của TP Hồ Chí Minh cũng là một việc cóthể dùng để tham khảo

b) Mô hình Solow – Swan15

Mô hình Solow-Swan ra đời vào năm 1956 do Robert Solow và Trevor Swan xâydựng rồi được các học giả kinh tế khác bổ sung Mô hình tăng trưởng này là một mô hìnhthuyết minh về cơ chế tăng trưởng kinh tế và Solow đã nhận được giải Nobel về kinh

tế năm 1987 nhờ cống hiến này Ngay từ khi ra đời nó đã gây một tiếng vang lớn, bởi đâythực sự là một mô hình tương đối hoàn chỉnh đầu tiên về tăng trưởng kinh tế Từ khi ra đờicho đến nay nó vẫn là đối tượng vận dụng và nghiên cứu tăng trưởng kinh tế của các nhàkinh tế, chẳng hạn như Barro và Sala-i-Martin (1995) đã sử dụng mô hình nghiên cứu tăngtrưởng 118 quốc gia, Mankiw, RoMer và Well nghiên sử dụng mô hình nghiên cứu tăngtrưởng trên mẫu gồm 98 nước…, ở Việt nam các công trình nghiên cứu tăng trưởng củaNguyễn Khắc Minh hoặc của Trần Thọ Đạt cũng đã sử dụng mô hình này nghiên cứu ở cấpquốc gia.16

Xét về thực chất, mô hình tăng trưởng này thuộc trường phái tân cổ điển vì một sốgiả thiết của mô hình dựa theo lý luận của trường phái này Mô hình này còn có cách gọikhác, đó là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, bởi vì không liên quan đến các nhân tố bêntrong, rốt cục tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng tháibền vững Chỉ các yếu tố bên ngoài, đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mớithay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững

Các ký hiệu được sử dụng trong mô hình nàu là như sau :

Y là sản lượng thực tế (hoặc thu nhập thực tế)

K là lượng tư bản đem đầu tư hay còn được gọi là vốn đầu tư

L là lượng lao động

y là sản lượng trên đầu lao động

14 Mô hình tăng trưởng kinh tế địa phương và áp dụng cho tỉnh Bình Định; Nguyễn Duy Thục

15 Mô hình tăng trưởng Solow http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B4_h%C3%ACnh_t%C4%83ng_tr

%C6%B0%E1%BB%9Fng_Solow

16 Mô hình tăng trưởng kinh tế địa phương và áp dụng cho tỉnh Bình Định; Nguyễn Duy Thục

Trang 9

k là lượng tư bản trên đầu lao động.

S là tiết kiệm của cả nền kinh tế

s là tỷ lệ tiết kiệm

I là đầu tư

i là đầu tư trên đầu lao động

C là tiêu dùng cá nhân trong nền kinh tế

c là tiêu dùng cá nhân trên đầu lao động

δ là tỷ lệ khấu hao tư bản

Δ là lượng tư bản tăng thêm ròng

n là tốc độ tăng dân số, đồng thời là tốc độ tăng lực lượng lao động

Các giả thiết cơ bản được sử dụng trong mô hình được trình bày ở đây là như sau :

Giả thiết 1:Giá cả linh hoạt trong dài hạn Đây là một quan điểm của kinh tế học tân

cổ điển Khi đó, lao động L được sử dụng hoàn toàn, và nền kinh tế tăng trưởng hết mứctiềm năng và ổn định Đồng thời, lúc này, toàn bộ tiết kiệm S sẽ được chuyển thành đầu

tư I (quy tắc Say trong kinh tế học tân cổ điển) Và do đó, sY = I

Mặt khác, giá cả lao động (tức tiền công thực tế) và giá tư bản (tức lãi suất đi vay)lúc này cũng sẽ linh hoạt Vì thế, có thể kết hợp hai yếu tố này để sản xuất môt cách tùythích

Giả thiết 2: Mức sản lượng thực tế Y phụ thuộc vào lượng lao động L, lượng tưbản K và hệ số A Từ đó, ta có một hàm sản xuất vĩ mô Y = F(A,L,K)

Giả thiết là hàm này có dạng Cobb-Douglas, tức là:

Với hàm số dạng Cobb-Douglas, nếu ta nhân các số nhân trong vế phải với cùng một

số, thì tích số bên vế trái sẽ tăng lên cùng số đó lần Do vậy, nếu nhân 1/L với L và K, thì vếtrái sẽ thành Y/L tức là sản lượng thực tế trên đầu lao động y Còn K/L tức lượng tư bản trênđầu lao động k Hàm sản xuất vĩ mô sẽ có dạng sau:

Giả thiết 3:Nền kinh tế đóng cửa và không có sự can thiệp của Chính phủ Do đó,tổng sản lượng Y bằng tổng của tiêu dùng cá nhân C và đầu tư I hayY = C + I tương đươngvới Y = C + sY và lại tương đương với C = (1-s)Y

Nếu tính trên đầu lao động L, thì sẽ có tiêu dùng cá nhân trên đầu người c bằng sảnlượng thực tế trên đầu người y nhân với 1-s hay c = (1-s)y

Lưu ý là 0 < s < 1

Giả thiết 4 : Có sự khấu hao tư bản Với tỷ lệ khấu hao δ, mức khấu hao sẽ là δK.Đầu tư I làm tăng lượng tư bản trong khi khấu hao δK làm giảm lượng tư bản, nênmức tư bản thực tế tăng thêm ΔK sẽ bằng I - δK

Có thể viết quan hệ trên thành:

Giả thiết 5 :Tư bản K và lao động L tuân theo Quy luật lợi tức biên giảm dần Cónghĩa là khi khi tăng k thì ban đầu y tăng rất nhanh đến một lúc nào đó nó tăng chậm lại

Giả thiết 6 : Hàm y = f(k) là một hàm tăng Đồ thị của nó có dạng đường cong Hàm i

= sf(k) = sy cũng như vậy, bởi vì đầu tư trên đầu lao động i là một bộ phận của sản lượngtrên đầu lao động y

Chú ý rằng để hàm số y = f(k) là hàm tăng thì đạo hàm bậc một y' phải lớn hơn 0, mặt khác

do nó tuân theo quy luật năng suất cận biên giảm dần nên đạo hàm bậc hai y’’ phải nhỏ 0

Đồ thị của hàm số y = f(k) có hình dạng như trong hình vẽ ( xem Hình 1.1)

Giả thiết 7 : Thay đổi trong lực lượng lao động L thể hiện bằng phương trình sau:trong đó, gL là hàm số của L

Trang 10

Đồng thời giả thiết là tốc độ thay đổi lao động đúng bằng tốc độ thay đổi dân số n.

Hình 1.1 Dạng của đồ thị của hàm số y = f(k)

Phân tích mô hình

Khi tư bản trên đầu lao động k tăng, thì giá trị khấu hao δk tăng, hơn nữa, dẫn đến tư bảnmới trên đầu lao động nk tăng Gọi δk + nk hay (δ+n)k là đầu tư cần thiết, vì nó bù đắp phần tài sản

bị hao mòn và đáp ứng vốn cho lao động mới tăng thêm

Điểm A trên Hình 1.1 là giao của đường đầu tư cần thiết (δ+n)k và đường đầu tư trên đầulao động i Nó cho thấy đó là một sự cân bằng

Tại trạng thái vốn trên đầu lao động k1 nhở hơn k*, thì đầu tư i = sy lớn hơn đầu tư cầnthiết (δ+n)k, có nghĩa là k = sy – (δ+n)k > 0 do đó dẫn đến k tăng

Ngược lại, tại trạng thái vốn trên đầu lao động k2 lớn hơn k*, thì đầu tư i = sy nhỏ hơn đầu

tư cần thiết (δ+n)k, có nghĩa là k = sy – (δ+n)k < 0, do đó k giảm

Ta có, k tăng lên đến mức k*, và ngược lại khi nó giảm, thì giảm đến mức k* Cả hai trườnghợp tăng và giảm đều đạt đến một trạng thái cân bằng Và người ta gọi đó là điểm ổn định hay trạngthái ổn định

Tại trạng thái ổn định k*, chúng ta nhận thấy rằng đầu tư và đầu tư cần thiết cân bằng nhau,hay k = sy – (δ+n)k* = 0, tốc độ tăng của sản lượng trên lao động bằng không (gy = 0), và tốc độtăng của vốn trên mỗi lao động bằng không (gk = 0)

Một số nhận xét về mô hình Solow- Swan

Mô hình Solow Swan đã có một số các thành công nhất định trong việc tạo ra sựthống nhất giữa dự báo và các bằng chứng thực nghiệm về tăng trưởng dài hạn ở các nướccông nghiệp cũng như tại các nước đang phát triển

Bên cạnh thành công trên, mô hình Solow – Swan vẫn xuất hiện một số các nhượcđiểm chủ yếu sau:

- Thứ nhất, mô hình Solow Swan không giải thích được sự chênh lệch về sản lượngbình quân lao động bằng sự chênh lệch về vốn bình quân lao động ở một số quốc gia

- Thứ hai, mô hình này cũng không quy tụ đầy đủ các yếu tố có thể tác động đến tăngtrưởng, ví dụ như các lực lượng có khả năng thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn như tiến bộcông nghệ,…

Dù có những hạn chế nhất định, nhưng theo chúng tôi, trong điều kiện hiện nay thì

mô hình này vẫn là mô hình phù hợp có thể được sử dụng trong phân tích dự báo và lập kếhoạch phát triển kinh tế của Việt Nam và các địa phương

c) Mô hình tăng trưởng kinh tế với tiến bộ công nghệ

Tiến bộ khoa học công nghệ có ý nghĩa rất quyết định trong trong việc phát triển

Trang 11

và tăng trưởng kinh tế Nhờ tiến bộ khoa học và công nghệ mà các nền kinh tế của nhiềuquốc gia đang phát triển đã phát triển rất nhanh, đuổi kịp các nước đã phát triển hàngtrăm năm trước đó Do tác động lớn lao và mạnh mẽ như vậy trong mô hình tăng trưởngkinh tế người ta đã cố gắng đưa yếu tố này vào các mô hình của mình Dưới đây lànhững cố gắng như vậy.

+ Năng suất của tổng nhân tố (Total Factor Productivity TFP)17

Trong kinh tế, Năng suất của tổng yếu tố (TFP) là một biến đại diện cho hiệu ứngmà trong đó tổng sản lượng đầu ra không được giải thích từ các biến đầu vào Nếu tất cảcác yếu tố đầu vào đã được xem xét và đưa vào mô hình , thì yếu tố tổng năngsuất(TFP) có thể được xem như là một biện pháp đo lường sự thay đổi chủ yếu của côngnghệ hoặc năng động công nghệ về lâu dài của nền kinh tế Theo một số nhà nhgiên cứukhác thì việc thay đổi năng suất của tổng yếu tố TFP có thể được giải thích bằng nhiềunguyên nhân khác nữa Trước tiên, do các kiến thức mới giúp thay đổi phương pháp sảnxuất Ngoài ra còn các nguyên nhân khác như giáo dục, đào tạo, quản lý Nhà nước cũng ảnhhưởng đến TFP

Xét về thực chất , nếu như không tính đến tất cả các yếu tố đầu vào , thì TFP cũng cóthể phản ánh các yếu tố đầu vào đã bị bỏ qua Ví dụ, một năm với thời tiết tốt bất thườngthì sẽ có xu hướng có sản lượng cao hơn, bởi vì thời tiết xấu sẽ gây trở ngại cho sản lượngnông nghiệp Nếu một biến như thời tiết không được coi là một yếu tố đầu vào, thì sau đóthời tiết sẽ được bao gồm trong biến đo lường Năng suất của tổng yếu tố

TFP không thể được đo lường một cách trực tiếp Thay vào đó, nó là phần còn lại và thường được gọi là phần dư Solow, phần này được coi là phần do các hiệu ứng không đượcsinh ra bởi đầu vào trong tổng sản lượng đầu ra

Phương trình dưới đây (ở dạng Cobb-Douglas) đại diện cho tổng sản lượng đầu ra(Y) là một hàm số của Năng suất của tổng yếu tố (A), vốn đầu vào (K), đầu vào lao động(L), và hai phần số mũ đầu vào tương ứng của sản lượng đầu ra (α và β là phần đầu vàođóng góp của vốn K và L tương ứng) Sự gia tăng của một trong các yếu tố A, K hoặc L sẽdẫn đến sự gia tăng sản lượng đầu ra Trong khi vốn và đầu vào lao động là hữu hình, Năngsuất của tổng yếu tố dường như là vô hình vì nó có thể dao động từ công nghệ đến kiến thứccủa người lao động (vốn con người)

Tăng trưởng công nghệ và hiệu quả được coi là hai tiểu mục lớn nhất của Năng suấtcủa tổng yếu tố , vốn có tính năng "đặc biệt" , chẳng hạn như là các yếu tố bên ngoài tíchcực và có tính không cạnh tranh ( non-rivalness ) , mà những cái đó làm tăng cường vị trícủa nó như là một động lực của tăng trưởng kinh tế

Năng suất của tổng yếu tố thường được xem là động lực thực sự của sự tăng trưởngtrong một nền kinh tế và các nghiên cứu cho thấy rằng, trong khi lao động và đầu tư cóđóng góp quan trọng, thì Năng suất của tổng yếu tố có thể chiếm đến 60% mức tăng trưởngtrong nền kinh tế

Cách tiếp cận hàm sản xuất để ước lượng tăng trưởng TFP được thực hiện nhưsau :18

Theo thời gian hàm sản xuất có dạng :

Y(t) = f(L(t), K(t), t) ; ( f o )

t

� 

� Trong đó : Y(t) là sản lượng đầu ra tại thời điểm t ; L(t) và K(t) tương ứng là laođộng và vốn tai thời điểm t Phương trình được viết lại như sau :

17 Total factor productivity; http://en.wikipedia.org/wiki/Total_factor_productivity

18 Mô hình tăng trưởng kinh tế địa phương và áp dụng cho tỉnh Bình Định; Nguyễn Duy Thục

Trang 12

Ký hiệu: K là hệ số co dãn của sản lượng theo vốn

L là hệ số co dãn của sản lượng theo lao động

Phương trình (**) có thể viết lại như sau :

Nếu ký hiệu đóng góp của tiến bộ công nghệ A(t) - gọi là năng suất tổng hợp yếu

tố TFP Nhịp tăng năng suất của tổng nhân tố không thể quan sát và đo lường trực tiếp mà

đo gián tiếp qua tính nhịp tăng của Y(t), nhịp tăng cuả K(t), nhịp tăng của L(t) và các hệ số

d) Các mô hình tăng trưởng nội sinh 19

Trong các mô hình tăng trưởng trình bày ở trên, yếu tố lao động hay rộng hơn là yếu

tố con người và tiến bộ công nghệ được xem là ngoại sinh Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế lạicho rằng các yếu tố này trong thực tế có thể là nội sinh Lý thuyết tăng trưởng nội sinh thìcho rằng, tăng trưởng kinh tế chủ yếu là kết quả của các lực lượng nội sinh và mà khôngphải là các lực lượng từ bên ngoài 20 Trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh đầu tư vào vốncon người, đổi mới là kiến thức đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế Lý thuyết nàycũng tập trung vào các yếu tố bên ngoài tích cực và hiệu ứng lan tỏa của tri thức kinh tế sẽdẫn đến sự phát triển của các nền kinh tế Lý thuyết tăng trưởng nội sinh cũng cho rằng cácbiện pháp chính sách có thể có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng dài hạn của một nền kinh

19 Endogenous growth theory ; http://en.wikipedia.org/wiki/Endogenous_growth_theory

20 Romer, P M (1994) "The Origins of Endogenous Growth" The Journal of Economic Perspectives 8 (1)

Trang 13

tế Ví dụ, trợ cấp cho nghiên cứu và phát triển hay giáo dục làm gia tăng tốc độ tăng trưởngtrong một số mô hình tăng trưởng nội sinh bằng cách tăng cường các yếu tố khuyến khíchđổi mới.

Vào giữa những năm 1980, một nhóm các nhà lý thuyết về tăng trưởng ngày càngtrở nên không hài lòng với yếu tố ngoại sinh xác định sự tăng trưởng lâu dài Họ ủng hộ một

mô hình có thay thế các biến tăng trưởng ngoại sinh (không giải thích được tiến bộ kỹthuật) bằng một mô hình mà trong đó các yếu tố quyết định quan trọng của sự tăng trưởngphải được xác định trong mô hình Nghiên cứu ban đầu được dựa trên công trình củaKenneth Arrow (1962), Hirofumi Uzawa (1965), và Miguel Sidrauski (1967) 21 Romer(1986), Lucas (1988),22 và Rebelo (1991)23 Ở đây thay đổi công nghệ được bỏ qua , thayvào đó, sự tăng trưởng trong các mô hình này có liên quan đến việc đầu tư không xác địnhthời hạn vào vốn con người có tác dụng lan tỏa về kinh tế và làm giảm sản lượng suy giảmtới sự tích lũy vốn24

Mô hình AK là mô hình nội sinh đơn giản, cung cấp một tỷ lệ tiết kiệm không đổicủa tăng trưởng nội sinh Nó giả định một một sự không thay đổi về tỷ lệ tiết kiệm ngoạisinh và mức độ cố định của công nghệ mô hình này cho thấy loại trừ sản lượng suy giảmdẫn đến tăng trưởng nội sinh Tuy nhiên, lý thuyết tăng trưởng nội sinh là được hỗ trợ thêmvới các mô hình mà trong đó các tác nhân tối ưu xác định tiêu dùng và tiết kiệm, tối ưu hóaviệc phân bổ các nguồn lực để nghiên cứu và phát triển dẫn đến tiến bộ công nghệ Romer(1987, 1990) cùng đóng góp đáng kể của Aghion và Howitt (1992) và Grossman vàHelpman (1991), đã kết hợp thị trường không hoàn hảo và R & D để xây dựng mô hình tăngtrưởng25

Mô hình AK

Mô hình AK là một mô hình đơn giản xem xét sản xuất có lợi tức không đổi theo quy

mô đối với cả tổ hợp vốn vật chất và vốn con người do Romer (1986), Barro (1990), Robelo(1991), và nhiều người khác đề xuất Mô hình này hoạt động trên đặc tính là không có sảnlượng suy giảm đối với nguồn vốn Mọi đầu vào của mô hình này đều được coi là vốn cóthể tái sản xuất, không chỉ là vốn vật chất mà cả vốn con người Hình thức đơn giản nhấtcủa hàm sản xuất với sản lượng suy giảm là:

; Ở đây

- Là một tham số thể hiện sự tác động của mọi nhân tố tới trình độ công nghệ và

do đó phản ánh mức độ của công nghệ

- là thước đo tổng hợp của vốn (theo nghĩa rộng để bao gồm cả vốn con người)

, Sản lượng đầu ra bình quân trên đầu người và sản phẩm trung bình vàcận biên là hằng số ở mức

Nếu chúng ta thay thế trong phương trình về động thái chuyển tiếp của

mô hình Solow-Swan (mô hình tăng trưởng ngoại sinh) trong đó cho thấy làm thế nàokhoản thu nhập bình quân đầu người của một nền kinh tế hội tụ đối với giá trị của nó ở trạngthái ổn định và thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia khác

21 "Monetary Growth Theory" newschool.edu 2011 [last update] Retrieved 11 October 2011.

22 Lucas, R E (1988) "On the mechanics of Economic Development" Journal of Monetary Economics 22.

23 Rebelo, Sergio (1991) "Long-Run Policy Analysis and Long-Run Growth" Journal of Political Economy 99 (3): 500.

24 Barro, R J.; Sala-i-Martin, Xavier (1998-11-20) Economic Growth ISBN 9780262024594.

25 Barro, R J.; Sala-i-Martin, Xavier (1998-11-20) Economic Growth ISBN 9780262024594.

Trang 14

Hình 1.2 mô hình AK: nếu công nghệ là AK, thì đường cong tiết kiệm, s .f(k)/k là một đường ngang ở mức sA Nếu sA> n + , thì sự tăng trưởng liêntục của к xảy ra, ngay cả khi không có tiến bộ công nghệ

Phương trình động thái chuyển tiếp, ở đây tốc độ tăng trưởng trên là được chobằng,

Vì , n+δ, do đó Do hai đường này là song song , là hằng số; đặcbiệt, nó là độc lập với Nói cách khác, luôn luôn phát triển ở tốc độ trạng thái ổn định ,

độ tăng trưởng của tương đương Do đó, toàn bộ biến bình quân đầu người trong môhình tăng trưởng ở tỷ lệ được cho bằng

Tuy nhiên, chúng ta có thể quan sát thấy, rằng công nghệ phảnánh tăng trưởng trên mỗi đầu người về lâu dài tích cực mà không có bất kỳ sựphát triển công nghệ ngoại sinh Tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người phụ thuộc vào cácyếu tố hành vi của mô hình là tỷ lệ tiết kiệm và dân số Nó không giống như mô hình tân cổđiển, đó là tiết kiệm cao hơn, s, thúc đẩy sự tăng trưởng trên mỗi đầu người dân trongtương lai lâu dài cao hơn.[7]

Khác với các mô hình Solow-Swan, ý nghĩa quan trọng của mô hình AK là:chính tỷ lệ tiết kiệm sẽ quyết định tăng trưởng Tỷ lệ tiết kiệm tăng sẽ làm tăng tốc độtăng trưởng của thu nhập bình quân đầu người một cách liên tục Ngoài ra khác với môhình Tân cổ điển(cho rằng các nước nghèo tăng trưởng nhanh hơn các nước giàu trongquá trình chuyển dịch tới trạng thái bền vững), mô hình AK cho thấy: các nước nghèo cócùng trình độ công nghệ sản xuất như các nước giàu sẽ tăng trưởng cùng tốc độ với cácnước giàu, bất kể mức thu nhập ban đầu là bao nhiêu Vì vậy, mô hình AK không dự báo

có sự hội tụ thu nhập bình quân đầu người cho dù các nước có cùng công nghệ và cùng

Trang 15

tỷ lệ tiết kiệm Tuy nhiên, những kiểm định chuỗi thời gian gần đây lại không ủng hộ cáckết luận của mô hình AK.26

Ngoài mô hình AK thì còn rất nhiều mô hìnhnội sinh khác như Mô hình học hỏi by-doing model) của Kenneth J.Arrow (1962) , Mô hình R&D (Research and Development Model

(Learning-do Romer (1990), Grossman và Helpman (1991), Aghion và Howitt (1992) và nhiều học giả khácxây dựng nên, Mô hình Mankiw-Romer-Weil (1992) (đã đưa vốn con người vào mô hình củaSolow), Mô hình “ Học hay làm” (Learning-or-doing model) của Lucas(1988) v.v

Mặc dù các mô hình tăng trưởng nội sinh vẫn đề cao vai trò của tiết kiệm đối vớităng trưởng của nền kinh tế, nhưng các kết luận của mô hình này có nhiều điểm trái ngượcvới mô hình của Solow Đặc biệt là ở chỗ mô hình này cho thấy không có xu hướng cácnước nghèo (ít vốn) có thể đuổi kịp các nước giàu về mức thu nhập bình quân, cho dù cócùng tỷ lệ tiết kiệm Nguyên nhân bắt nguồn từ sự chênh lệch không chỉ là vốn vật chất, màquan trọng hơn là vốn con người

Về nguyên tắc, mô hình vốn con người nhất quán với bằng chứng trên thế giới, làcác nước nghèo sẽ tiếp tục bị trì trệ Tuy nhiên, dự báo về các nước nghèo không hoàn toàn

bi quan Bởi vì tốc độ tăng trưởng là nội sinh, mô hình chỉ ra một con đường thoát khỏinghèo đói: một nước đầu tư nhiều vào nguồn nhân lực hơn sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn

Như vậy, trái với lý thuyết tăng trưởng Tân cổ điển, các mô hình tăng trưởng nộisinh đề cao vai trò của chính phủ trong việc phát triển kinh tế thông qua đầu tư vào giáo dục

- đào tạo, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành công nghiệp sử dụngnhiều tri thức như phần mềm máy tính, viễn thông…

Ý nghĩa của lý thuyết tăng trưởng nội sinh cũng còn là ở chỗ, các chính sách tạonên sự cởi mở ( mở cửa) , cạnh tranh, thay đổi và đổi mới sẽ thúc đẩy tăng trưởng 27 Ngượclại, các chính sách có tác dụng hạn chế hoặc làm chậm sự thay đổi bằng cách bảo vệ hoặclàm lợi cho các ngành hoặc các hãng ( công ty) riêng biệt, cụ thể , có khả năng là theo thờigian sẽ làm chậm sự tăng trưởng gây thiệt hại cho cả cộng đồng (xã hội) Peter Howitt đãviết như sau :

Tăng trưởng kinh tế bền vững luôn luôn là một quá trình chuyển đổi liên tục và ởkhắp mọi nơi .Loại tiến bộ kinh tế mà các quốc gia giàu có nhất kể từ cuộc Cáchmạng côngnghiệp đã được hưởng sẽ không thể có được nếu như mọi người đã không phải trải qua những thay đổi dữ dội và gay gắt Các nền kinh tế dừng (ngừng) chuyển đổi sẽ bịvăng rơi ra khỏi con đường tăng trưởng kinh tế Các quốc gia mà hầu hết trong số đó xứngđáng với danh hiệu "phát triển" không phải là những quốc gia nghèo nhất thế giới, nhưng đểlà những nước giàu nhất họ cần phải tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế không bao giờ kết thúc , nếu họ muốn tận hưởng sự thịnh vượng tiếp tục (Kết luận , "Growth and development: a Schumpeterian perspective", 2006 28 ).

Nhìn chung các mô hình thuộc trường phái này có những ý nghĩa và đóng góp to lớntrong việc giải thích nguồn gốc tăng trưởng từ tiến bộ công nghệ nội sinh, nhưng với việcgiả định công nghệ không có tính cạnh tranh- tức là mọi quốc gia đều có thể tiếp cận côngnghệ mới, các mô hình này không thể giải thích được sự chênh lệch về thu nhập giữa cácnước Đó cũng chính là một trong các thiếu sót chủ yếu của các lý thuyết tăng trưởng nộisinh khi nó bắt gặp sự thất bại tập thể để giải thích sự hội tụ có điều kiện được báo cáo trongcác tài liệu thực nghiệm 29 Chính vì vậy, để giải thích sự chênh lệch này người ta thườngnhấn mạnh đến các mô hình về vốn con người Có sự phê bình liên tục khác có liên quan

26 Mô hình tăng trưởng kinh tế địa phương và áp dụng cho tỉnh Bình Định; Nguyễn Duy Thục

27 Fadare, Samuel O "Recent Banking Sector Reforms and Economic Growth in Nigeria" Middle Eastern Finance and Economics (Issue 8 (2010)).

28 Romer, P M (1994) "The Origins of Endogenous Growth" The Journal of Economic Perspectives 8 (1): 3.

29 See Sachs, Jeffrey D., and Andrew M Warner (1997) Fundamental Sources of Long Run Growth American

Economic Review, 87(2), 184-88.

Trang 16

đến giả định nền tảng về sản lượng suy giảm đối với vốn Một số học giả 30đã chứng minhrằng lý thuyết tăng trưởng mới không có nhiều thành công hơn so với lý thuyết tăng trưởngngoại sinh trong việc giải thích sự phân ly giữa thu nhập của thế giới phát triển và đang pháttriển (mặc dù thường là phức tạp hơn).

Về mặt thực tiễn các nghiên cứu gần đây cho thấy trong các mô hình vốn con ngườingười ta đã đánh giá quá cao vai trò của vốn con người Hơn thế nữa một số đề xuất của các

mô hình về vốn con người còn mang tính trực quan.Ngoài ra các mô hình tăng trưởng nộisinh vẫn còn phụ thuộc vào một số giả định Tân cổ điển truyền thống mà không phù hợp vớicác nền kinh tế đang phát triển hiện nay

e) Các mô hình Nghiên cứu thực nghiệm về các nguồn tăng trưởng kinh tếDouglass North - một nhà kinh tế học hàng đầu về thể chế và đoạt giải Nobel cho cáccông trình của mình Thể chế (institutions) được ông định nghĩa là “các ràng buộc do conngười tạo ra nhằm để cấu trúc các tương tác giữa người với người” (North, 1990, tr 360)

Thể chế bao gồm các thể chế chính thức (formal institutions) và phi chính thức (informal

institutions) Thể chế chính thức là những ràng buộc được chế tài bởi nhà nước như hiếnpháp, luật, các qui định; thể chế phi chính thức là những ràng buộc không thuộc phạm vichế tài của nhà nước như tập quán, qui tắc hành xử, văn hóa,…31

Để lượng hóa ảnh hưởng của các yếu tố về thể chế khác nhau lên tăng trưởng kinh tế,

thường các nhà nghiên cứu sử dụng phương trình hồi qui dưới đây được:

Y = a0 + a1X1+ a2X2+ …+ anXn

Với:

Y: Là biến phụ thuộc (thường là tốc độ tăng trưởng GDP)

X1,…,Xn: Các biến giải thích (hay biến độc lập)

a0, …, an: Các hệ số, phản ánh mức độ ảnh hưởng của các biến giải thích lên biến phụcthuộc

ε: sai số (error term)

Với phương trình hồi qui trên, các nhà kinh tế như Knack and Keefer (1995);Mauro(1995);Sachs and Warner (1997); Sala-i-martin (1997); Brunetti, Kisunko and Weder(1997); Barro (1998) đã có các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chất lượng thểchế và tăng trưởng kinh tế Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy làchất lượng thể chế là một yếu tố quan trọng giải thích về sự khác biệt kết quả tăng trưởngkinh tế giữa các quốc gia với nhau Quốc gia nào có chất lượng thể chế tốt thì thường có tốc

độ tăng trưởng cao hơn (với các điều kiện khác không đổi)32

Ngoài các mô hình nghiên cứu thực nghiệm kể trên chúng ta có thể bắt gặp hàng loạtcác mô hình nghiên cứu thực nghiệm theo dạng hồi quy để nghiên cứu ảnh hưởng của chitiêu của chính phủ và các yếu tố khác tới tăng trưởng kinh tế Xét cho cùng chúng cũng chỉlà những mô hình toán học được sữ dụng để tìm ra các mối liên hệ nhân quả về tăng trưởngkinh tế mà thôi Nhược điểm chung của chúng là thiếu một mô hình có thể giải thích đượchầu hết các trường hợp, các biến của tăng trưởng kinh tế

30 See for instance, Professor Stephen Parente's 2001 review, The Failure of Endogenous Growth (Online at the

University of Illinois at Urbana-Champaign) (Published in Knowledge Technology & Policy Volume XIII, Number 4.)

31 Chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế dài hạn; ThS Nguyễn Văn Phúc;

http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=2691&cap=4&id=2692

32 Chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế dài hạn; ThS Nguyễn Văn Phúc;

http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=2691&cap=4&id=2692

Trang 17

1.1.1.2/ Xây dựng mô hình lý thuyết tăng trưởng cho TP.HCM

Tăng trưởng kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng mà mọi quốc gia, mọi khu vực đềuphải lấy đó làm nhiệm vụ trung tâm của mình Nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế cũng sôiđộng không kém Với sự phát triển của khoa học nói chung, và của toán kinh tế, máy tính,công nghệ thông tin v.v thì các hướng nghiên cứu mới về mô hình tăng trưởng kinh tếngày càng nở rộ Sẽ có nhiều mô hình mới ra đời, các mô hình ngày càng hoàn thiện hơn

độ chính xác cũng cao hơn và mức bao phủ cũng rộng hơn Tuy nhiên vẫn còn rất nhiềukhó khăn để áp dụng thành công các mô hình này vào thực tế Đối với TP Hồ Chí Minhchúng tôi cho rằng, tùy theo mục tiêu và lĩnh vực áp dụng việc nghiên cứu mô hình tăngtrưởng nên được sử dụng chủ yếu theo hai hướng cơ bản sau :

+ sử dụng mô hình Solow-Swan và các biến thể của chúng để nghiên cứu nhữngảnh hưởng cốt lõi của vốn, lao động, tiến bộ khoa học kỹ thuật v.v tới sự tăng trưởng kinh

tế trung và dài hạn là chủ yếu

+ sử dụng mô hình thực nghiệm dạng hồi quy tuyến tính và các biến thể của nó đểđánh giá và dự báo ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nữa như thể chế, mở cửa thị trường,giáo dục, y tế, đổi mới v.v tới sự tăng trưởng kinh tế của thành phố

1.1.2/ Khái niệm cạnh tranh quốc gia

1.1.2.1 Tầm quan trọng và sự cần thiết phải nghiên cứu về cạnh tranh quốc gia

Trong những năm gần đây, vấn đề hội nhập và toàn cầu hóa diễn ra cực kỳ nhanhchóng , trở thành một xu thế tất yếu , không thể đảo ngược trên phạm vi toàn cầu Khi hộinhập trở nên sâu và rộng hơn thì áp lực cạnh tranh đối với tất cả các nền kinh tế ,từ lớn đến

bé từ phát triển đến đang phát triển , sẽ ngày càng mạnh mẽ và khốc liệt hơn Chính điềunày cũng đồng thời đưa các nước xích lại gần nhau hơn thông qua việc trao đổi mậu dịch,đầu tư liên doanh, hợp tác cùng phát triển v.v và các nước đã phải điều chỉnh, xây dựng vàhoàn thiện hệ thống pháp luật, đường lối, chính sách của mình cho phù hợp với luật lệchung của cả phần thế giới còn lại Nhiều nước trên thế giới, trong đó có nước ta đã phảichủ động tham gia vào trào lưu hội nhập và chấp nhận đương đầu với các thách thức từ toàncầu hóa Hội nhập và toàn cầu hóa không phải chỉ mang tới sự thách thức mà điều chủ yếulà nó sẽ mang lại những cơ hội” ngàn năm có một” Không tận dụng những cơ hội này Việtnam khó có thể trở thành một quốc gia phát triển trong tương lai Trọng trách đang đặt lênvai không chỉ chính phủ mà đối với toàn thể dân tộc Việt Nam chính vào lúc này Chúng taphải nhanh chóng nắm bắt lấy cơ hội và biến mong ước thành hiện thực

Bên cạnh các lợi ích đã được thừa nhận, mặt trái của hội nhập và toàn cầu hóa là ảnhhưởng tiêu cực từ suy thoái và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, xã hội bị phân hóa mạnh hơn,môi trường có thể bị hủy hoại nhiều hơn, những thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội cũng có thểđược du nhập và làm vẩn đục nền văn hóa bản địa, chính trị hóa các vấn đề về nhân quyền,thương mại, sinh thái v.v Lợi ích từ toàn cầu hóa không được phân bố đều ở các quốc giavà ở trong mỗi nước, mỗi khu vực, dẫn đến mâu thuẫn giữa các vùng, các quốc gia, thậmchí giữa các vùng lãnh thổ trong cùng một quốc gia Bên cạnh xu hướng nhất thể hóa toàncầu cũng đồng thời xuất hiện ngày càng nhiều các xu thế liên kết giữa các quốc gia, cáckhu vực với nhau, đa phương hóa các quan hệ kinh tế nhằm đối phó với thách thức toàn cầuhóa v.v

Hiện nay , với phương châm “ Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước” nước ta

đã và đang cam kết tham gia vào qúa trình hội nhập và toàn cầu hóa thông qua các hiệp địnhthương mại song phương, hội nhập kinh tế khu vực và đã tham gia vào tổ chức thương mạiquốc tế WTO Trong bối cảnh như vậy việc nâng cao sức cạnh tranh quốc gia là việc làm vô

Trang 18

cùng cần thiết để thu hút đầu tư, bảo đảm tăng trưởng và thực hiện hiệu quả công cuộc côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thế giới ngày nay đã trở thành đa cực Sức ép của cạnh tranh không chỉ đến từ cácquốc gia phát triển mà cón đến từ cả các quốc gia đang phát triển Châu Á- Thái BìnhDương là một khu vực đang có quá trình phát triển kinh tế và hội nhập sôi động đứng ở mứchàng đầu thế giới Các cơ hội kinh doanh đến tứ các nhà đầu tư Mỹ, Nhật Bản, HànQuốc,Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan , Malaisia v.v là một trong nhữngnguyên nhân chính làm nên sự phát triển thần kỳ ở Việt Nam Về mặt địa lý nước ta có biêngiới liền kề với Trung Quốc một đất nước đang có quá trình tăngg trưởng và phát triểnnhanh nhất thế giới hiện nay Trung Quốc có thị trường rộng lớn , sức mua tăng nhanh ,hàng hóa phong phú và đa dạng, giá rẻ đang là các cơ hội tốt cho các doanh nghiệp Việtnam Các nước trong khối ASEAN và đặc biệt là Trung quốc có nhiều điểm tương đồng vềvăn hóa, lịch sử truyền thống, trình độ phát triển kinh tế , cơ cấu sản phẩm hàng hóa, cáchthức làm ăn và chế độ chính trị xã hội đối với nước ta Chính điều này cũng sẽ tạo ranhững sức ép rất lớn đối với thị trường cả nước , thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệptrong nước cũng như thu hút các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập nền kinh tế của cả nước vàtừng khu vực ở Việt nam vẫn tiếp tục phát triển Qua hai lần khủng hoảng kinh tế , tài chínhtrong khu vực và ở mức độ toàn cầu chúng ta vẫn đứng vững và phát triển ổn định Cơ hộivà thách thức liên tực đặt chúng ta vào những tình thế mới Năng lực cạnh tranh quốc giacũng như năng lực cạnh tranh của ngành và các doanh nghiệp đang đòi hỏi chúng ta phải cónhững công trình nghiên cứu một cách nghiêm túc Nước ta đã thoát khỏi ngưỡng đóinghèo, nhưng để trở thành một quốc gia phát triển chúng ta phải vượt qua một cái bẫy cực

kỳ khó khăn , đó là bẫy thu nhập trung bình mà nhiều nước xung quanh chúng ta có khi mấtvài chục năm vẫn chưa vượt qua được Sự phát triển của đất nước trong thời gian qua rấtđáng tự hào, nhưng trong thời điểm hiện nay sự phát triển của năng lực cạnh tranh quốc giacần phải được so sánh với các quốc gia khác chứ không chỉ so sánh với chính mình trongquá khứ Mỗi quốc gia cần phải phát triển năng lực cạnh tranh nhanh hơn các đối thủ cạnhtranh với mình để không bị tụt hậu và thua thiệt trong kinh doanh Điều chính yếu là nănglực cạnh tranh quốc gia và tái cấu trúc nền kinh tế để đảm bảo chắc chắn là chúng ta sẽ vượtqua được cái bẫu thu nhập trung bình và đưa nước ta gia nhập vào hàng ngũ các quốc giaphát triển

Trên thực tế mặc dù chúng ta đang đứng trước những thách thức lớn từ hậu khủnghoảng kinh tế thế giới, nhưng cơ hội về phát triển và hội nhập kinh tế vẫn còn đó, chúng tacần nhanh chóng nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia Khi sức cạnh tranh của quốc giađược nâng cao sẽ đãm bảo và thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế cao, tạo nhiều công ăn việclàm cho xã hội, trình độ khoa học được nâng cao và đời sống nhân dân được cải thiện.Ngược lại khi năng lực cạnh tranh quốc gia kém thì tốc độ phát triển kinh tế quốc gia sẽchậm lại hoặc thậm chí là đi xuống, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng, nhiều công ty phảichuyển hướng sản xuất hoặc lâm vào tình trạng phá sản, mất thị trường trong nước và thịtrường xuất khẩu vào tay các nước khác

Vấn đề bức xúc và cấp bách là ở chỗ: Ai củng biết là cần phải nâng cao năng lựccạnh tranh quốc gia, nhưng năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào cái gì, đo bằngcách nào và đặc biệt quan trọng là ở chổ làm cách gì để nâng cao và phát triển một cách bềnvững về năng lực cạnh tranh quốc gia, kinh nghiệm và bài học gì từ các nước trong khu vựcvà trên thế giới đó là những vấn đề cần thiết và cấp bách phải có câu trả lời chính xác vàolúc này Tất cả những điều này chỉ được sáng tỏ khi chúng ta thật sự nghiêm túc và kháchquan trong công tác nghiên cứu Hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu theo hướng này tuynhiên việc nghiên cứu một cách tổng thể và có hệ thống cho cả nước và cho vùng địa bàn

Trang 19

trọng điểm ở Thành Phố Hồ Chí Minh vẫn chưa có đáp án cuối cùng Nghiên cứu giải quyếtvấn đề thực tế không thể không có nghiên cứu lý thuyết dẫn đường Công trình nghiên cứulý thuyết về các khía cạnh của năng lực cạnh tranh đang được tiến hành ở đây là một cốgắng theo hướng đó

1.1.2.2/ khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh quốc gia

Theo quan điểm chung nhất thì “cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chốnglại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giànhđược lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác”33 Trong kinh tế

sự cạnh tranh không chỉ xảy ra ở cấp độ doanh nghiệp mà còn cả ở cấp độ ngành và quốcgia Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá việc cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ

có ý nghĩa thắng hay thua trong việc xuất khẩu sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, tìm kiếm vàchiếm lĩnh thị trường mà nó còn có nhiều ý nghĩa hơn thế Việc thu hút vốn và đầu tư, việcgiải quyết công ăn việc làm, việc đảm bảo an ninh và quốc phòng , việc giữ gìn văn hoá vàbản sắc của dân tộc, việc phát triển của đất nước, vị thế trên trường quốc tế v.v đều chịu vàphụ thuộc rất lớn vào sự thành công hay thất bại trong cạnh tranh giữa các quốc gia

Khi bàn về sự cạnh tranh ở cấp độ quốc gia thì người ta bàn và quan tâm nhiều nhấtđến năng lực hay sức cạnh tranh Năng lực cạnh tranh đã trở thành một trong những mốiquan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, chính phủ, các ngành sản xuất và của mỗi doanhnghiệp Theo M Porter, có nhiều cách giải thích vì sao một số quốc gia thành công và một

số thất bại khi cạnh tranh trên trường quốc tế Mặc dù các cách giải thích này thường mâuthuẫn nhau, và không có một lý thuyết chung nào được chấp nhận34 Có rất nhiều quan điểmkhác nhau về năng lực cạnh tranh quốc gia, và cũng chưa có một hệ thống lý thuyết, quanđiểm nào là chuẩn mực chung được thừa nhận Trong nhiều trường hợp các quan điểmthậm chí lại chứa đựng những nội dung khác biệt rất nhiều35

Một số quan điểm cho rằng năng lực cạnh tranh quốc gia là hiện tượng kinh tế vĩ môchịu ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái, lãi suất , mức thâm hụt ngânsách Tuy nhiên trên thực tế vẫn có nhiều nước có năng lực cạnh tranh cao mặc dù thâm hụtngân sách vẫn cao và đồng nội tệ lại tăng giá như ở Nhật, Italia và Hàn Quốc (Micael, 1985)

Một số quan điểm khác thì cho rằng sức cạnh tranh quốc gia có được là nhờ sở hữunhững nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào Đúng là quốc gia nào có nguồn tài nguyên dồidào thì càng có nhiều lợi thế trong cạnh tranh Một số quốc gia có nguồn tài nguyên thiênnhiên rất hạn chế nhưng nền kinh tế của họ vẫn có sức cạnh tranh rất cao và nhân dân của

họ vẫn được hưởng một cuộc sống tốt đẹp Cũng không hiếm trường hợp những vùng(miền, đất nước) có nhiều tài nguyên lại kém phát triển hơn những vùng nghèo tài nguyên

Một số quan điểm khác lại cho rằng lao động dồi dào với mức lương thấp cũng tạo ranăng lực cạnh tranh như ở một số nước ở Châu Á chẳng hạn Tuy nhiên một số nước có nềnkinh tế rất phát triển như Đức, Anh, Pháp, Thuỵ Sỹ và Thuỵ Điển v.v lại có năng lực cạnhtranh rất cao trong khi họ thiếu lao động và giá nhân công rất cao

Một cách lý giải khác về năng lực cạnh tranh quốc gia có liên quan đến các chínhsách của chính phủ Quan điểm này cho rằng, khả năng hỗ trợ xuất khẩu và bảo hộ sản xuấtnội địa là một trong những chiếc chìa khóa thành công ở các quốc gia Quan điểm này tuykhông phù hợp với tinh thần của hiệp ước WTO nhưng nó vẫn dưới dạng này hay khácđang được nhiều nước áp dụng Tuy nhiên thực tế cũng chỉ ra rằng, các quốc gia như Nhật

33 Cạnh tranh trong kinh tranh-trong-kinh-doanh&catid=37%3Ahoc-tap-thu-gian&Itemid=61&lang=vi

doanh;http://polvita.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=78%3Acnh-34 Luận văn thạc sỹ: nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Http://lop12n.forum-viet.com/t1045-topic

35 Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Niên khóa 2006 – 2007 ; Tiếp thị địa phương

Chương 6: Lợi thế Cạnh tranh của các Quốc gia ; Michael E Porter ; Dịch: Hải Đăng ;

www.fetp.edu.vn/exed/2008/PhuQuoc/Docs/porter_ch6.pdf

Trang 20

Bản, Hàn Quốc khi áp dụng quan điểm này không phải lúc nào cũng thành công Chính phủNhật bản đã đầu tư rất nhiều vào công nghiệp hóa chất, tàu biển… nhưng những ngành côngnghiệp này của Nhật Bản so với thế giới nay đã lạc hậu Nhật Bản đã từng đặt mục tiêu rấtlâu dài cho công nghiệp sản xuất máy bay và phần mềm nhưng cho đến nay hai ngành côngnghiệp này chưa có vị trí đáng kể trên thế giới Ngược lại các ngành khác như công nghiệpchế tạo robot, may fax, hàng điện tử tiêu dùng có sự phát triển vược bậc mặc dù chính sáchcan thiệp của chính phủ so với các ngành khác rất hạn chế Ở Việt Nam chúng ta ngành ô tôđược hỗ trợ rất nhiều từ các chính sách của chính phủ nhưng đến nay đạt được mục tiêu nộiđịa hoá ngành ô tô vẫn còn là rất xa vời Rõ ràng chính sách về hỗ trợ và bảo vệ sản xuấtnội địa của chính phủ chưa thể chắc chắn là mang lại sức mạnh cạnh tranh của quốc gia.

Thời gian gần đây có một số quan đểm cho rằng sức cạnh tranh quốc gia là mối quanhệ giữa người sử dụng lao động và người lao động36 Người ta cho rằng quan hệ lao độngcủa các công ty Nhật Bản trong những năm 80 và các Công Ty Mỹ trong những năm 50, 60làm nên nền tảng của cạnh tranh quốc gia Tuy nhiên quan điểm này lại không làm rõ được

đó là kiểu quan hệ gì sẽ tạo nên thành công, thực tế chỉ ra là các ngành khác nhau cầnphương pháp và các mối quan hệ khác nhau Phương pháp quản lý lỏng lẽo mang tính chấtgia đình của các doanh nghiệp Ý tạo cho các doanh nghiệp năng động và tạo ra sức cạnhtranh các ngành thiết kế, thời trang, giày dép Quan hệ kiểu “thực dụng” như các công ty

Mỹ tạo ra các ngành có sức cạnh tranh mạnh như phần mềm, thiết bị y tế, dịch vụ kinhdoanh

Có thể thấy rằng có rất nhiều cách giải thích khác nhau về năng lực cạnh tranh củacác quốc gia, nhưng theo chúng tôi cái gốc của vấn đề là ở chỗ năng lực cạnh tranh quốc gialà khả năng cạnh tranh để đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ( cả ở trong vàngoài nước) tốt hơn các quốc gia khác đến đâu Quốc gia nào cạnh tranh thành công thìquốc gia ấy sẽ có khả năng đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống và

có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao Xét về lâu về dài thì năng suất lao động xã hội là yếu tốquan trọng nhất quyết định mức sống và là một trong những nền tảng quan trọng nhất quyếtđịnh mức thu nhập bình quân trên đầu người ở mỗi quốc gia Năng suất cao không nhữngtạo điều kiện giúp cho người dân có được mức thu nhập cao hơn mà còn giúp người dân cóđược nhiều thời gian rảnh rỗi hơn dành cho công việc gia đình và vui chơi giải trí

Lý luận cũng như thực tế ngày nay đều đi đến chỗ thừa nhận rằng, năng lực cạnhtranh quốc gia được tạo nên từ tập hợp tất cả những yếu tố góp phần tạo ra lợi thế cạnhtranh của một quốc gia Một mặt, nó bao gồm các yếu tố tự nhiên ,khoa học kỹ thuật, kinh

tế, lịch sử, văn hóa, xã hội đang và sẽ có, mặt khác, nó còn phụ thuộc vào năng lực hoạchđịnh, tổ chức thực hiện và điều chỉnh chính sách kinh tế - xã hội của chính phủ37 Dù cáchnhìn nhận và giải thích có thể khác nhau nhưng chúng ta cũng dễ thấy rằng, để một quốcgia có được năng lực cạnh tranh cao , nhanh chóng đạt được những thành quả bền vững vềnâng cao mức sống và có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao thì năng suất sử dụng các nguồn lựccủa quốc gia phải cao hay nói các khác là hiệu quả sử dụng các nguồn lực phải cao

1.1.2.3/ Các yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh quốc gia

Nhận thức và xây dựng sức mạnh cạnh tranh tranh quốc gia là một công việc hết sứcquan trọng và cần thiết Tìm ra các yếu tố then chốt để tạo nên sức cạnh tranh quốc gia làmột trong những vần đề trọng tâm theo hướng này

Có rất nhiều cách tiếp cận về các yếu tố tạo nên sức cạnh tranh quốc gia Một trongcách tiếp cận ấy là 5 yếu tố tạo nên sức cạnh tranh quốc gia là : Khoa học kỹ thuật, conngười, Cơ sở vật chất, Hệ thống quản lý và môi trường

36

37 Kinh tế quốc tế nâng cao; chương 3 :Cạnh tranh quốc gia trong hội nhập kinh tế quốc tế ;

http://www.ou.edu.vn/ktl/AnhHoatDong/kinhtequoctenangcao/5.%20chuong%203.pdf

Trang 21

Theo cách tiếp cận này rõ ràng phát triển khoa học kỹ thuật là yếu tố then chốt để tạo

ra những lợi thế cạnh tranh một cách bền vững và lâu dài Ngày nay các sản phẩm , dịch vụchủ yếu có được ở mỗi quốc gia đều có dấu ấn nếu không muốn nói là quyết định của cácthành tựu khoa học kỹ thuật Những tiến bộ khoa học kỹ thuật then chốt không chỉ là nguồitài nguyên chiến lược ở mỗi quốc gia mà nó còn đảm bảo thế mạnh cạnh tranh một cách bềnvững và lâu dài Tiền bạc , tài chính là các yếu tố rất quan trọng, nhưng không phải cứ cótiền là có thể mua được các tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ mới Thế giới ngàynay phát triển rất nhanh và rất mạnh , các thành tựu của khoa học và kỹ thuật, công nghệcũng sẽ được đem buôn bán và trao đổi Tuy nhiên những thành tựu khoa học kỹ thuật thenchốt làm nên sức mạnh cạnh tranh quốc gia chắc chắn chẳng có nước nào lại dại dột đembán cho các nước khác cả

Yếu tố con người không chỉ tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mà nó có ảnhhưởng rất lớn đến sự hình thành nhu cầu của thị trường, những nước có lực lượng lao độngnhiều, có tay nghề cao, trình độ kiến thức tốt , năng lực sáng tạo nhiều chắc chắn sẽ lànhững yếu tố quan trọng thậm chí là quyết định tạo nên sức mạnh cạnh tranh quốc gia.Những nước có lực lượng lao động với mức lương thấp chỉ tạo ra sức mạnh cạnh tranh nhấtthời không bền vững và cũng không phù hợp với mục tiêu phát triển của các quốc gia

Các yếu tố vật chất máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng , vốn liếng trên hai mặt về lượngvà chất đều có ảnh hưởng rất lớn đền việc tạo ra sức mạnh cạnh tranh quốc gia bền vững vàlâu dài Yếu tố hệ thống quản lý của mỗi quốc gia cũng là một trong những nhóm yếu tố nó

có thể kìm hãm ( với các chính sách lạc hậu, không phù hợp, hoặc kích thích( với các chínhsách tốt) đền việc phát triển năng lực cạnh tranh quốc gia, Ngoài ra nó củng thay mặt quốcgia yếu cầu ( theo các quy định của pháp luật) các doanh nghiệp phải thực hiện việc nàyhay việc khác trong việc phát triền năng lực cạnh tranh Hệ thống quản lý với nhà nước làtrung tâm không chỉ hoạch định đường lối chủ chương và chính sách mà nhiều khi còn trựctiếp tổ chức và thu hút đầu tư làm nên những lực lượng cơ sở vật chất cực kỳ quý giá để tạo

ra sức mạnh cạnh tranh quốc gia

Các yếu tố về môi trường thiên nhiên như tài nguyên khoáng sản, đất đai, khí hậu thổnhưỡng, ánh sáng, vị trí địa lý v.v cũng là những yếu tố có thể tạo nên những sức mạnhcạnh tranh rất quan trọng Mặc dù vậy, những yếu tố này không phụ thuộc nhiều vào việcquốc gia muốn hay không muốn tạo ra chúng mà chúng đã tồn tại về cơ bản là ngoài ýmuốn chủ quan của các quốc gia, các quốc gia chỉ có thể cải tạo và nâng cấp, thích nghi vớichúng mà thôi Các yếu tố về môi trường xả hội như hệ thống chính trị, văn hóa, kinh tế, tôngiáo, tín ngưỡng v.v sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ đến việc tạo những lợi thế cạnhtranh quốc gia trên các mặt thu hút đầu tư, triển khai các dự án, hòa nhập và hội nhập vớicác quốc gia khác Chúng ta không thể coi thường các yếu tố này đặc biệt là yếu tố chính trịvà văn hóa Một quốc gia bị bao vây và cấm vận sẽ không thể tham gia chứ đừng nói gì đếncạnh tranh và hội nhập Một quốc gia có hệ thống chính trị tốt , xã hội ổn định và là bạn bètin cậy của các quốc gia khác đó chính là những lợi thế cạnh tranh thấy rõ trong thời đạihiện nay

Văn hóa là yếu tố quan trọng nhất tạo ra mong muốn Nhu cầu và mong muốn lại làlà yếu tố tạo ra lợi thế cạnh tranh Không chỉ có vậy, văn hóa nói chung và văn hóa làm ănnói riêng với chữ tín làm gốc , tôn trọng và yêu quý khách hàng như thượng đế là nhữngthứ không phải tự nhiên mà có Nó là thành qủa phát triển xã hội ở mỗi nước và tất nhiên

nó có ảnh hưởng rất mạnh đến việc tạo ra lợi thế cạnh tranh trong việc làm ra hàng hóa, dịch

vụ và thu hút đầu tư…

Theo nhận thức và các ý kiến chung đã được thừa nhận người ta cho rằng, sức cạnhtranh của các quốc gia được tạo nên từ những lợi thế cạnh tranh quốc gia Những yếu tốtruyền thống có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh thường là :

Trang 22

quy mô dân số địa phương.

Những yếu tố này phần lớn và cơ bản là được thừa hưởng hay đã có sẵn

Micheal Porter cho rằng, tốc độ tăng trưởng công nghiệp bền vững hầu như khôngbao giờ được xây dựng trên các yếu tố cơ bản được thừa hưởng nói trên Sự phong phú củacác yếu tố này có thể về thực chất lại làm suy yếu các lợi thế cạnh tranh! Ông đưa ra kháiniệm về "các cụm” hoặc các nhóm của các công ty được liên kết với nhau, các nhà cungcấp, các ngành công nghiệp liên quan, và các cơ quan phát sinh tại các địa điểm cụ thể.Tấtnhiên lợi thế cạnh tranh quốc gia là kết quả của 4 yếu tố cấp cao (advanced ) được liên kếtvới nhau và hoạt động trong và giữa các công ty trong những cụm này Chúng có thể bị ảnhhưởng một cách chủ động bởi chính phủ

Những yếu tố cao cấp được liên kết với nhau tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các nướchoặc khu vực trong khuôn khổ hình khối kim cương Micheal Porter là:

Thứ nhất, Chiến lược công ty, cơ cấu và sự cạnh tranh của doanh nghiệp(thế giới bịthống trị bởi những điều kiện năng động, đó là sự cạnh tranh trực tiếp và sự cạnhtranh này sẽ buộc các công ty phải làm việc để tăng năng suất và đổi mới nó cũngphụ thuộc vào điều kiện tại mỗi quốc gia : quyết định việc thành lập, tổ chức, quảnlý doanh nghiệp như thế nào, và bản chất của sự cạnh tranh trong nước ra sao.38

Thứ hai, Điều kiện nhu cầu ( Tính chất của nhu cầu trong nước về sản phẩm haydịch vụ của ngành nghề đó) Nhu cầu có khả năng thanh toán của khách hàng càngnhiều hơn trong nền kinh tế, thì các công ty càng phải đối mặt với áp lực phải khôngngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của họ thông qua các sản phẩm sáng tạo, thôngqua chất lượng cao, v.v

Thứ ba, Công nghiệp phụ trợ có liên quan ( đó là các ngành nghề bổ trợ và có liênquan Chúng có liên quan đến sự có mặt hay thiếu vắng tại một quốc gia nhữngngành nghề cung ứng và ngành nghề có liên quan đến khả năng cạnh tranh quốc tế.Chính sự gần gũi về không gian lên phía trên hay xuống phía dưới trong các ngànhtạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin và thúc đẩy việc trao đổi các ý tưởng và đổimới liên tục)

Thứ tư, điều kiện về yếu tố sản xuất: đó là vị trí của quốc gia trong các yếu tố sảnxuất cần thiết để cạnh tranh trong ngành nghề đó, ví dụ: lao động có tay nghề hay cơsở hạ tầng Trái ngược với ý kiến được thừa nhận rộng rãi, Micheal Porter lập luậnrằng các yếu tố "then chốt" của sản xuất (hay các yếu tố chuyên ngành) là được tạo

ra, mà không phải là được thừa hưởng Các yếu tố chuyên ngành của sản xuất là laođộng có tay nghề cao, vốn và cơ sở hạ tầng Các yếu tố "Không phải là then chốt"hoặc các yếu tố sử dụng chung, chẳng hạn như lao động không có tay nghề vànguyên liệu, có thể thu nhận được bởi bất kỳ công ty nào, và do đó, không tạo ra lợithế cạnh tranh bền vững Tuy nhiên, các yếu tố chuyên ngành có liên quan đến đầu

tư lớn, nhiều và liên tục Việc nhân bản chúng là có nhiều khó khăn Điều này

38 Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright ; Niên khóa 2006-07 ; Bài đọc-Tiếp thị địa phương ; Lợi thế cạnh tranh quốc gia ; ch 3 Nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia ; Michael Porter 1 Biên dịch: Đoàn Hữu Đức;

www.fetp.edu.vn/exed/2008/PhuQuoc/Docs/porter_ch3.pdf

Trang 23

dẫn đến lợi thế cạnh tranh , bởi vì nếu các công ty khác không có thể dễ dàng nhânbản được những yếu tố này, chúng có giá trị chính ở điểm đó.

Ngoài ra còn có hai yếu tố có thể ảnh hưởng đến hệ thống cạnh tranh quốc gia vàcũng cần thiết để hoàn chỉnh mô hình của chúng ta, đó là cơ hội và nhà nước Cơ hội lànhững sự kiện phát triển ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp (và cũng thường là bênngoài sự quản lý của nhà nước của quốc gia đang xét), ví dụ như những phát minh thuầntuý, những đột phá về kỹ thuật căn bản, chiến tranh, những biến chuyển chính trị bên ngoàivà thay đổi về nhu cầu thị trường nước ngoài Yếu tố cơ hội có thể tạo ra sự gián đoạn, làmthức tỉnh hoặc tái cấu trúc ngành nghề và cung cấp cơ hội cho các doanh nghiệp của mộtquốc gia nào đó loại bỏ các doanh nghiệp của một quốc gia khác Cơ hội đã từng đóng vaitrò quan trọng trong việc thay đổi lợi thế cạnh tranh ở nhiều ngành nghề.39

Vai trò của chính phủ trong mô hình thỏi kim cương của Micheal Porter là "hoạtđộng như một chất xúc tác và là phía yêu cầu, điều này khuyến khích hoặc thậm chí thúcđẩy các công ty hướng tới việc nâng cao khát vọng của họ và chuyển sang cấp độ cao hơnvề năng lực cạnh tranh " Trên thực tế chính quyền các cấp có thể góp phần nâng cao haygiảm thiểu lợi thế quốc gia Chúng cần phải khuyến khích các công ty để nâng cao hiệusuất của mình, kích thích nhu cầu nhanh chóng hơn cho các sản phẩm tiên tiến, tập trungvào việc tạo ra yếu tố chuyên ngành và kích thích sự cạnh tranh địa phương bằng cách hạnchế hợp tác trực tiếp và thực thi các quy định chống độc quyền 40.Có thể thấy vai trò này rõnhất bằng cách kiểm tra xem các chính sách tác động như thế nào đến mỗi yếu tố ảnh hưởngđến năng lực cạnh tranh Điều dễ hiểu là : Chính sách chống độc quyền (antitrust) sẽ ảnhhưởng đến sự cạnh tranh trong nước; Các quy định có thể làm thay đổi nhu cầu thị trườngtrong nước; Đầu tư vào giáo dục có thể thay đổi điều kiện về yếu tố sản xuất; Chi ngân sách(government purchases) có thể kích thích những ngành nghề bổ trợ và liên quan Nếu thựchiện các chính sách mà không cân nhắc xem liệu chúng có ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thốngcác yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh ra sao thì dẫn đến khả năng làm giảm lợi thế quốcgia thay vì gia tăng lợi thế cạnh tranh

Ảnh hưởng qua lại của bốn yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh theo vị giáo sư này

có thể minh hoạ bằng sơ đồ dưới đây:

_

Hình 1.3- Các yếu tố quyết định lợi thế quốc gia

Các điều kiện về yếu tố sản xuất

39 Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Niên khóa 2006-07 Bài đọc Tiếp thị địa phương ;Lợi thế cạnh tranh quốc gia

Ch 3 Nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia; http://www.fetp.edu.vn/exed/2008/PhuQuoc/Docs/porter_ch3.pdf

40 The Competitive Advantage of Nations;

http://www.vectorstudy.com/management_theories/competitive_advantage_of_nations.htm

Trang 24

Sức cạnh tranh của quốc gia chịu sự tác động các yếu tố đầu vào phục vụ quá trìnhsản xuất Các yếu tố đầu vào này như là trình độ tay nghề công nhân, trình độ khoa họccông nghệ, nguồn tài sản vật chất, cơ sở hạ tầng… cần thiết cho sự phát triển một ngànhnghề nhất định.

Nguồn lực ban đầu của các yếu tố sản xuất

Nguồn lực ban đầu của các yếu tố sản xuất được xem như là các yếu tố đầu vào phục

vụ quá trình sản xuất Các yếu tố này có thề được chia thành những nhóm như sau :

- Nguồn nhân lực: số lượng, tay nghề, chi phí tuyển chọn nhân lực, giờ làm việc tiêu

chuẩn và chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp Tài nguyên nhân lực có thể chia

ra nhiều loại như kỹ sư, nhân viên kỹ thuật, bác sỹ…

- Nguồn tài sản vật chất: sự dồi dào về tài nguyên khoán sản, diện tích rừng lớn có

nguồn gỗ dồi dào, bờ biển trãi dài với nhiều ngư trường lớn thuận lợi cho công việc đánhbắt Những điều kiện tốt về khí hậu, diện tích hay địa lý của quốc gia cũng được xem nguồnlực về tài sản vật chất Nếu quốc gia đó có vị trí địa lý gần với các quốc gia khác là thịtrường tiêu thụ hoặc cung cấp đầu vào thì sẽ có lợi thế rất nhiều về tiết giảm chi phí vậnchuyển và dễ dàng việc trao đổi văn hóa và kinh doanh

- Nguồn kiến thức: tất cả các kiến thức về khoa học công nghệ , thị trường của một

nước liên quan đến hàng hóa và dịch vụ Các nguồn kiến thức này đến từ các trung tâmnghiên cứu quốc gia, các trường đại học, các doanh nghiệp, các hiệp hội thương mại và từcác nguồn khác Các nguồn kiến thức khoa học và các lãnh vực khác của quốc gia có thểchia ra thành các ngành nghề khác nhau

- Nguồn vốn: tiền vốn và chi phí vốn có thể dành cho việc tài trợ các ngành công

nghiệp Nguồn vốn có từ các nguồn khác nhau như những khoản nợ không bảo đảm và nợbảo đảm, các cổ phiếu, trái phiếu và vốn đầu tư mạo hiểm Quy mô vốn và cấu trúc vốn củamột quốc gia chịu sự tác động tiết kiệm và thị trường vốn của quốc gia Toàn cầu hóa xảy rathì có hiện tượng chuyển dịch nguồn vốn qua lại giữa các quốc gia và làm cho các quốc gia

có cơ cấu thị trường vốn về lý thuyết ngày càng giống nhau Tuy nhiên giữa các quốc giavẫn còn sự khác biệt nhau về cơ cấu kinh tế, đặc thù phát triển các ngành nên sự thống nhấtcòn lâu mới xảy ra

- Cơ sở hạ tầng: sức cạnh tranh quốc gia chịu sự tác động lớn bởi chủng loại, chất

lượng, chi phí sử dụng cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông, hệ thốngthông tin liên lạc, phân phát thư và hàng hóa, dịch vụ y tế, thanh toán và chuyển các quỹ…

Cơ sở hạ tầng cũng bao gồm văn hóa quốc gia, các điều iện thu hút lao động từ các quốc giakhác, các điều kiện về đất đai nhà cửa

Thứ bậc giữa các yếu tố sản xuất

Các yếu tố sản xuất khác nhau có vai trò khác nhau đối với sức cạnh tranh của quốcgia, để hiểu được vai trò các yếu tố này cần phân biệt thứ bậc giữa các loại yếu tố Chúng ta

có thể chia các yếu tố sản xuất thành hai loại là yếu tố sản xuất cơ bản và yếu tố sản xuấtcao cấp Yếu tố sản xuất cơ bản bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, khí hậu, nguồnnhân công giá rẻ, lao động không có kỹ năng và vốn nợ Yếu tố sản xuất cao cấp bao gồmnguồn nhân công có kỹ năng, trình độ khoa học kỹ thuật của quốc gia, hệ thống thông tinquốc gia, các viện nghiên cứu trong các trường đại học đối với các ngành nghề phức tạp

Các yếu tố sản xuất trong quốc gia hình thành phát triển thông qua đầu tư trong thờigian dài Các yếu tố sản xuất cơ bản được hình thành thông qua đầu tư đơn giản và kế thừathụ động Về lâu dài yếu tố sản xuất cơ bản không còn quan trọng đối với sức cạnh tranhcủa quốc gia hoặc lợi thế cạnh tranh mà chúng cung cấp cho một quốc gia không bền vững

Toàn cầu hóa làm cho tầm quan trọng các yếu tố sản xuất cơ bàn giảm đi, các công tythông qua các hoạt động nước ngoài hoặc thị trường quốc tế dễ dàng tiếp cận với các yếu tốsản xuất cơ bản cho nên tính cần thiết của chúng trở nên ít phổ biến

Trang 25

Yếu tố sán xuất cao cấp ngày càng giữ vai trò quan trọn trong lợi thế cạnh tranh củaquốc gia, chúng là nền tảng tạo ra lợi thế cạnh tranh cao hơn do tạo ra các sản phẩm có đặctrưng riêng và công nghệ sản xuất khác biệt Nguồn yếu tố sản xuất này ngày càng khanhiếm vì muốn sỡ hữu nó cần quá trình đầu tư liên tục và lâu dài Các yêu tố cao cấp nàythường rất khó mua từ thị trường toàn cầu hóa bên ngoài hoặc thụ hưởng từ xa qua cách tiếpcận các chi nhánh hay các công ty con.

Một điểm đáng lưu ý là các yếu tố sản xuất cao cấp thường được hình thành từ cácyếu tố sản xuất cơ bản Do vậy các yếu tố sản xuất cơ bàn hiếm khi tạo ra lợi thế cạnh tranhlâu dài nhưng với sự tích lũy về lượng và chất của nó sẽ chuyển thành các yếu tố sản xuấtcao cấp tương ứng và chính điều này là cơ sở tạo ra sức cạnh tranh quốc gia trong thời giandài

Chúng ta còn có sự phân biệt khác giữa các yếu tố sản xuất dựa vào đặc trưng củachúng là yếu tố sản xuất phổ thông và yếu tố sản xuất chuyên môn hóa Các yêu tố sản xuấtphổ thông như là đường cao tốc, nguồn cung cấp vốn vay, số lượng sinh viên tốt nghiệp đạihọc… nguồn yếu tố này được sử dụng phổ biến trong nhiều ngành công nghiệp Các yếu tốsản xuất chuyên môn hóa hay là chuyên biệt như là cơ sở hạ tầng có tính chuyên biệt, trình

độ kỹ năng lao động được đào tạo trong các ngành hẹp, nền tảng kiến thức trong các lãnhvực đặc biệt…nguồn yếu tố này thích hợp trong phạm vi hạn chế, thậm chí chỉ một ngànhduy nhất

Các yếu tố sản xuất phổ thông chỉ tạo ra sức cạnh tranh quốc gia ban đầu vá chúngthường có sẵn ở nhiều nước Các yếu tố này sẽ giảm đi tác dụng hoặc vô hiệu hóa trong nềnkinh tế toàn cầu hóa đang diễn ra Các yếu tố này được các công ty thụ hưởng qua mạnglưới công ty toàn cầu và dễ dàng thực hiện ở các nơi xa công ty gốc

Yếu tố sản xuất chuyên biệt mang lại lợi ích lâu dài và khả năng cạnh tranh quốc giacao hơn các yếu tố sản xuất phổ thông Các yếu tố này đòi hỏi có sự tập trung đầu tư dài hơnvà rủi ro nhiều hơn nguồn lực của xã hội Yếu tố này cần thiết cho các dạng hoạt động phứctạp hoặc các công ty muốn giành lợi thế độc quyền về một loại sản phẩm nào đó và chúngcần thiết dạng tinh vi hơn của lợi thế cạnh tranh Các doanh nghiệp rất khó tiếp nhận cácyếu tố sản xuất chuyên biệt từ xa thông qua các công ty con hoặc chi nhánh

Một quốc gia có lợi thế cạnh tranh bền vững khi thừa hưởng các yếu tố sản xuất vừacao cấp vừa chuyên biệt cần thiết cạnh tranh cho một ngành nhất định Chất lượng và giá trịcác yếu tố đầu vào này quyết định sự tinh vi khả năng cạnh tranh và tỷ lệ nâng cao lợi thếcạnh tranh

Trái lại, một quốc gia có năng lực cạnh tranh dựa trên các yếu tố sản xuất căn bản vàphổ thông thì không tinh vi và kém bền vững Lợi thế này sẽ không tồn tại khi các quốc giakhác bắt kịp Do vậy các quốc gia muốn duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững phải từ bỏ hoặcthay thế lợi thế từ các yếu tố sán xuất căn bàn hay phổ thông

Tập hợp các yếu tố sản xuất ngày càng ít có giá trị đối với lợi thế cạnh tranh lâu dàicủa một quốc gia tnếu nó không được đầu tư liên tục và chuyên biệt hóa Trong các yếu tốsản xuất có lẽ nguồn kiến thức và nguồn nhân lực có kỹ năng là hai yếu tố sản xuất quantrong nhất ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của quốc gia, hai loại yếu tố sản xuất này là tài sản

dễ xuống cấp và mất giá trị Điều này có ý nghĩa rằng một quốc gia thụ hưởng nhiều lợi íchvề yếu tố sản xuất vẫn chưa bảo đảm duy trì khả năng cạnh tranh lâu dài

Nhu cầu thị trường

Yếu tố quyết định thứ hai đến khả năng cạnh tranh quốc gia về một ngành nào đó lànhu cầu thị trường nội địa đối với sản phẩm và dịch vụ của ngành này Nhu cầu thị trườngnội địa thông qua tác dụng của nó là giúp cho các doanh nghiệp trong ngành nâng cao khảnăng cạnh tranh qua tính kinh tế nhờ quy mô Nó hình thành nên đổi mới và tốc độ pháttriển các doanh nghiệp trong quốc gia Có 3 thuốc tính lớn quan trọng đối với nhu cầu nội

Trang 26

địa: kết cấu nhu cầu trong nước, quy mô và hình mẫu tăng trưởng cầu trong nước và cơ chếmà sở thích nội địa lan truyền ra thị trường nước ngoài.

Nhu cầu được chia thành từng phân khúc, một phân khúc lớn thị trường trong nướcgiúp sự chú ý và ưu tiên đáp ứng của doanh nghiệp trong nước và tạo nên lợi thế tính kinh tếnhờ quy mô Sự đa dạnh hóa các phân đoạn nhu cầu giúp các doanh nghiệp có kinh nghiệmthâm nhập thị trường quốc tế Nếu nhu cầu trong nước chyển sang nhu cầu nước khác thìcác doanh nghiệp không những lợi thế về sản phẩm mà còn có cơ hội tiếp xúc với nhữngkhách hàng khác có yêu cầu cao hơn

Quy mô thị trường trong nước ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh quốc gia Quy mô thịtrường lớn tạo rạ lợi thế cánh tranh cho các ngành có tính lợi thế nhờ quy mô Các doanhnghiệp phải dốc hết lực, đầu tư công nghệ mới nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh và nắm giữ thịphần trong nước Mặt khác, khi doanh nghiệp hưởng lợi nhiều về thị trường dung lượng lớntrong nước giảm sức ép mở rông ra thị trường nước ngoài là cho doanh nghiệp giảm đi tínhnăng động

Một yếu tố khác của quy mô thị trường nội địa tác động đến lợi thế cạnh tranh là sốlượng người mua Nếu số lượng người mua ít doanh nghiệp dễ dàng đáp ứng nhu cầu mộtlượng ít khách hàng, điều này làm cho tính linh hoạt doanh nghiệp giảm đi Nếu số lượngngười mua đông tạo ra sự đa dạng nhu cầu và sẽ tạo nên sức ép lên các doanh nghiệp Cácdoanh nghiệp phải cải tiến liên tục, không ngừng đầu tư và mở rộng thị trường Khi thịtrường có nhiều người mua sẽ giảm đi áp lực mặc cả về giá của khách hàng và khuyến khíchcác khác tham gia kinh doanh đầu tư

Tốc độ tặng trưởng nhu cầu nội địa tác động đến lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệpcần phải cải tiến nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu phát triển thị trường Tuy nhiên một khi thịtrường bão hòa cũng có thễ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước Thịtrường bão hòa, tạo sức ép giảm giá sản phẩm, do vậy các doanh nghiệp cần đầu tư cải tiếnsản phẩm, đầu tư công nghệ mới nhằm hạ giá thành sản phẩm Thị trường trong nước sẽ loại

bỏ các doanh nghiệp nhỏ có sức cạnh tranh yếu, thị trường còn lại số lượng doanh nghiệp íthơn nhưng mạnh hơn về khả năng cạnh tranh

Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan

Các ngành công nghiệp phụ trợ là các ngành sản xuất cung ứng chuỗi đầu vào chohoạt động sản xuất chế biến của doanh nghiệp Các ngành công nghiệp liên quan là cácngành mà doanh nghiệp có thể chia sẻ trong chuỗi hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc lànhững ngành mả sản phẩm của chúng mang tính chất hỗ trợ

Một số ngành công nghiệp hỗ trợ tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp bằng tiến độ cungcấp hợp lý và chi phí thấp Các nhà cung ứng giúp cho các doanh nghiệp tiếp nhận côngnghệ mới, kỹ thuật sản xuất mới từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh Các nhà cung cấp ngàycàng có xu hướng là kênh truyền thông tin và sáng chế giữa các công ty, thúc đẩy đổi mới từdoanh nghiệp này sang doanh nghiệp kha1cc, đẩy nhanh đổi mới toàn bộ nền kinh tế

Một quốc gia có ngành công nghiệp hỗ trợ có khả năng cạnh tranh sẽ tốt hơn nhiềukhi phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài chất lượng cao Thị trường nội địa các nhàcung cấp dễ nắm bắt và thích ứng, khách hàng nhanh chóng tiếp cận các thông tin sớm và cónhiều cơ hội tham gia phát triển và những hình thức trao đổi sâu

Một quốc gia không cần thiết phải có lợi thế cạnh tranh trên tất cả các ngành côngnghiệp phụ trợ Các yếu tố sản xuất ngày càng đóng vai trò mờ nhạt tr6en lợi thế cạnh tranhquốc gia Các sản phẩm ngành công nghiệp phụ trợ có thể mua từ các quốc gia khác với chiphí hợp lý

Chiến lược công ty, cơ cấu và sự cạnh tranh

Một yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh là chiến lược công ty cấu trúcvà cạnh tranh nội địa Hơn nữa, mô hình cạnh tranh trong nước tác động lớn đến quá trình

Trang 27

thành công và đổi mới trên thị trường thế giới Sự khác biệt về quan hệ giữa người lao độngvà bộ máy quản lý, công cụ ra quyết định, mối quan hệ với khách hàng, trình độ quản lý, kỹnăng tổ chức… tạo ra lợi thê hoặc bất lợi thế cho doanh nghiệp Trong đó mối quan hệ giữaquản lý và lao động có ý nghĩa quan trọng trong rất nhiều ngành vì nó lá cơ sở khả năng đổimới và sáng tạo công ty.

Mục tiêu của công ty bị chi phối bởi cơ cấu chủ sở hữu, mục tiêu chủ sở hữu, bảnchất cơ cấu công ty và động cơ của người quản lý cấp cao Động cơ của người quản lý vàngười lao động có thể làm tăng hoặc giảm lợi thế cạnh tranh Vấn đề quan tâm là cả ngườiquản lý và người lao động luôn có động cơ phát triển các kỹ năng để duy trì lợi thế cạnhtranh Các nhân tố ảnh hưởng đến ứng xử cá nhân là hệ thống lương, thưởng, quan hệ ngườiquản lý với doanh nghiệp, trao đổi ý tưởng giữa các bộ phận…

Khi yếu tố cải tiến và đổi mới quyết định lợi thế cạnh tranh thì cạnh tranh giữa cácdoanh nghiệp trong nước có tác động mạnh mẽ lên sức cạnh tranh quốc gia Các doanhnghiệp trong nước cần phải đổi mới quyết liệt tạo ra các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu nộiđịa Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhanh chóng mở rộng thị trường ra nước ngoài Sức éplàm cho các doanh nghiệp đổi mới nhanh hơn và toàn bộ ngành công nghiệp đổi mới nhanhhơn do những ý tưởng mới được phổ biến và ứng dụng nhanh hơn

Theo diễn đàn kinh tế thế giới thì năng lực cạnh tranh quốc gia có thể được đo bằngchỉ số Năng lực cạnh tranh tổng hợp ”Chỉ số Năng lực cạnh tranh tổng hợp (GlobalCompetitiveness Index) lần đầu tiên được công bố trong Báo cáo năng lực cạnh tranh toàncầu 2004-2005 và hiện nay được Diễn đàn Kinh tế thế giới sử dụng làm chỉ số chính đolường năng lực cạnh tranh quốc gia …

Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp được xây dựng trên cơ sở đo lường các yếu tố

có tác động lớn tới năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia Các yếu tố này hiêện nayđược phân loại thành 12 nhóm yếu tố và còn được gọi là 12 trụ cột thể hiện năng suất vànăng lực cạnh tranh quốc gia Các trụ cột đó bao gồm: thể chế, cơ sở hạ tầng, ổn định kinh

tế vĩ mô;Y tế và giáo dục tiểu học; Giáo dục trên tiểu học và đào tạo; hiệu quả thị trườngHàng hóa ; hiệu quả thị trường lao động; phát triển thị trường tài chính; sẵn sàng côngnghệ ;Quy mô thị trường; Sự tinh tế, tinh xảo trong kinh doanh; Đổi mới 41

Theo TS Nguyễn Văn Sơn thì các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc giaBao gồm 3 nhóm cơ bản như sau:42

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên;

Nguồn tài nguyên nhân lực; và

Các yếu tố cao cấp do con người tạo ra,như: thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa,xãhội, cơ sở hạ tầng, khoa học, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực…

Sẽ còn nhiều cách phân loại và góc độ tiếp cận để lý giải về các yếu tố tạo nên sứcmạnh cạnh tranh quốc gia nhưng ở đây chúng tôi chỉ muốn chốt lại rằng các quốc gia hoặcvùng miền cần căn cứ vào hoàn cảnh thực tiễn của mình để xác định được những yếu tố nàolà quyết định nhất có thể tạo nên sức mạnh cạnh tranh quốc gia của mình để tập trung pháttriển và khai thác các yếu tố thế mạnh đó

1.1.2.4/ Các tiêu chí và phương pháp đo lường, đánh giá sức mạnh cạnh tranh quốc gia

Có nhiều yếu tố quyết định năng suất và khả năng cạnh tranh quốc gia Hàng trămnăm nay đã có nhiều nhà khoa học kinh tế hàng đầu thế giới bỏ rất nhiều công sức và tâm trí

để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này , bắt đầu từ sự chú ý của AdamSmith về chuyên môn hóa và phân chia lao động tới sự chú trọng của các nhà kinh tế học

41 The Global Competitiveness Report 2010–2011;

http://www3.weforum.org/docs/WEF_GlobalCompetitivenessReport_2010-11.pdf

42 TS Nguyễn Văn Sơn: Bài giảng Kinh tế quốc tế nâng cao Tài liệu lưu hành nội

bộ, 2011.; http://www.ou.edu.vn/ktl/AnhHoatDong/kinhtequoctenangcao/5.%20chuong%203.pdf

Trang 28

tân cổ điển vào đầu tư vốn vật chất và cơ sở hạ tầng43 và, gần đây nhất, tới sự quan tâmtrong cơ chế khác như giáo dục và đào tạo, tiến bộ công nghệ, ổn định kinh tế vĩ mô, quảnlý tốt, công ty tinh xảo, và hiệu quả thị trường, nói riêng Mặc dù tất cả những ý tưởng này

có thể là quan trọng, chúng không là loại trừ lẫn nhau, hai hoặc nhiều ý tưởng trong số đó

có thể là sự thật cùng một lúc, và trong thực tế đó là những gì đã được thể hiện trong các tàiliệu về khoa học kinh tế 44

Việc xác định các tiêu chí và phương pháp đo lường, đánh giá sức mạnh cạnh tranhquốc gia tốt hơn cả là nên dựa vào chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) Theo “The GlobalCompetitiveness Report 2010–2011”45 của diển đàn kinh tế thế giới (WEF), Chỉ số năng lựccạnh tranh toàn cầu (GCI) được thực hiện trên 113 biến, trong đó khoảng 2 / 3 biến cónguồn gốc từ Khảo sát ý kiến điều hành, và một phần ba đến từ các nguồn công khai Cácbiến thành phần này được nhóm lại thành 12 trụ cột , mỗi trụ cột đại diện cho một lĩnh vựcđược coi như là một yếu tố quyết định quan trọng về khả năng cạnh tranh46 Dưới đâychúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu nội dung chủ yếu và cách tính của 12 trụ cột này

Trụ cột đầu tiên : thể chế

Môi trường thể chế được xác định bằng khung pháp lý và hành chính mà trong đócác cá nhân, các công ty, và các chính phủ tương tác với nhau để tạo ra thu nhập và của cảitrong nền kinh tế Tầm quan trọng của môi trường thể chế công bằng và lành mạnh đã trởnên rõ ràng hơn trong cuộc khủng hoảng kinh tế, ở đó cho thấy nhà nước đóng vai trò trựctiếp ngày càng tăng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia

Chất lượng của thể chế có một ảnh hưởng mạnh mẽ về năng lực cạnh tranh và tăngtrưởng 47 Nó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư , tổ chức sản xuất và đóng một vai trò quantrọng trong những cách mà trong đó các xã hội phân phối các lợi ích và gánh chịu các chiphí của việc soạn thảo các chiến lược, chính sách Ví dụ, chủ sở hữu đất đai, cổ phiếu công

ty, hoặc sở hữu trí tuệ sẽ không muốn đầu tư vào việc cải thiện và duy trì tài sản của họ nếukhông được bảo vệ quyền lợi của mình là chủ sở hữu 48

Vai trò của các thể chế đi vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý Thái độ của Chính phủđối với thị trường , quyền tự do và hiệu quả hoạt động của nó cũng rất là quan trọng: quanliêu quá mức và thủ tục hành chính rườm rà, 49 lạm quyền ,tham nhũng, gian dối trong giaodịch với các hợp đồng công cộng, thiếu tính minh bạch và tin cậy, sự phụ thuộc về chính trịcủa hệ thống tư pháp sẽ áp đặt chi phí đáng kể về kinh tế cho các doanh nghiệp và làm chậmquá trình phát triển kinh tế Ngoài ra, việc quản lý tài chính công đúng đắn cũng rất quantrọng để đảm bảo sự tin tưởng trong môi trường kinh doanh quốc gia Các chỉ số phản ánhchất lượng của quản lý nhà nước về tài chính công được đưa vào đây để bổ sung cho cácbiện pháp ổn định kinh tế vĩ mô được đưa vào trụ cột thứ 3 dưới đây

Mặc dù các tài liệu kinh tế đã tập trung chủ yếu vào các cơ quan nhà nước, nhưng các

tổ chức tư nhân cũng là một yếu tố quan trọng trong quá trình tạo ra của cải Cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu gần đây, cùng với nhiều vụ bê bối ở các công ty, đã làm nổi bật lên

sự liên quan của kế toán cùng các chuẩn mực báo cáo và tính minh bạch để ngăn ngừa gian

43 Schumpeter ; Solow ; and Swan ; The Global Competitiveness Report 2010–2011;

http://www3.weforum.org/docs/WEF_GlobalCompetitivenessReport_2010-11.pdf

46 Global Competitiveness Index; http://chartsbin.com/view/m5m

47 Xem Easterly and Levine 1997; Acemoglu et al 2001, 2002; Rodrik et al 2002; and Sala-i-Martin and Subramanian 2003.

48 Xem de Soto 2000.

49 Xem de Soto and Abbot 1990.

Trang 29

lận và quản lý sai lầm, đảm bảo quản lý nhà nước tốt, duy trì đầu tư và lòng tin của ngườitiêu dùng Một nền kinh tế lành mạnh và có tương lai phát triển tốt khi các doanh nghiệpđược điều hành một cách trung thực và ở nơi ấy các nhà quản trị tuân thủ việc thực hànhđạo đức một cách nghiêm chỉnh, mạnh mẽ trong các giao dịch của họ với chính phủ, cáccông ty khác, và với công chúng nói chung 50

Sự minh bạch của khu vực tư nhân là không thể thiếu để kinh doanh, và nó có thể đạtđược thông qua việc sử dụng các chuẩn mực kiểm toán cũng như thực hành kế toán và đảmbảo truy cập thông tin một cách kịp thời 51

Trụ cột thứ hai : Cơ sở hạ tầng

Mở rộng và nâng cao hiệu quả cơ sở hạ tầng là rất quan trọng để đảm bảo nền kinh

tế hoạt động có hiệu quả, bởi vì yếu tố quan trọng này xác định vị trí, nơi , chỗ của cáchoạt động kinh tế và các loại hoạt động hay lĩnh vực có thể phát triển trong một nền kinh tế

cụ thể Phát triển cơ sở hạ tầng tốt cũng làm giảm ảnh hưởng của khoảng cách giữa cácvùng, tích hợp thị trường quốc gia và kết nối nó với chi phí thấp đến các thị trường cácnước và khu vực khác Ngoài ra, chất lượng và tính bao quát của mạng lưới cơ sở hạ tầngtác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng thu nhập vàđói nghèo theo nhiều cách khác nhau.52 Giao thông và mạng lưới cơ sở hạ tầng thông tin liênlạc được phát triển tốt là điều kiện tiên quyết để các cộng đồng ít phát triển tiếp cận đượccác hoạt động kinh tế và các dịch vụ cốt lõi

Các mô hình giao thông vận tải có hiệu quả, bao gồm chất lượng đường giao thông,đường sắt, bến cảng, và vận chuyển hàng không, cho phép các nhà doanh nghiệp đưa đượchàng hóa và dịch vụ của họ ra thị trường một cách an toàn và kịp thời và tạo điều kiện thuậnlợi cho sự chuyển dịch người lao động tới công việc phù hợp nhất Nền kinh tế cũng cònphụ thuộc vào các nguồn cung cấp điện mà các nguồn đó phải không bị gián đoạn và thiếucông suất để các doanh nghiệp và nhà máy có thể làm việc mà không bị cản trở Cuối cùng,một mạng lưới viễn thông vững chắc và mở rộng sẽ cho phép tạo ra một dòng chảy thôngtin nhanh chóng và tự do, làm tăng hiệu quả kinh tế chung bằng cách giúp đảm bảo rằng cácdoanh nghiệp có thể giao tiếp và quyết định được thực hiện bằng các tác nhân kinh tế cótính đến tất cả các thông tin phù hợp và có sẵn Đây là một lĩnh vực, nơi mà các cuộc khủnghoảng có thể chứng tỏ là có tác dụng tích cực lâu dài, khi tính tới các nguồn lực đáng kểdành cho phát triển cơ sở hạ tầng bởi nhiều gói kích thích kinh tế quốc gia, bao gồm cả ởHoa Kỳ , Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước khác

Trụ cột thứ ba: môi trường kinh tế vĩ mô

Sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô là quan trọng đối với kinh doanh và do đó,

nó là quan trọng cho năng lực cạnh tranh chung của một quốc gia53 Mặc dù tất nhiên là sự

ổn định kinh tế vĩ mô một mình nó không thể làm tăng năng suất của một quốc gia, nhưngcũng phải thừa nhận rằng , tình trạng hỗn loạn kinh tế vĩ mô sẽ làm tổn hại đến nền kinh tế.Chính phủ không thể cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả nếu nó đã làm cho thanh toán theolãi suất cao đối với các khoản nợ trong quá khứ.Thâm hụt ngân sách hiện thời sẽ giới hạnkhả năng tương lai của chính phủ để phản ứng với chu kỳ kinh doanh Các công ty khôngthể hoạt động hiệu quả khi tỷ lệ lạm phát vượt ra khỏi tầm kiểm soát Tóm lại, nền kinh tếkhông thể phát triển một cách bền vững, trừ khi môi trường kinh tế vĩ mô ổn định.Vấn đềnày đã chiếm được sự chú ý của công chúng gần đây nhất thông qua các cuộc thảo luận vềchiến lược thoát khỏi làn gió thâm hụt chi tiêu , và trong bối cảnh gần đây của sự gia tăng

nợ công

Điều quan trọng là cần lưu ý rằng, trụ cột này đánh giá sự ổn định của môi trường

50 Xem Shleifer and Vishny 1997; Zingales 1998.

51 Xem Kaufmann and Vishwanath 2001.

52 Xem Aschauer 1989; Canning et al 1994; Gramlich 1994; and Easterly 2002.

53 Xem Fischer 1993.

Trang 30

kinh tế vĩ mô, vì vậy nó không trực tiếp được tính toán trong tài khoản công được quản lýbởi chính phủ Chiều chất lượng này được bao trùm trong trụ cột về thể chế đã được mô tả ởtrên.

Trụ cột thứ tư : Y tế và giáo dục tiểu học

Một lực lượng lao động khỏe mạnh là quan trọng đối với năng lực cạnh tranh vànăng suất của một quốc gia Những người lao động bị bệnh không thể làm việc, hoạt động ởmức tiềm năng của họ và sẽ làm việc với năng suất thấp hơn Trạng thái sức khỏe kém dẫnđến chi phí đáng kể cho doanh nghiệp, chẳng hạn công nhân bị bệnh thường vắng mặt hoặchoạt động ở mức hiệu quả rất thấp Đầu tư trong việc cung cấp các dịch vụ y tế là quantrọng như vậy đối với những cân nhắc tính toán , hiểu biết kinh tế cũng như đạo đức mộtcách rõ ràng 54

Thêm vào đối với sức khỏe, trụ cột này sẽ tính tới số lượng và chất lượng của giáodục cơ bản dành cho dân chúng và có giá trị quan trọng ngày càng lớn trong nền kinh tếngày nay Giáo dục cơ bản làm tăng hiệu quả của mỗi cá nhân người lao động Hơn nữa,những người lao động có trình độ giáo dục chính thức thấp chỉ có thể thực hiện đượcnhững công việc thủ công đơn giản và được coi là có rất nhiều khó khăn để thích ứng vớiquá trình sản xuất và kỹ thuật tiên tiến hơn Thiếu giáo dục cơ bản có thể vì thế trở thànhmột hạn chế để phát triển kinh doanh, với các công ty họ sẽ gặp phải khó khăn để đạt đếnphía trên theo chuỗi giá trị bằng con đường tạo ra các sản phẩm phức tạp, tinh vi hoặc cóhàm lượng khoa học có giá trị nhiều hơn

Đối với tương lai dài hạn , điều này sẽ có một giá trị quan trọng để tránh sự giảm sútnghiêm trọng trong việc phân bổ các nguồn lực cho những lĩnh vực quan trọng này, mặc dùlà ngân sách của chính phủ sẽ cần phải được cắt nhằm giảm nợ công để mang lại các khoảnchi tiêu kích thích kinh tế hiện tại

Trụ cột thứ năm : Giáo dục trên tiểu học và đào tạo

Chất lượng Giáo dục trên tiểu họcvà đào tạo là rất quan trọng đối với các nền kinh tếmà các nền kinh tế đó muốn chuyển lên phía trên của chuỗi tạo ra giá trị để vượt ra ngoàiquá trình sản xuất và các sản phẩm đơn giản55 Nói riêng, việc toàn cầu hóa nền kinh tếngày nay đòi hỏi các nước phải chung phần nuôi dưỡng giáo dục người lao động, họ cầnđược đào tạo tốt để có thể thích nghi nhanh chóng với môi trường thay đổi và nhu cầu tiếntriển của hệ thống sản xuất của mình Trụ cột này đo tỷ lệ nhập học trung học và đại họccũng như chất lượng giáo dục theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp Mức độ đào tạocán bộ, công nhân viên cũng được xem xét bởi vì tầm quan trọng của việc đào tạo chuyênnghiệp và liên tục ở nơi làm việc( mà cái đó bị bỏ qua trong nhiều nền kinh tế ) để đảm bảonâng cao thường xuên tay nghề của người lao động

Trụ cột thứ sáu : Hiệu quả thị trường hàng hóa

Các quốc gia có thị trường hàng hóa hiệu quả là những vị trí tốt để sản xuất một phốihợp (mix) đúng đắn của sản phẩm và dịch vụ có tính đến các đặc điểm điều kiện cụ thể vềcung và cầu của mình , cũng như để đảm bảo rằng những hàng hoá có thể được giao dịch cóhiệu quả nhất trong nền kinh tế Thị trường cạnh tranh lành mạnh ( cả ở trong nước vànước ngoài) là rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thị trường và do đó năng suấtkinh doanh bằng cách bảo đảm rằng, các công ty hiệu quả nhất, sản xuất hàng hoá theo yêucầu của thị trường, sẽ là những công ty phát triển thịnh vượng Môi trường tốt nhất có thểcho việc trao đổi hàng hoá đòi hỏi phải tối thiểu hóa các trở ngại đối với các hoạt động kinhdoanh thông qua sự can thiệp của nhà nước Ví dụ, khả năng cạnh tranh bị cản trở bởi thuếlàm bóp méo hoặc là nặng nề và bởi các quy định về hạn chế và phân biệt đối xử đối vớiđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)- giới hạn sở hữu nước ngoài- cũng như thương mại quốc

54 Xem Sachs 2001.

55 Xem Schultz 1961; Lucas 1988; Becker 1993; and Kremer 1993.

Trang 31

tế Cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây đã làm nổi bật mức độ phụ thuộc lẫn nhau của cácnền kinh tế trên toàn thế giới và ở một mức độ nào đấy về tăng trưởng phụ thuộc vào các thịtrường mở Biện pháp bảo hộ là phản tác dụng vì chúng làm giảm hoạt động kinh tế tổngthể Hiệu quả thị trường cũng phụ thuộc vào các điều kiện nhu cầu chẳng hạn như địnhhướng của khách hàng và sự tinh tế của người mua.

Vì lý do văn hóa, lịch sử, khách hàng có thể đòi hỏi nhiều hơn ở một số nước hơn sovới những người khác Điều này có thể tạo ra một lợi thế cạnh tranh quan trọng, vì nó buộccác công ty phải sáng tạo và định hướng vào khách hàng nhiều hơn và do đó đặt ra những

kỷ cương cần thiết để đạt được hiệu quả trên thị trường

TRỤ CỘT THỨ 7: HIỆU QUẢ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

Tính linh hoạt và hiệu quả của thị trường lao động là cực kỳ quan trọng, nó bảo đảmrằng lực lượng lao động phải được phân bổ và sử dụng có hiệu quả nhất trong nền kinh tế vàcung cấp các điều kiện khuyến khích để lực lượng này có thể nổ lực cao nhất trong côngviệc Do vậy thị trường lao động cần phải linh hoạt, để sự chuyển dịch người lao động từhoạt động kinh tế này sang hoạt động kinh tế khác được thực hiện một cách nhanh chóngvới chi phí thấp và tạo điều kiện để những biến động về thu nhập không gây ra những đổ

vỡ, chấn động xã hội nhiều56 Tầm quan trọng của vế thứ hai đã được thể hiện rõ một cáchđáng kể bằng những khó khăn của các quốc gia với thị trường lao động đặc biệt cứng nhắc( Như Tây Ban Nha chẳng hạn) đã gặp phải trong công cuộc khôi phục từ cuộc suy thoáikinh tế to lớn gần đây

Thị trường lao động hiệu quả cũng phải bảo đảm mối quan hệ rõ ràng giữa các biệnpháp khuyến khích người lao động và nổ lực của họ, cũng như công bằng trong môi trườngkinh doanh giữa phụ nữ và nam giới

TRỤ CỘT THỨ 8: PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

Khủng hoảng tài chính thời gian gần đây đã nêu bật vai trò trung tâm làm lành mạnhvà vận hành tốt của lĩnh vực tài chính trong các hoạt động kinh tế Một lĩnh vực tài chínhhiệu quả sẽ phân bổ các nguồn lực được tiết kiệm tằn tiện bởi dân chúng trong nước cũngnhư từ những nguồn tham gia vào nền kinh tế từ bên ngoài để sử dụng có hiệu quả nhấtnhững thứ ấy của họ Đây là kênh các nguồn lực cho các doanh nhân hoặc dự án đầu tưvới tỷ suất lợi nhuận được kỳ vọng cao hơn các mối liên hệ chính trị Do đó một cuộc đánhgiá toàn diện và triệt để các rủi ro là một thành phần hợp thành cực kỳ quan trọng Năngsuất có ý nghĩa quyết định đối với đầu tư kinh doanh Chính vì vậy các nền kinh tế đòi hỏithị trường tài chính phải tinh vi và phức tạp đến mức có thể làm cho các nguồn vốn từ cácnguồn như vay từ ngân hàng lành mạnh, giao dịch chứng khoán đúng quy định, vốn mạohiểm và những sản phẩm tài chính khác là có thể dùng cho đầu tư của khu vự tư nhân

Tầm quan trọng của cách tiếp cận này đối với vốn được thể hiện rõ trong cuộckhủng hoảng thanh khoản mà các doanh nghiệp và khu vực công ở cả các nước phát triểnvà đang phát triểng đang trải qua Để thực hiện đầy đủ các chức năng này, khu vực ngânhàng cần phải minh bạch , tinh cậy, và ( như đã được làm rõ ràng gần đây ) thị trường tàichính cần phải có được những quy định pháp lụật phù hợp để để bảo vệ các nhà đầu tư vàcác thành phần khác trong nền kinh tế nói chung

TRỤ CỘT THỨ 9: SẴN SÀNG CÔNG NGHỆ

Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, công nghệ ngày càng trở thành một yếu tốquan trọng cho các công ty để cạnh tranh và phát triển thịnh vượng Trụ cột sẵn sàng côngnghệ đo lường sự nhanh nhạy mà với cái đó nền kinh tế chấp nhận công nghệ hiện hữu đểnâng cao năng suất trong các ngành công nghiệp của nó, với sự chú trọng đặc biệt đến khả

56 Xem Almeida and Carneiro 2009; Amin 2009; and Kaplan 2009 ; for country studies demonstrating the importance

of flexible labor markets for higher employment rates and, therefore, economic performance.

Trang 32

năng của mình để tận dụng đày đủ thông tin và công nghệ truyền thông (ICT) trong cáchoạt động hàng ngày và quá trình sản xuất nhằm nâng cao được hiệu quả và năng lực cạnhtranh57.Công nghệ thông tin đã phát triển thành "công nghệ chung mục đích "của thời đạichúng ta58, nó tạo nên một hiệu ứng ảnh hưởng lan truyền rất quan trọng đến các thànhphần kinh tế khác và vai trò của chúng như là cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho tấtcả các ngành ấy Do vậy sử dụng và truy cập ICT là yếu tố quan trọng về sự sẵn sàng côngnghệ tổng thể của quốc gia.

Cho dù công nghệ được sử dụng có hay không được phát triển trong phạm vi mộtquốc gia là không thích hợp cho khả năng để nâng cao năng suất Điểm trung tâm là cáccông ty hoạt động trong quốc gia đó có thể truy cập vào các sản phẩm tiên tiến ,các dự án vàkhả năng sử dụng chúng

Trong số các nguồn chính của công nghệ nước ngoài, FDI thường đóng một vai tròcốt yếu Điều quan trọng là cần lưu ý rằng, trong bối cảnh hiện nay, mức độ có sẵn củacông nghệ cho các công ty trong một quốc gia cần phải được khác biệt với khả năng của đấtnước về đổi mới và mở rộng các biên giới của kiến thức Đó là lý do tại sao người ta táchriêng biệt sẵn sàng công nghệ từ đổi mới, mà cái đó là sự đoạt được

Trụ cột thứ 10 : Qui mô thị trường

Qui mô của thị trường sẽ tác động đến năng suất của nền kinh tế vì nó cho phép cácdoanh nghiệp tận dụng được hiệu quả kinh tế theo qui mô Trước đây, thị trường của cácdoanh nghiệp bị giới hạn bởi biên giới của quốc gia Trong thời đại tòan cầu hóa, các thịtrường quốc tế đã thay thế cho các thị trường nội địa, đặt biệt là đối với các quốc gia nhỏ

Đã có những bằng chứng thực nghiệm hùng hồn cho thấy mở cửa thương mại là có mốiliên hệ tích cực với tăng trưởng Cho dù một số nghiên cứu gần đây tỏ ra nghi ngờ về sựchắc chắn của mối quan hệ này thì cảm giác chung vẫn coi thương mại có những tác độngrất tích cực đối với tăng trưởng, đặt biệt là đối với những nước có thị trường nội địa nhỏ.59

Như vậy, xuất khẩu có thể được xem như một sự thay thế cho nhu cầu trong nướctrong việc xác định qui mô thị trường cho doanh nghiệp của quốc gia đó60

Bằng cách gộp cả thị trường nội địa và thị trường nước ngòai khi tiến hành đo lườngqui mô thị trường, chúng ta cung cấp tín dụng cho các quốc gia định hướng xuất khẩu vànhững khu vực địa lý bao gồm nhiếu quốc gia nhưng có chung một thị trường( như liênminh Châu Âu chằng hạn)

Trụ cột thứ 11: Sự tinh tế, tinh xảo trong kinh doanh

Sự tinh tế trong kinh doanh là yếu tố có thể giúp họat động sản xuất sản phẩm vàdịch vụ đạt hiệu quả cao hơn Điều này, đến lượt mình, làm gia tăng năng suất sản xuất và từ

đó thúc đẩy khả năng cạnh tranh của một quốc gia Sự tinh xảo trong kinh doanh liên quanđến chất lượng của mạng lưới kinh doanh tổng thể của một quốc gia cũng như chất lượnghọat động và chiến lược của từng doanh nghiệp cụ thể

57 Xem Aghion and Howitt 1992 and Barro and Sala-i-Martin 2003 for a technical exposition of technology-based growth theories

58 A general purpose technology (GPT), according to Trajtenberg (2005), is one which in any given period gives a particular contri- bution to overall economy’s growth thanks to its ability to trans- form the methods of production in a wide array of industries Examples of GPTs have been the invention of the steam engine and the electric dynamo.

59 Xem Sachs and Warner 1995; Frenkel and Romer 1999; Rodrik and Rodriguez 1999; Alesina et al 2005; and Feyrer 2009.

60 This is particularly important in a world in which economic borders are not as clearly delineated as political ones In other words, when Belgium sells goods to the Netherlands, the national accounts register the transaction as an export (so the Netherlands is a foreign market of Belgium), but when California sells the same kind of output to Nevada, the national accounts register the transaction as domestic (so Nevada is a domestic market of California).

Trang 33

Điều này đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia đang trong giai đọan phát triểnnâng cao, khi mà các nguồn lực cơ bản để cải tiến năng xuất đã được khai thác , tận dụngđến một mức độ lớn Chất lượng của mạng lưới kinh doanh quốc gia và các ngành côngnghiệp phụ trợ được đo lường bằng số lượng và chất lượng của các nhà cung cấp bản địacũng như mức độ tương tác giữa họ với nhau là quan trọng xét trên nhiều nguyên nhân, lýdo.

Khi các doanh nghiệp và nhà cung cấp từ các khu vực nhất định nào đó kết nối đượcvới nhau theo một hình thái địa lý nhất định thì lúc này hiệu quả sẽ được tăng cường đáng

kể, nhiều cơ hội hơn cho công tác đổi mới đựơc tạo ra và hàng rào gia nhập cho các doanhnghiệp sẽ bị giảm thiểu Các chiến lược và họat động của doanh nghiệp riêng rẽ ( thươnghiệu, marketing, sự hiện diện của chuỗi giá trị và việc sản xuất các sản phẩm độc đáo, tinhxảo) luôn hướng đến một qui trình kinh doanh hiện đại và tinh xảo

Trụ cột thứ 12: Sự đổi mới

Trụ cột cuối cùng của năng lực cạnh tranh chính là sự đổi mới công nghệ Mặc dùnhững lợi ích đáng kể có thể thu được từ việc hòan thiện thể chế, xây dựng cơ sở hạ tầng,giảm thiểu sự bất ổn định kinh tế vĩ mô, hay cải thiện nguồn vốn nhân lực nhưng các yếu tốnày, cuối cùng dường như đang mang lại thu nhập suy giảm trở lại Điều tương tự cũngđúng khi nói về hiệu quả của lao động, vốn và thị trường hàng hóa Trong dài hạn, cácchuẩn mực vể cuộc sống có thể được nâng cao chỉ bằng đổi mới về công nghệ Đổi mớiđặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế khi họ tiếp cận với các giới hạn của kiến thức vàkhả năng hội nhập, thích ứng với khuynh hướng biến mất của các công nghệ ngọai lai61

Mặc dù các quốc gia kém phát triển vẫn có thể cải thiện năng súât của mình bằngcách áp dụng các công nghệ hiện nay hoặc tiến hành các cải tiến dần dần trong các lĩnh vựckhác, nhưng đối với các quốc gia đã đạt đến giai đọan phát triển bằng đổi mới thì các yếu tốtrên đã không còn là đủ về lâu dài để gia tăng năng súât sản xuất nữa Các doanh nghiệp tạicác quốc gia này phải thiết kế và phát triển các sản phẩm và qui trình tiên tiến để duy trì lợithế cạnh tranh Điều này đòi hỏi một môi trường thuận lợi cho họat động đổi mới được hỗtrợ bởi cả khu vực công và khu vực tư nhân Chi tiết hơn, điều đó có nghĩa là sự đầu tư hiệuquả vào họat động nghiên cứu & phát triển (R&D), đặc biệt là bởi khu vực tư nhân; sự hiệndiện của các tổ chức nghiên cứu khoa học chất lượng cao; sự hợp tác sâu rộng trong nghiêncứu của các trường đại học và doanh nghiệp; và sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Trong bốicảnh bất ổn kinh tế như hiện nay, nó sẽ rất là quan trọng để chống lại áp lực phải cắt giảmchi tiêu cho R&D( cả trong khu vực tư nhân lẫn nhà nước) và điều đó sẽ là cực kỳ quantrọng đối với việc duy trì đà tăng trưởng trong tương lai

Phương pháp đo lường, đánh giá sức mạnh cạnh tranh quốc gia

Để đo lường và đánh giá sức mạnh cạnh tranh quốc gia chúng tôi dựa trên phươngpháp tính toán đo lường và cấu trúc của chỉ số cạnh tranh toàn cầu 2010-2011 (GCI) 62

Theo phương pháp này cách đánh số của các biến phù hợp với cách đánh số của cácbảng dữ liệu , phần số đứng trước cho thấy biến thuộc trụ cột nào (ví dụ, biến 1.01 thuộc về trụ cột 1, và biến 12.04 thuộc về các trụ cột thứ 12)

Cách tính toán GCI dựa trên tổng hợp lần lượt các điểm số từ tất cả các mức chỉ số(tức là, mức độ chi tiết nhất) lên đến tổng số điểm GCI .Trừ khi nói cách khác, người ta sửdụng một giá trị số học để tổng hợp các biến riêng rẽ trong một thể loại (category)a Đốivới các mức tổng hợp cao hơn, người ta sử dụng tỷ lệ phần trăm thể hiện bên cạnh mỗi thểloại Điều này thể hiện tỷ lệ phần trăm trọng lượng của thể loại trong thể loại cấp trên trựctiếp của nó Tỷ lệ phần trăm trong báo cáo được làm tròn đến số nguyên gần nhất, nhưng

61 Xem Romer 1990; Grossman and Helpman 1991; and Aghion and Howitt 1992.

62 The Global Competitiveness Report 2010–2011; p.45;

http://www3.weforum.org/docs/WEF_GlobalCompetitivenessReport_2010-11.pdf

Trang 34

những con số chính xác được sử dụng trong tính toán của GCI Ví dụ, điểm số của một quốcgia đạt được trong khoản trụ cột thứ 9 cho 17 phần trăm của số điểm của đất nước nàytrong hạng mục các yếu tố tăng cường hiệu quả, không phụ thuộc vào giai đoạn phát triểncủa đất nước Tương tự như vậy, số điểm đạt được trên mỗi tiểu trụ cột cơ sở hạ tầng giaothông vận tải chiếm 50 phần trăm số điểm của trụ cột cơ sở hạ tầng.

Không giống như trường hợp tổng hợp ở các mức thấp hơn, trọng số đặt cho mỗi bacụm trụ cột (subindexes) (các yêu cầu cơ bản, tăng cường hiệu quả, và các yếu tố đổi mới vàtinh tế, tinh xảo) không phải là cố định Thay vào đó, nó phụ thuộc vào từng giai đoạn pháttriển của đất nước b Ví dụ, trong trường hợp của Benin (một quốc gia trong giai đoạn đầutiên của phát triển) điểm số trong cụm trụ cột (subindex) các yêu cầu cơ bản chiếm 60% sốđiểm GCI tổng thể của nó, trong khi nó chỉ đại diện cho 20% số điểm GCI tổng thể của Úc,một đất nước trong giai đoạn thứ ba của phát triển

Biến không được làm từ khảo sát ý kiến các nhà điều hành (Khảo sát) được nhậndạng bởi dấu sao (*) trong các trang dưới đây Ghi chú kỹ thuật và phần nguồn ở cuối củaBáo cáo cung cấp thông tin chi tiết về các chỉ số( indicators) này Để làm cho việc tổng hợplà có thể, các biến này được chuyển đổi vào một thang từ 1-7 để kết nối chúng phù hợp vớicác kết quả khảo sát Người ta áp dụng cách chuyển đổi min-max điểm của các nước màvẫn duy trì được trật tự và khoảng cách tương đối giữa chúng.c

Các biến được đi kèm với ký hiệu "1 / 2" sẽ được đưa vào GCI trong hai trụ cột khácnhau Để tránh lặp lại trong tính toán, người ta chia một nửa trọng số cho mỗi trường hợp d.Cuối cùng, cần lưu ý rằng, việc đánh số của các biến trong các trụ cột thứ 1, 8, và 9 đã đượcthay đổi trong năm nay sau khi điều chỉnh được thực hiện với cơ cấu của GCI, như đượcthảo luận trong văn bản của The Global Competitiveness Report 2010–2011

Trọng số (%) trong lòng hạng mục cấp trên trực tiếp

NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN

Trụ cột thứ 1: Thể chế 25%

A Thể chế công 75%

1 Các quyền về sở hữu .20%

1.01 Quyền sở hữu tài sản1.02 Bảo vệ sở hữu trí tuệ 1/2

2 Đạo đức và tham nhũng 20%

1.03 Chuyển chệch công quỹ (Diversion of public funds)

1.04 Niềm tin của xã hội đối cới các nhà chính trị 1.05 Thanh toán bất thường và hối lộ

3 Gây ảnh hưởng qúa mức 20%

1.06 Sự độc lập về tư pháp1.07 Sự thiên vị trong quyết định của các quan chức chính quyền

4 Không hiệu quả của Chính phủ 20%

1.08 Lãng phí chi tiêu của chính phủ

1.09 Gánh nặng về các quy định của nhà nước1.10 Hiệu quả của khung pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp1.11 Hiệu quả của khung pháp lý trong các quy định đầy thách thức 1.12 Sự minh bạch trong hoạch định chính sách của nhà nước

5 An ninh 20%

1.13 Chi phí kinh doanh do chủ nghĩa khủng bố1.14 Chi phí kinh doanh do tội phạm và bạo lực1.15 Tội phạm có tổ chức

1.16 Độ tin cậy của dịch vụ cảnh sát

Trang 35

B Thể chế tư ( Private institutions) 25%

1 Đạo đức công ty 50%

1.17 Hành vi đạo đức của các công ty

2 Trách nhiệm 50%

1.18 Sức mạnh của kiểm toán và các chuẩn mực báo cáo

1.19 Hiệu quả của Hội đồng quản trị doanh nghiệp

1.20 Bảo vệ các quyền lợi của những cổ đông thiểu số

1.21 Sức mạnh bảo vệ các nhà đầu tư *

Trụ cột thứ 2: Cơ sở hạ tầng 25%

A Cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải 50%

2.01 Chất lượng cơ sở hạ tầng tổng thể

2.02 Chất lượng đường xá

2.03 Chất lượng của cơ sở hạ tầng đường sắt

2.04 Chất lượng cơ sở hạ tầng của các cảng

2.05 Chất lượng của cơ sở hạ tầng vận chuyển hàng không

2.06 Km chỗ ngồi có sẵn*

B Năng lượng và cơ sở hạ tầng điện thoại 50%

2.07 Chất lượng cung cấp điện

2.08 Đườngđiện thoại cố định * 1/2

2.09 Thuê bao điện thoại di động * ½

Trụ cột thứ 3: Môi trường kinh tế vĩ mô 25%

3.01 Cân đối ngân sách nhà nước *

3.02 Tỷ lệ tiết kiệm quốc gia *

4.05 Tác động đến kinh doanh của HIV / AIDS f

4.06 Tỷ lệ nhiễm HIV * f

4.07 Tử vong trẻ sơ sinh *

4.08 Tuổi thọ*

B Giáo dục tiểu học 50%

4.09 Chất lượng giáo dục tiểu học

4.10 Tỷ lệ nhập học của giáo dục tiểu học * g

CÁC YẾU TỐ TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ

Trụ cột thứ 5: Giáo dục trên tiểu học và đào tạo 17%

A Số lượng của giáo dục 33%

5.01 Tỷ lệ nhập học của giáo dục trung học *

5.02 tỷ lệ nhập học của giáo dục đại học *

B Chất lượng của giáo dục 33%

5.03 Chất lượng của hệ thống giáo dục

Trang 36

5.04 Chất lượng giáo dục toán học và khoa học

5.05 Chất lượng của các trường quản lý

5.06 Truy cập Internet trong các trường học

C Đào tạo ở nơi làm việc 33%

5.07 Tính sẵn có ở địa phương của các nghiên cứu chuyên ngành và dịch vụ đào tạo

5.08 Mức độ đào tạo nhân viên

Trụ cột thứ 6: Hiệu quả thị trường hàng hóa 17%

A Cạnh tranh……… .67%

1 Cạnh tranh trong nước biến số h

6.01 Cường độ của cạnh tranh địa phương

6.02 Mức độ thống trị thị trường

6.03 Hiệu quả của chính sách chống độc quyền

6.04 Mức độ và hiệu lực của thuế 1/2

6.05 Tổng mức thuế suất (Total tax rate) *

6.06 Số lượng thủ tục cần thiết để bắt đầu kinh doanh * i

6.07 Thời gian cần thiết để khởi sự một doanh nghiệp * i

6.08 Chính sách chi phí về nông nghiệp (Agricultural policy costs)

2 Cạnh tranh với nước ngoài biến số h

6.09 Tỷ lệ của các rào cản thương mại (Prevalence of trade barriers )

6.10 Thuế quan thương mại (Trade tariffs ) *

6.11 Tỷ lệ sở hữu nước ngoài

6.12 Tác động đến kinh doanh của các quy định về FDI

6.13 Gánh nặng của thủ tục hải quan

10.04 Nhập khẩu trong tỷ lệ phần trăm của GDP * g

B Chất lượng của các điều kiện nhu cầu 33%

6.14 Mức độ định hướng khách hàng

6.15 Sự tinh tế người mua

Trụ cột thứ 7: Hiệu quả của thị trường lao động 17%

A Tính linh hoạt 50%

7.01 Hợp tác trong quan hệ người lao động và sử dụng lao động

7.02 Tính linh hoạt của xác định tiền lương

7.03 Độ bền của công ăn việc làm (Rigidity of employment) *

7.04 Thực tiễn tuyển dụng và sa thải (Hiring and firing practices )

7.05 Chi phí do dư thừa *

6.04 Mức độ và hiệu lực của thuế 1/2

B Sử dụng hiệu quả tài năng 50%

7.06 Trả tiền và năng suất

7.07 Phụ thuộc vào quản trị chuyên nghiệp 1/2

7.08 Chảy máu chất xám

7.09 Nữ giới tham gia lực lượng lao động *

Trụ cột thứ 8 : Phát triển thị trường tài chính 17%

A Hiệu quả 50%

8.01Tính sẵn có của dịch vụ tài chính

8.02 Khả năng chi trả của các dịch vụ tài chính

8.03 Giải quyết vốn thông qua thị trường chứng khoán địa phương

8.04 Mức dễ dàng tiếp cận đến các khoản vay

8.05 Tính sẵn sàng của vốn liên doanh

Trang 37

8.06 Các hạn chế về dòng vốn

B Độ tin cậy và niềm tin 50%

8.07 Tính lành mạnh của các ngân hàng

8.08 Quy định về trao đổi chứng khoán

8.09 Chỉ số quyền lợi pháp lý *

Trụ cột thứ 9: sự sẵn sàng về công nghệ 17%

A .Tiếp nhận Công nghệ 50%

9.01 Sự sẵn có của công nghệ mới nhất

9.02 Hấp thụ công nghệ ở mức công ty

9.03 FDI và chuyển giao công nghệ

B Sử dụng công nghệ thông tin ICT 50%

9.04 Người sử dụng Internet *

9.05 Thuê bao Internet băng thông rộng *

9.06 Băng thông Internet*

2.08 Đường điện thoại cố định * 1/2

2.09 Thuê bao điện thoại di động * ½

Trụ cột thứ 10: Quy mô thị trường 17%

A Quy mô thị trường nội địa 75%

10.01 Chỉ số quy mô thị trường nội địa*j

B Quy mô thị trường nước ngoài 25%

10.02 Chỉ số quy mô thị trường nước ngoài*k

CÁC YẾU TỐ VỀ TINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI

Trụ cột thứ 11 : Sự tinh tế trong kinh doanh 50%

11.01 Số lượng nhà cung cấp địa phương

11.02 Chất lượng nhà cung cấp địa phương

11.03 Trạng thái phát triển cụm, nhóm

11.04 Bản chất của lợi thế cạnh tranh

11.05 Độ rộng của chuỗi giá trị

11.06 kiểm soát phân phối quốc tế

11.07 Sự tinh xảo của quá trình sản xuất

11.08 Mức độ của marketing

11.09 Sẵn sàng ủy quyền

7.07 Sựphụ thuộc vào quản lý chuyên nghiệp ½

Trụ cột thứ 12: Đổi mới 50%

12.01 Năng lực đổi mới

12.02 Chất lượng của các tổ chức nghiên cứu khoa học

12.03 Chi tiêu của công ty cho R & D

12.04 Phối hợp của các Đại học và doanh nghiệp sản xuất trong R & D

12.05 Chính phủ mua sắm các sản phẩm công nghệ tiên tiến

12.06 Sự sẵn có của các nhà khoa học và kỹ sư

Trang 38

b/ Như được mô tả trong mục này, các trọng số là như sau:

Trọng số

Giai đoạnYếu tố địnhhướng (drive )

(%)

Giai đoạnđịnh hướng

(drive ) hiệuquả (%)

Giai đoạnđịnh hướng

(drive ) đổimới (%)

c/ Vể hình thức, chúng ta có:

Tối thiểu của mẫu và tối đa của mẫu tương ứng là điểm số quốc gia thấp nhất và caonhất trong mẫu của các nền kinh tế được tính toán trong GCI Trong một số trường hợp,việc điều chỉnh đã được thực hiện để tính toán cho các giá trị ngoại lệ đặc biệt Đối vớinhững chỉ số mà một giá trị cao hơn cho thấy một kết quả tồi tệ hơn (ví dụ, tỷ lệ mắc bệnh,

nợ chính phủ), công thức chuyển đổi có dạng dưới đây, công thức này đảm bảo rằng 1 và 7tương ứng với kết quả tồi tệ nhất và tốt nhất có thể:

d/ Đối với những thể loại có chứa một số biến có trọng số một nửa thì điểm số quốcgia cho các nhóm này được tính như sau:

e\ để phản ánh được ý tưởng rằng cả lạm phát cao và thiểu phát đều có hại, lạm phátđưa vào mô hình trong dạng hình chữ U như sau: nếu một quốc gia có giá trị của lạm phátnằm giữa 0,5 và 2,9%, thì có thể nhận được số điểm cao nhất là 7 Bên ngoài phạm vi này,điểm số sẽ giảm tuyến tính khi chúng di chuyển khỏi các giá trị này

f\ Tác động của bệnh sốt rét, bệnh lao và HIV / AIDS tới khả năng cạnh tranh phụthuộc không chỉ vào mức tỷ lệ mắc bệnh tương ứng của chúng mà còn cả ở chỗ chúng làmcho doanh nghiệp tốn kém đến mức nào Vì vậy, để đánh giá ảnh hưởng của mỗi từ ba bệnhnày , người ta kết hợp tỷ lệ của nó với các câu hỏi điều tra về chi phí cảm nhận được chocác doanh nghiệp Kết hợp những dữ liệu này, trước tiên người ta lấy tỷ lệ của tỷ lệ mắcbệnh của mỗi quốc gia so với tỷ lệ cao nhất trong toàn bộ các mẫu Nghịch đảo của tỷ lệnày sau đó được nhân với số điểm của mỗi nước trên các câu hỏi liên quan tương ứng đếnkhảo sát Kết quả này sau đó được chuẩn hóa theo thang đo từ 1ới 7 Lưu ý rằng các nướckhông có báo cáo tỷ lệ mắc bệnh sẽ nhận được điểm 7, bất kể điểm số của họ có được từnhững câu hỏi khảo sát có liên quan

Trang 39

g/ Đối với biến này trước tiên chúng ta áp dụng cách chuyển đổi logarit và sau đóchuyển đổi theo kiểu min-max.

h/ tiểu trụ cột (subpillar) cạnh tranh là bình quân gia quyền của hai thành phần cạnhtranh trong nước và cạnh tranh nước ngoài Trong cả hai thành phần, các biến được baogồm sẽ cung cấp một chỉ báo về mức độ cạnh tranh bị bóp méo Tầm quan trọng tương đốicủa các biến dạng này phụ thuộc vào quy mô tương đối của cạnh tranh trong nước so vớinước ngoài Chúng tôi nắm bắt (captured) sự tương tác giữa thị trường trong nước và thịtrường nước ngoài này bằng cách xác định trọng số của hai thành phần Cạnh tranh trongnước là tổng của tiêu dùng (C), đầu tư (I), chi tiêu chính phủ (G), và xuất khẩu (X), trongkhi cạnh tranh nước ngoài bằng hàng nhập khẩu (M) Như vậy chúng ta xác định trọng sốcho cạnh tranh trong nước là (C + I + G + X) / (C + I + G + X + M)và trọng số cạnh tranhnước ngoài là M / (C + I + G + X + M)

i\ Biến 6.06 và 6.07 kết hợp để tạo thành một biến duy nhất

j\ Quy mô của thị trường trong nước được xây dựng bằng cách lấy logarit cơ số tựnhiên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) được tính theo sức mua tương đương (PPP) cộngvới tổng giá trị (ước tính PPP) nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, trừ đi tổng giá trị (PPP ướctính) của xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ Dữ liệu này sau đó được chuẩn hóa trên thangđiểm từ 1 tới 7 Ước tính PPP nhập khẩu và xuất khẩu thu được bằng cách dùng các sảnphẩm xuất khẩu như là một tỷ lệ phần trăm của GDP và GDP được đánh giá theo PPP Các

dữ liệu cơ bản được báo cáo trong phần bảng dữ liệu (xem Bảng 10.03, 10.04 và 10.05 củaThe Global Competitiveness Report 2010–2011)

k\ Quy mô của thị trường nước ngoài được ước tính như logarit tự nhiên của tổnggiá trị (ước tính PPP) của xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, được chuẩn hóa trên thang điểm từ

1 tới 7 Ước tính PPP xuất khẩu thu được bằng cách dùng các sản phẩm xuất khẩu như làmột tỷ lệ phần trăm của GDP và GDP được tính theo PPP Các dữ liệu cơ bản được báo cáotrong các bảng dữ liệu

1.1.2.5/ Phương hướng nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia ở Việt Nam tại địa bàn TP.HCM

Thành phố Hồ chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước, là động lực , là đầutàu của cả nền kinh tế Việt Nam Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên địa bàn ThànhPhố Hồ chí minh có ý nghĩa quyết định tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của cả ViệtNam Xét từ những công trình lý luận của các tổ chức và nhà kinh tế hàng đầu trên thế giớinhư được trình bày ở các mục trên, chúng tôi cho rằng Thành Phố Hồ Chí Minh nên tậptrung thực hiện những biện pháp nhằm trực tiếp cải tiến và nâng cao năng lực cạnh tranhtheo hứớng của mười hai trụ cột cạnh tranh đã được cả thế giới hiện nay đang thừa nhận.Những phương hướng chính đó là :

*/ Nhóm giải pháp liên quan đến những yêu cầu cơ bản

+ Hoàn thiện thể chế : Thành phố nên rà soát góp ý với Trung ương và tự mình triểnkhai những quy định pháp luật có liên quan đến các quyền về sở hữu (quyền sở hữu tài sảnbảo vệ sở hữu trí tuệ ) , chống tham nhũng, chuyển chệch công quỹ, thanh toán bất thườngvà hối lộ , xây dựng đạo đức chí công vô tư cho các công chức, từng bước lấy lại niềm tincủa xã hội đối cới các nhà chính trị, nghiên cứu áp dụng hợp lý nguyên tắc độc lập về tưpháp, loại bỏ bằng được sự thiên vị trong quyết định của các quan chức chính quyền, chốnglãng phí chi tiêu trong các ơ quan nhà nước Không để tồn tại các quy định của nhà nước vànhất là của địa phương gây thêm gánh nặng cho dân chúng và các nhà đầu tư, doanhnghiệp, khách hàng v.v Tìm kiếm các cơ chế và biện pháp nhằm làm minh bạch trong cáccông tác hoạch định chính sách của nhà nước ở địa phương Rà soát và tìm các biện pháp

để nâng cao hiệu quả của các quy định về khung pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp vàcác quy định đầy thách thức khác Triệt để đảm bảo an ninh chính trị nhằm giảm thiểu đến

Trang 40

mức tối thiểu các chi phí của doanh nghiệp phải gánh chịu về phòng tránh và ngăn ngừa tộiphạm có tổ chức, tội phạm và bạo lực khủng bố Có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao

độ tin cậy của dịch vụ cảnh sát Xây dựng đạo đức và trách nhiệm xã hội của các doanhnhân và công ty Hoàn thiện các quy định về kiểm toán và báo cáo Bảo vệ các quyền lợicủa các nhà đầu tư và những cổ đông thiểu số Hoàn thiện các quy định để góp phần nângcao hiệu quả của Hội đồng quản trị doanh nghiệp

+ Hoàn thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng

Để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên phương diện này Thành Phố cầnquyết liệt tìm các giải pháp để phát triển cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải Những biện pháp chủ yếu trong lĩnh vực này phải hướng tới nâng cao: Chất lượng cơ sở hạtầng tổng thể; Chất lượng đường xá; Chất lượng của cơ sở hạ tầng đường sắt ; Chất lượng

cơ sở hạ tầng của các cảng biển và sông; Chất lượng của cơ sở hạ tầng vận chuyển hàngkhông Bên cạnh khía cạnh chất lượng thì thành phố cũng cần phải mở rộng và nâng caonăng lực vận tải và vận chuyển đặc biệt là hành khách tính theo Km chỗ ngồi có sẵn Ngoài cơ sở hạ tầng về giao thông thì thành phố cũng cần đặc biệt quan tâm về phát triểnNăng lượng và cơ sở hạ tầng điện thoại, viễn thông Các hướng ưu tiên phải là các giải phápnhằm đảm bảo chất lượng cung cấp điện, gia tăng chất lượng và số lượng của các đườngđiện thoại cố định , thuê bao điện thoại di động và phát triển bền vững mạng cung cấp dịch

vụ Internet

+ Hoàn thiện: Môi trường kinh tế vĩ mô trên địa bàn của thành phố

Thành phố cần tập trung tìm các giải pháp cân đối ngân sách của thành phố, nâng caođược tỷ lệ tiết kiệm của địa phương, góp phần chống lạm phát, chênh lệch lãi suất, giảm nợcông, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng và tín dụng

+ Hoàn thiện: hệ thống y tế và giáo dục tiểu học Nâng cao năng lực cạnh tranhquốc gia theo hướng này có ý nghĩa quan trọng và quyết định để thành phố và cả nước bướcsang giai đoạn phát triển theo chiều sâu và thoát bẫy thu nhập trung bình Để làm việc nàythành phố cần tập trung vào nhóm các giải pháp để giảm thiểu các chi phí trực tiếp củadoanh nghiệp có liên quan đến các dịch bệnh (sốt rét, bệnh lao , HIV / AIDS và các loạidịch bênh nguy hiểm khác) Về phía thành phố và xã hội cần phải xem việc nâng cao thểlực trí tuệ, kiến thức của người lao động là yếu tố góp phần làm cho chất lượng của nguồnnhân lực được nâng cao để tạo cơ sở cho việc phát triển nền kinh tế tri thức có tính cạnhtranh cao Chăm sóc, dạy dỗ ở bậc giáo dục tiểu học không chỉ làm cho chất lượng củanguồn nhân lực trong tương lai tốt đẹp mà còn trực tiếp gắn liền với chi phí và thời gian làmviệc của đội ngũ người lao động hiện thời Vì lẽ đó tìm các giải pháp để mở rộng và nângcao chất lượng giáo dục tiểu học là những việc mà thành phố không thể xem nhẹ

*/ Nhóm giải pháp liên quan đến các yếu tố tăng cường hiệu quả

+ Hoàn thiện và nâng cao chất lượng giáo dục trên tiểu học và đào tạo Những giảipháp mà thành phố phải giải quyết theo hướng này là góp phần tăng cường chất lượng đàotạo ở bậc giáo dục trung học và giáo dục đại học bằng các nguồn lực có sẵn hoặc có thể sửdụng được, hoàn thiện các giải pháp để thúc đảy việc kiện toàn bộ máy quản lý và khuyếnkhích nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên, Tích cực phát triển mạng lưới Internettrong các trường học, tạo điều kiện cho học sinh sinh viên phát huy hết tài năng, năng khiếumà xã hội có nhu cầu Đảy mạnh việc phát triển mạng lưới và chất lượng của các cơ sở đàotạo nghề và chuyên môn nghiệp vụ

+ Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thị trường hàng hóa Thị trường có ảnh hưởng rất

quan trọng tới năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, vì thế thành phố nên rà soát , hoànthiện ( hoặc góp phần hoàn thiện) và thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật có liênquan đến việc tạo ra thị trường, thúc đảy thị trường hoạt động lành mạnh chống độc quyền ,bãi bỏ những thủ tục quan liêu rườm rà, gây khó dễ cho doanh nghiệp và kinh doanh , chống

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 . Dạng của đồ thị của hàm số y = f(k) - C s LY THUYT v CHUYN DCH c CU KI
Hình 1.1 Dạng của đồ thị của hàm số y = f(k) (Trang 10)
Hình   1.2   mô   hình AK: nếu công   nghệ   là AK, thì   đường   cong tiết   kiệm,   s   .f(k)/k  là một   đường   ngang ở   mức    sA - C s LY THUYT v CHUYN DCH c CU KI
nh 1.2 mô hình AK: nếu công nghệ là AK, thì đường cong tiết kiệm, s .f(k)/k là một đường ngang ở mức sA (Trang 14)
Hình 1.3- Các yếu tố quyết định lợi  thế quốc gia - C s LY THUYT v CHUYN DCH c CU KI
Hình 1.3 Các yếu tố quyết định lợi thế quốc gia (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w