[3] SƠ LƯỢC VỀ NHẬN THỨC VÀ TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC [Nguyễn Vương Quốc Bảo 1 – Phan Chí Dũng 2 ] 3.1 NHẬN THỨC VÀ Ý NGHĨA CỦA NHẬN THỨC 3.1.1 Những khái niệm về nhận thức Theo Từ điển B
Trang 1[3] SƠ LƯỢC VỀ NHẬN THỨC VÀ TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC
[Nguyễn Vương Quốc Bảo 1 – Phan Chí Dũng 2 ]
3.1 NHẬN THỨC VÀ Ý NGHĨA CỦA NHẬN THỨC
3.1.1 Những khái niệm về nhận thức
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam [1]
“Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
Sự NT đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Con đường NT đó được thực hiện qua các giai đoạn từ thấp đến cao như sau: 1) NT cảm tính: vận dụng cảm giác, tri giác, biểu tượng 2) NT lí tính: vận dụng khái niệm, phán đoán, suy lí 3) NT trở về thực tiễn: ở đây tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai”
Trong định nghĩa trên có 2 thuật ngữ gần nghĩa được dùng để mô tả nhận thức, đó là “tư duy” và
“ý thức”, do đó định nghĩa này không phản ánh rõ ràng khái niệm nhận thức Quá trình nhận thức được trừu tượng hóa bằng quy luật thông qua ba khái niệm tối nghĩa: trực quan sinh động, tư duy trừu tượng, thực tiễn Việc mượn từ gần nghĩa để giải thích một từ cùng
họ nghĩa thì càng làm khái niệm trở nên khó hiểu
Ta có thể nhặt ra 2 vấn đề trong định nghĩa trên: có một khách thể (một đối tượng) và có một ý
thức Quá trình ý thức tiếp nhận khách thể thì nảy sinh sự nhận thức, còn quá trình đó như thế nào thì chưa vội bàn sâu thêm, vì mỗi trường phái sẽ có định nghĩa khác nhau
Theo từ điển Oxford [2]
“Cognition is the process by which knowledge and understanding is developed
in the mind”
(Tạm dịch: Nhận thức là một quá trình mà tri thức và sự hiểu biết được nảy nở trong tâm trí)
Trong định nghĩa này ta thấy không có khách thể được nói đến, mà chỉ có chủ thể (tâm trí) với
với kết quả của quá trình nhận thức (tri thức và sự hiểu biết)
Theo từ điển Triết học của M M Rôdentan [21, tr 407]
Nhận thức là quá trình phản ánh và tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi những quy luật phát triển xã hội và gắn liền không thể tách rời với thực tiễn Mục đích của nhận thức là đạt tới chân lý khách quan Trong quá trình nhận thức, con ngườ thu được những kiến thức, những khái niệm
về những hiện tượng thực tế, hiểu rõ thế giới xung quanh…
1 Lớp tài năng T5, trung tâm Chí Dũng
Lớp 12, trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng, Cần Thơ, Việt Nam
2 Hiệu đính phần 3.1.1
Trang 2Định nghĩa này cũng không rõ ràng khi dùng tư duy để giải thích cho quá trình nhận thức, hoàn
toàn có thể xảy ra trường hợp quá trình nhận thức không kèm theo sự tư duy mà chỉ là nhận thức đơn thuần, ví như gặp lại một người quen thời ta biết đó là ai và gọi tên người
đó một cách đơn thuần mà không cần đến tư duy Tuy nhiên trong định nghĩa này có điểm
nổi bậc là đích đến của nhận thức là chân lý khách quan
Theo Hữu Ngọc [22, tr 336] thì:
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi con người, quá trình nhờ đó
tư duy mãi mãi và không ngừng tiến gần đến khách thể Sự nhận thức bắt đầu từ trực quan sinh động, tức là nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu tượng) Các hình ảnh cảm tính này là nguồn gốc duy nhất của sự hiểu biết của chúng ta
về thế giới bên ngoài…
Chủ thể trong định nghĩa này là con người và khách thể là thế giới khách quan, nếu cho rằng hiểu
biết có nguồn gốc từ duy nhất các hình ảnh cảm tính từ thế giới khách quan thì vẫn là võ đoán ví như sự nhận thức về quá trình nhận thức (siêu nhận thức) thì khách thể của nó không phải là thế giới khách quan bên ngoài mà là chính nó (bên trong)
Theo từ điển xã hội học Oxford [23, tr 376]
Nhận thức, ý thức là quá trình của sự biết (suy nghĩ), đôi khi được dùng để phân biệt với cảm nhận (cảm xúc) và ý chí (ý muốn) trong một cặp ba các quá trình tinh thần của con người Tâm lý học nhận thức, tập trung vào việc sử dụng và
xử lý thông tin (thường sử dụng các mô hình máy tính), hiện là tiếp cận chiếm
ưu thế trong tâm lý học hàn lâm, và nó đã thay thế cho những tiếp cận hành vi trước đó
Tài liệu này thì không phân biệt được ý thức và nhận thức, đây là hai khái niệm khác nhau hoàn
2 Nó không phải là sự quán xét nội tâm mà là hiểu rõ thực tại hay đối tượng bằng sự hình dung hay bằng sự gợi lên Vì thế, trên nguyên tắc này tất cả nhận thức là kinh nghiệm được điều khiển bằng bộ máy giác quan của chúng ta vào
cơ chế kiến giải tổng quát, nơi đó đối tượng hay thực tại được lọc (sifted), được xếp thứ tự (ordered) và được gìn giữ (preserved) tại trung tâm ký ức dài hạn như
là những dấu vết của kinh nghiệm trước
Do đó, nhận thức luôn luôn kết hợp với ký ức của những sự kiện riêng lẻ Ta nhận thức cái gì và cái đó đã có sẵn trong bộ nhớ của não bộ Khi nhận thức có mặt, đối tượng hay thực tại vốn đã được hình thành trong nhận thức Như vậy, đối tượng hay thực tại nằm bên trong nhận thức Có nghĩa đối tượng hay thực tại nội tại (immanent) trong nhận thức Nó và nhận thức là một Như vậy, không thể có nhận thức mà không có đối tượng hay thực tại Hễ có nhận thức, nhận thức đó phải có đối tượng hay thực tại
Trang 33 Theo nghĩa rộng, ta có thể nói nhận thức là hoạt động của tâm kết hợp với sự biết (knowing) và nhớ lại (remembering) điều gì đã xảy ra trong quá khứ Thông thường hoạt động này có kết hợp với suy nghĩ Nhưng có nhiều trường hợp hoạt động của nhận thức không cần có suy nghĩ Đó là những hoạt động theo bản năng và thói quen Thí dụ: đi xe đạp là hoạt động theo thói quen Ta không cần suy nghĩ phải đạp như thế nào bởi vì ta đã thông thạo cách đạp từ thuở bé Thí dụ: trời mưa to, ta cần tìm chỗ đụt mưa Đây là hoạt động theo bản năng Trong hai tiến trình này, không có mặt suy nghĩ
4 Nhận thức là một tiến trình biết (knowing) bằng kinh nghiệm hay khả năng nhận thấy (perceptivity) đối tượng hay thực tại mà ta đã trải qua kinh nghiệm Khả năng này bao gồm tất cả cách thức như hình dung (imagining), nhận thấy (perceiving), lý luận (reasoning), suy luận (infering), xét đoán (judging), nhớ lại (remembering), và hình thành trong não (conceiving) bằng một biểu tượng nhận thức (symbolic cognition) về điều đã được biết (known) hay được nhận thấy (perceived) trong thời gian qua, và khả năng lượng giá, tức ước lượng (evaluate)
về điều được nhận thấy hay đã được biết rồi như thế nào
Đây là cách vận dụng (the handling) giác quan, Trí Năng hay Tri Thức (knowledge) để đáp ứng lại (response) điều gì do mắt thấy đối tượng hay thực tại, tức ngoại trần (external world) hay các căn (sensory organs or faculties of senses) khác xúc chạm (contact) ngoại trần
5 Trên phạm vi Tục Đế, nhận thức là nền tảng cơ bản của Ý Thức trong sạch Thiếu chức năng nhận thức đúng đắn, Ý Thức dễ bị ảnh hưởng bởi năng lực tập khí/lậu hoặc Đây là trạng thái Ý Thức bị nhiễm ô (defiled) hay bị tình cảm (affection) chi phối Trong trường hợp Ý Thức bị nhiễm ô dễ phát sinh tâm hoạt động theo bản năng, theo tình cảm (affection), và theo truyền thống thế tục (worldly traditions) Phiền não và vô minh xuất hiện trong tâm khi Ý Thức bị nhiễm ô hay khi nhận thức mới không được lập thành trong tâm
6 Trên phạm vi Chân Đế, nhận thức là nền tảng của trí tuệ Bát Nhã Đây là trạng thái Nhận Thức Không Lời trong 4 oai nghi Trong đó không có tri kiến phân biệt, không có thành kiến và quan niệm chủ quan Tập khí hay lậu hoặc không tác động tâm thức trong trường hợp này Thiếu chức năng Nhận Thức Không Lời, trí tuệ Bát Nhã không được lập thành Chánh Kiến không thể có mặt,
Do đó, an lạc không thể xuất hiện Ở đây, an lạc mang ý nghĩa tâm an vui, thanh thản, và hài hòa cùng với môi trường chung quanh thường trực, chứ không phải
an lạc trong thời gian ngắn
7 Thông thường với người chưa kinh nghiệm làm chủ niệm khởi, nhận thức chỉ cho mức độ cao của Tri Thức hay Trí Năng đối với một tiến trình thông tin riêng biệt về sự kiện nào đó Trong tiến trình này, suy nghĩ và ký ức được vận dụng (handled) để nhớ lại được (retrieve) hay nhắc lại (rehearse) dữ kiện hoặc thông tin riêng biệt nào đó mà ta đã trải qua kinh nghiệm Trái lại, khi một người có khả năng làm chủ niệm khởi, nhận thức của họ về thực tại là sự biểu hiện của tuệ trí Trong đó không có suy nghĩ và sự lập lại ký ức quá khứ; trái lại có sự sáng tạo nhịp nhàng tương xứng (adequate) với đối tượng hay thực tại
Cách tiếp cận như trên vừa đầy đủ vừa sâu sắc vừa hiệp thế vừa siêu thế, nhưng lại quá dài dòng
và khó hiểu
Theo từ điển Hán Việt thì:
Nhận: 認 là đưa vào trong
Trang 4Thức: 識 là biết
Nhận thức là đưa vào trong cái biết Quá trình nhận thức là quá trình tiếp nhận cái A đưa vào
trong cái B, cái A là đối tượng nhận thức, cái B là thức là cái biết là ý thức
Tóm lại, nhận thức là ý thức tiếp nhận đối tượng để biết (để hiểu)
3.1.2 Ý nghĩa của nhận thức
• Nhận thức chủ trương tạo nên sự khác biệt giữa con người với động vật, giữa con người
với nhau và giữa bản thân chủ thể với chính mình (theo từng giai đoạn nhận thức);
• Nhận thức giúp con người nắm bắt được: màu sắc – ánh sáng, sóng âm, mùi hơi, hương
Theo Tâm lý học trong nháy mắt: “Tâm lý học nhận thức là ngành nghiên cứu về sự “hiểu” và
sự “biết” của quá trình tư duy và trả lời cho những câu hỏi xoay quanh những vấn đề đó” [3]
Cognitive Psychology: “Cognitive Psychology is the study of thinking and the processes
underlying mental events” [4]
(Tạm dịch: Tâm lý học nhận thức là môn học của tư duy và tiến trình diễn ra các sự kiện tâm lý
tiềm ẩn)
Cognitive Psychology: “Cognitive psychology deals with topics such as perception, memory,
attention, language and thinking/decision making” [5]
(Tạm dịch: Tâm lý học nhận thức liên quan đến các chủ đề như nhận thức, trí nhớ, sự chú ý, ngôn
ngữ và suy nghĩ / ra quyết định)
Những quan điểm trên có một điểm chung là đều quan niệm các hoạt động nhận thức của con
người tương tự như cách hoạt động của một chiếc máy tính hiện đại: tiếp nhận tín hiệu (input), lưu trữ thông tin (storage) và truy xuất (output)
3.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tâm lý học nhận thức
Trang 5Hình 1 Lịch sử hình thành và phát triển của tâm lý học nhận thức [6]
3.2.3 Nội dung thuyết phát sinh nhận thức ở trẻ em theo Piaget
Độ
tuổi
Giai đoạn Những giản đồ cơ bản, hay những
phương pháp diễn tả kinh nghiệm
thí nghiệm đầu tiên trong lĩnh vực tâm
lý học nhận thức nhằm kiểm tra thời
gian cần thiết để đưa ra quyết định
1879
Wilhelm Wundt thành lập phòng thí nghiệm khoa học đầu tiên trong lĩnh vực tâm lí tại trường Đại học Leipzig ở Đức
1890 William James xuất bản cuốn sách
đầu tiên về tâm lý học – Những
John Watson đã tìm thấy một hướng tiếp cận mới cho ngành tâm lý, đó là hành vi học
1967
Giữa năm 1950 và 1970, đã bắt đầu có sự chuyển giao
sang cuộc cách mạng nhận thức học Lần đầu tiên thuật
ngữ “tâm lý học nhận thức” ra đời vào năm 1967
Trang 6sự am hiểu cơ bản về môi trường Khi mới được sinh ra, trẻ chỉ có một số phản
xạ bẩm sinh để gắn kết với thế giới Cuối thời kỳ cảm giác – vận động, trẻ có được khả năng phối hợp những cảm giác – vận động phức tạp
rằng, các đối tượng vẫn tiếp tục tồn tại, ngay cả khi trẻ không được trẻ nhìn thấy (tính ổn định của đối tượng)
và trẻ bắt đầu tiếp thu những giản đồ hành vi để tạo ra những hình ảnh, hay những giản đồ tinh thần
2 -7 Tiền thao tác Trẻ sử dụng biểu trưng (các hình ảnh và
ngôn ngữ) để diễn tả và hiểu nhiều khía cạnh khác nhau của môi trường Trẻ phản ứng lại các đối tượng và sự kiện theo cách nghĩ của mình Suy nghĩ của trẻ lúc này mang tính chất “mình là trung tâm”, nghĩa là trẻ nghĩ rằng, mọi người đều nhìn nhận thế giới giống như cách nhìn của mình
Trong những hoạt động của mình, trẻ trở nên có khả năng tưởng tượng Trẻ dần bắt đầu nhận thấy rằng, rất có thể những người khác không tiếp nhận thế giới giống như mình
7 - 11 Thao tác cụ thể Trẻ có được và sử dụng các thao tác nhận
thức (những hành động tinh thần, hay những thành phần của suy nghĩ logic) trên các vật thật
Trẻ không còn bị đánh lừa bởi hình thức bên ngoài Bằng cách dựa vào những thao tác nhận thức, trẻ hiểu được những đặc tính và những mối liên hệ cơ bản giữa các đối tượng và các sự kiện trong cuộc sống hằng ngày Trẻ trở nên thành thạo hơn nhiều trong việc suy đoán các động
cơ, bằng cách quan sát hành vi của người khác và những hoàn cảnh mà trong đó hành vi nảy sinh
Suy nghĩ không còn bị giới hạn vào những cái trực quan, cụ thể Trẻ thích suy xét những vấn đề mang tính giả thuyết, kết quả là trẻ có thể trở nên duy tâm hơn Trẻ có khả năng lập luận hệ thống và suy diễn, điều này cho phép trẻ cân nhắc nhiều giải pháp
có thể đối với một vấn đề và tìm ra được câu trả lời đúng
Bảng 1 Mô tả các đặc điểm cơ bản của 4 giai đoạn nhận phát triển cấu trúc thao tác nhận thức và trí tuệ trẻ em theo J Piaget [7]
3.2.4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
1 Thần kinh học
nhận thức
5 Tri giác 6 Nhận biết các hình
mẫu
Trang 79 Ngôn ngữ 10 Tâm lý học phát
triển
11 Trí thông minh của con người
12 Trí thông minh nhân tạo
Bảng 2 Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học nhận thức [10]
Hình 2 Nhiệm vụ của tâm lý học nhận thức [10]
3.2.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các quá trình nhận thức nói chung (cảm
giác, tri giác, trí nhớ và tư duy,…)
Nghiên cứu các quy luật đặc trưng của sự tiếp
thu, xử lý và sử dụng thông tin
Nghiên cứu cách con người thu thập, tích luỹ
và tái tạo thông tin (và khả năng ghi nhớ)
Nghiên cứu trí thông minh và quan hệ của nó với
các hiện tượng tâm lý khác
Trang 8Hình 3 Các phương pháp nghiên cứu của tâm lý học nhận thức [8]
Thật ra, ở đây chúng ta chỉ áp dụng hai phương pháp thôi là đủ: nghiên cứu trường hợp và thực
nghiệm Bởi vì, trong hai phương pháp đó có bao hàm cả những phương pháp còn lại
Dữ liệu thu thập được từ hoạt động phỏng vấn, quan sát và can thiệp hành vi Vì rằng tâm lý học
nhận thức quan niệm quá trình nhận thức của con người tương tự như quá trình xử lý thông tin của một chiếc máy vi tính: tiếp nhận (input), lưu trữ (storage) và truy xuất (output)
• Nghiên cứu trường hợp
Phương pháp này dùng để điều tra chuyên sâu về một người hoặc một nhóm người (ở đây là về
vấn đề nhận thức của họ) Dữ liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau bằng các phương thức khác nhau (phỏng vấn, quan sát,…) Phương pháp này cho phép các nhà nghiên cứu nhìn vấn đề một cách cụ thể, rõ ràng và chi tiết hơn là khi nghiên cứu trên một
số lượng lớn đối tượng Những nguồn dữ liệu mà những nhà nghiên cứu thường dùng là: quan sát thói quen hằng ngày, phỏng vấn gián tiếp (thông qua bạn bè của họ), nhật ký, ghi chú cá nhân (ví dụ: thư, ảnh, ghi chú) hoặc tài liệu chính thức (ví dụ như ghi chú trường hợp, ghi chú lâm sàng, báo cáo thẩm định) Hầu hết thông tin này đều mang tính chất định tính (tức là thu được kết quả nhờ ước lệ, cảm nhận được thông qua các biểu hiện chứ không phải đo lường) Việc quan sát những biểu hiện trong hành vi và lời nói cũng
hỗ trợ đắc lực trong việc điều tra nhận thức Bên cạnh đó, còn có một tham số quan trọng nữa: nghiên cứu tiểu sử và hoàn cảnh sống (background)
Nghiên cứu trường hợp
Trang 9Nghiên cứu trường hợp được sử dụng rộng rãi trong tâm lý học nói chung và tâm lý học nhận
thức nói riêng Sigmund Freud là một trong những người thành công trong việc tiến hành phương pháp này qua hai tác phẩm của mình “Little Hans” (1909a) và “The Rat Man” (1909b)
• Thực nghiệm
Phương pháp này được tiến hành sau khi nhà nghiên cứu đặt ra giả thuyết về những tham số có
liên quan ảnh hưởng đến việc nhận thức của một người Các nhà nghiên cứu có thể hỏi các loại câu hỏi khác nhau để tạo ra các loại dữ liệu khác nhau Ví dụ, các câu hỏi khép kín cung cấp cho mọi người một bộ câu trả lời cố định, trong khi các câu hỏi mở cho phép mọi người thể hiện những gì họ nghĩ theo cách riêng của họ
Đôi khi các nhà nghiên cứu sử dụng lịch phỏng vấn Đây là một tập các câu hỏi chuẩn bị được
thiết kế để được hỏi chính xác như được diễn đạt Lịch phỏng vấn có định dạng chuẩn hóa
có nghĩa là các câu hỏi giống nhau được hỏi cho từng người được phỏng vấn theo cùng thứ tự
Các cuộc phỏng vấn thường xuyên sẽ được ghi lại bởi nhà nghiên cứu và dữ liệu được viết như
là một bảng điểm (một tài khoản bằng văn bản các câu hỏi và câu trả lời phỏng vấn) có thể được phân tích sau này Bạn phải xem xét ai sẽ là người phỏng vấn và điều này sẽ phụ thuộc vào loại người đang được phỏng vấn Có một số biến cần xem xét:
• Giới tính và tuổi tác: Điều này có thể có ảnh hưởng lớn đến người trả lời, đặc biệt là về
các vấn đề con người
• Đặc điểm cá nhân: Một số người dễ tiếp cận hơn những người khác Ngoài ra, giọng và
ngoại hình (ví dụ như quần áo) của người phỏng vấn có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn
• Dân tộc: Người dân gặp khó khăn trong việc phỏng vấn những người thuộc một nhóm sắc
tộc khác nhau
3.2.6 Cách tiếp cận [9]
• Tiếp cận bằng thực nghiệm
Đây là những thí nghiệm khoa học về quá trình nhận thức diễn ra ở người, bao gồm việc sử dụng
thí nghiệm tâm lý để khám phá con đường mà họ tiếp nhận thông tin, học tập, ghi nhớ hay suy nghĩ
• Tiếp cận ở góc độ tâm lý học thần kinh
Trang 10Đây là nghiên cứu về các hoạt động não bộ, là cơ sở của quá trình nhận thức, thường được khám
phá bởi khiếm khuyết nhận thức ở những bệnh nhân bị tổn thương não Phương pháp này nghiên cứu về các cá nhân đang chịu một hình thức tổn thương não bộ nào đó Chúng ta phát hiện ra sự hoạt động bình thường của não nhờ các khiếm khuyết của nhận thức do tổn thương một vùng nhất định nào đó của não Sự tổn thương của não bộ có thể làm suy yếu quá trình xử lý thông tin dẫn đến gián đoạn một hoặc nhiều vùng nhận thức, trong vài trường hợp có thể cắt đứt liên kết giữa các vùng với nhau
• Tiếp cận bằng máy tính (thông tin)
Đây là sự mô phỏng quá trình nhận thức của con người bằng máy tính, thường được sử dụng để
đánh giá sự khả thi của quá trình xử lý thông tin Điển hình cho cách tiếp cận này là mô phỏng một số chức năng nhất định của nhận thức bằng cách viết các chương trình máy tính để kiểm tra tính khả thi của mô hình chức năng của não bộ
• Tiếp cận khoa học thần kinh về nhận thức (nghiên cứu bản chất)
Đây là nghiên cứu khả năng nhận thức của con người thông qua cấu trúc và chức năng của não
bộ, thường được ghi nhận bởi thiết bị hình ảnh não bộ Có hai thiết bị hình ảnh não bộ được sử dụng rộng rãi là PET (chụp cắt lớp phát xạ) và MRI (chụp cộng hưởng từ) PET
sẽ ghi nhận lại tín hiệu phát ra từ chất phóng xạ trong các hợp chất đánh dấu được tiêm vào trong máu, trong khi MRI ghi nhận hình ảnh đáp ứng trong một vùng từ trường mạnh
Cả hai kỹ thuật này đều có thể cho những hình ảnh chính xác về cấu trúc của não bộ, nhưng MRI tốn hơn trong việc nhận định sự thay đổi theo dòng thời gian, ví dụ như trong việc đo lường mức độ ảnh hưởng của não bộ
3.3 CƠ SỞ SINH LÝ THẦN KINH CỦA TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC
3.3.1 Cấu tạo hệ thần kinh
Hệ thần kinh bao gồm hai phần: hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại biên, được bảo
vệ bởi hộp sọ và tuỷ sống
+ Hệ thần kinh trung ương bao gồm: tuỷ sống, hành tuỷ, tiểu não, não giữa, não trung gian, đại
não, vỏ não
+ Hệ thần kinh ngoại biên bao gồm: hệ thống các dây thần kinh, các hạch thần kinh, các đám rối
thần kinh nằm ngoài cột sống và hộp sọ thần kinh ngoại biên làm nhiệm vụ tiếp nhận các kích thích dẫn truyền các xung động thần kinh về trung ương (não bộ và tuỷ sống), rồi từ trung ương đưa đến các cơ quan, các bộ phận để trực tiếp thực hiện các quá trình sống của
cơ thể
Hệ thần kinh có vai trò như là bộ máy nhận thức để giúp chúng ta tiếp nhận thông tin, xử lý thông
tin, trả lời thông tin, đảm bảo sự thống nhất trong nội bộ cơ thể và thống nhất giữa cơ thể với môi trường
Trang 11Hình 4 Hệ thống thần kinh ở người [11]
3.3.2 Chức năng, vai trò của hệ thần kinh đối với nhận thức con người [10]
Trang 123.3.2.1 Vai trò của hệ thần kinh ngoại biên đối với nhận thức (chủ yếu xem xét các dây thần kinh – giác quan)
Các giác quan và vai trò của nó đối với việc tiếp nhận thông tin
Con người có 5 giác quan (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác) ngoài ra còn có giác
quan thứ 6 – linh cảm trong quá trình tiến hoá của các giác quan thì lúc đầu dường như không có sự thay đổi nhưng sau đó đã có sự tiến hoá (thần kinh mạng → thần kinh hạch
→ thần kinh ống → phân hoá) và dần dần có sự chuyển hoá thành các chức năng.mỗi giác quan đã được phát triển theo hướng chuyên môn hoá, để tiếp nhận các loại kích thích phù hợp (ví dụ như mắt tiếp nhận ánh sáng, tai tiếp nhận âm thanh,…) Nhờ đó mà sự phản ánh được chính xác hơn, đem lại hiệu quả cao hơn
Mỗi giác quan được cấu tạo thành 3 bộ phận:
* Bộ phận nhận cảm:
Tiếp nhận các kích thích từ môi trường, nó chỉ tiếp nhận các loại kích thích thích hợp, thường gọi
là bộ phận ngoại biên
* Bộ phận dẫn truyền:
Gồm các dây thần kinh làm nhiệm vụ dẫn truyền thông tin từ tế bào cảm giác về trung ương thần
kinh, thường gọi là bộ phận dẫn truyền hướng tâm
* Bộ phận trung ương:
Có cấu trúc tương ứng trong hệ thần kinh, làm nhiệm vụ tích hợp các thông tin rồi xử lý nó và lại
phát ra các thông tin để truyền đến cơ quan tương ứng, đáp lại các kích thích vừa nhận được các giác quan được coi là cửa ngõ để tiếp nhận các thông tin, nếu các giác quan bị tổn thương thì việc tiếp nhận thông tin sẽ thiếu chính xác, dẫn đến các phản ứng không kịp thời và ảnh hưởng đến cơ thể
Cơ quan xúc giác (cơ quan không chuyên trách)
Là hệ thống cảm giác không có cơ quan chuyên trách, các tế bào xúc giác nằm rải rác ở trên bề
mặt da xúc giác là cơ quan đầu tiên chúng ta có được và cũng là cơ quan cuối cùng tồn tại khi chúng ta mất đi
Chúng ta tiếp nhận thông tin bằng:
(1) Cảm giác cơ học: như cầm, nắm, sờ, mó sẽ xuất hiện cảm giác đau (thông báo kích thích
có hại);
(2) Cảm giác nhiệt độ;
(3) Cảm giác xúc giác tinh vi có ý thức: nhờ nó mà ta có thể nhận biết được, phân biệt được các cảm giác, xúc giác vô cùng tinh vi;
Trang 13(4) Cảm giác nội tạng: đó là các thụ quan tiếp nhận các kích thích về ma sát, áp lực, … tác động đến việc tự điều chỉnh và điều hoà hoạt động của các nội quan;
(5) Cảm giác bản thể: nó nằm xen kẽ trong các sợi cơ ở trong các bắp cơ, ở phần xương bám với cơ và khớp, khi kích thích các thụ quan bản thể này đem lại 2 cảm giác: sâu không
ý thức và sâu có ý thức, giúp cơ thể tự điều chỉnh các hành động một cách chính xác, tiết kiệm lực.các cảm giác xúc giác mang tính chủ thể, nó có tác động giúp cho cơ thể thích ứng với các hoạt động ở trong mỗi một thời điểm, nó giống như một “ăngten” để tiếp nhận sóng
Hệ thống cảm giác có cơ quan chuyên trách
* Cơ quan thị giác:
90 % thông tin từ bên ngoài vào con người là thông qua thị giác, thị giác tiếp nhận kích thích ánh
sáng từ các sự vật hiện tượng, nó giống như một “máy ảnh” tinh xảo gồm các tế bào que (đêm) và nón (ngày
* Cơ quan khứu giác:
Chuyên tiếp nhận các kích thích về mùi (mùi dễ chịu20% và mùi không dễ chịu là 80%) do các
tế bào cảm giác nằm ở màng nhày của khoang mũi truyền đến cho chúng ta thông tin về trạng thái của sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó ảnh hưởng đến thái độ tình cảm của mỗi người và quy định nên những hành động của con người đối với đối sự vật hiện tượng
đó
* Cơ quan vị giác:
Trên bề mặt lưỡi có nhiều trồi vị giác để tiếp nhận các kích thích vị: ngọt, chua, mặn, đắng Khứu
giác và vị giác có quan hệ chặt chẽ với nhau Vị giác giúp chúng ta nhận thức vị của thức
ăn, có nghĩa là giúp chúng ta hiểu biết hơn về đối tượng
* Cơ quan thính giác
Là cơ quan cảm giác chuyên nhận các kích thích của âm thanh Cơ chế diễn ra của nó là sự tiếp
nhận và truyền âm Cơ quan thính giác có thể kết hợp với vị giác để bổ sung, hỗ trợ, bù trừ cho nhau Tóm lại, các giác quan được ví như “ăng ten” để thu nhận các thông tin từ thế giới bên ngoài, các giác quan này là khởi điểm, là bước đầu của quá trình nhận thức của con người Hoạt động chủ đạo của con người và hoạt động nghề nghiệp về thực chất
nó là một quá trình nhận thức, vì thế không thể thiếu đi vai trò của các giác quan Muốn vậy, phải bảo vệ các giác quan và phát huy cao độ vai trò của nó, huy động tất cả các giác quan tham gia vào quá trình nhận thức nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình nhận thức
Neuron và vai trò của nó đối với nhận thức: Neuron gồm hai bộ phận: thân và các tua Chức
năng cơ bản của neuron là tiếp nhận thông tin, truyền tải thông tin, tham gia cấu tạo nên
hệ thần kinh trung ương, xử lý, chọn lọc và lưu giữ thông tin