Để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế
Trang 1VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở
VIỆT NAM
Nguyễn Chí Hải 1
Nguyễn Hồng Nga 2
Nguyễn Anh Tuấn3
1 Cơ sở lý luận về vị trí và vai trò của nhà nước trong nền KTTT
1.1 Nền tảng lý thuyết
Trong Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ 1776 có đoạn: "Chúng ta thừa nhận những
chân lý tự nhiên rằng, tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho
họ những quyền không thể tước đoạt, đó là quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc
Để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân
và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất
cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ"
Những dòng chữ trên trong bản Tuyên ngôn độc lập của xứ nước Mỹ không chỉ có
ý nghĩa đối với người dân nước Mỹ, một dân tốc yêu chuộng tự do và sáng tạo, mà đã vượt qua khỏi biên giới quốc gia Mỹ và trở thành chân lý chung của nhân loại
Tại Việt Nam, ngay dòng đầu tiên trong Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ công hòa, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn câu nói trên để làm nền tảng pháp lý cho Tuyên ngôn độc lập bất hủ của Người Như vậy, sự tồn tại của Chính phủ nhằm để bảo vệ người dân, các quyền của họ và làm cho xã hội thăng tiến thông qua sự phát triển của từng cá nhân trong xã hội
Hiện nay tất cả chúng ta đều thống nhất với quan điểm là muốn phát triển kinh tế
và xã hội thì bất kỳ một quốc gia nào đều phải dựa vào những nền tảng của kinh tế thị trường, những vấn đề Adam Smith (1723 - 1790) đã phân tích một cách hùng hồn cách
1 PGS.TS, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG-HCM
2 PGS.TS, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG-HCM
3 ThS, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG-HCM
Trang 2đây hơn 200 năm Ông nhấn mạnh ba đặc trưng của hệ thống tự điều chỉnh trong nền KTTT tự do dân chủ: (i) Tự do: Các cá nhân có quyền sản xuất và trao đổi hàng hóa, lao động và vốn nếu họ thấy thích hợp; (ii) Cạnh tranh: các cá nhân có quyền cạnh tranh trong sản xuất và trao đổi hàng hóa và dịch vụ; (iii) Công bằng: các hoạt động của cá
A Smith nhận thấy và biện luận rằng, ba thành tố trên sẽ dẫn đến một sự "hài hòa
tự nhiên" giữa người lao động và các doanh nghiệp A Smith ngày nay được gọi là cha
đẻ của học thuyết "Bàn tay vô hình", dựa trên một đoạn nổi tiếng trong tác phẩm Của cải của các quốc gia: "Bằng việc mưu cầu lợi ích của chính mình, mội cá nhân được dẫn dắt bởi một bàn tay vô hình thúc đẩy lợi ích chung"
Tuy nhiên, bàn tay vô hình hay cơ chế thị trường chỉ là điều kiện cần hay là phương tiện để phát triển kinh tế Bàn tay vô hình sẽ dẫn tới khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp tràn lan, sản lượng suy giảm nghiêm trọng Cuộc đại khủng hoảng những năm 1930 là
sự kiện kinh tế gây thiệt hại nhất trong thế kỷ XX Ở nước Mỹ, sản lượng công nghiệp giảm trên 30%, hơn 1/3 số ngân hàng thương mại sụp đổ hoặc phải sát nhập, tỷ lệ thất nghiệp tăng trên 25%
Theo Joseph Stiglits, có 5 thất bại của thị trường để làm tiền đề cho sự can thiệp của nhà nước vào nền KTTT
Thứ nhất, độc quyền Theo Samuelson, độc quyền là hiện tượng chỉ có một nhà
sản xuất trong ngành và không có ngành nào sản xuất ra mặt hàng thay thế gần gũi5
cho rằng, các hàng rào gia nhập đến lượt nó lại phát sinh từ ba nguồn chính sau đây: (i) Nguồn lực then chốt thuộc quyền sở hữu của một doanh nghiệp duy nhất; (ii) Chính phủ trao cho doanh nghiệp nào đó đặc quyền sản xuất một hàng hoặc dịch vụ nhất định; (iii) Chi phí sản xuất làm cho nhà sản xuất nào đó trở nên hiệu quả hơn so với các nhà sản xuất khác (hay còn gọi là độc quyền tự nhiên khi một doanh nghiệp duy nhất có thể cung ứng một mặt hàng hoặc dịch vụ cho toàn bộ thị trường với chi phí thấp hơn trường hợp
4 Mark Skousen, Ba Người khổng lồ trong KTH, NXB CTQG 2012, trang 36.
5 Samuelson P (2002), Kinh tế học, tập 1, NXB Thống kê, Hà Nội, trang 322
6 Mankiw G (2003), Nguyên lý kinh tế học, tập 1, NXB Thống kê, Hà nội, trang 344
7 Mankiw G (2003), Nguyên lý kinh tế học, tập 1, NXB Thống kê, Hà nội, trang 344 và 346
Trang 3Kinh tế học đã chứng minh rằng, thị trường cạnh tranh đạt được hiệu quả cao nhất tính trên góc độ phúc lợi xã hội Nhưng một doanh nghiệp độc quyền là một nhà sản xuất duy nhất và (nếu không được điểu tiết, giám sát về phía nhà nước) có thể (và trong thực tế xảy ra) ấn định giá cả mà không sợ bị cạnh tranh bởi một mức giá thấp hơn của đối thủ khác Hậu quả của độc quyền là nó có thể tính giá cao hơn và sản xuất ít hơn so với mức lẽ ra sẽ đạt được trong điều kiện cạnh tranh Những yếu tố này sẽ dẫn đến sự
xa rời của tính hiệu quả, và những quan ngại về công bằng, như tình trạng tổn thất thặng
dư của người tiêu dùng và lợi nhuận quá cao của nhà độc quyền Đồng thời sự lựa chọn của người tiêu dùng bị hạn chế do chỉ có một nhà cung cấp hàng hóa
Thứ hai, ngoại tác Là sự tác động ra bên ngoài của một đối tượng đến lợi ích hay
chi phí của một hay một số đối tượng khác mà không thông qua giao dịch và không được phản ánh qua giá cả Hay nói một cách khác, ngoại tác là ảnh hưởng của hoạt động sản xuất và tiêu dùng không được phản ảnh trong thị trường Đôi khi ngoại tác được gọi
là tác động đến bên thứ ba
Các ngoại tác tiêu cực phát sinh khi hành động của của một nhà sản xuất hay người tiêu dùng áp đặt nên chi phí cho người khác mà không có sự đền bù thỏa đáng Ví dụ là nhà máy xả chất thải xuống sông, dân cư ở hạn nguồn và người sử dụng sẽ phát sinh tổn thất do nước ô nhiễm hay tiếng ồn của các cơ sở Karaoke đối với người dân sống xung quanh Ngoại tác tích cực phát sinh khi hành động của của một nhà sản xuất hay người tiêu dùng mang lại lợi ích cho người khác Ví dụ, hàng xóm sửa sang nhà cửa hay trồng thêm cây xanh, cây hoa kiểng…Nếu nhà nước không can thiệp thì hàng hóa có ngoại tác tiêu cực sẽ được sản xuất nhiều hơn và ngoại tác tích cực sẽ được cung cấp ít hơn trong trường hợp có sự can thiệp tích cực và chủ động của nhà nước
Thứ ba, hàng hóa công Hàng hóa công là hàng hóa dùng chung cho mọi người
và quan trọng là người dùng không phải trả tiền trực tiếp Đây là những hàng hóa cần thiết cho xã hội nhưng tư nhân không muốn sản xuất và như vậy nhà nước phải đứng ra thay mặt xã hội tổ chức sản xuất hàng hóa này
Hàng hóa công có hai tính chất: (i) chúng là các hàng hóa không mang tính tranh giành và (ii) không thể loại trừ Một hàng hóa không mang tính cạnh tranh nếu với một mức sản lượng đã cho, chi phí biên của việc cung cấp hàng hóa đó cho thêm một người tiêu dùng bằng không Với hầu hết các hàng hóa được tư nhân cung cấp, chi phí biên của việc sản xuất thêm hàng hóa đó là dương Nhưng với một số hàng hóa, những người
Trang 4tiêu dùng tăng thêm không làm tăng chi phí sản xuất Hãy xem xét việc hưởng thụ pháo hoa trong những ngày lễ lớn, hay việc sử dụng những con đường cao tốc trong giờ không cao điểm Vì đường cao tốc đã được xây dựng từ trước và không có kẹt xe, nên chi phí tăng thêm của việc lái xe trên đó bằng không Ngọn hải đăng hay chương trình truyền hình công cộng cũng là những ví dụ khi chi phí phục vụ thêm một khách hàng bằng không Ví dụ thêm nữa về hàng hóa công là an ninh quốc phòng, pháo hoa, ngọn hải đăng, đèn chiếu sáng, công viên, cây xanh, không khí trong lành, luật bảo vệ người tiêu dùng, các chương trình y tế cộng đồng, các dịch vụ công…Trong số này, nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho người dân và bầu không khí trong lành là hết sức quan trọng quyết định chất lượng cuộc sống của người dân
Nhiệm vụ của nhà nước là cung cấp đầy đủ và chất lượng những hàng hóa mà thị trường không muốn và không thể cung cấp, hoặc không thể cung cấp đầy đủ Đây chính
là lý do để chính phủ hành động tích cực và hiệu quả trong việc cung ứng hàng hóa công
Thứ tư, thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một
giao dịch thị trường, một bên có thông tin nhiều hơn và tốt hơn bên còn lại (hoặc một
số người khác)
Thông tin bất cân xứng biểu hiện ở khắp nơi như Ngân hàng, thị trường nhà đất, bảo hiểm, chứng khoán, đồ cũ, thị trường lao động, thực phẩm….Thường những bên có thông tin nhiều hơn sẽ lấy điều này để làm lợi cho họ Làm thế nào người tiêu dùng có thể biết được thông tin chính xác về sản phẩm mà nhà sản xuất ghi trên bao bì, tại sao người dân lại bị ngộ độc thực phẩm, liệu sản phẩm nhập từ nước ngoài có đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, có bảo quản bằng hàn the hay không, liệu xăng chúng ta mua có đúng tiêu chuẩn hay không, có bị đổ xăng thiếu hay không, sữa bột liệu có nhiều protein hay nhiều melamine…Đây là những vấn đề mà thị trường và người tiêu dùng khó nếu không nói là không thể giải quyết được Vì vậy nhà nước phải tham gia bằng việc đề ra các tiêu chuẩn và phải giám sát được quá trình đảm bảo chất lượng bằng các qui định ngặt nghèo
và nghiêm túc để bảo vệ người dân của mình
Thông tin bất cân xứng là một khuyết tật của thị trường vì nó gây ra:
Sự lựa chọn ngược (AS: Adverse Selection)
Rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại (MH: Moral Hazard)
Vấn đề người ủy quyền – Người thừa hành (PA: Principle – Agent)
Trang 5Những vấn đề về thông tin không tương xứng với chất lượng sản phẩm được Georgie Akerlof (Nobel kinh tế năm 2001 cùng với Michael Spence và Josep Stiglitz) phân tích đầu tiên vào năm 1970 Những phân tích của Akerlof không chỉ bó gọn trong thị trường về xe hơi đã qua sử dụng Các thị trường khác như bảo hiểm, tín dụng và thậm trí thị trường lao động cũng đều mang tính đặc trưng của thông tin bất cân xứng về chất lượng sản phẩm và dịch vụ Lựa chọn ngược và tâm lý ỷ lại là hai hậu quả của việc tồn tại thông tin bất cân xứng trên thị trường Vậy giải pháp chính các các cách thức khác nhau nhằm giảm thiểu sự bất cân xứng về thông tin đối với các bên tham gia giao dịch thị trường Có hai nhóm giải pháp chủ yếu là giải pháp tư nhân và giải pháp từ phía chính phủ Cả hai nhóm giải pháp này về bản chất đều dựa trên đề xuất của hai nhà kinh
tế được giải Nobel, đó là Michel Spence và Joe Stiglitz Trong khi M Spence cho rằng người có thông tin sẽ có thể chuyển tải nó theo cái cách mà người không biết được thông tin có thể tin tưởng được thì J Stiglitz lại nhìn vấn đề theo góc độ ngược lại và khám
Thứ năm, thất nghiệp, lạm phát và mất cân bằng Bản thân nền KTTT có tính
chu kỳ và như vậy việc xảy ra thất nghiệp cao, lạm phát lớn và sự mất cân bằng trong tổng thể nền kinh tế là điều không thể tránh khỏi Hầu hết các nhà kinh tế đều lấy tỷ lệ thất nghiệp cao làm bằng chứng hiển nhiên về sự trục trặc của cơ chế kinh tế thị trường, thậm trí là một thất bại của thị trường cạnh tranh Việc thị trường không thể tạo ra được đầy đủ việc làm hay là toàn dụng lao động, một thất bại tương đối nghiệm trọng của thị trường, không tự nói rằng, chính phủ có thể cải thiện đáng kể tình trạng này, tuy nhiên trong một khía cạnh nào đó thì việc chính phủ có thể giảm thiểu được thất nghiệp bằng các công cụ chính sách của mình là điều đáng được quan tâm và nghiên cứu sâu
Những nguyên nhân trên đây về thất bại của thị trường làm cho nền kinh tế đạt trạng thái phi hiệu quả khi không có sự can thiệp của nhà nước, tức là nền KTTT, và nếu để nền kinh tế đó tự vận hành thì sẽ không xảy ra hiệu quả Pareto Nhưng giả định nền kinh tế đạt được hiệu quả Pareto, các nhà kinh tế chỉ ra rằng, vẫn còn hai nguyên nhân để nhà nước can thiệp tích cực vào nền kinh tế Thứ nhất là phân phối lại thu nhập Cuộc sống là không công bằng, câu nói nổi tiếng của JF Kenedy đúng trong nền KTTT Thị trường cạnh tranh có thể gây ra hiện tượng phân phối không công bằng, người giàu
8Tim Harford (2003), Thám tử kinh tế, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội, trang 195)
Trang 6quá nhiều tài sản, còn có nhiều người nghèo không đủ nguồn lực để sinh sống Một trong những hoạt động quan trọng nhất của chính phủ là phân phối thu nhập
Lý do quan trọng thứ hai để chính phủ can thiệp vào nền KT có hiệu quả Pareto phát sinh từ việc là các cá nhân có thể không hành động vì mục tiêu tốt nhất của mình Ngay cả khi có đầy đủ về thông tin, người tiêu dùng vẫn có thể có những hành động không tốt cho bản thân Mọi người vẫn tiếp tục hút thuốc, uống rượu nhiều cho dù hút thuốc và uống rượu có hại cho sức khỏe của họ và mặc dù họ biết điều đó và được khuyến cáo về điều này Mọi người không chịu đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy hay không chịu thắt dây an toàn khi lái xe ô tô, cho dù biết rằng đội mũ bảo hiểu hay thắt dây an toàn sẽ tăng khả năng sống sót khi bị tai nạn Các nhà kinh tế cho rằng, trong trường hợp này nhà nước nên can thiệp vào, khi mà các cá nhân không hành động vì lợi ích tốt nhất của họ, loại can thiệp này là hành vi mạnh mẽ hơn việc chỉ đơn giản cung cấp thông tin Những hàng hóa mà chính phủ bắt buộc mọi người phải sử dụng như dây
an toàn, mũ bảo hiểm, giáo dục tiểu học, gọi là hàng hóa khuyến dụng
" Tư tưởng của các nhà kinh tế học và triết gia chính trị, dù đúng hay sai, đều có
sức ảnh hưởng mạnh mẽ hơn chúng ta tưởng Thực tế là thế giới này do một số ít người chi phối Những con người hành động thực tế, những người tin rằng bản thân họ hoàn toàn thoát khỏi bất kỳ ảnh hưởng tri thức nào, thường lại là nô lệ của một vài nhà kinh
tế Những người điên nắm quyền lực, những người nghe được tiếng nói trong không trung, đang phát điên vì một vài nhà khoa học tồi tư một vài năm trước Nhưng sớm hay muộn, đấy là những ý tưởng, chứ không phải là những đặc lợi bất di bất dịch nguy hiểm dù tốt hay xấu"9
Đây là phát biểu nổi tiếng của một nhà kinh tế học vĩ đại và có tầm ảnh hưởng nhất thể kỷ XX, John Maynard Keynes (1883 - 1946), cha đẻ của học thuyết Keynes và của
lý thuyết kinh tế học vĩ mô Trong suốt cuộc Đại khủng hoảng thập niên 1930, Keynes
đã xây dựng một khung lý thuyết phân tích với mục tiêu là cứu vãn hệ thống KTTT mà ông cảm thấy rõ ràng là không hoàn hảo Ông nhân thấy rằng nền KTTT có hai khuyết tật lớn, đó là (1) Nó không thể tạo ra đầy đủ việc làm lâu dài cho tất cả những ai muốn làm việc và (2) nó phân phối thu nhập và sự giàu có một cách tùy tiện và không công bằng Keynes cho rằng, chừng nào còn chưa khắc phục được những khuyết điểm cố hữu này thì hệ thống KTTT còn hết sức bất ổn Ông cho rằng chính phủ đóng vai trò cốt yếu
9 Todd G Buchholz, Ý tưởng mới từ các kinh tế gia tiền bối, NXB Tri thức, 2007, trang 327
Trang 7trong việc ít nhất cũng là giảm thiểu, nếu không nói là xóa bỏ hoàn toàn các khiếm khuyết ra khỏi hệ thống KTTT Nếu sử dụng những chính sách phù hợp và hiệu quả và giúp phối hợp và đẩy mạnh thể chủ động của khu vực tư nhân, Keynes cho rằng, có thể tạo ra nền KTTT có đầy đủ việc làm trong dài hạn, đồng thời vận dụng được những lợi thế của hệ thống kinh doanh theo định hướng thị trường Những ưu thế này đã đươc ông
viết trong kiệt tác có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ XX, Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi
suất và tiền tệ: " sự phi tập trung hóa và vai trò của tính tư lợi Và hơn hết là chủ nghĩa
cá nhân Nếu loại bỏ được khuyết điểm và không lạm dụng thì nó sẽ là biện pháp bảo
vệ tự do cá nhân tốt nhất, theo nghĩa là khi so sánh với bất kỳ hệ thống nào khác thì chủ nghĩa cá nhân đều đem lại quyền lựa chọn lớn hơn nhiều cho mỗi người Nó cũng là công cụ tốt nhất đề bảo vệ tính đa dạng của cuộc sống, vì tính đa dạng này hình thành khi quyền lựa chọn cá nhân được mở rộng - và nếu chúng ta đánh mất tính đa dạng thì
đó sẽ là tổn thất lớn nhất trong tất cả những mất mát mà xã hội thuần nhất và toàn trị gây ra Vì sự đa dạng giúp bảo tồn truyền thống, trong đó bao gồm những lựa chọn an toàn nhất và thành công nhất của thế hệ trước, nên chú nghĩa cá nhân đem lại màu sắc cho thế giới hiện tại với sự đa dạng mà trí tưởng
tượng của nó đem lại Và nhờ kinh nghiệm, truyền thống cũng như trí tưởng tượng, nó
Tuy nhiên, Paul Samuelson, một người theo trường phái Keynes, cảnh báo: ông chỉ ủng hộ sự can thiệp sâu của nhà nước để "ổn định" nền kinh tế ở tầm vĩ mô, nhà kinh
tế học Mỹ đầu tiên đạt giải Nobel kinh tế khuyến khích sự tự do kinh tế ở tầm vi mô, ủng hộ tự do thương mại, cạnh tranh và thị trường tự do trong nông nghiệp
1.2 Chức năng và vai trò của nhà nước trong nền KTTT
1.2.1 Chức năng của nhà nước trong nền KTTT
Trong rất nhiều những hoạt động có thể, theo Samuelson Nhà nước có ba chức năng kinh tế chính trong nền KTTT: nâng cao hiệu quả, khuyến khích công bằng và ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng (1) Chính phủ cần điều chỉnh các khuyết tật của thị trường như độc quyền, ô nhiễm nặng nhằm khuyến khích tính hiệu quả, (2) Các chương trình của chính phủ khuyến khích công bằng đã sử dụng thuế và các chi tiêu để phân phối lại thu nhập với các nhóm khác nhau, (3) Chính phủ dựa vào thuế, chi tiêu và điều
10 Paul Davidson, Giải pháp Keynes, con đường dẫn tới sự thịnh vượng kinh tế toàn cầu, NXB Trẻ, 2009, trang
16
Trang 8tiết tiền tệ để ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng, giảm tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát,
Theo Benham, nhà nước phải theo đuổi bốn mục tiêu phụ trợ sau: Giúp đỡ việc đảm bảo sinh kế bằng cách bảo vệ công nhân và làm cho họ tin tưởng rằng, họ sẽ nhận được thành quả lao động của mình; giúp sản xuất ra thật nhiều của cải vật chất bằng cách đảm bảo rằng sẽ không có những cản trở về mặt chính trị đối với "những động cơ
tự nhiên" của các cá nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ thông qua lao động; khuyến khích tinh thần bình đẳng vì việc gia tăng tài sản vật chất không làm gia tăng tương ứng
1.2.2 Vai trò của nhà nước trong nền KTTT
Nhà nước là một thiết chế thiết yếu và cần thiết của một xã hội hiện đại và rất cần thiết cho cuộc sống của mọi người G Wulfenson, cựu chủ tịch Ngân hàng thế giới (WB), viết trong lời mở đầu của Báo cáo "Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi": " Lịch sử đã nhiều lần chứng minh, một chính phủ tốt không phải là một món xa xỉ phẩm,
mà là một điều cần thiết sống còn Không có một nhà nước hữu hiệu thì sẽ không thể có
Thomas Hobbes trong tác phẩm nổi tiếng Leviathan có nhận xét rằng, Cuộc sống
mà không có một nhà nước hiệu lực để duy trì trật tự thì rất "đơn độc, nghèo nàn, đồi bại, tàn bạo và ngắn ngủi"
Các nhà kinh tế đã chỉ ra những vai trò chủ yếu của nhà nước trong nền KTTT như sau:
Thứ nhất, nhà nước có khả năng nâng cao hiệu quả của nền kinh tế và nhờ đó, làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên tốt đẹp hơn
Để đạt được chức năng này, nhà nước cần tạo ra và duy trì khung pháp lý hay thể chế giúp thị trường vận hành hiệu quả, giảm thiểu những khuyết tật cố hữu của nó Cần
có một tư duy là nhà nước là phương tiện hỗ trợ cho thị trường, cho phép thị trường hoạt động tốt hơn, công bằng hơn và với những bổ sung thích đáng, chứ không phải cạnh tranh với thị trường Những thành quả tổng thể của thị trường tùy thuộc nhiều vào các sắp xếp chính trị và xã hội Hayek, một nhà kinh tế trường phải tự do cũng khẳng định
11 Paul Samuelson, KTH tập 1, NXB Thống Kê, 2002, trang 85
12 David Held, Các mô hình quản lý nhà nước hiệu quả, NXB Tri thức, 2014, trang 145
13 WB, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, NXB CTQG, 1997
Trang 9"Không thể có tự do nếu không có pháp luật" Các quốc gia không có sự can thiệp của chính phủ bằng các thể chế hiệu quả và phù hợp không phải là mảnh đất màu mở cho KTTT tự do phát triển mạnh mẽ Đó là những nơi mà chi phí giao dịch rất lớn để tiến hành các hoạt động kinh tế
Chưa có ai thích trọng tài, nhưng các trận đấu thể thao, từ giải phong trào đến các giải vô địch thế giới, sẽ không thể diễn ra mà không có họ Do vậy chính phủ cần xác lập và bảo vệ quyền sở hữu, nhất là sở hữu tư nhân Nếu không có quyền xác lập và quyền sở hữu thì các hoạt động kinh doanh trở nên vô nghĩa và hỗn loạn Quyền sở hữu không chỉ đơn giản là các tài sản hữu hình như nhà cửa, ô tô, quần ào mà còn quyền
sở hữu những ý tưởng, tác phẩm nghệ thuật., công thức, phát minh và thậm trí là cả các qui trình phẫu thuật Các giao dịch cần được tiến hành thông qua luật bản quyền để bảo
vệ và khuyến khích những sáng tạo trong mọi hoạt động của con người trong nền KTTT Chính phủ giảm chi phí kinh doanh trong lĩnh vực tư nhân dưới tất cả các hình thức như đưa ra các qui tắc và qui định thống nhất như luật hợp đồng, diệt tận gốc tình trạng gian lận thương mại và lưu thông đồng tiền mạnh Chính phủ xây dựng và duy trì hạ tầng như cầu cống, đường xá giúp giảm thiểu chi phí trong các hoạt động thương mại của khu vực tư nhân
Thứ hai, một vài hoạt động của chính phủ có thể làm thu hẹp qui mô chiếc bánh GDP những vẫn có thể là điều nên làm xét trong bối cảnh về mặt xã hội
Thuế cao để hỗ trợ mạng lưới an sinh xã hội sẽ làm giảm đi mong muốn cống hiến và làm giàu cho bản thân và xã hội Nhìn chung những chính sách đảm bảo tất cả mọi người đều có phần bánh sẽ làm chậm quá trình phát triển chiếc bánh đó, những hiệu quả kinh
tế chưa phải là điều quan tâm hàng đầu nếu chúng ta đề cập đến vấn đề công bằng xã hội Thuần túy chuyển tiền từ người giàu sang người nghèo sẽ không hiệu quả vì phải tốn thêm chi phí xã hội cho việc chuyển tấm séc cho một gia đình người nghèo từ nhà giàu
Thứ ba, đôi khi sự tham gia của nhà nước vào nền KTTT lại mang tính phá hủy
Chính phủ độc đoán có thể giống như một tảng đá đeo trên cổ nền KTTT Trong một chính phủ như vậy, ý định tốt đẹp có thể tạo ra những chương trình và qui định mà lợi ích của nó phản tác dụng do chi phí giao dịch quá cao, còn ý định xấu có thể dẫn tới những luật lệ chỉ có lơi cho chính trị gia tham nhũng Điều này đặc biệt đúng ở các nước đang phát triển, nơi mà những điều tốt đẹp chỉ đến khi chính phủ cân bằng đúng mức sự
Trang 10tham gia của mình vào nền kinh tế Ranh giới giữa những người giàu và người nghèo xét trên góc độ kinh tế nằm ở chỗ vai trò của các thể chế kinh tế, đặc biệt là thể chế công, là thúc đẩy hay cấm sản xuất
1.3 Công cụ và điều kiện thực hiện
1.3.2 Điều kiện thực hiện
Để sử dụng các công cụ trên được hiệu quả, phải cần có các điều kiên sau đây:
Thứ nhất, có một thể chế mở rộng quyền tự do của cá nhân, khuyến khích các cá
nhân kinh doanh và đầu tư vào các lĩnh vực mà nhà nước không cấm
Thứ hai, mở rộng quyền ảnh hưởng của nhà nước vào nền KTTT sẽ giúp và làm
cho thị trường hiệu quả hơn và đồng thời gia tăng qui mô khu vực tư, khuyến khích cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế trên nguyên tắc bình đẳng
Thứ ba, cần có một Chính phủ (bộ máy chính quyền) hiệu quả, trong sạch và hoạt
động vì việc chung Bản thân các thành viên của chính phủ cần được đào tạo bài bản theo kiểu kỹ trị
Thứ tư, độc lập về hành pháp, tư pháp và lập pháp Không thể vừa đá bóng vừa
thổi còi
Thứ năm, Chính phủ không nên là người duy nhất cung cấp hàng hóa và dịch vụ
trừ khi khu vực tư nhân không có khả năng thực hiện vai trò đó Ôm đồm quá nhiều sẽ làm sao nhãng các nguồn lực và ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý nhà nước
Thứ sáu, việc Chính phủ cần cung cấp hàng hóa công không có nghĩa lả chính phủ
phải trực tiếp thực hiện những công trình công cộng Chính phủ có thể lên kế hoạch và tài trọ con đường cao tốc, rồi mời các nhà thầu cạnh tranh
Trang 11Thứ bảy, cần minh bạch hơn trong vai trò cung cấp thông tin của chính phủ và
trách nhiệm giải trình của các cơ quan chức năng cùng các quan chức nhà nước trong việc đảm bảo hiệu quả và bảo tồn vốn của nhà nước trong các DNNN
2 Thực trạng nhận thức và thực tiễn về vị trí vai trò của nhà nước trong nền KTTT ở Việt Nam
2.1 Quá trình nhận thức
Về vị trí của nhà nước, bất kỳ thời kỳ nào vị trí của nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội đều được xác định có tầm quan trọng đặc biệt, có ảnh hưởng quyết định đến quyết sách và sự thành công của quá trình phát triển KT-XH Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, nhà nước không chỉ có chức năng “kiến tạo phát triển” mà còn thực hiện “định hướng XHCN”
Về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, có sự khác biệt lớn giữa mô hình kế hoạch hóa tập trung về mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước tập trung vào các vai trò chủ chốt sau
Thứ nhất, nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi và đảm bảo sự ổn định chính
trị, xã hội cho sự phát triển kinh tế Nói cách khác, nhà nước có chức năng tạo ra “sân chơi” và “luật chơi” thuận lợi cho kinh tế phát triển
Thứ hai, nhà nước tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định phục vụ phát triển kinh
tế, thông qua chiến lược, chính sách, các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô
Thứ ba, nhà nước có chức năng hỗ trợ thị trường, tạo điều kiện để các doanh
nghiệp, các chủ thể trong nền kinh tế hoạt động chiệu quả và lành mạnh Các yếu tố độc quyền, lợi ích nhóm cần được kiểm soát và hạn chế ở mức thấp nhất
Thứ tư, nhà nước có chức năng duy trì và cải thiện môi trường thiên nhiên, môi
trường sống trong lành, thân thiện, đảm bảo sự phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội
và môi trường
Thứ năm, nhà nước thực hiện các chính sách và biện pháp gắn tăng trưởng kinh tế
với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Để thực hiện các chức năng, vai trò trên, nhiệm vụ cơ bản của nhà nước trong nền kinh tế là: (i) Cung cấp khung pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, hiệu lực và phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường, cũng như định hướng của nhà nước XHCN; (ii) Kiến tạo môi trường và các điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, đảm bảo kinh tế thị
Trang 12trường vận hành thuận lợi, hiệu quả; (iii) Cung cấp kết cấu hạ tầng và các hàng hóa, dịch
vụ công, nhằm đảm bảo yêu cầu cuộc sống và hoạt động kinh doanh; (iv) Hỗ trợ người nghèo và các nhóm “yếu thế” khác nhầm đảm bảo các cơ hội tối thiểu để tham gia vào nền kinh tế thị trường
Ngân hàng Thế giới (WB) trong báo cáo năm 1997 dưới tiêu để "Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi" đã đưa ra nhận định: "Một nhà nước hoạt động có hiệu quả có thể đóng góp rất nhiều cho sự phát triển bền vững và giảm đói nghèo Nhưng chẳng có đảm bảo nào cho rằng mọi can thiệp của nhà nước đều sẽ mang lại lợi ích cho
xã hội Độc quyền của nhà nước về cưỡng chế, cái mang lại cho nhà nước quyền lực can thiệp một cách có hiệu lực vào hoạt động kinh tế, cũng mang lại cho nhà nước quyền can thiệp một cách độc đoán, chuyên quyền Quyền lực này cộng với việc thâm nhập nguồn thông tin,, mà dân chúng bình thường không có được, tạo ra những cơ hội cho những công chức xúc tiến những lợi ích của riêng họ hay những bạn bè hoặc đồng minh của họ, làm thiệt hại cho lợi ích chung Những khả năng kiếm lợi và tham nhũng là rất lớn Do đó các nhà nước phải cố gắng thiết lập và nuôi dưỡng những cơ chế mang lại cho các cơ quan nhà nước sự mềm dẻo và sự khuyến khích để hoạt động vì lợi ích chung, đồng thời kiềm chế những hành vi độc đoán tham nhũng trong cách cư xử với các doanh
Do vậy, theo chúng tôi những yêu cầu mới đặt ra cho nhà nước Việt Nam trong quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN là: (i) Làm rõ và có cơ sở khoa học
để nhận biết mức độ và vai trò của nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN, (ii) Xác định những mục tiêu và định hướng, các phương tiện, công cụ nhất quán trong việc điều tiết vĩ mô và vi mô trong nền KTTT định hướng XHCN, không chạy theo quá nhiều mục tiêu để xao lãng những nhiệm vụ chính đã đề ra; (iii) Cần ra được những thể chế, nhất là thể chế kinh tế để hài hòa và cân bằng giữa việc sử dụng công cụ thị trường và bàn tay hữu hình nhằm đạt hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội trong những tiêu chí khoa học và hợp lý; (iv) Chấp nhận, cho dù khó khăn và thách thức sự phá hủy mang tính sáng tạo trong một số lĩnh vực không thuộc vùng cấm và không ảnh hưởng đến chế
độ chính trị; (v) Cần một sự độc lập nhất định của một số cơ quan nhà nước và chính quyền, nhất là NHNN và tòa án, (vi) Phát triển kinh tế nên dựa trên ba trụ cột: thị trường
14 WB, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, NXB CTQG, 1997, trang 320 - 321