Mục tiêu nghiên cứu Trong bài nghiên cứu này , mục tiêu của bái viết là giải quyết những vấn đề sau : - Mục tiêu thứ nhất : Phân tích khái niệm du lịch , vai trò của du lịch trong nền k
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
SINH VIÊN: TRẦN TOÀN MINH
MÃ SINH VIÊN: 19050178 LỚP: QH-2019 E KINH TẾ CLC 2
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS HOÀNG THỊ HƯƠNG
HÀ NỘI, 2021
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC HÌNH VẼ 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do , tầm quan trọng của vấn đề cần nghiên cứu 5
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Kết cấu của bài nghiên cứu 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 7
I Du lịch , vị trí và vai trò của du lịch trong nền kinh tế quốc dân 7
1 Khái niệm về du lịch 7
2 Vị trí và vai trò của ngành du lịch trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế ở nước ta 8
2.1 Vai trò du lịch đối với kinh tế 8
2.2 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển xã hội 9
II Sự cần thiết của quản lý Nhà nước về du lịch 9
1 Khái niệm quản lý Nhà nước và quản lý Nhà nước về du lịch 9
2 Sự cần thiết của Quản lý nhà nước về du lịch 10
2.1 Đối với nền kinh tế thị trường nước ta 10
2.2 Đối với ngành du lịch 10
3 Chức năng và nội dung quản lý nhà nước về du lịch 11
3.1 Chức năng quản lý 11
3.2 Nội dung quản lý Nhà nước về du lịch 12
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH Ở NƯỚC TA HIÊN NAY 13
I, Khái quát chung về sự ra đời của Ngành du lịch VIệt Nam 13
1 Sự ra đời của ngành du lịch Việt Nam 13
2 Bộ máy quản lý của Tổng cục du lịch 14
Trang 3II Thực trạng về quản lý nhà nước về du lịch ở nước ta 16
1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật 16
2 Công tác tổ chức bộ máy quản lý du lịch và việc phối hợp các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch 16
3 Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp 17
4 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chiến lược phát triển du lịch 17
5 Quản lý Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành du lịch 18
6 Quản lý Nhà nước về công tác quảng bá, hợp tác quốc tế và xúc tiến du lịch 19
III Những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý Nhà nước về du lịch ở nước ta 20
1 Về hệ thống pháp luật du lịch 20
2 Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch 20
3 Về công tác quản lý và quy hoạch du lịch 21
4 Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho du lịch 22
5 Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch 22
CHƯƠNG III :MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH 23
I Mục tiêu, phương hướng phát triển ngành du lịch và những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý Nhà nước về du lịch ở nước ta trong giai đoạn tới 23
1 Mục tiêu, phương hướng phát triển ngành du lịch Việt Nam 23
2 Những vấn đề dặt ra cho công tác quản lý Nhà nước về du lịch ở nước ta trong giai đoạn tới 24
II- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về du lịch 25
1 Đổi mới nhận thức, tư duy về phát triển du lịch 25
2 Cơ cấu lại ngành Du lịch bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại và phát triển bền vững theo quy luật của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế 25
3 Hoàn thiện thể chế, chính sách 25
4 Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành Du lịch 26
5 Tăng cường xúc tiến quảng bá du lịch 26
6 Tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và cộng đồng phát triển du lịch 27
7 Phát triển nguồn nhân lực du lịch 27
8 Tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch 27
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1 : Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức ngành du lịch Việt Nam ( Nguồn : Tổng cục du lịch Việt Nam ) 14
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do , tầm quan trọng của vấn đề cần nghiên cứu
Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn đang là yêu cầu tất yếu đối với nhiều quốc gia Tuy nhiên, bên cạnh phát triển du lịch cần có những giải pháp tối ưu để hạn chế những tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội Chính vì vậy, quản lý nhà nước về du lịch đóng vai trò vô cùng quan trọng Nhà nước thông qua những công cụ quản lý nhất định nhằm tác động tích cực vào các hoạt động du lịch, tạo dựng môi trường pháp lý lành mạnh, giúp ngành Du lịch phát triển theo đúng định hướng và hiệu quả
Sự phát triển của ngành Du lịch đã và đang góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu tại chỗ; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc
tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam
Thời gian qua, du lịch Việt Nam được đánh giá là phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và sự kỳ vọng của xã hội Sản phẩm du lịch vẫn chưa thực sự hấp dẫn, khả năng cạnh tranh chưa cao; chất lượng dịch vụ du lịch chưa đáp ứng yêu cầu… Có nhiều nguyên nhân được đưa ra, song chủ yếu vẫn là do các cấp, các ngành chưa thực sự coi du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên ngành, liên vùng, xã hội hóa và hội nhập quốc tế cao; thiếu chính sách quốc gia phù hợp để du lịch phát triển theo đúng tính chất của một ngành kinh tế vận hành theo quy luật thị trường Sự phối hợp liên ngành, liên vùng hiệu quả còn thấp; công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch chưa được quan tâm đúng mức
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này , mục tiêu của bái viết là giải quyết những vấn đề sau :
- Mục tiêu thứ nhất : Phân tích khái niệm du lịch , vai trò của du lịch trong nền kinh
tế quốc dân ở nước ta
- Mục tiêu thứ hai : Phân tích thực trạng công tác quản lý Nhà nước về du lịch ở nước
ta
- Mục tiêu thứ ba : Một số ý kiến nhằm củng cố , nâng cao chất lượng , hiểu quả Quản
lý nhà nước về phát triển du lịch ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào việc làm rõ khái niệm, vai trò và các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch Do giới hạn thời gian bài nghiên cứu với đây là một đề tài rộng và phức tạp nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự góp ý của cô để bài nghiên cứu được hoàn thiện
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp thống kê , phân tích , tổng hợp và
so sánh dựa trên thu thập sô liệu qua tài liệu có sẵn , xử lý số liệu thứ cấp và sơ cấp từ các
bộ , tổ chức Chính trị thông qua sách báo , tài liệu từ giáo trình ,sách báo, internet,…
5 Kết cấu của bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu được chia thành 3 phần :
- Chương I : Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước và vai trò của quản lý nhà nước về du lịch trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Chuơng II : Thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch ở nước ta hiên nay
- Chươnng III : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch ở Việt Nam
Trang 7NỘI DUNG
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I Du lịch , vị trí và vai trò của du lịch trong nền kinh tế quốc dân
1 Khái niệm về du lịch
Từ giữa thế kỷ 19, du lịch bắt đầu phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, khái niệm “Du lịch” được
hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau
Khái niệm chung về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan
hệ phát sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch”
Khái niệm về du lịch theo cách tiếp cận của các đối tượng liên quan đến hoạt động
du lịch:
- Đối với người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú của họ ở ngoài nơi
cư trú để thoả mãn các nhu cầu khác nhau: hoà bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác
-Đối với người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của người du lịch và đạt được mục đích số một của mình là thu lợi nhuận
-Đối với chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ khách du lịch, là tổng hợp các hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho khách du lịch trong việc hành trình và lưu trú, là cơ hội để bán các sản phẩm của địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương
-Đối với cộng đồng dân cư sở tại: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội mà hoạt động du lịch tại địa phương mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu nền văn hoá, phong cách của những người ngoài địa phương mình, vừa là cơ hội để ìm việc làm, phát huy các nghề cổ truyền, tăng thu nhập nhưng đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến đời sống người dân sở tại như về môi trường, trật tự an ninh XH, nơi ăn, chốn ở,
- Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) tại Hội nghị lần thứ 27 (năm 1993) đã đưa ra khái
niệm sau: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên (usual environment) của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm.”
- Luật Du lịch Việt Nam (2005) : “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cứ trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian xác định.”
Trang 8Như vậy, giữa các khái niệm, chúng ta thấy rằng có ba điểm chung:
Rời nơi cư trú thường xuyên
Có các hoạt động vui chơi, tìm hiểu, nghỉ ngơi, giải trí
Diễn ra trong một khoảng thời gian xác định
- Ban đầu, khái niệm du lịch để nói về một kiểu hoạt động vui chơi, giải trí của con người Nhưng, do những nhu cầu phát sinh từ các hoạt động du lịch mà hình thành nên một ngành kinh tế mới chuyên cung cấp những cơ sở vật chất và dịch vụ cho các hoạt động này, và cũng được gọi là du lịch
- Theo Trần Đức Thanh thì: Du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
- Và việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch Cho đến nay, không ít người, thậm chí ngay cả các cán bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch chỉ cho rằng du lịch là một ngành kinh tế Do
đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế Điều đó cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội Nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khỏe cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tình đoàn kết… Chính vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hóa khác
Như vậy, từ một thuật ngữ ban đầu để chỉ một loại hình giải trí, nay du lịch còn bao gồm luôn việc tên của một ngành kinh tế, và ngành kinh tế này có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống con người
2 Vị trí và vai trò của ngành du lịch trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và hội nhập quốc tế ở nước ta
Có thể nói rằng ngành du lịch đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Trong bối cảnh Việt Nam, với những nguồn lực phong phú về di sản thiên nhiên cũng như di sản văn hóa, ngành du lịch đã và đang có những có những đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và có khả năng phát triển thịnh vượng hơn nữa trong tương lai
2.1 Vai trò du lịch đối với kinh tế
Du lịch đóng góp một phần đáng kể trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân ở nhiều quốc gia Đặc biệt, đối với Việt Nam, ngành du lịch hiện nay được xem như là một trong
3 ngành kinh tế mũi nhọn, được chú trọng đầu tư, không ngừng phát triển và có những đóng góp tích cực vào nền kinh tế quốc gia
Du lịch phát triển thúc đẩy các ngành kinh tế hỗ trợ phát triển theo như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ tài chính, dịch vụ lưu trú và ăn uống Ngành du lịch phát triển cũng đem lại một thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng nhanh tổng sản phẩm kinh tế quốc dân
Trang 9Du lịch quốc tế phát triển đem lại nguồn lợi từ thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hoạt động xuất khẩu tại chỗ và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Ngoài ra, du lịch quốc tế phát triển cũng giúp củng cố và phát triển mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới cũng như thúc đẩy phát triển giao thông quốc tế
2.2 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển xã hội
Ngành du lịch tạo ra hàng triệu việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt tạo ra cơ hội việc làm lớn cho các lao động nữ Ngành du lịch cũng giải quyết việc làm cho nhiều người dân vùng nông thôn, tạo nên những chuyển biến tích cực trong xã hội, nâng cao mức sống của người dân và vị thế của phụ nữ trong xã hội
Ngành du lịch còn góp phần làm giảm quá trình đô thị hóa khi giúp cân bằng lại sự phân bổ dân cư và hệ thống cơ sở hạ tầng từ đô thị về nông thôn trong quá trình phát triển
du lịch Nhờ đó, hạn chế những gánh nặng cũng như tác động tiêu cực do quá trình đô thị hóa gây ra
Du lịch phát triển giúp truyền bá văn hóa với hình ảnh đất nước, con người Việt Nam cho bạn bè quốc tế, đồng thời cũng là phương tiện quảng bá hàng hóa Việt Nam ra thị trường nước ngoài hiệu quả
Du lịch thúc đẩy và tạo cơ hội cho việc giao lưu, trao đổi giữa các nền văn hóa trên thế giới, giúp cho con người hiểu biết lẫn nhau và gắn kết nhau hơn Mặt khác, du lịch cũng đóng góp một phần tích cực trong việc bảo tồn các di sản văn hóa và thúc đẩy các hoạt động văn hóa có quy mô và chất lượng
II Sự cần thiết của quản lý Nhà nước về du lịch
1 Khái niệm quản lý Nhà nước và quản lý Nhà nước về du lịch
So với khái niệm du lịch, khái niệm QLNN về du lịch xét về quan điểm của các tác giả có phần hạn chế hơn, Luật Du lịch 2017 cũng không giải thích nội hàm của khái niệm này, trong giới hạn bài viết, nhóm tác giả có một số nhận xét như sau:
Theo tác giả Phạm Hồng Long, QLNN về du lịch là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh
bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với các quá trình, các hoạt động du lịch của con người để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế nhằm đạt được các hiệu quả kinh tế xã hội do Nhà nước đặt ra
Tác giả Mai Văn Nhơn tại công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Đồng
Nai đã đưa ra đề xuất: QLNN về du lịch là sự tác động có tổ chức, có định hướng và bằng pháp quyền của Nhà nước lên các hoạt động du lịch, sản phẩm du lịch nhằm khai thác có hiệu quả nhất các tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, lợi thế địa lý và khí hậu, các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được mục tiêu phát triển du lịch nhưng vẫn bảo tồn và phát huy được bản sắc văn hoá, bảo vệ tốt môi trường, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế
Tương tự như vậy, tác giả Nguyễn Thị Huy Hoàng có quan điểm: QLNN về du lịch là sự
tác động có tổ chức của Nhà nước thông qua công cụ và phương thức mang bản chất quyền lực nhà nước để điều chỉnh và định hướng cho hoạt động du lịch nhằm đạt được những mục tiêu định trước của Nhà nước
Trang 10Kế thừa những quan điểm trên, nhóm tác giả đưa ra khái niệm QLNN về du lịch
như sau: QLNN về du lịch là sự tác động bằng quyền lực của Nhà nước đối với các hoạt động du lịch nhằm tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động du lịch, đảm bảo phát triển du lịch mà vẫn bảo tồn được tài nguyên, duy trì và phát triển văn hoá, bảo hộ quyền
và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch
2 Sự cần thiết của Quản lý nhà nước về du lịch
2.1 Đối với nền kinh tế thị trường nước ta
Thực tế chỉ ra rằng, mọi nền kinh tế đều cần có sự quản lý của Nhà nước Song do tính
đa dạng của thực tiễn ở các nước là khác nhau, do đó, việc quản lý Nhà nước ở mỗi nền kinh tế, mỗi quốc gia là không giống nhau Thực tế cho thấy, nền kinh tế muốn phát triển nhanh đòi hỏi đất nước phải có cơ sở hạ tầng (phục vụ sản xuất và đời sống) hiện đại, lĩch vực mà ngoài Nhà nước ra không ai đảm nhiệm được Cho nên người ta ngày càng ý thức
rõ kinh tế phát triển ngày càng cao, xã hội hoá sản xuất ngày càng mở rộng, thị trường ngày càng phát triển, càng cần có sự quản lý của Nhà nước về kinh tế
Ở nước ta, trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Bên cạnh lập trường của chủ nghĩa Mac - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Một yêu cầu đặt ra
là chúng ta phải biết tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại Đặc biệt là những tư tưởng, học thuyết về kinh tế thị trường, một vấn đề hết sức mới mẻ ở nước ta
Do xu hướng hội nhập nền kinh tế của nước ta vào nền kinh tế thế giới, mở rộng hợp tác, giao lưu quốc tế Cho nên Nhà nước co vai trò quan trọng trong việc ổn định môi trường chính trị, xã hội, tạo cơ hội tốt cho nền kinh tế phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài Mặt khác, do định hướng phát triển kinh tế nước ta là phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, cho nên sự quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế là tất yếu khách quan Chỉ có Nhà nước mới co đủ sức mạnh và cơ sở vật chất để thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế
2.2 Đối với ngành du lịch
Ngành kinh doanh du lịch giống như một cơ thể sống và luôn đòi hỏi sự quản lý sáng tạo để duy trì và phát triển Việc thành công hay thất bại của ngành du lịch cũng như nhu cầu nền kinh tế của một nước phụ thuộc hoàn toàn vào việc xây dựng một cách sáng tạo những chính sách thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển của một đất nước Do vậy, vấn đề quản lý Nhà nước đối với du lịch là một vấn đề cần thiết được đặt lên hàng đầu Hơn nữa, du lịch mới trong giai đoạn đầu phát triển, còn gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn do vậy cần có sự tham gia chỉ đạo và định hướng của Nhà nước để du lịch phát triển
Vì vậy, quản lý du lịch trong nền kinh tế thị trường của Nhà nước là cần thiết và khách quan:
- Một mặt do những khuyết tật và hạn chế của cơ chế thị trường gây nên, mặt khác,
do Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thể hiện ở việc định hướng phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như ngành kinh tế du lịch nói riêng trong từng thời kỳ
Trang 11- Để giải quyết các mâu thuẫn trong nền kinh tế thị trường, duy trì sự ổn định cũng như thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và phối hợp các hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch Đồng thời giúp cho việc khai thác các thế mạnh của từng vùng, từng địa phương đạt kết quả Hơn nữa, phát huy lợi thế so sánh của quốc gia trong phát triển du lịch quốc tế
- Du lịch là một ngành kinh tế mũi nhon của nước ta Nó liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau do vậy cần có sự quản lý của Nhà nước để điều hoà mối quan hệ giữa du lịch với các ngành, các lĩnh vực liên quan
Tóm lại, khi nền kinh tế của đất nước cần đến sự quản lý của Nhà nước thì công tác quản lý đối với một ngành trong nền kinh tế là tất yếu khách quan
3 Chức năng và nội dung quản lý nhà nước về du lịch
3.1 Chức năng quản lý
a, Chức năng hoạch định
- Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định để định hướng hoạt động du lịch, xác lập các chương trình, các dự án, cụ thể hoá các chiến lược, đặc biệt là các lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế
- Thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch, tạo ra môi trường pháp lý cho hoạt động du lịch
- Chức năng hoạch định giúp cho các doanh nghiệp du lịch có phương hướng hình thành các phương án chiến lược, kế hoạch kinh doanh Nó vừa giúp tạo lập môi trường kinh doanh vừa cho phép Nhà nước có thể kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và các chủ kinh doanh du lịch trên thị trường
b, Chức năng tổ chức và phối hợp
- Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý về du lịch, sử dụng bộ máy này để hoạch đinh các chiến lược, quy hoạch, các chính sách,các văn bản quy phạm pháp luật đồng thời thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý Nhà nước nhằm đưa chính sách phù hợp về du lịch và thực tiễn, biến quy hoạch, kế hoạch thành hiện thực, tạo điều kiện cho du lịch phát triển
- Hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch với các cấp trong hệ thống quản lý du lịch của trung ương, tỉnh ( thành phố), quận (huyện, thị xã)
- Trong lĩnh vực du lịch quốc tế, chức năng này được thể hiện ở sự phối hợp giữa các quốc gia có quan hệ song phương hoặc trong cùng một khối kinh tế, thương mại du lịch trong nỗ lực nhằm đa dạng hoá đa phương thức quan hệ hợp tác quốc tế trong du lịch đạt tới các mục tiêu và đảm bảo thực hiện các cam kết đã ký
- Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, bảo vệ tài nguyên du lịch , môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục của dân tộc trong hoạt động du lịch
Trang 12c, Chức năng điều tiết các hoạt động du lịch và can thiệp thị trường
- Nhà nước hướng dẫn, kích thích các doanh nghiệp du lịch hoạt động theo định hướng đã vạch ra Can thiệp, điều tiết thị trường khi cần thiết đảm bảo ổn định kinh tế vĩ
d, Chức năng kiểm soát
- Giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh du lịch cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó Cấp và thu hồi giấy phép, giấy hoạt động trong hoạt động du lịch
- Phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạp pháp luật và những quy định của Nhà nước
- Kiểm tra đánh giá sức mạnh của hệ thống tổ chức quản lý du lịch của Nhà nước cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức quản lý Nhà nước về du lịch
- Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục của dân tộc
3.2 Nội dung quản lý Nhà nước về du lịch
Nội dung quản lý nhà nước về du lịch được quy định tại Điều 10 Luật du lịch ( năm
3 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch
4 Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ
5 Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
6 Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài
7 Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch
8 Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch
Trang 139 Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch
Thực tế đã chỉ rõ, hoạt động du lịch trong cơ chế thị trường cũng như trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hôị chủ nghĩa ở nước ta hiện nay rất cần đến sự điều hành, quản lý của Nhà nước đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá của hoạt động du lịch, việc hợp tác, liên kết luôn đi liền với cạnh tranh đòi hỏi mỗi nước phải có chiến lược phát triển tổng thể du lịch Xuất phát từ điều kiện của mình, mỗi nước phải vừa biết phát huy đặc thù, huy động nội lực để tăng khả năng hấp dẫn khách du lịch, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, tranh thủ được điều kiện bên ngoài để có điều kiện hội nhập Đây là vấn
đề thuộc quyền Nhà nước và cũng là trách nhiệm của Nhà nước trong phát triển du lịch
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
Ở NƯỚC TA HIÊN NAY
I, Khái quát chung về sự ra đời của Ngành du lịch VIệt Nam
1 Sự ra đời của ngành du lịch Việt Nam
Trong những năm tháng chiến tranh, sự ra đời của ngành Du lịch Việt Nam (09/7/1960) là một dấu son lịch sử, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc, phục vụ các đoàn khách du lịch ở trong và ngoài nước, đồng thời thể hiện tầm nhìn sâu rộng của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta
Ngày 09/7/1960, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã thay mặt Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký ban hành Nghị định số 26 CP về việc thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương Đây là thời kỳ đất nước còn tạm thời bị chia cắt, trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt
Theo đó, Công ty Du lịch Việt Nam có nhiệm vụ đặt quan hệ và ký kết hợp đồng với các tổ chức du lịch nước ngoài, phối hợp với các tổ chức có liên quan ở trong nước để
tổ chức cho khách nước ngoài vào du lịch Việt Nam và khách Việt Nam ra du lịch nước ngoài Hội đồng Chính phủ cũng giao Công ty Du lịch Việt Nam tổ chức và quản lý những
cơ sở và những phương tiện cần thiết để phục vụ khách du lịch
Trên cơ sở Nghị định 26 CP của Hội đồng Chính phủ, ngày 16/3/1963, Bộ Ngoại thương
đã ban hành Quyết định số 164-BNT-TCCB quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam
Về cơ cấu tổ chức, Công ty Du lịch Việt Nam có Giám đốc, các Phó Giám đốc và các phòng: phòng Nghiệp vụ du lịch, phòng Kế hoạch, phòng Vận chuyển, phòng Tài vụ,
kế toán, phòng Tổ chức, hành chính
Đồng thời, văn bản của Bộ Ngoại thương cũng nêu rõ, theo mức độ phát triển của ngành Du lịch, sau khi được Bộ Ngoại thương đồng ý, Công ty có thể thành lập các đại diện của Công ty ở nước ngoài, các chi nhánh du lịch ở địa phương, các khách sạn và các phương tiện vận chuyển đặc biệt trực thuộc sự quản lý của công ty Văn bản này thể hiện tầm nhìn sâu rộng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ngay từ những ngày đầu thành lập ngành
Du lịch
Trang 14Thời kỳ này, đối tượng phục vụ của du lịch Việt Nam được cụ thể hóa gồm có: (1) Khách du lịch từ nước ngoài vào du lịch trong nước; (2) Khách du lịch ở trong nước đi du lịch nước ngoài; (3) Các đoàn thể cán bộ công nhân viên chức và nhân dân lao động Việt Nam đi tham quan nghỉ mát trong nước; (4) Những khách nước ngoài gồm: các đoàn ngoại giao, các nhân viên của các sứ quán, các cơ quan đại diện, chuyên gia, các đoàn thể và nhân dân nước ngoài trong thời gian công tác tại Việt Nam
Hoạt động của du lịch Việt Nam được kỳ vọng phát triển nguồn thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho Nhà nước phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, tăng cường quan hệ giao dịch với các tổ chức du lịch nước ngoài góp phần nâng cao địa vị nước ta trên trường quốc tế
Ngay từ lúc này, du lịch đã được nhận thức rõ ràng với vai trò là một ngành kinh tế mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, với những nhiệm vụ cụ thể như: nghiên cứu tình hình du lịch quốc tế để khai thác kinh doanh du lịch; mở rộng các cơ
sở và tuyến du lịch để thu hút khách du lịch và phục vụ các yêu cầu của khách du lịch trong nước trong phạm vi có thể; phối hợp với các tổ chức có liên quan ở trong nước và chỉ đạo các cơ sở du lịch địa phương để đảm bảo phục vụ khách du lịch nước ngoài về mọi mặt như: ăn ngủ, vận chuyển, giải trí, tham quan và làm các thủ tục giấy tờ, đổi tiền; tổ chức việc bán vé máy bay, xe lửa, tàu biển cho các khách kể cả khách ngoại quốc và khách Việt Nam đi ra nước ngoài
2 Bộ máy quản lý của Tổng cục du lịch
Xuất phát từ mục tiêu, phương hướng phát triển của mỗi quốc gia, từ chức năng nhiệm vụ của ngành du lịch mà mỗi quốc gia thiết lập một hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước tương ứng nhằm đảm bảo hiệu lực quản lý và sự linh hoạt
Hình 1 : Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức ngành du lịch Việt Nam ( Nguồn : Tổng cục du lịch Việt Nam )
Trang 15Ở nước ta, bộ máy quản lý hành chính Nhà nước về du lịch cấp Trung ương hiện nay ở nước ta là Tổng cục du lịch, dưới Tổng cục du lịch là các Sở du lịch và Sở thương mại du lịch Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận trong sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức :
Vụ lữ hành : tham mưu và tổ chức thực thi pháp luật về các hoạt động lữ hành ,
hướng dẫn du lịch , vận chuyển khách du lịch , quan rlý khai thác tài nguyên du lịch , loại hình du lịch ; Quản lý các khu , tuyến , điểm , đô thị du lịch trên phạm vi cả nước và các dịch vụ công về du lịch theo phân công , phân cấp và quy định của pháp luật
Vụ Khách sạn : tham mưu và tổ chức thực thi pháp luật về lưu trú du lịch và các
dịch vụ liên quan trong lĩnh vực lưu trú trên phạm vi cả nước theo phân công , phân cấp và quy định của pháp luật
Vụ Thị trường du lịch : tham mưu và tổ chức thực thi pháp luật về nghiên cứu , định
hướng phát triển thị trường , sản phẩm du lịch , quảng bá , xúc tiến du lịch theo phân công , phân cấp và quy định của pháp luật
Vụ Kế hoạch và Tài chính : tham mưu và tổ chức thực thi pháp luật trong công tác
tài chính , quy hoạch , kế hoạch , đầu tư , thống kê , khoa học , công nghệ , tài nguyên , môi trường trong ngành du lịch theo phân công , phân cấp và quy định của pháp luật
Vụ Hợp tác quốc tế : tham mưu và tổ chức thực thi pháp luật về hợp tác quốc tế ,
hội nhập quốc tế trong lĩnh vực du lịch theo phân công , phân cấp và quy định của pháp luật
Vụ Tổ chức cán bộ : tham mưu và tổ chức thực thi pháp luật về tổ chức bộ máy ,
biên chế , cán bộ , đảo tạo bồi dưỡng và các chế độ chính sách đối với công chức , viên chức và người lao động trong lĩnh vực du lịch theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch và quy định của pháp luật
Văn phòng : tham mưu , giúp Tổng cục trưởng tổng hợp về chương trình , kế hoạch
công tác ; Đảm bảo các điều kiện phục vụ các hoạt động của cơ quan Tổng cục ; Kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật ; Giúp Tổng cục trưởng tổng hợp , theo dõi , đôn đốc các tổ chức , đơn vị thuộc Tổng cục thực hiện chương trình , kế hoạch công tác của Tổng cục đã được phê duyệt Văn phòng có con dấu riêng , có tài khoản tại Kho bạc Nhà nước
công nghệ thông tin , truyền thông trong ngành du lịch và phối hợp tổ chức các hoạt động tuyên truyền , quảng bá du lịch
Viện Nghiên cứu phát triển du lịch : nghiên cứu xây dựng chiến lược , quy hoạch ,
chính sách du lịch phục vụ công tác quản lý nhà nước về du lịch ; Cung cấp dịch vụ nghiên cứu và ứng dụng khoa học , công nghệ du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành ,
Tạp chí Du lịch : thực hiện chức năng thông tin , nghiên cứu , trao đổi , tuyên truyền
các vấn đề về chính sách , pháp luật và nghiệp vụ trong lĩnh vực du lịch : thông tin các hoạt động của Tổn cục du lịch và các ngành có liên quan đến công tác phát triển du lịch thoe quy định của pháp luật
Báo Du Lịch : là cơ quan ngôn luận của Tổng cục du lịch , thực hiện chức năng
thông tin , tuyên truyền chính sách , pháp luật về du lịch và hoạt động của ngành du lịch : Thông tin các vấn đề chính trị , kinh tế , văn hoá – xã hội trong nước và quốc tế theo quy