Trường Đại học Sư phạm TP.HCM Khoa Tâm lí Tiểu luận học phần Đề tài: Sử dụng kiến thức về đặc điểm tâm lý cá nhân của người học và cơ sở tâm lý của hoạt động giáo dục đạo đức và giáo d
Trang 1Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
Khoa Tâm lí
Tiểu luận học phần
Đề tài:
Sử dụng kiến thức về đặc điểm tâm lý cá nhân của người học và cơ sở tâm lý của hoạt động giáo dục đạo đức và giáo dục giá trị để bàn luận về việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông hiện nay
Từ đó, anh/chị hãy rút ra bài học cho bản thân dưới vai trò là một sinh viên sư phạm
Giảng viên hướng dẫn: ThS Lê Minh Huân
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đắc Thu Anh - 4501102002
TÂM LÍ HỌC GIÁO DỤC
Trang 2Mục lục
Mở đầu
1 Đặc điểm tâm lí cá nhân của học sinh trường trung học phổ thông 1
1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí học sinh trường trung học phổ thông 1
1.1.1 Sự phát triển về mặt sinh lí 1
1.1.2 Điều kiện sống và hoạt động 2
1.1.3 Sự chín muồi về tâm lý 2
1.2 Đặc điểm nhân cách của lứa tuổi đầu thanh niên 2
1.2.1 Sự hình thành thế giới quan khoa học 2
1.2.2 Sự phát triển tự ý thức 3
1.2.3 Sự phát triển nhu cầu 3
1.2.4 Sự hình thành lí tưởng sống 3
2 Cơ sở tâm lý của hoạt động giáo dục đạo đức và giáo dục giá trị 4
2.1 Đạo đức và giáo dục đạo đức 4
2.1.1 Hành vi đạo đức Mối liên hệ giữa nhu cầu đạo đức, động cơ đạo đức và hành vi đạo đức 4
2.1.1 Cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức 5
2.1.2 Giáo dục đạo đức cho học sinh 6
2.2 Giá trị và giáo dục giá trị 6
2.2.1 Hình thành và định hướng giá trị trong trường học 6
2.2.2 Giáo dục giá trị trong trường học 7
3 Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông hiện nay 7
3.1 Thực trạng giáo dục đạo đức hiện nay trong nhà trường 7
3.1.1 Những mặt tiêu cực 7
3.1.2 Những mặt tích cực 9
3.2 Giải pháp .10
4 Kết luận .11
Trang 3Tài liệu tham khảo
Trang 4Mở đầu
Xã hội ngày càng phát triển kéo theo đó đó là nhu cầu về nguồn nhân lực trong
xã hội Để đáp ứng được điều đó, người công dân trong thế kỉ 21 cần trang bị cho mình không chỉ những kiến thức, kĩ năng cần thiết mà còn phải có đạo đức, thái độ phù hợp với mọi người xung quanh Bác Hồ đã từng dạy: “Đạo đức là cái gốc rất quan trọng”,
“Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định” (Minh, 1983)
Là một giáo viên tương lai, điều mà em quan tâm và muốn truyền đạt đến học sinh nhất không phải là những kiến thức khô khan, mà là những giá trị đạo đức có thể giúp học sinh trở thành những người có ích cho xã hội Ở lứa tuổi đầu thanh niên, tâm sinh lí của các học sinh đang học ở trường trung học phổ thông đã bắt đầu ổn định, hài hoà, dẫn đến sự hình thành thế giới quan khoa học Đây là lứa tuổi cần sự giáo dục, định hướng đúng đắn từ gia đình và nhà trường
Vì vậy em đặc biệt quan tâm và chọn chủ đề: “Sử dụng kiến thức về đặc điểm tâm lý cá nhân của người học và cơ sở tâm lý của hoạt động giáo dục đạo đức và giáo dục giá trị để bàn luận về việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông hiện nay Từ đó, anh/chị hãy rút ra bài học cho bản thân dưới vai trò là một sinh viên sư phạm.”
1 Đặc điểm tâm lí cá nhân của học sinh trường trung học phổ thông
1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí học sinh trường trung học phổ thông
1.1.1 Sự phát triển về mặt sinh lí
Sự phát triển về mặt sinh lí ở lứa tuổi đầu thanh niên tương đối êm ả, đi dần đến
sự hoàn thiện ở các bộ phận và chức năng trong cơ thể So với lứa tuổi thiếu niên, đây
là độ tuổi các em có cơ thể cân đối, hài hoà, khoẻ và đẹp
Với sự phát triển tương đối hoàn thiện của các chức năng sinh lí, học sinh ở lứa tuổi đầu thanh niên có khả năng làm chủ cảm xúc và tâm trạng tốt hơn, có khả năng tư duy trừu tượng, tư duy logic tốt hơn Điều này dẫn đến khi nhìn thấy một tình huống trong cuộc sống, các em có khả năng đánh giá, tư duy một cách trọn vẹn hơn
Trang 52
1.1.2 Điều kiện sống và hoạt động
Trong gia đình:
- Vị trí các em ở gia đình được nâng cao
- Đặc biệt quan tâm đến lối sống và đạo đức của cha mẹ Điều này ảnh hưởng rất mạnh đến sự phát triển nhân cách của các em giai đoạn này
Trong nhà trường:
- Thái độ học tập ở các em phát triển cao hơn và có chọn lọc hơn
- Động cơ học tập có tính thực tiễn và gắn liền với xu hướng nghề nghiệp
- Tính phân hoá trong hoạt động học tập được thể hiện một cách rõ nét gắn liền với xu hướng chọn nghề
Trong xã hội:
- Đa số các em có tinh thần và tính tích cực hoạt động xã hội
- Xã hội nhìn nhận các em như những công dân sắp trưởng thành, tạo ra cho các
em một động lực để nỗ lực phấn đấu, rèn luyện bản thân trên các phương diện để trưởng thành
1.1.3 Sự chín muồi về tâm lý
Trong giai đoạn chuyển tiếp từ cuối tuổi thiếu niên sang tuổi đầu thanh niên, các
em đã đạt được những thành tựu nổi bật về sự phát triển tâm lý như: Tư duy trừu tượng
và tính chủ định trong tất cả các quá trình nhận thức phát triển mạnh Xúc cảm - tình cảm trong sáng, đa dạng Tự ý thức và đặc biệt khả năng tự đánh giá phát triển mạnh
mẽ, các em bắt đầu biết suy xét khi hành động Cùng với cảm giác mình đã lớn, các em
có nhu cầu được tôn trọng và đối xử bình đẳng Ý thức về tính người lớn của bản thân phát triển mạnh, ý thức sẵn sàng dấn thân để chứng tỏ bản thân và được công nhận là người lớn đang hừng hực trong các em Đó chính là những điều kiện tâm lý thúc đẩy
sự hình thành và phát triển tâm lý ở tuổi đầu thanh niên
1.2 Đặc điểm nhân cách của lứa tuổi đầu thanh niên
1.2.1 Sự hình thành thế giới quan khoa học
Sự hình thành thế giới quan mang tính khoa học và hệ thống là một nét cấu tạo tâm lý mới đặc trưng của tuổi đầu thanh niên Nó thường thể hiện trong mọi mặt của đời sống, chẳng hạn như trong những cuộc tranh luận của các em khi trao đổi các vấn đề về
Trang 6đúng-sai, thiện-ác, đẹp-xấu; lựa chọn những nguyên tắc, cách thức hành xử; đánh giá vai trò của cá nhân và các mối quan hệ; tìm hiểu ý nghĩa của cuộc sống
1.2.2 Sự phát triển tự ý thức
Ở các em bắt đầu hình thành năng lực tự ý thức Các em không chỉ phân tích và đánh giá bản thân trong hiện tại mà còn trong cả tương lai Các em có khả năng tổng hợp và khái quát vấn đề nên có thể hiểu được bản thân mình ở nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống (trong học tập và sinh hoạt ở trường, trong các hoạt động gia đình
và ngoài xã hội), từ đó giúp cho việc phân tích và đánh giá bản thân trở nên đầy đủ hơn, toàn diện và sâu sắc hơn
1.2.3 Sự phát triển nhu cầu
Nhu cầu được tôn trọng, được độc lập và được bình đẳng trong giao tiếp với mọi người là nhu cầu quan trọng và phổ biến
Nhu cầu được thể hiện bản thân cũng là một nhu cầu nổi bật Nhìn chung, có hai hướng thể hiện bản thân ở lứa tuổi này: tích cực và tiêu cực Hướng thể hiện tích cực thường là: cố gắng học giỏi một môn học, cố gắng vượt qua khó khăn để thực hiện một hành động cao đẹp, thể hiện một nghĩa cử hợp đạo đức,… Hướng thể hiện tiêu cực thường là: tạo ra một cái gì đó khác người và gây sốc nhưng lệch chuẩn (Tứ, Tiên, Hà,
& Chương, 2016)
1.2.4 Sự hình thành lí tưởng sống
Lý tưởng sống là mục tiêu cao đẹp và hoàn chỉnh mà mỗi cá nhân mong muốn đạt được Nó là kết quả của quá trình nhận thức sâu sắc, là động cơ mạnh nhất thúc đẩy
cá nhân hành động tích cực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Đến tuổi trưởng thành
mẫu hình này bắt đầu có tính khái quát cao về các phẩm chất tâm lý, nhân cách điển hình của nhiều cá nhân trong các lĩnh vực hoạt động, nghề nghiệp được các em
quý trọng và ngưỡng mộ noi theo Tuy nhiên trong thực tế có khá nhiều thanh niên học sinh chưa xác định lý tưởng sống của bản thân và đang cần sự định hướng của người lớn Vì vậy cha mẹ và thầy cô cần có những định hướng đúng đắn cho các em
v Kết luận
Ở lứa tuổi đầu thanh niên, cơ thể của học sinh đã dần hoàn thiện và ổn định, điều kiện sống và hoạt động với vị thế một công dân sắp trưởng thành khiến các em phải suy
Trang 74 nghĩ đến việc chọn nghề, đi cùng với đó là ý thức về trách nhiệm của bản thân, mong muốn cống hiến để chứng tỏ mình là người lớn Gia đình và nhà trường cần tạo ra những hoạt động định hướng để giúp học sinh nhận thức rõ vai trò của học sinh đối với gia đình và xã hội, kích thích nhu cầu thể hiện bản thân theo hướng tích cực của học sinh Điều này sẽ tạo cho học sinh cảm giác mình được cống hiến, giúp đỡ xã hội Từ đó các
em sẽ chủ động làm những việc phù hợp với đạo đức, chuẩn mực xã hội
Bằng việc xác định được lí tưởng sống, xác định được nghề nghiệp mà các em muốn theo đuổi, cùng với sự phát triển của năng lực tự ý thức, sự hình thành thế giới quan khoa học, các em sẽ lập ra được kế hoạch, mục tiêu và xác định những giá trị đạo đức các em cần hướng tới Vì thế, gia đình và nhà trường, đặc biệt là giáo viên cần quan tâm, tổ chức hoạt động định hướng những giá trị đúng đắn, định hướng nghề nghiệp phù hợp với học sinh
2 Cơ sở tâm lý của hoạt động giáo dục đạo đức và giáo dục giá trị
2.1 Đạo đức và giáo dục đạo đức
2.1.1 Hành vi đạo đức Mối liên hệ giữa nhu cầu đạo đức, động cơ đạo đức và hành vi đạo đức
Dưới góc độ Tâm lý học, đạo đức là sự phản ánh vào ý thức cá nhân một hệ
thống các chuẩn mực, đủ sức chi phối và điều khiển hành vi cá nhân trong mối quan hệ giữa lợi ích của bản thân với lợi ích của người khác và xã hội
Đối với một đứa trẻ các chuẩn mực đạo đức tồn tại khách quan Khi các chuẩn mực đạo đức được các em lĩnh hội thì tự các em sẽ có những cảm xúc và từ đó có hành
vi tương ứng
Hành vi đạo đức là hành động tự giác được thúc đẩy bởi động cơ có ý nghĩa về
mặt đạo đức Các tiêu chí để đánh giá một hành vi đạo đức là tính tự giác, tính không
vụ lợi và tính có ích
- Tính tự giác: Hành vi được thực hiện do tự nguyện
- Tính không vụ lợi: Hành vi đạo đức luôn đem lại lợi ích cho người khác, nhưng không đem lại lợi ích cho một nhóm người hay chỉ mang tính nhất thời, tình huống
- Tính có ích: Luôn đặt lợi ích của người khác lên trên
Trang 8Quan hệ giữa nhu cầu đạo đức, động cơ đạo đức và hành vi đạo đức Ba yếu tố:
nhu cầu, động cơ và hành vi đạo đức có mối quan hệ quy định lẫn nhau Hành vi đạo đức có thể tác động ngược trở lại ảnh hưởng đến nhu cầu đạo đức Động cơ đạo đức có
ý nghĩa tiêu cực hay tích cực khiến hành vi có thể trở thành phi đạo đức hay đạo đức
2.1.1 Cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức
a Tri thức và niềm tin đạo đức
Tri thức đạo đức là sự hiểu biết của con người về những chuẩn mực đạo đức
quy định hành vi của họ trong mối quan hệ với người khác và với xã hội Tri thức đạo
đức có được dựa trên cơ sở của quá trình tư duy sâu sắc và độc lập của cá nhân khi họ
tiếp xúc với các chuẩn mực đạo đức
Một trong những yếu tố quan trọng đóng vai trò quyết định đối với hành vi đạo
đức là niềm tin đạo đức Niềm tin đạo đức là sự tin tưởng một cách sâu sắc và vững
chắc của con người vào tính chính nghĩa, chân lý của các chuẩn mực đạo đức và sự thừa nhận tính tất yếu phải tôn trọng triệt để các chuẩn mực ấy
Niềm tin đạo đức được hình thành khi chủ thể có những trải nghiệm về tri thức đạo đức đó Nếu thực tế cuộc sống không giống với tri thức đạo đức đã được tiếp thu có thể gây ra ở học sinh sự hoang mang, băn khoăn, mất định hướng
b Tình cảm đạo đức
Tình cảm đạo đức là thái độ rung cảm của cá nhân đối với hành vi đạo đức của
bản thân hay của người khác có liên quan tới nhu cầu và động cơ đạo đức của người đó
Tình cảm đạo đức là nguồn động lực thôi thúc con người thực thi các hành vi đạo đức,
nó gắn liền với động cơ đạo đức Tình cảm đạo đức không phải tự nhiên đã có mà nó
được hình thành thông qua các xúc cảm nảy sinh trong mỗi hành vi đạo đức
c Ý chí đạo đức
Ý chí đạo đức là sức mạnh tinh thần giúp con người vượt qua mọi khó khăn để
thực hiện đến cùng hành vi đạo đức nhằm tạo ra các giá trị đạo đức
Ý chí đạo đức được xác lập khi có đủ thiện chí đạo đức và nghị lực đạo đức Người có thiện chí đạo đức mà không có nghị lực đạo đức thì hành vi đạo đức không được hiện thực hóa Người có nghị lực đạo đức mà không có thiện chí đạo đức thì hành
vi đạo đức được thực hiện không được coi là hành vi đạo đức tốt vì động cơ thúc đẩy không mang ý nghĩa đạo đức
Trang 96
d Thói quen đạo đức
Thói quen đạo đức là những hành vi đạo đức ổn định của con người, nó trở
thành nhu cầu đạo đức của người đó Nếu thực hiện đúng hành vi đạo đức, nhu cầu được thỏa mãn thì con người cảm thấy dễ chịu, còn ngược lại thì người ấy thấy ray rứt, khó chịu
Hành vi đạo đức khi được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ hình thành thói quen đạo đức Thói quen đạo đức làm sản sinh nhu cầu đạo đức, vì vậy trong giáo dục đạo đức giáo viên phải chú ý hình thành các thói quen đạo đức cho học sinh
2.1.2 Giáo dục đạo đức cho học sinh
Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh mà các nhà giáo dục phải thực hiện chính là hình thành những phẩm chất đạo đức ở học sinh, tạo ra đồng bộ các yếu tố tâm
lý làm nảy sinh và củng cố các hành vi có đạo đức, hạn chế các hình vi phi đạo đức Con đường giáo dục đạo đức cho học sinh là tác động hình thành đồng bộ các thành tố trong cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức thông qua việc cung cấp tri thức đạo đức, biến tri thức đạo đức thành niềm tin đạo đức, hình thành các loại tình cảm đạo đức và rèn luyện
ý chí, thói quen đạo đức
2.2 Giá trị và giáo dục giá trị
2.2.1 Hình thành và định hướng giá trị trong trường học
Theo quan điểm của tâm lý học thì giá trị là những cái có ý nghĩa phản ánh trong
niềm tin, thái độ, mục đích, cảm xúc đã được đánh giá, lựa chọn phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể, trong những điều kiện lịch sử, xã hội, phụ thuộc vào trình độ phát triển nhân cách
Có thể phân loại giá trị ra thành giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị chung, giá trị riêng, Giá trị vật chất là cái có ý nghĩa thỏa mãn những nhu cầu vật chất của con người Giá trị tinh thần có ý nghĩa thỏa mãn những nhu cầu tinh thần của con người Các giá trị tinh thần thường được đề cập tới là giá trị nhận thức, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị tôn giáo, giá trị nhân văn
Định hướng giá trị là thái độ mang tính khuynh hướng lựa chọn những giá trị
nhất định, thể hiện trạng thái sẵn sàng của chủ thể đối với một hay một số giá trị một
cách có ý thức
Trang 10Các giá trị khi được lựa chọn trở thành động cơ cho hoạt động của chủ thể hay nhóm người, trở thành mục tiêu và làm tăng tính tích cực của họ Do đó, việc giúp học sinh có định hướng giá trị đúng đắn và phù hợp là rất quan trọng, trở thành nền tảng cho việc hình thành nhân cách ở các em
2.2.2 Giáo dục giá trị trong trường học
Giáo dục đạo đức gắn liền với giáo dục giá trị Để hình thành giá trị và định hướng giá trị, giáo viên cần trước hết cung cấp tri thức về giá trị ấy và giúp cho người học nhận thức đầy đủ về nó, đôi khi còn cần nhận thức cả những giá trị đối nghịch, có thái độ với nó và có được dự định hành vi tương ứng Để làm được điều này thì cần tạo điều kiện cho người học trải nghiệm và chia sẻ, khám phá đúng với đặc điểm cá nhân
v Kết luận
Con đường giáo dục đạo đức cho học sinh là tác động hình thành đồng bộ các thành tố trong cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức thông qua việc cung cấp tri
thức đạo đức, biến tri thức đạo đức thành niềm tin đạo đức, hình thành các loại tình cảm đạo đức và rèn luyện ý chí, thói quen đạo đức
Các giá trị khi được lựa chọn trở thành động cơ cho hoạt động của chủ thể
hay nhóm người, trở thành mục tiêu và làm tăng tính tích cực của họ Vì thế các nhà giáo dục cần quan tâm định hướng giá trị để tạo một niềm tin vững chãi trong lòng học sinh, tránh sự sai lệch trong suy nghĩ Để hình thành giá trị và định hướng giá trị, giáo viên cần trước hết cung cấp tri thức về giá trị ấy và giúp cho người học nhận thức đầy
đủ về nó, đôi khi còn cần nhận thức cả những giá trị đối nghịch, có thái độ với nó và có được dự định hành vi tương ứng Để làm được điều này thì cần tạo điều kiện cho người học trải nghiệm và chia sẻ, khám phá đúng với đặc điểm cá nhân
3 Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông hiện nay
3.1 Thực trạng giáo dục đạo đức hiện nay trong nhà trường
3.1.1 Những mặt tiêu cực
a Thực trạng
Theo kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục, tình hình vi phạm các chuẩn mực đạo đức của học sinh là khá nghiêm trọng Có đến 8% học sinh tiểu học thực hiện hành vi quay cóp trong thi cử và tỉ lệ gia tăng ở các cấp học trên: học sinh thcs là 55% và học sinh thpt là 60% Hành vi nói dối cha mẹ cũng gia tăng theo cấp