1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa tính minh bạch trong công bố thông tin trên báo cáo tài chính và quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam (tt) pdf

26 255 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 428,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ DIỆU LINH MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH MINH BẠCH TRONG CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY SẢN XU

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ DIỆU LINH

MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH MINH BẠCH TRONG CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Mã số: 60.34.03.01

Đà Nẵng - 2017

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng

- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên các TTCK nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng, thông tin là một trong những yếu tố mang tính nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định đầu tư và kinh doanh Các công ty, đặc biệt là CTNY, minh bạch thông tin là nền tảng quan trọng làm tăng giá trị của của mình, đồng thời góp phần phát triển bền vững TTCK Trong thực tế, tồn tại một khoảng cách không nhỏ giữa nội dung thông tin phải công bố theo quy định và nội dung thông tin mà các CTNY thực tế công bố Điều này dẫn đến những hậu quả không mong muốn cho mục tiêu minh bạch hóa thông tin BCTC trên TTCK Việt Nam Bên cạnh đó, khi đưa ra quyết định đầu tư vào một công

ty nào đó, nhà đầu tư thường xem xét đến hiệu quả kinh doanh và khả năng tăng trưởng của công ty đó trong tương lai Để thu hút các nhà đầu tư, các công ty có thể vận dụng khéo léo tính linh hoạt của chuẩn mực và chế độ kế toán để quản trị lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của mình Do đó, trong trường hợp không có sự minh bạch thông tin tài chính, các nhà quản lý có cơ hội cất giấu thông tin tiêu cực trong công ty, ảnh hưởng đến các quyết định của nhà đầu tư Như vậy, nghiên cứu về tính minh bạch trong CBTT trên BCTC ảnh hưởng như thế nào đến quản trị lợi nhuận của các CTNY nói riêng và TTCK nói chung Để làm rõ điều này, tác giả đã chọn đề

tài “Mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC

và quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định và phân tích mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận của các công ty sản

Trang 4

xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam;

- Căn cứ vào kết quả nghiên cứu để đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và hạn chế mức độ quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Chỉ tiêu nào để đo lường mức độ minh bạch và quản trị lợi nhuận?

- Đối với các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam, tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận của có mối quan hệ như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu

Các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích định tính kết hợp với phân tích định lượng;

- Phương pháp phân tích thống kê;

- Các phương pháp khác

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên sàn chứng khoán Việt Nam nhằm giảm thiểu mức độ quản trị lợi nhuận, giúp các đối tượng kiểm tra chất lượng nguồn thông tin từ đó đưa ra

Trang 5

quyết định đúng đắn Đồng thời giúp cho TTCK Việt Nam ngày càng minh bạch thông tin và phát triển

7 Bố cục đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị

Trang 6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH MINH BẠCH TRONG CBTT TRÊN BCTC VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN

TTCK VIỆT NAM 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍNH MINH BẠCH TRONG CBTT TRÊN BCTC

1.1.1 Khái niệm

Từ các khái niệm được đưa ra bởi các nghiên cứu trong và

ngoài nước, theo quan điểm của tác giả: “Minh bạch trong CBTT

trên BCTC là việc cung cấp các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, vị thế, triển vọng phát triển của đơn vị một cách tin cậy, kịp thời, chính xác, đầy đủ và nhất quán theo cách thức mà công chúng

có thể tiếp cận một cách thuận tiện”

1.1.2 Tầm quan trọng của minh bạch trong CBTT trên BCTC

a Đối với nhà đầu tư

Dưới góc độ nhà đầu tư, minh bạch trong CBTT trên BCTC mang đến niềm tin và sự bảo vệ, đồng thời giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định hợp lý và hiệu quả

b Đối với quản lý nhà nước

Các cơ quan quản lý nhà nước sẽ có được cái nhìn tổng quát

và sát thực hơn về TTCK nếu các thông tin được cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời hơn Từ đó, các cơ quan này sẽ có những biện pháp thích hợp để hạn chế và ngăn chặn các hành vi vi phạm trên TTCK, thực hiện các chức năng quản lý vĩ mô hiệu quả hơn, đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư và các bên tham gia trên thị trường

Trang 7

c Đối với TTCK

- Minh bạch trong CBTT trên BCTC sẽ là một tiêu chí quan trọng để TTCK của một quốc gia có thể thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, quyết định khả năng cạnh tranh với các TTCK tại các nước khác;

- Góp phần phát triển tính hiệu quả của TTCK, xóa bỏ một vài nhược điểm của cấu trúc thị trường không tập trung hoặc cấu trúc thị trường phân khúc

1.1.3 Các phương pháp đo lường mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC

Dựa trên quan điểm và các cơ sở khoa học khác nhau, minh bạch trong CBTT trên BCTC được đo lường theo nhiều cách thức khác nhau:

a Đo lường mức độ CBTT theo Standard & Poor (2002) [61]

b Đo lường minh bạch trong CBTT trên BCTC theo nguyên tắc Quản trị công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (2004) [5]

c Đo lường mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC theo Desoky và Mousa (2012) [20]

d Chỉ số ITDRS (Information Disclosure and Transparency Ranking System) [65]

e Chỉ số GTI (Governance and Transparency Index) của Singapore [25]

f Chỉ số CIFAR (Center for International Financial Analysis and Research)[29]

Như đã trình bày ở trên, có nhiều cách thức khác nhau để đo lường mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC Tuy nhiên, trong

Trang 8

phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn phương pháp đo lường dựa trên các Nguyên tắc Quản trị công ty của OECD

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 1.2.1 Khái niệm

Theo nhận định của tác giả, quản trị lợi nhuận là hành vi tiêu

cực theo hướng chủ quan của nhà quản lý, được xem là hành vi cơ hội, xuất phát từ sự xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý

1.2.2 Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận

Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận chính là kế toán theo cơ

sở dồn tích

1.2.3 Động cơ quản trị lợi nhuận

Có 6 động cơ để thực hiện quản trị lợi nhuận:

a Hợp đồng thù lao

Nhà quản trị nói riêng và ban điều hành công ty nói chung sẽ

có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận kế toán trong kỳ để tăng mức lương (thưởng) khi các CTNY có chế độ trả lương (thưởng) cho ban điều hành bằng tỷ lệ (%) trên lợi nhuận kế toán

b San bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn

c Tránh vi phạm hợp đồng đi vay

Nếu DN làm ăn không có lãi thì các chủ nợ cho rằng khả năng thanh toán nợ cho họ khó khăn hơn Nếu vi phạm hợp đồng, DN có thể bị tăng lãi suất đối với các khoản nợ hoặc phải thanh toán các khoản nợ ngay lập tức Từ đó, rủi ro rất lớn đối với các chủ nợ trong việc thu hồi vốn cho vay

d Để phát hành cổ phiếu ra công chúng

Để giảm thiểu rủi ro phát hành cổ phiếu ra công chúng không thành công, bên cạnh việc áp dụng các chiến lược marketing tới các

Trang 9

nhà đầu tư tiềm năng thì rất có thể các DN sẽ điều chỉnh tăng lợi nhuận tối đa có thể (trong khuôn khổ cho phép) làm cho kết quả của

DN “đẹp” hơn

e Đáp ứng sự kỳ vọng của giới phân tích thị trường

f Thay đổi nhà quản trị

1.2.4 Các hành vi quản trị lợi nhuận

a Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn ước tính kế toán

- Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp

- Lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận doanh thu, giá vốn;

- Lựa chọn chính sách kế toán đánh giá hàng tồn kho;

- Lựa chọn phương pháp tính khấu hao;

- Lựa chọn chính sách kế toán về đánh giá tổn thất tài sản

c Quản trị lợi nhuận thông qua quyết định quản lý về thực hiện nghiệp vụ kinh tế

- Chính sách quyết định về việc thực hiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm;

- Chính sách về thực hiện nghiệp vụ thanh lý tài sản dài hạn;

- Quyết định về việc thực hiện các khoản chi phí;

- Quyết định về đầu tư dài hạn

1.2.5 Các mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận của nhà quản trị

a Nhận diện quản trị lợi nhuận

Theo cơ sở dồn tích, việc ghi nhận doanh thu và chi phí không

Trang 10

dựa vào dòng tiền tương ứng thu vào hay chi ra mà chỉ căn cứ vào

thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh Do đó số liệu trên BCTC, đặc

biệt là BCKQHĐKD thể hiện ý chí chủ quan của NQL và kế toán

Trong khi đó, BCLCTT được lập trên cơ sở tiền, nghĩa là báo cáo

này căn cứ vào dòng tiền thực thu vào hay thực chi ra để trình bày

Chính vì vậy giữa dòng tiền trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ và lợi

nhuận trên BCKQHĐKD sẽ có một sự chênh lệch Các nhà nghiên

cứu gọi đó là biến kế toán dồn tích (Total Accruals-TA) và được tính

bằng công thức:

Biến kế toán dồn tích (TA) = Lợi nhuận sau thuế - Lưu

chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh

Nhưng trong biến kế toán dồn tích gồm hai phần: Biến kế toán

dồn tích có thể điều chỉnh được (Discretionary Accurals - DA) và

biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được (Non Discretionary

Accurals - NDA)

Biến kế toán dồn tích (TA) = Biến kế toán dồn tích có thể

điều chỉnh được (DA) + Biến kế toán dồn tích không thể điều

chỉnh được (NDA)

Sau đây là một số những nghiên cứu tính NDA

b Các mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận

 Mô hình tổng accruals trung bình Healy (1985) [40]

 Mô hình DeAngelo (1986) [32]

 Mô hình Jones (1991) [44]

 Mô hình Friedlan (1994) [43]

 Mô hình Modified Jones (1995)

Dechow, Sloan and Sweeney (1995) đã cải tiến mô hình của

Jones (1991) bằng cách điều chỉnh sự thay đổi của doanh thu bằng sự

thay đổi của tài khoản nợ phải thu [33] Mô hình Jones được cải tiến

Trang 11

như sau:

Trong đó ∆RECt là sự thay đổi trong tài khoản nợ phải thu Tác giả chọn mô hình Modified Jones để tiến hành đo lường mức độ quản trị lợi nhuận

1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NỀN TẢNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH MINH BẠCH TRONG CBTT TRÊN BCTC VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN

1.3.1 Các lý thuyết nền tảng

a Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

b Lý thuyết về thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information theory)

c Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)

d Lý thuyết chi phí chính trị (Political costs theory)

1.3.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTT và quản trị lợi nhuận

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trang 12

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 TỔNG QUAN VỀ TTCK VIỆT NAM VÀ NGÀNH SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG

2.1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 2.1.2 Tổng quan về ngành sản xuất hàng tiêu dùng

Lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng bao gồm nhiều ngành công nghiệp như thực phẩm, đồ uống, đồ gia dụng và các sản phẩm cá nhân khác

a Những lợi thế kinh tế của ngành

Bất chấp rủi ro, một trong những điểm đặc trưng của lĩnh vực đầy cạnh tranh này là việc các công ty thường có lợi thế kinh tế giúp duy trì sức mạnh

 Lợi thế kinh tế về quy mô

H3: Theo nơi niêm yết cổ phiếu thì có sự khác biệt trong quan hệ giữa mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC và mức

Trang 13

độ quản trị lợi nhuận

2.3 ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU

2.3.1 Mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC

a Tiêu chí đo lường mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC

Dựa trên nguyên tắc quản trị của OECD được giới thiệu ở phần 1.1.3, cũng như các đặc điểm trong khái niệm về minh bạch ở phần 1.1.1, cùng với cách đo lường mức độ minh bạch của Lê Thị

Mỹ Hạnh (2015) [6], để đo lường mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC, luận văn sử dụng 5 thành phần trong nguyên tắc của OECD về “CBTT và Tính minh bạch trong Quản trị công ty” làm cơ

sở xây dựng tiêu chí đo lường

 Thành phần A: “CBTT phải bao gồm, nhưng không hạn

chế, các thông tin quan trọng liên quan đến tình hình tài chính, hoạt động, sở hữu”

Các yêu cầu trong thành phần này phản ánh mục tiêu sự đầy

đủ trong khái niệm về minh bạch trong CBTT trên BCTC

 Thành phần B: “Thông tin phải được chuẩn bị và công bố

phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng cao về CBTT kế toán, tài chính”

Theo thành phần này, các tiêu chí được đặt ra phải phản ảnh

mục tiêu sự nhất quán và tin cậy trong khái niệm về minh bạch

 Thành phần C: “Kiểm toán hàng năm phải được tiến hành

bởi một đơn vị kiểm toán độc lập, đủ năng lực và có chất lượng cao”

Thành phần này phản ảnh mục tiêu sự tin cậy và chính xác

trong khái niệm về minh bạch TTTC của các CTNY Do đó, tiêu chí

đo lường mức độ minh bạch tiếp theo sẽ dựa trên đặc điểm sự tin cậy

và chính xác

Trang 14

 Thành phần D: “Đơn vị kiểm toán độc lập phải chịu trách

nhiệm đối với cổ đông và có trách nhiệm thực hiện công tác kiểm toán một cách chuyên nghiệp đối với công ty”

Mục tiêu sự tin cậy trong khái niệm về minh bạch trong

CBTT trên BCTC được phản ánh trong thành phần này

 Thành phần E: “Các kênh phổ biến thông tin phải tạo điều

kiện tiếp cận thông tin bình đẳng, kịp thời và hiệu quả chi phí cho người sử dụng”

Thành phần này phản ảnh mục tiêu sự thuận tiện và kịp thời

trong khái niệm về minh bạch trong CBTT trên BCTC

b Đo lường mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC

Dựa vào các tiêu chí đo lường đã nêu, tình hình công bố TTTC của các CTNY qua BCTC mà các CTNY công bố để tính điểm mức

độ minh bạch trong CBTT trên BCTC của các CTNY dựa trên các đặc điểm gồm: sự tin cậy, kịp thời, chính xác, đầy đủ, nhất quán và thuận tiện Trên cơ sở các đặc điểm này, luận văn đưa ra thước đo đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY: mỗi đặc điểm được tính với 5 mức điểm/mỗi CTNY, trong đó: điểm thấp nhất trong mỗi đặc điểm là 1, tiếp theo là 2 điểm, 3 điểm, 4 điểm và cao nhất là 5 điểm

 Về sự tin cậy

Tác giả phân loại các công ty kiểm toán theo 5 nhóm:

- Nhóm 1: Các công ty kiểm toán thuộc Big 4 (KPMG, E&Y, Delloitte và PwC) (5 điểm);

- Nhóm 2: Gồm 5 công ty có ký hiệu: AASC, A&C, DTL, AISC, Grant Thornton (4 điểm);

Trang 15

- Nhóm 3: Gồm có 4 công ty có ký hiệu: AAC, GTV, AFC

VN, VAE (3 điểm);

- Nhóm 4: Gồm có 6 công ty có ký hiệu: ACPA, AVA, TDK

TL, VACO, CPA Việt Nam, BDO Việt Nam (2 điểm);

- Nhóm 5: Các công ty kiểm toán còn lại ngoài các công ty thuộc 4 nhóm trên (1 điểm)

 Về sự kịp thời

Luận văn chia các mốc thời gian như sau:

- Nhóm 1: Nộp BCTC sớm từ 30 ngày trở lên: Tính kịp thời cao nhất (5 điểm);

- Nhóm 2: Nộp BCTC sớm từ 5 đến dưới 30 ngày (4 điểm);

- Nhóm 3: Nộp BCTC đúng hạn (sớm từ 0 đến dưới 5 ngày) (3 điểm);

- Nhóm 4: Nộp BCTC trễ dưới 30 ngày (2 điểm);

- Nhóm 5: Nộp BCTC trễ trên 30 ngày (1 điểm)

 Về sự chính xác

Bảng Cách tính điểm độ chính xác của thông tin BCTC công bố

Mức Tiêu chuẩn đo lường Điểm Thuộc

Ngày đăng: 02/10/2017, 10:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng. Cách tính điểm độ chính xác của thông tin BCTC công bố Mức Tiêu chuẩn đo lƣờng Điểm Thuộc  - Mối quan hệ giữa tính minh bạch trong công bố thông tin trên báo cáo tài chính và quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam (tt) pdf
ng. Cách tính điểm độ chính xác của thông tin BCTC công bố Mức Tiêu chuẩn đo lƣờng Điểm Thuộc (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w