NGUYỄN PHÙNG QUÂNGIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TẠI CÁC CÔNG TY CÀ PHÊ VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Hà Nội, 2014.
Trang 1NGUYỄN PHÙNG QUÂN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
CÀ PHÊ TẠI CÁC CÔNG TY CÀ PHÊ VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
Trang 2NGUYỄN PHÙNG QUÂN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
CÀ PHÊ TẠI CÁC CÔNG TY CÀ PHÊ VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60620115
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN HÀ
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi Tất cả các nội dung và số liệu trong đề tài này là do tôi tự tìm hiểu, nghiên cứu
và xây dựng, số liệu thu thập là đúng và trung thực Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc Kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình trước nhà trường và những quy định của pháp luật
Ngày … tháng năm 2014
Tác giả
Nguyễn Phùng Quân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy,
cô giảng viên đã giảng dạy tôi trong hai năm học vừa qua tại lớp Cao học khóa K20A, Trường Đại học Lâm Nghiệp
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo - TS Nguyễn Văn Hà, Chủ tịch hội đồng thành viên Tổng công ty cà phê Việt Nam (Vinacafe) và các chuyên gia đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn Các công ty, doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất khẩu cà phê đã giúp tôi thu thập
số liệu và hoàn thành các bảng hỏi trong thời gian nghiên cứu làm luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học và hoàn thành luận văn Sự động viên của gia đình, bạn bè là nguồn lực giúp tôi hoàn thành luận văn này Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian và trình độ còn hạn chế, nên đề tài không thể tránh khỏi còn có những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quí báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu nào
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày tháng năm 2014
Tác giả
Nguyễn Phùng Quân MỤC LỤC
Trang 5Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iiiii
Danh mục các từ viết tắt ivv
Danh mục các bảng vivii
Danh mục các biểu đồ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 4
1.1 Cơ sơ lý luận về vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế 4
1.1.2 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam 5
1.1.3 Vị trí ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân 7
1.2 Thị trường cà phê 8
1.2.1 Thị trường xuất khẩu cà phê thế giới 8
1.2.2 Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam 10
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐI ̣A BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đặc điểm ngành cà phê Việt Nam 15
2.1.1.Một số nét về ngành cà phê Việt Nam 15
2.1.2.Việt Nam trước những giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu 3433
2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu, khảo sát 3433
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 3433
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 3534
2.2.4 Một số chỉ tiêu sử dụng trong phân tích 35
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3736
3.1 Thực trạng hiệu quả xuất khẩu cà phê của các công ty cà phê Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 3736
3.1.1 Thực trạng về tình hình xuất khẩu cà phê củ a các doanh nghiệp cà phê Việt Nam những năm gần đây 3736
3.1.2.Các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân trong nước 4746
3.1.3 Đánh giá tình hình kinh doanh 03 doanh nghiệp cà phê tiêu biểu 5352
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng của hiệu quả hoạt động xuất khẩu cà phê tại Việt Nam 6261
3.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động xuất khẩu cà phê 6261
3.2.2 Những tác động của hiệu quả hoạt động xuất khẩu cà phê tại Việt Nam 65
3.2.3.Những mặt còn hạn chế ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động xuất khẩu cà phê 7170
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng xuất khẩu cà phê Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 7776
3.3.1 Các giải pháp quản lý vi mô: 7776
3.3.2 Các giải pháp quản lý vĩ mô 8180
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 9392
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7Từ viết
ASEAN Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN APEC Asia-Pacific Economic
Hiệp định ưu đãi thuế quan
EU European Union Liên hiệp châu Âu
FDI Foreign Direct
Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATT General Agreement on
Tariffs and Trade
Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
Hệ số thu nhập trên vốn đầu tư
ROA Return on total assets Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản
Trang 8ROE Return on common
equyty
Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ
sở hữu
USDA United States Department
of Agriculture
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
VICOFA Vietnam Coffee – Cocoa
Association
Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam
WTO World Trade
Organization
Tổ chức Thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 9STT Tên bảng Trang
1.1 Một số chỉ tiêu ngành cà phê trong giai đoạn 2008 – 2011 11
2.1 Công suất thiết kế của một số nhà máy sản xuất cà phê sản
2.2 Doanh thu và tỷ suất lợi nhuận hoạt động của các công ty
chế biến cà phê rang xay và hòa tan năm 2012 22 2.3 Tình hình sản xuất cà phê nước ta năm 2009 – 2011 24 2.4 Tiêu thụ cà phê tại nước ta từ năm 2005 đến năm 2014 27
3.1 Diễn biến tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê từ năm
3.2 TOP 10 nước có khối lượng nhập khẩu cà phê của Việt
3.3 Thị trường cà phê Việt Nam bình quân từ năm 2000 đến
3.4 Giá trị xuất khẩu cà phê Việt Namsang một số thị trường
3.5 Thị trường xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu cà phê nhân
của các doanh nghiệp FDI niên vụ 2011-2012 48
3.6 Thị trường xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu cà phê
củacác doanh nghiệp nhà nước niên vụ 2011-2012 50
3.7 Một số chỉ số chính của ba doanh nghiệp VCF AGC và
3.8 Đánh giá tài chính công ty cổ phần VCF 54
3 9 Đánh giá tài chính công ty cổ phần AGC 57 3.10 Đánh giá tài chính công ty cổ phần THV 60
Trang 103.11 Biến động về lao động của Đắk Lắk 5 năm gần đây 69 3.12 Tình hình giảm nghèo của Đắk Lắk 5 năm gần đây 70
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1.2 Những quốc gia xuất khẩu cà phề trên 1 triệu bao 9
1.3 Tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta từ năm 1991 đến
2.2 Tổng sản lượng cà phê theo địa vùng miền năm 2004 19 2.3 Sản lượng và diện tích cà phê Việt Nam từ 2004 – 2013 20 2.4 Thị trường cà phê hòa tan Việt Nam năm 2012 27
3.1 Tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta từ năm 1991 đến
3.2 Thị trường xuất khẩu cà phê chủ yếu của Việt Namnăm
3.3 Tỷ trọng đóng góp vào tăng kim ngạch xuất khẩu của một
3.4 Diến biến diện tích cà phê Việt Nam từ 1995 – 2011 71
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, loài người bị cuốn hút vào một quá trình mang tính chất quốc tế bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống kinh
tế, chính trị, xã hội của thế giới, đó là quá trình toàn cầu hoá mà cốt lõi của nó
là toàn cầu hoá kinh tế.Đây là một xu thế khách quan tác động một cách toàn diện đến mọi dân tộc.Nó đặt mỗi quốc gia trước những thời cơ và cả thách thức
to lớn.Việt Nam chúng ta cũng không phải là một ngoại lệ.Chính vì vậy từ khi chúng ta tiến hành đổi mới (1986) nước ta đã nỗ lực không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Chúng ta đã ngặt hái được nhiều thành công trong việc hội nhập kinh tế quốc tế như việc trở thành viên chính thức của liên minh ASEAN(1996), tham gia khu vực mậu dịch tự do AFTA, ký kết hiệp định thương mại Việt-Mỹ, tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO.Việc hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cho Việt Nam những thời cơ và thách thức lớn
Cà phê là một mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam: Từ chục năm trở lại đây, cà phê Việt Nam có vị trí quan trọng và là nước cung cấp nguyên liệu cho thị trường thế giới Trên 90% trong tổng số hơn 950.000 tấn sản xuất
ra đều được xuất khẩu Hai vụ 2006/2007 và 2007/2008, kim ngạch xuất khẩu
cà phê cả nước đã đạt từ 1,5 tỷ USD lên 2 tỷ USD, đến năm 2013 xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã đạt tới 1,3 triệu tấn với mức kim ngạch xuất khẩu đạt 2,7
tỷ USD Cà phê Việt Nam đã xuất khẩu đến 75 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong
đó châu Âu, châu Á và Mỹ vẫn là các thị trường trọng điểm (năm 2013 xuất khẩu sang châu Âu: trên 568 ngàn tấn, chiếm 44% tổng sản lượng; Châu á đạt
269 ngàn tấn, chiếm 22% tổng sản lượng) Ở khu vực châu Á thì Nhật Bản là nước nhập khẩu lớn nhất với 78,1 ngàn tấn, Trung quốc 31,7 ngàn tấn…
Trang 13Mặc dù việc xuất khẩu cà phê trong những niên vụ gần đây khả quan như vậy, nhưng do nhiều nguyên nhân, mặt hàng này vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Bên ca ̣nh đó,đứng trước cánh cửa hội nhập kinh tế quốc
tế, các công ty cà phê Việt Nam sẽ phải chống chọi với rất nhiều ông hoàng cà phê lớn trên thế giới như Brazil, Colombia, Trung Quốc….và hàng loạt thương hiệu cà phê có tên tuổi trên thế giới như Nestle, Starbucks, Kraft Food và Maxwell.Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng và tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khấu cà phê của các công ty cà phê Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là hết sức thiết yếu.Vì vâ ̣y, tôi đã lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu cà phê tại các
công ty cà phê Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” để nghiên
2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu cà phê trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Ảnh hưởng của các giai đoạn hội nhập của Việt Nam tới tình hình xuất khẩu cà phê;
Đánh giá thực trạng hiệu quả công tác xuất khẩu cà phê của các công ty xuất khẩu cà phê tại Viê ̣t Nam, chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến hiê ̣u quả xuất khẩu cà phê của các công ty cà phê
Trang 14Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng xuất khẩu
cà phê Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh xuất khẩu cà phê
củ a các công ty đang kinh doanh xuất khẩu trong lĩnh vực cà phê tại Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu hoa ̣t đô ̣ng xuất khẩu cà phê của một số công ty cà phê tại Việt Nam
Phạm vi về thời gian: Sử dụng thông tin được công bố trên các tài liệu, báo cáo qua từ năm 1995 – 2013 và điều tra, phỏng vấn trực tiếp mô ̣t số doanh nghiệp có hoa ̣t đô ̣ng xuất khẩu cà phê để đánh giá thực trạng hoa ̣t động xuất khẩu
cà phê trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam
4 Nội dung nghiên cứu
Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu cà phê trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả xuất khẩu cà phê của các công ty
cà phê Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng xuất khẩu
cà phê Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Cơ sơ lý luận về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về hội nhập kinh tế quốc tế nhưng
nhìn chung quan niệm tương đối phổ biến hiện nay là: Hội nhập kinh tế quốc
tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác khu vực
và toàn cầu, trong đó các nước thành viên chịu sự ràng buộc hoặc theo quy định chung của cả khối.Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình quốc gia thực hiện mô hình liên kết kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hóa và tự do hóa thương mại đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác
Hội nhập kinh tế quá trình xóa bỏ từng bước và từng thành phần các rào cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hóa kinh tế
Hội nhập kinh tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các công cuộc cải cách ở các quốc gia nhưng đồng thời cũng là yêu cầu, sức ép đối với các quốc gia trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, đặc biệt là các chính sách và phương thức quản lý vĩ mô
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là tọa dựng các nhân tố mới và điều kiện mới cho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình
độ phát triển ngày càng cao và hiện đại của lực lượng sản xuất
Trang 16Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường chuyển gia công nghệ và các kinh nghiệm quản lý
1.1.2 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam
Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã và đang là vấn đề thời sự của hầu hết các nước, thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn cầu, nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược xu thế chung của thời đại khó tránh khỏi rơi vào lạc hậu Mặt khác mở cửa kinh tế quốc tế cũng có những tác động tiêu cực đối với những nước mà sức cạnh tranh còn kém, trình độ khoa học kĩ thuật chưa cao
Là một nước nghèo trên thế giới, bị tàn phá bởi hàng chục năm chiến tranh, Việt Nam bắt đầu chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, từ một nền kinh tế bao cấp nghèo nàn bắt đầu mở cửa tiếp xúc với nền kinh tế thị trường đầy rẫy sức ép và khó khăn Nhưng đứng trước xu thế phát triển tất yếu của nên kinh tế, Việt nam là một bộ phận của cộng đồng quốc tế không thể đứng ngoài việc hội nhập kinh tế Chỉ có hội nhập kinh tế Việt Nam mới có thể khai thác hết những nội lực sẵn có của mình để tạo ra những thuận lợi phát triển kinh tế
Tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực sẽ tạo điều kiện cho Việt nam phát triển nhanh chóng Những cơ hội của hội nhập đem lại nếu Việt Nam tận dụng được một cách triệt để sẽ là động lực để thúc đẩy kinh tế,
xã hội phát triển
Việc hội nhập nền kinh tế quốc tế cũng góp phần mở rộng thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam Cùng với việc được hưởng những ưu đãi về thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan và các chế đội đãi ngộ khác đã tạo điều kiện cho hàng hóa của Việt Nam thâm nhập thị trường thế giới
Hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng thu hút đầu tư nước ngoài tới Việt Nam, viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế
Trang 17Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp thu khoa học kĩ thuật công nghệ tiên tiến thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, các kĩ thuật công nghệ mới có điều kiện du nhập vào Việt Nam nhằm phát triển năng lực kĩ thuật công nghệ quốc gia Đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh
Hội nhập kinh tế góp phần duy trì hòa bình ổn định tạo dựng môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, nâng cao vị trí Việt Nam trên trường quốc tế Hội nhập kinh tế còn tạo cơ hội mở rộng giao lưu các nguồn lực nước ta với các nước như nguồn lực lao động, nhập khẩu các lao động kĩ thuật cao, các công nghệ mới, phát minh sáng chế mà Việt Nam chưa có
Sự cạnh tranh diễn ra ngày càng khốc liệt trên thị trường thế giới và thậm chí ngay cả trên thị trường nội địa Đối với các nước hàng hóa chưa có sức cạnh tranh cao thì đây là một thách thức to lớn Nếu không có các biện pháp, chính sách thích hợp để nâng cao sức cạnh tranh thì sẽ không có chỗ đứng trên thị trường thế giới, tồi tệ hơn nó còn phá hủy nền sản xuất trong nước
Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước, các nước kém phát triển thường ở vào vị trí bất lợi, thua thiệt và thường bị các nước phát triển đối xử bất công Ngoài ra các tập đoàn đa quốc gia dễ dàng chi phối kinh doanh trong nền kinh tế hội nhập, thậm chí là chi phối cả Chính phủ
Khi tham gia hội nhập mở cửa nền kinh tế sự giao lưu giữa các nước trên thế giới sẽ ngày càng thông thoáng dễ dàng hơn và vì vậy văn hóa ngoại lai cũng như các tệ nạn xã hội mới cũng theo con đường này mà du nhập vào Nếu nền văn hóa trong nước không đủ mạnh để đề kháng lại với văn hóa ngoại lai độc hại thì nó sẽ phá vỡ nền văn hóa trong nước Lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền sẽ làm cho con người ta ngày càng xa nhau hơn, văn hóa truyền thống
sẽ bị phá vỡ đặc biệt là với những quốc gia Á Đông có bẳn sắc văn hóa truyền thống lâu đời Mà văn hóa đã mất thì hội nhập sẽ thất bại và sẽ mất tất cả
Trang 18Hội nhập làm phân hóa giàu nghèo giữa các nước và giữa các tầng lớp trong cùng một nước gây ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp mà các quốc gia khó giải quyết một sớm một chiều được Hội nhập còn khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên trong nước gây ô nhiễm môi trường
1.1.3 Vị trí ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng thứ 2 về kim ngạch sau gạo Chính vì thế ngành cà phê đã có một vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân
Ngành cà phê góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Ngành cà phê gắn với cả một quá trình khép kín từ sản xuất đến tiêu dùng Điều này kéo theo theo một loạt các ngành kinh tế phát triển như ngành xây dựng các cơ sở để nghiên cứu giống, ngành thuỷ lợi, ngành giao thông, ngành chế tạo máy móc Vì thế đẩy mạnh qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các vùng nơi
có cây cà phê phát triển Điều này góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá trong nông nghiệp nông thôn
Ngành cà phê đã góp phần rất lớn vào nguồn thu ngân sách nhà nước Hàng năm ngành cà phê đem về cho đất nước từ 11,2 tỷ USD trên 1 năm chiếm 10% kim ngạch xuất khẩu cả nước Xuất khẩu cà phê mỗi năm đem về cho nền kinh tế chúng ta một lượng ngoại tệ lớn, khoảng 500 triệu USD Xuất khẩu cà phê góp phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu của chiến lược xuất nhập khẩu nói riêng và mục tiêu phát triển chiến lược kinh tế xã hội nói chung của đất nước
Góp phần giải quyết công ăn việc làm cải thiện đời sống nhân dân, theo Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) thì mỗi năm ngành cà phê thu hút khoảng 600.000 – 700.000 lao động, thậm chí trong ba tháng thu hoạch số lao động có thể lên tới 800.000 lao động Lao động làm việc trong ngành cà phê chiếm khoảng 2,93% tổng số lao động trong ngành nông nghiệp và chiếm 1,83% tổng số lao động trên toàn nền kinh tế quốc dân
Trang 19Biểu đồ 1.1: Tỷ trọng xuất khẩu cà phê năm 2013
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN&PTNT
Hiện nay xu thế toàn cầu hoá và hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ như vũ bão trên phạm vi toàn thế giới, lôi cuốn rất nhiều nước trên thế giới tham gia Việt Nam cũng không thể nằm ngoài vũng xoáy này và đang nỗ lực hết sức để
có thể tiến vào một cách nhanh nhất Hoạt động xuất nhập khẩu sẽ là cấu nối hết sức quan trọng để đẩy nhanh tiến trình này Chính vì vậy mà hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng trở nên quan trọng trong chính sách và chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam
1.2 Thị trường cà phê
1.2.1 Thị trường xuất khẩu cà phê thế giới
Giá trị thị trường của ngành cà phê bán lẻ trên thế giới ước tính khoảng 70.68 tỷ đô la (năm 2011) (Euromonitor) So với thị trường cà phê nguyên liệu thì giá trị cà phê rang xay thành phẩm cao hơn gấp 9 hoặc 10 lần, nâng tổng giá trị giao dịch cà phê thành phẩm lên tới trên 100 tỷ USD hàng năm Thị trường này bị thao túng bởi các đại gia như Nestlé (Thụy Sĩ ), D.E Master Blenders
1753 (tách ra từ Sara Lee) (Mỹ), Mondelēz International (lúc trước là Kraft food Global) (Mỹ ), J.M Smucker (Mỹ ) và Tchibo (Đức)
Trang 20Năm 2012, ba nhóm công ty lớn nhất (Nestlé và Mondelēz International
và D.E Master Blenders 1753) kiểm soát 70% thị trường cà phê bán lẻ ở Anh Nhóm 5 nhóm công ty đứng đầu kiểm soát hơn 50% thị trường Nestlé thống trị thị trường cà phê hòa tan với mức thị phần trên 50%
Trong hệ thống bán lẻ, hệ số lãi của sản phẩm cà phê truyền thống (Main stream coffee) thì thấp hơn hệ số lãi của cà phê cao cấp (Speciality coffee) Các thương hiệu riêng của hệ thống chuỗi cửa hàng bán lẻ vẫn chưa thâm nhập được vào phân khúc cà phê cao cấp (Speciality coffee).Các “thương hiệu cà phê chất lượng cao” như Starbucks, illy thống trị phân khúc cao cấp trong hệ thống cửa hàng bán lẻ
Thị trường RTD của trà và cà phê thế giới ước tính vào khoảng 69 tỷ đô
la (năm 2011), dự đoán tốc độ tăng trưởng hàng năm là 10,9% từ năm
2012-2017 (theo MarketsandMarkets)
Biểu đồ 1.2: Những quốc gia xuất khẩu cà phề trên 1 triệu bao
Nguồn: Tổ chức Cà phê Quốc tế
Số liệu từ Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho thấy Việt Nam xuất khẩu được 1,1 triệu bao cà phê (loại 60kg) trong tháng 9, đưa khối lượng xuất khẩu của cả
Trang 21niên vụ 2013 (từ tháng 10/2012 đến tháng 9/2013) lên xấp xỉ 20 triệu bao, giảm 7,9% so với niên vụ 2011/2012 (21,7 triệu bao)
Với khối lượng trên, Việt Nam tiếp tục là nhà xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới Vị trí đứng đầu thuộc về Brazil Với 2,7 triệu bao cà phê xuất khẩu được trong tháng 9, tổng khối lượng xuất khẩu của nước này trong cả niên vụ
2013 đạt 30,9 triệu bao, tăng 7,2% so với niên vụ trước.Indonesia và Colombia xếp hai vị trí tiếp theo khi khối lượng xuất khẩu của 2 nước này tăng mạnh với mức lần lượt là 23% và 21,2% Xuất khẩu của Indonesia trong cả niên vụ đạt 10,6 triệu bao, còn xuất khẩu của Colombia đạt 8,8 triệu bao
Một số nước có khối lượng xuất khẩu lớn khác là Ấn Độ với trên 5 triệu bao, Honduras trên 4 triệu bao, các nước Guatemala, Uganda, Mexico, Ethiopia đều chỉ số khối lượng trên 3 triệu bao
1.2.2 Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam
Năm 1997, Việt Nam vượt qua Indonesia để trở thành quốc gia xuất khẩu
cà phê đứng thứ ba thế giới Vào năm 2000, với 734.000 tấn cà phê xuất khẩu, Việt Nam tiếp tục vượt qua Colombia để chắc chân ở vị trí thứ hai thế giới Vị trí này được duy trì kể từ đó đến nay
Trang 22Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu ngành cà phê trong giai đoạn 2008 - 2011
Xuất khẩu cà phê nhân hàng năm luôn đạt mức tăng trưởng cao Năm
2011, kim ngạch xuất khẩu là 1,25 triệu tấn, trị giá 2,75 tỷ đô la, tăng 3,2% về lượng và 48,7% về giá trị so với năm 2010 Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu là 1,73 triệu tấn, 3,67 tỷ đô la, tăng 37,8% về lượng và 33,4% về giá trị so với năm 2011
Trang 23Bảng 1.2: Tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam
Thời gian
09/10 so với 08/09 Khối
lượng (nghìntấn)
Giá trị (Triệu USD)
Khối lượng (nghìntấn)
Giá trị (Triệu USD)
Khối lượng (nghìntấn)
Giá trị (Triệu USD)
Khối lượng Giá trị
Trang 24Tuy chiếm gần 30% khối lượng cà phê nhân giao dịch toàn cầu, nhưng giá trị kim ngạch mới chỉ chiếm 10% trong tổng giá trị thương mại 35 tỷ USD của cà phê nhân thế giới
Việt Nam có hơn 200 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cà phê, trong khi chỉ có 20 công ty nước ngoài thu mua và cung cấp cho 8 nhà rang xay lớn của thế giới
Biểu đồ 1.3: Tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta
từ năm 1991 đến năm 2009
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Niên vụ 2011- 2012: Tổng số sản lượng thu mua của các doanh nghiệp FDI bằng 45% sản lượng của cả niên vụ, trong đó hàng năm lượng thu mua của các doanh nghiệp FDI thu như Nestlé chiếm 15% (khoảng 250.000 tấn), Nedcoffee chiếm 9% (khoảng 150.000 tấn) Ở Gia Lai, chỉ riêng chi nhánh Công ty TNHH Louis Dreyfus Commodities đã chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả tỉnh trong năm 2012
Năm 2010: tập đoàn Intimex chỉ xếp vị thứ 2 trong các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch vào khoảng
Trang 25142.134 tấn (13.59% kim ngạch xuất khẩu cà phê cả nước), đứng vị trí đầu tiên
là Tổng công ty cà phê Việt Nam với kim ngạch 177.902 tấn (16.46% kim ngạch xuất khẩu cả nước) và tập đoàn Thái Hòa xếp vị trí thứ 2 với kim ngạch xuất khẩu là 82.951 tấn (7.93% kim ngạch xuất khẩu cà phê cả nước)
Nhưng đến niên vụ 2011-2012, Tập đoàn Intimex xếp vị trí đứng đầu trong các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê với kim ngạch xuất khẩu là 360.000 tấn (chiếm 21% kim ngạch xuất khẩu cả nước), Tổng công ty Tín Nghĩa Đồng Nai xuất khẩu khoảng 127.000 tấn xếp vị trí thứ 5 (chiếm 7% kim ngạch xuất khẩu cả nước)
Chỉ trong vòng 2 năm từ năm 2010 đến 2012 trong số hơn 200 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hiện nay, chỉ 30 doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, có lượng hàng xuất khẩu hàng năm tương đối lớn và ổn định; còn lại đều là các doanh nghiệp thương mại, không có chân hàng dự trữ, nên thua lỗ liên miên Ngoài nguyên nhân những doanh nghiệp xuất khẩu có vốn điều lệ nhỏ không cạnh tranh thu mua cà phê được với các doanh nghiệp FDI thì còn có các nguyên nhân khác từ chính việc điều hành, quản lý nguồn vốn không chuyên nghiệp của các doanh nghiệp gây ra Điển hình là tình trạng thua lỗ của 2 công
ty là Tổng công ty cà phê Việt Nam và Tập đoàn Thái Hòa
Trang 26Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐI ̣A BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm ngành cà phê Việt Nam
2.1.1.Một số nét về ngành cà phê Việt Nam
Được phát hiện cách đây gần 1.000 năm, cà phê đang dần dần trở thành một trong những thức uống phổ biến trên thế giới Năm 1690, từ vùng đất Arabica, cà phê được đem đến trồng ở Java; ở Hà Lan năm 1706; ở Trung Mỹ năm 1724… Cà phê vối được đưa từ Tây Phi Madagascar sang Nam Mỹ và Hà Lan năm 1899, rồi sang Java vào năm 1900…
Cà phê là loại đồ uống được ưa thích ở hầu hết các nước trên thế giới, nó
là sản phẩm nhiệt đới nhưng lại tiêu thụ nhiều ở các nước ôn đới nhưng lại tiêu thụ nhiều ở các nước ôn đới Ngày nay cà phê được sử dụng rộng rãi vì trong hạt cà phê nhân sống thông thường có chứa 1- 2,5% chất cofein có tác dụng kích thích thần kinh, tăng cường hoạt động của tế bào não Ngoài ra trong hạt
cà phê còn có chứa các chất dinh dưỡng cho cơ thể như: đường, protein, các sinh tố B (B1, B2, B6, B12)
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều giống, chủng loại cà phê, nhưng phổ biến sản xuất có những chủng loại sau:
Cà phê chè (Arabica): Loại cà phê chè Arabica có nguồn gốc từ cao nguyên Jimma Etiopia, đây là loại cà phê có phẩm chất thơm ngon, năng suất khá, có giá trị kinh tế cao được chú trọng phát triển sớm nhất và chiếm 70% lượng cà phê thế giới Cà phê chè có rất nhiều chủng loại, người ta chia thành các chủng loại sau:
+ Cà phê Arabica dịu dàng Côlômbia, các nước sản xuất nhiều loại này
là Côlômbia, Keynia, Tanzania
+ Cà phê Arabica Brazil, các nước sản xuất gồm Brazil, Etiopia
+ Cà phê Arabica dịu khác, các nước sản xuất gồm Bôlivia, Costrica, Cuba, ElSanvado, Indonesia, Việt Nam
Trang 27Cà phê vối (Canephora):Loại cà phê này có nguồn gốc từ hạ lưu sông CôngGô, thích hợp với khí hậu nhiệt đới Đây là chủng loại dễ trồng, chịu hạn tốt nhưng phẩm chất không cao Chủng loại được trồng nhiều nhất là cà phê vối Robusta với sản lượng chiếm tỷ lệ trên 25% trên thế giới
Cà phê mít (Exllsa):Đây là loại cà phê sinh trưởng khoẻ, ít sâu bệnh, chịu hạn hán nhưng phẩm chất kém, ít hương thơm và có vị chua, diện tích trồng rất thấp
Cà phê Việt Nam có hương vị đặc thù và được các nhà rang xay trên thế giới đánh giá là dễ chế biến Giá xuất khẩu tương đối rẻ hơn so với các nước xuất khác (Brazin)
Những hạt giống cà phê đầu tiên được đưa sang trồng tại Việt Nam năm
1857 bởi một số nhà truyền giáo người Pháp nhằm cung cấp cà phê cho các tu viện ở Quảng Bình, Quảng Trị sau lan sang Ninh Bình và theo dòng người truyền đạo đi sang các tỉnh khác Từ năm 1920 trở đi, thực dân Pháp mới phát triển các đồn điền cà phê ở Phủ Quỳ - Nghệ An và một số nơi ở Tây Nguyên, lúc này cây cà phê mới bắt đầu có diện tích đáng kể Trong thời kỳ những năm
1960 – 1970, cây cà phê được phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh phía Bắc, khi cao nhất (giai đoạn 1964 - 1966) đã đạt được 13.000 ha tuy nhiên lại không bền vững Do sâu bệnh ở cà phê Arabica và do các yếu tố
tự nhiên không phù hợp với cà phê Robusta nên một số lớn diện tích cà phê phải thanh lý Cho đến năm 1975, đất nước thống nhất, diện tích cà phê của cả nước đã vượt qua con số 13.000 ha đạt sản lượng khoảng 6.000 tấn
Sau năm 1975, cà phê ở Việt Nam được phát triển mạnh tại các tỉnh Tây Nguyên nhờ có vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước: Liên
Xô cũ, CHDC Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Ba Lan Đến năm 1990, cả nước
đã có 119.000 ha cà phê Trên cơ sở này, từ năm 1986 phong trào trồng cà phê phát triển mạnh trong nhân dân Niên vụ 1993 – 1994, sản lượng cà phê cả nước
Trang 28đạt 140.000 tấn, đứng thứ 3 Châu Á sau Inđônêxia và Ấn Độ Năm 1996, Việt Nam vươn lên đứng thứ 2 Châu Á và đứng thứ 4 trên thế giới về sản lượng cà phê Năm 1998 và năm 1999, Việt Nam đã đứng đầu Châu Á Nhờ lợi thế về điều kiện tự nhiên và năng suất thuộc loại cao nhất thế giới (năng suất là 1.500kg/ha bằng 2-3 lần năng suất thế giới và 1,7 lần năng suất Châu Á) nên Việt Nam đã trở thành nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới Năm 2000, diện tích trồng cà phê của Việt Nam là 533.000 ha nhưng đến nay do khủng hoảng về giá, diện tích trồng cà phê đã giảm xuống còn 500.000 ha vào năm
2002, đạt mức sản lượng khoảng 800,4 ngàn tấn (Nguồn Niên giám thống kê –
2000, Tổng cục thống kê) Cho đến nay ngành cà phê Việt Nam đã đạt được mức sản lượng: 121.947 triệu bao niên vụ 2002 – 2003, 110.730 triệu bao niên
vụ 2003 - 2004 và 116.850 triệu bao niên vụ 2004 – 2005
2.1.1.1.Tình hình trồng trọt cà phê tại Việt Nam
Cà phê là một loại cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam Diện tích trồng cà phê của nước ta năm 2000 là 516,7 nghìn ha, tăng gấp 5 lần so với năm 1990 Từ đó đến nay, diện tích trồng cà phê vẫn tăng đến mức 591,3 nghìn ha - mức đỉnh điểm năm 2002, và trong năm tiếp đó dưới
áp lực của cuộc khủng hoảng cà phê nên diện tích cà phê Việt Nam đã giảm đáng kể Theo báo cáo của tổng cục thống kê, năm 2004 diện tích trồng cà phê của cả nước đã giảm 1,4 % so với năm trước còn 503,2 nghìn ha
Theo quy hoạch phát triển cà phê Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố mới đây, đến năm 2020, các địa phương trong vùng trọng điểm này giảm diện tích cà phê (Đắk Lắk 170.000ha, Lâm Đồng 135.000
ha, Gia Lai 73.000 ha), Đắk Nông còn 69.000 ha, chiếm 89,4% so với tổng diện tích cà phê của cả nước
Biểu đồ 2.1: Diện tích canh tác cà phê năm 2004
Trang 29Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN&PTNT
Những vùng sản xuất cà phê tập trung là Tây Nguyên, Đông Nam Bộ
Trong đó, cây cà phê chè (Arabica) được trồng tập trung ở vùng đất bazan Phủ Quỳ, Nghệ An và ở miền Nam; cây cà phê vối (Robusta) tập trung trồng ở Đăk
Trang 30Lăk, Lâm Đồng, Gia Lai, Kontum Thời gian qua, các tỉnh Tây Nguyên và một
số địa phương khác đã phát triển càphê tự phát với tốc độ quá nhanh Nhiều vùng đất có đặc điển sinh thái không phù hợp với cây cà phê, điều kiện đất đai, khí hậu, nguồn nước tưới khó khăn vẫn trồng loại cây này trên quy mô rộng lớn nên hoạt động sản xuất không hiệu quả
Biểu đồ 2.2: Tổng sản lượng cà phê theo địa vùng miền năm 2004
Năng suất cà phê Việt Nam cũng tăng nhanh và được đánh giá là cao nhất thế giới Đầu thời kỳ 1990 năng suất chỉ mới là 1 tấn/ha thì đến nay đã lên đến 2 tấn/ha, có những vùng ở Đăk Lăk năng suất đạt 3 tấn nhân/ha Nguyên nhân là nhờ Viện nghiên cứu cà phê Việt Nam những năm qua đã cung cấp hàng chục tấn hạt giống mới có năng suất cao cho các địa phương Mặt khác cây cà phê Việt Nam trẻ hơn rất nhiều so với cà phê các nước khác, đúng vào thời điểm cho năng suất cao nhất Tuy vậy, năm 2002 do tình hình sâu bệnh tàn phá cây trồng và vốn đầu tư cho ngành thấp nên năng suất cũng có xu hướng giảm đi chỉ còn gần 1,3 tấn/ha
Trang 31Về sản lượng, sau khi gia nhập tổ chức cà phê thế giới (ICO) năm 1993, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước sản xuất cà phê lớn thứ
2 trên thế giới Sản lượng cà phê cũng tăng lên nhanh chóng từ khoảng 1 triệu bao (60kg/bao) năm 1990 lên đến 13,3 triệu bao tương đương với 800.000 tấn năm 2000 Sản lượng cao nhất vào năm 2004 với mức 905.000 tấn tăng 106%
so với năm 2001, và kế hoạch sản lượng năm 2005 đạt 850 nghìn tấn (nguồn niên giám thống kê - Tổng cục thống kê) Hiện nay, Việt Nam sản xuất ra hơn 10% sản lượng cà phê thế giới, thay thế vị trí thứ hai của Colombia và chỉ đứng sau Braxin
Biểu đồ 2.3: Sản lượng và diện tích cà phê Việt Nam từ 2004 - 2013
Với diện tích, năng suất, sản lượng đáng kể như trên, cà phê Việt Nam đã
vị trí quan trọng trong bản đồ cà phê thế giới
2.1.1.2.Tình hình sản xuất cà phê tại Việt Nam
Trang 32Về tình hình sản xuất kinh doanh cà phê ở nước ta gần đây cần phải xem xét tác động của thời kỳ khủng hoảng cung cấp thừa cà phê Từ năm 1999 bắt đầu, cùng với cộng đồng cà phê thế giới ngành cà phê nước ta trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng Giá cà phê liên tục xuống thấp đến mức kỷ lục trong vòng mấy chục năm lại đây Khủng hoảng đã kéo theo những hậu quả xấu cho sản xuất và đời sống Nông dân thu nhập thấp không đủ trang trải cho cuộc sống hàng ngày và đầu tư cho tái sản xuất Đã có những vườn cà phê bị
bỏ không chăm sóc Và cũng có tình hình chặt phá vườn cà phê để trồng cây khác, kể cả cây lương thực Từ năm 2004, giá cà phê bắt đầu được cải thiện và giá lên cao vào các năm 2006, 2007 tuy còn thấp nhiều so với giá cà phê các năm 1995- 1998 nhưng với người trồng cà phê thì mức giá hiện nay đã có sức hấp dẫn đáng kể Cà phê được bán với giá từ 25- 30 triệu đồng Việt Nam 1 tấn
Và có lúc lên trên 30 triệu đồng 1 tấn lúc này lại có hiện tượng ngược lại trước đây là người ta lại trồng mới, mở mang diện tích cà phê
Hiện nay ngành cà phê Việt Nam mới chỉ có 5 DN chế biến cà phê hòa tan với công suất khoảng 35.000 – 40.000 tấn tương đương 100.000 tấn cà phê nhân (chiếm khoảng 5% sản lượng cà phê nhân hằng năm)
Bảng 2.1: Công suất thiết kế của một số nhà máy
sản xuất cà phê sản phẩm năm 2012
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN&PTNT
Trang 33Tại các điểm bán lẻ sản phẩm cà phê hiện nay có rất nhiều loại của các hãng khác nhau như: Trung Nguyên, Nestlé, Vinacafé Biên Hòa, Maccoffee, Highlands Coffee, Mê Trang… theo đó Trung Nguyên có tới 34 sản phẩm; Neslé có 7 sản phẩm; Vinacafé Biên Hòa có 22 sản phẩm
Tuy nhiên thị phần chủ yếu là của 3 ông lớn: Trung Nguyên, Nestlé, Vinacafé Biên Hòa Trong đó Trung Nguyên chiếm 80% thị phần cà phê rang xay, theo Euromonitor năm 2012 thị phần cà phê hòa tan Nestlé là 33%, Vinacafé là 32.5%, Trung Nguyên là 18.2%, các nhãn khác là 16%
Mức tăng trưởng doanh thu và tỷ suất lợi nhuận hoạt động của các công
ty chế biến cà phê rang xay và hòa tan khá cao Năm 2012, Vinacafé Biên Hòa đạt doanh thu là 105.2 triệu đô la tăng 33% so với 2011, tỷ xuất lợi nhuận hoạt động là 14.4% (năm 2011 có doanh thu là 78,93 triệu đô la, tỷ suât lợi nhuận hoạt động là 13%)
Bảng 2.2: Doanh thu và tỷ suất lợi nhuận hoạt động của các công ty
chế biến cà phê rang xay và hòa tan năm 2012
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN&PTNT
Theo số liệu của Bộ nông nghiệp Hoa Kì (USDA) lượng cà phê hòa tan xuất khẩu của Việt Nam niên vụ 2011-2012 là 21.600 tấn
Năm 2012: Trung Nguyên doanh thu từ việc xuất khẩu cà phê sang thị trường Trung Quốc là 50 triệu đô la.Doanh thu xuất khẩu cà phê hòa tan của Vinacafé Biên Hòa chiếm 8-10% doanh thu hằng năm chủ yếu tập trung ở 2 thị
Trang 34trường Mỹ chiếm 85% thị phần xuất khẩu và còn Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm 15%
Hiện nay ngành cà phê Việt Nam mới chỉ có 5 DN chế biến cà phê hòa tan với công suất khoảng 35.000 – 40.000 tấn tương đương 100.000 tấn cà phê nhân (chiếm khoảng 5% sản lượng cà phê nhân hằng năm)
Trang 35Bảng 2.3 : Tình hình sản xuất cà phê nước ta năm 2009 – 2011
Số liệu báo cáo hàng năm
Số liệu mới
Số liệubáo cáo hàng
năm
Số liệu mới
Số liệu báo cáo hàng năm
Số liệu mới
Official Post Data Official Post Data Official Post Data
Số lượng dự trữ ban đầu (nghìn bao) 1.561 894 1.561 2.130 1.417 2.168 1.747 Sản lượng cà phê Arabica (nghìn bao) 480 480 480 450 450 450 480 Sản lượng cà phê Robusta (nghìn bao) 17.520 17.520 17.520 17.050 17.050 17.050 18.253
Tổng sản lượng (nghìn bao) 18.000 18.000 18.000 17.500 17.500 17.500 18.733
Cà phê rang & nguyên hạt nhập khẩu
Trang 36Cà phê hoà tan (nghìn bao) 25 25 25 25 25 25 27
Cà phê hạt xuất khẩu (nghìn bao) 16.333 16.333 16.283 16.675 16.667 16.667 16.667
Cà phê rang & nguyên hạt xuất khẩu
Tổng xuất khẩu (nghìn bao) 16.463 16.514 16.430 16.810 16.807 16.822 16.832
Cà phê rang & nguyên hạt được
tiêu thụ trong nước (nghìn bao) 964 964 964 1.005 1.005 1.080 1.115
Cà phê hoà tan được tiêu thụ
Tổng tiêu thụ trong nước (nghìn bao) 1.064 1.064 1.064 1.115 1.115 1.200 1.250
Sử dụng trong nước (nghìn bao) 2.130 1.417 2.168 1.806 1.096 1.747 2.506 Tổng lượng phân phối (nghìn bao) 19.657 18.995 19.662 19.731 19.018 19.769 20.588 Sản lượng có thể xuất khẩu
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN&PTNT
Trang 37Tại các điểm bán lẻ sản phẩm cà phê hiện nay có rất nhiều loại của các hãng khác nhau như: Trung Nguyên, Nestlé, Vinacafé Biên Hòa, Maccoffee, Highlands Coffee, Mê Trang… theo đó Trung Nguyên có tới 34 sản phẩm; Neslé có 7 sản phẩm; Vinacafé Biên Hòa có 22 sản phẩm
Tuy nhiên thị phần chủ yếu là của 3 ông lớn: Trung Nguyên, Nestlé, Vinacafé Biên Hòa Trong đó Trung Nguyên chiếm 80% thị phần cà phê rang xay, theo Euromonitor năm 2012 thị phần cà phê hòa tan Nestlé là 33%, Vinacafé là 32.5%, Trung Nguyên là 18.2%, các nhãn khác là 16%
Mức tăng trưởng doanh thu và tỷ suất lợi nhuận hoạt động của các công
ty chế biến cà phê rang xay và hòa tan khá cao Năm 2012, Vinacafé Biên Hòa đạt doanh thu là 105.2 triệu đô la tăng 33% so với 2011, tỷ xuất lợi nhuận hoạt động là 14.4% (năm 2011 có doanh thu là 78,93 triệu đô la, tỷ suât lợi nhuận hoạt động là 13%)
2.1.1.3 Tình hình tiêu thụ cà phê ở Việt Nam
Thị trường bán lẻ cà phê Việt Nam đã đạt 127,33 triệu USD trong năm
2008 và tăng lên khoảng 287,34 triệu USD năm 2012 Mintel dự đoán sẽ tăng đến 573,75 triệu USD vào năm 2016
Thị trường cà phê Việt Nam được chia thành 2 phân khúc rõ ràng Cà phê rang xay (cà phê phin) chiếm khoảng 2/3 lượng cà phê được tiêu thụ; còn lại là cà phê hòa tan Theo nghiên cứu thói quen sử dụng cà phê, 65% người tiêu dùng có sử dụng cà phê Việt Nam uống cà phê 7 lần/tuần, nghiêng về nam giới (59%) Riêng cà phê hòa tan có 21% người tiêu dùng sử dụng cà phê hòa tan từ 3 đến 4 lần trong tuần, nghiêng về nhóm người tiêu dùng là nữ (52%)
Sức tiêu thụ cà phê Việt Nam còn khá thấp Việt Nam sử dụng chừng 5% cà phê thô để chế biến, trong khi đó tỷ lệ này của Brazil là 50% Việt Nam có 5 nhãn hiệu cà phê hòa tan, Brazil có 20 nhãn hiệu Về cà phê rang xay, thì Việt Nam có
20 nhãn hiệu, trong khi đó số lượng của Brazil là 3.000 nhãn hiệu
Trang 38Tiêu thụ cà phê trong nước tăng chủ yếu là do kết quả tích cực của các chiến lược marketing của các thương hiệu cà phê có phong cách châu Âu như Highlands Coffee, Gloria Jean's, The Coffee Bean, Tea Leaf, và Illy Nhiều người tiêu dùng trung lưu phản ứng tích cực với các nỗ lực marketing của ngành cũng giúp cho xu hướng mua cà phê sử dụng tại nhà phát triển mạnh Tuy nhiên, theo Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO), tiêu thụ cà phê theo đầu người tại nước ta vẫn chỉ dừng ở mức 0,83 kg, thấp hơn nhiều so với Brazil (5,2kg/người), EU (4,83kg/người) và Hoa Kỳ (4,13kg/người)
Bảng 2.4: Tiêu thụ cà phê tại nước ta từ năm 2005 đến năm 2014
(đơn vị: nghìn bao)
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Tiêu thụ cà
phê 618 687 858 900 1,064 1,101 1,189 1,292 1,420 1,556
(Nguồn: USDA, Vicofa, )
Biều đồ 2.4: Thị trường cà phê hòa tan Việt Nam năm 2012
Trang 392.1.2.Việt Nam trước những giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
Việt Nam bắt đầu chủ trương hội nhập kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), chủ trương này càng được đẩy mạnh Hội nhập kinh
tế của Việt Nam diễn ra càng ngày càng nhanh và càng sâu Từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã tiến tới hợp tác kinh tế toàn diện, từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh tế đa phương Cho đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã
ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương mại,
51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần,
81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc
Trang 402.1.2.1 Việt Nam gia nhập ASEAN - Hiệp hội các nước Đông Nam Á
Việt Nam gia nhập ASEAN ngày 25/07/1995 và chính thức tham gia thực hiện AFTA ngày 15/12/1995 bằng việc tham gia kí nghị định thư tham gia hiệp định CEPT ( có hiệu lực từ 1/1/1996 tới 1/1/2006 )
Nội dung cơ bản của AFTA là cam kết giảm thuế cho các mặt hàng thương mại nội khối theo Chương trình Ưu đãi Thuế quan có Hiệu lực chung (CEPT) Hiệp định thực hiện CEPT đưa ra một cơ chế để cắt giảm dần thuế quan theo mục tiêu này, xác định ra bốn nhóm ngành hàng như sau:
Danh mục cắt giảm thuế (IL) bao gồm các sản phẩm mà mức thuế cho những sản phẩm này sẽ phải giảm xuống 0-5% vào tháng 1/2003 (cho Việt Nam
là 2006) Để đảm bảo một chương trình cắt giảm thuế quan diễn ra đều đặn, không dồn vào cuối giai đoạn, các mức thuế đã được thống nhất là phải được giảm ít nhất 3 năm 1 lần và mỗi lần cắt giảm tối thiểu là 5%;
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) bao gồm các nhóm hàng loại trừ tạm thời khỏi việc cắt giảm thuế nhưng từng bước sẽ phải đưa vào trong IL theo
5 bước bằng nhau trong giai đoạn 5 năm từ 1/1/1996 đến 1/1/2000 (từ năm 1999 đến 2003 áp dụng với Việt Nam);
Riêng sản phẩm Nông nghiệp chưa qua chế biến (UAPs) ngoài việc được đưa vào danh mục IL và TEL như các sản phẩm khác thì còn có Danh mục Nhạy cảm (SL) UAPs trong Danh mục Nhạy cảm sẽ phải tham gia vào CEPT vào năm 2010 đối với các nước thành viên cũ Lịch trình cụ thể vẫn tiếp tục được đàm phán;
Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) bao gồm các loại hàng hoá mà cuối cùng sẽ được loại trừ khỏi việc thực hiện cắt giảm thuế
Một đặc điểm quan trọng khác của AFTA đó là sự tiếp cận toàn diện để giải quyết những vấn đề thương mại khác ngoài thuế quan Những cam kết và lĩnh vực hợp tác quan trọng là: hài hoà hoá danh mục thuế quan; cải tiến công