1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TCTT tiểu luận thực trạng chuyền gia của cac cong ty da quốc gia ở VN

69 297 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 256,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù hiện nay, có khoảng 63000 công ty đa quốc gia trên thếgiới quyền sở hữu và nắm giữ tài sản lại được tập trung ở mức độ cao: khoảng 500công ty đa quốc gia lớn nhất đã kiểm soát hơn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

-o0o -TIỂU LUẬN

MÔN: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Lan Phạm Thị Lệ Thúy : 1411110605

Nguyễn Phương Thảo : 1411110565

Trang 2

Hà Nội, 10/2015 MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA VÀ VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 5

I.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA: 5

I.1.1 Khái niệm 5

I.1.2 Bản chất, sự phát triển và cấu trúc 5

I.1.3 Đặc trưng cơ bản của các công ty đa quốc gia: 6

I.1.4 Đặc điểm phát triển của các công ty đa quốc gia: 7

I.2 VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ 8

I.2.1 Khái niệm: 8

I.2.2 Một số dấu hiệu nhận biết chuyển giá: 10

I.2.3 Hình thức chuyển giá 11

I.2.4 Động cơ thúc đẩy: 12

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM: 15

II.1 Thực trạng hoạt động của Công ty ĐQG trên lãnh thổ Việt Nam 15

II.2 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 16

II.2.1 Doanh nghiệp FDI tăng trưởng nhanh cả về số lượng doanh nghiệp, quy mô và kết quả sản xuất 17

II.2.2 Đến nay các doanh nghiệp FDI đã hoạt động khắp ở hầu hết các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương và ngành kinh tế 19

II.2.3 Khu vực FDI là khu vực sản xuất kinh doanh năng động, ổn định và hiệu quả 21 II.2.4 Hạn chế của các doanh nghiệp FDI 23

2

Trang 3

II.3 Thực trạng chuyển giá của các công ty ĐGQ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam 25

II.4 Hậu quả thực tế của tình trạng chuyển giá phổ biến hiện nay của các công ty

ĐGQ hoạt động tại Việt Nam 28

II.4.1 Đánh giá hậu quả của chuyển giá tại Việt Nam 28

II.4.2 Một số ví dụ điển hình và hậu quả: 30

II.4.3 Thực trạng chính sách kiểm soát chuyển giá - chính sách chống chuyển giá của Việt Nam 48

II.4.4 Nguyên nhân của tình trạng lợi dụng chuyển giá để trốn thuế phổ biến hiện nay của các công ty ĐQG hoạt động tại Việt Nam 53

II.4.5 Nguyên nhân những hạn chế tồn tại trong quá trình chống chuyển giá .54 CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ CHUYỂN GIÁ 56

III.1 Dự báo xu hướng đầu tư của các công ty đa quốc gia vào Việt Nam: 56

III.1.1 Xu hướng dịch chuyển của dòng vốn FDI toàn cầu năm 2015 56

III.1.2 Xu hướng ở Việt Nam 57

III.2 Một số kiến nghị: 59

III.2.1 Giải pháp của chính phủ: 59

III.2.2 Biện pháp của các doanh nghiệp: 64

III.2.3 Biện pháp xã hội: 66

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

3

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Kể từ khi mở cửa hội nhập kinh tế từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã nhanhchóng tăng trưởng và trong những năm gần đây luôn được các nhà đầu tư xếp hạng làmột trong những quốc gia đầu tư hấp dẫn nhất tại khu vực Châu Á cũng như trên thếgiới Việc tham gia vào các tổ chức quốc tế, đặc biệt là việc trở thành thành viên chínhthức của WTO đã mở ra nhiều cơ hội hợp tác và phát triển cho Việt Nam, thu hút ngàycàng nhiều vốn đầu tư trực tiếp của các công ty đa quốc gia trên thế giới Tuy nhiên,song hành với những lợi ích to lớn mà các công ty này mang lại thì nhiều vấn đề phứctạp cũng đã nảy sinh, trong đó phải kể đến việc các công ty đa quốc gia lợi dụng việcchuyển giá để trốn, tránh thuế với quy mô và mức độ ngày càng trầm trọng Thựctrạng này đã và đang tiếp tục gây ra thất thu nghiêm trọng cho Ngân sách Nhà nước,làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư của các doanh nghiệp Vì vậy, đề tài nghiêncứu : “ Thực trạng chuyển giá của các công ty đa quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam” làcần thiết và cấp bách

4

Trang 5

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA VÀ VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

I.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA:

I.1.1 Khái niệm

Các quan hệ kinh doanh quốc tế ra đời từ khi quốc gia mở cửa, hội nhập, giao lưukinh tế Đầu tư nước ngoài là một hình thức đầu tư quốc tế, ra đời tương đối muộn hơn

so với các hình thức kinh doanh quốc tế khác nhưng lại nhanh chóng phát triển, cáccông ty đa quốc gia được thành lập Công ty đa quốc gia (MNC: multinatinalcorporations hoặc MNE: multinational enterprises) được hiểu là công ty sản xuất haycung ứng dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia Các công ty đa quốc gia lớn thường có ngânsách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia và có thể gây ảnh hưởng lớn đến các mốiquan hệ quốc tế và nền kinh tế của các quốc gia

I.1.2 Bản chất, sự phát triển và cấu trúc

Hiện nay, xu hướng đầu tư từ các nước phát triển tới các nước đang phát triểnđặc biệt là giữa các nước đang phát triển ngày càng trở nên phổ biến mà nổi bật nhất làđầu tư trực tiếp nước ngoài Nguồn gốc chính của các khoản đầu tư trực tiếp nướcngoài đến từ các công ty đa quốc gia Các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ cáccông ty đa quốc gia này hiện lên tới gần 95% tổng số đầu tư trực tiếp nước ngoài trênthế giới Hầu hết các công ty này khởi hành từ các quốc gia giàu có, phát triển, thôngthường, các công ty này mang vốn ra nước ngoài bởi họ sở hữu một số lợi thế đặc biệt

mà học muốn khai thác tối đa, hơn nữa có thể thu được nhiều lợi nhuận từ các hoạtđộng ở nước ngoài Công ty đa quốc gia chủ yếu đặt trụ sở chính ở quốc gia gốc và mởrộng ra nước ngoài bằng cách xây dựng hoặc mua lại các công ty con tại các quốc giakhác ( quốc gia tiếp nhận) Loại mở rộng này được gọi là đầu tư trục tiếp nước ngoài(FDI ) bởi vì nó liên quan đến việc tiến hành trực tiếp sản xuất ở nước ngoài Nhữngcông ty này cũng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế Sựxuất hiện của các công ty này không phải là một hiện tượng mới mẻ Tuy nhiên, bảnchất của chúng đã thay đổi rất nhiều trong những thế kỉ qua Đặc biệt với quá trìnhtoàn cầu hóa được thúc đẩy mạnh mẽ cùng với sự mở rộng thương mại tự do, các công

ty đa quốc gia đã khuếch đại mạnh mẽ về cả số lượng và quy mô hoạt động Sau Chiến

5

Trang 6

tranh thế giới lần thứ hai, FDI đã phát triển với tốc độ phi thường: điển hình vàonhững 1980, FDI đã tăng trưởng 28,9% mỗi năm, gấp 3 lần mức tăng trưởng củathương mại thế giới Mặc dù hiện nay, có khoảng 63000 công ty đa quốc gia trên thếgiới quyền sở hữu và nắm giữ tài sản lại được tập trung ở mức độ cao: khoảng 500công ty đa quốc gia lớn nhất đã kiểm soát hơn 2/3 thương mại thế giới, trong đó, phầnlớn các trao đổi được thực hiện giữa các công ty con, chi nhánh của chúng với nhau.Bên cạnh đó, khoảng 100 công ty đa quốc gia lớn nhất đã chiếm xấp xỉ một phần batổng số đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu Trong đó, 6 quốc gia là các nền kinh

tế lớn, công với lịch sử thương mại quốc tế lâu đời và có nhiều tổ hợp công nghiệphung mạnh là Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan và Nhật Bản sở hữu tới hơn 60% nguồnvốn đầu tưu trực tiếp nước ngoài trên thế giới Hiện nay, các công ty đa quốc gia có 3loại hình:

(1) Công ty đa quốc gia “ theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặctương tự ở các quốc gia khác nhau

(2) Công ty đa quốc gia theo chiều dọc có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó,sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số quốc gia khác.(3) Công ty đa quốc gia theo nhiều chiều có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau

mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc

I.1.3 Đặc trưng cơ bản của các công ty đa quốc gia:

Công ty đa quốc gia có quy mô, doanh thu và phạm vi hoạt động rộng lớn Sở

hữu của MNCs là sở hữu có tính chất đa chủ, đa quốc tịch, thể hiện ở sự tham gia củanhiều chủ sở hữu ở các nước khác nhau đối với tài sản của công ty được phân bố trênphạm vi toàn cầu Các công ty này đầu tư đến nhiều quốc gia nhằm tranh thủ các thuậnlợi từ quá trình quốc tế hóa, các ưu đãi địa phương và sở hữu tài sản trí tuệ Theotruyền thống, chúng xuất phát từ các quốc gia phát triển và đầu tư đến các quốc giađang phát triển khác nhưng hiện nay ngày càng nhiều công ty lựa chon đầu tư đến cácquốc gia đang phát triển Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong MNC nhằm mục tiêuquan trọng nhất là giải quyết những khó khăn về vốn phục vụ kinh doanh Vì vậy saukhi thành lập MNC, các công ty thành viên phát triển nhanh hơn, tài sản có quyền sởhữu cũng tăng lên khá nhanh, từ đó tổng tài sản cũng tăng lên đáng kể MNCs tạođược khả năng sinh lời lớn và mang tính tiên phong để đạt được lợi thế cạnh tranh

6

Trang 7

vượt trội so với các đối thủ là do học thường sở hữu các yếu tố có tính cốt lõi và quyếtđịnh đối với quy trình sản xuất như: vốn đầu tư, bí quyết công nghệ, kĩ năng quản trị

và mạng lưới hoạt động toàn cầu.Về lao động, MNCs thường thu hút một lượng lớnlao động ở chính quốc và các quốc gia khác

Các công ty đa quốc gia là các công ty đa ngành Cùng với sự phát triển của

MNCs, một xu hướng có tính quy luật là chúng hoạt động trong nhiều ngành, nhiềunghề, nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hang, bảo hiểm, nghiên cứu ứng dụng vềkhoa học và công nghệ Một điển hình ở Việt Nam là tập đoàn FPT: không chỉ hoạtđộng trên lĩnh vực viễn thông và phần mềm, tập đoàn này còn đá chân sang cả lĩnhvực bất động sản, quảng cáo, ngân hàng, chứng khoán,…Với sự kết hợp ngày càngchặt chẽ giữa các lĩnh vực có liên quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh và sựliên kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất đã tăng thêm lợi thế so sánh cho cáccông ty đa quốc gia trong việc mở rộng địa bàn hoạt động và gia tăng lợi nhuận

Các công ty đa quốc gia có cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn đa dạng Về cơ cấu

tổ chức, được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện và hiệp thương Cần nhấnmạnh các doanh nghiệp là thành viên của MNC đều có pháp nhân độc lập, có cơquan quyền lực cao nhất như hội đồng thành viên, đại hội cổ đông Sở hữu vốn củaMNC cũng rất đa dạng Trước hết vốn trong công ty là do các công ty thành viênlàm chủ sở hữu, bao gồm cả vốn tư nhân và vốn nhà nước Quyền sở hữu vốn trongMNC cũng tùy thuộc vào mức độ phụ thuộc của các công ty thành viên vào công tymẹ

I.1.4 Đặc điểm phát triển của các công ty đa quốc gia:

Trong hoạt động đầu tư các công ty đa quốc gia có xu hướng chuyển dịch từ

công nghiệp khai thác tài nguyên sang công nghiệp chế biến sản phẩm, đem lại giátrị cao hơn; từ công nghiệp sử dụng lao động nhiều chuyển sang đầu tư vào cácngành sử dụng nhiều kĩ thuật và công nghệ mới và sang các ngành dịch vụ điện tử,dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng, y tế, giáo dục…

Các công ty đa quốc gia ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển của kinh tế thế giới Hiện nay, các công ty đa quốc gia chiếm đến 2/3 trị giá

7

Trang 8

thương mại quốc tế, chiếm 4/5 tổng giá trị đầu tư FDI; 9/10 thành quả nghiên cứukhoa học và chuyển giao kĩ thuật của thế giới; chiếm 95% hoạt động xuất nhậpkhẩu lao động quốc tế… và các công ty đa quốc gia đóng vai trò trọng yếu trongđẩy nhanh quốc tế hóa đời sống kinh tế toàn cầu, biến mỗi nước trở thành một bộphận của kinh tế thế giới.

Các công ty đa quốc gia đồng thời cũng mở rộng các hình thức liên kết kinh tế

để tăng cường khả năng cạnh tranh Để mở rộng phạm vi thế lực, tăng sức cạnh

tranh phù hợp với bước phát triển mới của kinh tế và kĩ thuật, cùng với chiến lượcsáp nhập, các công ty đa quốc gia lớn còn đẩy mạnh hoạt động liên hợp Đó là sựthiết lập quan hệ hợp tác giữa hai hoặc nhiều công ty đa quốc gia ngang sức cùnghoặc khác quốc tịch nhằm thực hiện mục tiêu nào đó

Đa dạng hóa và chuyên môn hóa cao độ là một xu hướng chiến lược mới của

mỗi công ty đa quốc gia: Các công ty thông qua sản xuất nhiều chủng loại sản phầmhoặc thỏa mãn nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau để giảm bớt rủi ro, tìm kiếm cơ hộikinh doanh mới, đối phó với tình trạng kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, nhu cầuthị trường giảm sút Một số khác lại dốc toàn lực phát huy thế mạnh, chuyên môncủa mình

I.2 VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ

I.2.1 Khái niệm:

Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ

và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới khôngtheo giá thị trường nhằm chuyển thu nhập và lời nhuận từ nước có thuế cao sang nước

có thuế thấp, tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu

Khái niệm này được mô tả chung là việc xác định bằng tiền đối với một loạihàng hóa hay sản phẩm nào đó, tuy nhiên chỉ bao hàm những mặt hàng mà các bêngiao dịch không phải mua từ bên ngoài (hay bên thứ ba), tức là những mặt hàng đượctrao đổi giữa các đơn vị thành viên trong phạm vi của một doanh nghiệp với nhau- còngọi là các chủ thể có mối quan hệ liên kết Do đó, khái niệm này chỉ áp dụng choMNCs gồm tập hợp nhiều doanh nghiệp (đơn vị) liên kết có tư cách pháp nhân độc

8

Trang 9

lập, hoặc các chủ thể kinh tế theo mô hình công ty mẹ- công ty con và có hoạt độngkinh doanh quốc tế Ngoài ra, mỗi bộ phận hoặc mỗi đơn vị thành viên khác nhau thựchiện hoạch toán độc lập và có thẩm quyền riêng trong việc ra quyết định về mức chiphí và doanh thu Ta cần hiểu thêm thuật ngữ “ giá chuyển giao nội bộ” hay “ giá liênkết” (giá chuyển giao giữa các chủ thể/ đơn vị liên kết) tồn tại trong chuyên ngànhhoạch toán chi phí, nhằm định giá việc trao đổi các sản phẩm , bán sản phẩm, dịch vụ

và tài sản (bao gồm cả chi phí sử dụng bản quyển, các khoản vay nợ, ) bên trong nội

bộ các đơn vị doanh nghiệp, giữa các điểm phát sinh chi (chi phí riêng) và qua đó gópphần vào hạch toán chính xác và xác định phần chi phí tự phát sinh Đặc biệt, giáchuyển giao nội bộ không hình thành từ mối quan hệ cung- cầu

Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằmthay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết Hành vinày có đối tượng tác động chính là giá cả Thêm vào đó, các chủ thể lại có mối quan hệgắn bó chung về lợi ích nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủthể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục nhưng lại khiểntổng nghĩa vụ về thuế thay đổi Việc định giá này sẽ điều tiết nghĩa vụ thuế, chuyển từnơi cao hơn sang nơi thấp hơn, điều này sẽ khiến lợi nhuận thu được cao hơn Sở dĩ,giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch liên kết như thế xuất phát từ ba lý do:

Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn

có quyền quyết định giá cả của một giao dịch, do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay

bán hàng hóa, dịch vụ với giá mà họ mong muốn Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ

gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá cả giao dịch đượcthực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn

cục Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm

liên kết không làm thay đổi lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụthuế của họ Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiếtcao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại Giá giao kết là cơ sở để xem xét hành

vi chuyển giá Chúng ta cũng chỉ có thể đánh giá một giao dịch có chuyển giá haykhông khi so sánh giá giao kết với giá thị trường Nếu giá giao kết không tương ứngvới giá thị trường thì có nhiều khả năng để kết luận là giao dịch này có biểu hiệnchuyển giá Để làm được điều này, họ phải thiết lập một chính sách về giá mà ở đó giá

9

Trang 10

chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ nhữnggiao dịch như thế Như thế, vô hình chung, chuyển giá đã gấy ra sự bất bình đẳngtrong việc thực hiện nghĩa vụ thuế do xác định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến

sự bất bình đẳng về lợi ích,tạo ra sự khác biệt trong ưu thế cạnh tranh

I.2.2 Một số dấu hiệu nhận biết chuyển giá:

Việc chủ thể có thực hiện chuyển giá hay không gặp khó khăn trong việc xácđịnh Bởi vì, nếu định giá quá cao hoặc quá thấp mà làm tăng số thu thuế một cách cục

bộ cho một nhà nước thì cơ quan có thẩm quyền nên định lại giá chuyển giao Ví dụ,nếu xác định giá mua đầu vào thấp sẽ dẫn đến chi phí thấp và kết quả thu nhập trướcthuế sẽ cao, do đó thuế thu nhập doanh nghiệp có thể tăng; hoặc nếu như giá xuất khẩuđược định cao cũng làm cho doanh thu tăng và kết quả là cũng làm tăng số thuế mànhà nước thu được Nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc nghĩa vụ thuế của doanhnghiệp liên kết ở đầu kia có khả năng giảm xuống do đã chuyển một phần nghĩa vụthuế của mình qua giá sang doanh nghiệp liên kết này Điều này khiến tổng thuế sẽgiảm đáng kể

Bên cạnh đó, hành vi này cũng có thể được thực hiện thông qua giao dịch của cácchủ thể có quan hệ liên kết Cụ thể là biểu hiện trong giao kết về giá Nhưng giao kếtnày cũng chưa đủ để đi đến kết luận chủ thể đã thực hiện chuyển giá Bởi lẽ, nếu giaokết đó chưa thực hiện trên thực tế hoặc chưa có sự chuyển dịch quyền đối với đốitượng giao dịch thì không có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ịch Nhưvậy, ta có thể xem chuyển giá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng giao dịchcho dù đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán hay chưa Cơ sở để xem xét hành vi chuyểngiá là giá giao kết Ta có thể đánh giá một giao dịch có chuyển giá hay không khi sosánh giá giao kết với giá thị trường Nếu giá giao kết không tương ứng với giá thịtrường thì có nhiều khả năng để kết luận giao dịch này đã thực hiện chuyển giá

Ngoài ra, ta còn có thể nhận biết chuyển giá thông qua một số dấu hiệu Ví dụnhư doanh nghiệp lỗ liên tục trong nhiều năm nhưng doanh thu tăng, hoạt động sảnxuất được mở rộng Doanh nghiệp có thể công bố lỗ nhiều năm bằng cách biến hóanhư: chủ động để ba năm lỗ liên tục, sau đó 1-2 năm lãi nhưng lãi rất ít để lũy kế ravẫn lỗ Các giao dịch nội bộ thể hiện bất thường Hay có các nghiệp vụ chuyển giao từcác doanh nghiệp liên kết ở các quốc gia có thuế suất thấp hoặc các doanh nghiệp có

10

Trang 11

tình hình lãi và lỗ luân phiên hoặc phát sinh không bình thường Cũng có trường hợpcác doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận hơn nhiều so với các doanh nghiệp khác cùngtrong ngành hoặc các doanh nghiệp có chi phí sản xuất thực tế khá thấp.

I.2.3 Hình thức chuyển giá

I.2.3.1 Chuyển giá thông qua vốn đầu tư:

Khi nươc tiếp nhận không đủ năng lực và trình độ (đôi khi không đủ điều kiện)

để thẩm định giá các loại thiết bị, công nghệ chuyền vào khu thực hiện dự án đầu tư,trong khi đó các nhà đầu tư nước ngoài thông qua góp vốn bằng cac dây chuyền máymoc, thiết bị, mang đặc thù và thường định giá cao hơn nhiều so với giá trị thực tếnhằm nâng cao giá trị vốn góp trong liên doang của các bên đối tác và nắm lấy quyềnquản lý công ty hoặc gia tăng giá trị doanh nghiệp ( đối với doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài) Tình trạng nâng giá trị vốn góp liên doanh theo thủ thuật này của cáccông ty đa quốc gia có thể làm thiệt hại đến ba đối tượng là bên liên doanh góp vốn,chính phủ và người tiêu dung Bên liên doanh chịu thiệt trong phần vốn góp và dễ bịcác công ty xuyên quốc gia thôn tính để biến doanh nghiệp liên doanh thành doanhnghiệp 100% đầu tư nước ngoài khi không đủ tiềm lực tài chính, chính phủ bị thật thuthuế còn người tiêu dung phải sử dụng những sản phẩm với giá đắt hơn

I.2.3.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ:

Đây là hành vi chuyển giá thông qua việc các công ty nước ngoài chuyển giaocông nghệ sản xuất, kinh doanh cho các bên liên kết tại nước tiếp nhận và thu tiền bảnquyền với giá cao trong điều kiện lợi dụng việc định giá của ta còn gặp nhiều khókhăn Do đó, chi phí đầu vào bị đẩy lên cao, dẫn đến hạch toán thua lỗ, còn khoản phíbản quyền được chuyển giao cho bên nước ngoài hưởng

I.2.3.3 Chuyển giá thông qua chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hóa:

Thông qua công ty mẹ ở nước ngoài, công ty đa quốc gia đã chi phối đẩy giá đầuvào lên cao của nguyên vật liệu chuyển giao giữa công ty con ở nước tiếp nhận và cácbên liên kết và chuyển lợi nhuận từ quốc gia này về công ty liên kết tại quốc gia cóthuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn Nhiều doanh nghiệp FDI chủ yếu nhập khẩu cácyếu tố đầu vào cho sản xuất của các công ty mẹ hoặc các công ty khác trong cùng hệ

11

Trang 12

thống các công ty đa quốc gia Giá mua các hàng hóa, dịch vụ này thường cao hơn giáthực tế rất nhiều và bán sản phẩm cho công ty mẹ với giá thấp dẫn đến tình trạng “ lỗcông ty con, lãi công ty mẹ.”

I.2.3.4 Chuyển giá thông qua các hình thức cung cấp dịch vụ:

Do việc cung cấp dịch vụ giữa công ty mẹ với các công ty con và giữa các công

ty trong tập đoàn rất khó xác định giá, một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vốn và cungcấp dịch vụ quản lý và hỗ trợ quản lý cho cả tập đoàn như dịch vụ kế toán, tài chính, tưvấn, quản lý tài sản,…họ tính giá dịch vụ này rất cao để chuyển lợi nhuận từ công tycon sang công ty mẹ với mục đích tránh thuế

I.2.3.5 Chuyển giá thông qua chi trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh:

Thông qua hình thức vay vốn từ bên liên kết và trả lãi suất vay cao Mục đích làchuyển lợi nhuận từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại nước nhận đầu tư sang bênliên kết tại nước có thuế suất thuế thấp hơn để tránh nghĩa vụ thuế tại nước đó

I.2.3.6 Chuyển giá thông qua chiếm lĩnh thị trường:

Để có thể thâm nhập thị trường và chiếm lĩnh thị phần, các doanh nghiệp FDItăng cường các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm làm cho các công ty này khainhững chi phí trên với giá cao khiến các công ty này bị lỗ Đặc biệt, đối với các doanhnghiệp liên doanh, các công ty đa quốc gia dựa vào tiềm lực tài chính để thực hiệnhành vi chuyển giá bất hợp pháp gây ra thua lỗ kép kéo dài và chiếm lấy phần quản lý

và kiểm soát công ty Nhiều doanh nghiệp lợi dụng chính sách ưu đãi cho giảm trừphần chi phí cho hoạt động quảng cao, khuyến mãi nên đã tìm mọi cách kê khai cảphần chi phí làm thương hiệu của công ty mẹ

Đây là một số hình thức chuyển giá cơ bản của các công ty đa quốc gia nhưngchắc chắn, các doanh nghiệp này còn có nhiều hình thức chuyển giá khác nữa khi mà

mô hình hoạt động của họ còn qua nhiều khâu trung gian và hoạt động chuyển giángày càng tinh vi

12

Trang 13

I.2.4 Động cơ thúc đẩy:

I.2.4.1 Động cơ bên ngoài:

Đầu tiên là sự khác biệt về thuế suất thu nhập doanh nghiệp Khi hai quốc gia có

sự khác biệt lớn trong thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, để tối đa hóa lợi nhuận,các công ty đa quốc gia sẽ tiến hành hành vi chuyển giá nhằm tối thiểu hóa khoản thuế

mà các công ty này phải nộp Khi có chênh lệch về thuế suất thì phương thức chuyểngiá mà các công ty đa quốc gia thường sử dụng đó là nâng giá mua đầu vào cácnguyên liệu, vật liệu, hàng hóa và định giá bán ra hay giá xuất khẩu thấp tại các công

ty con đóng trên các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao Bằng cáchthực hiện này thì các MNCs đã chuyển một phần lợi nhuận từ quốc gia có thuế suấtthuế thu nhập doanh nghiệp cao sang quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanhnghiệp thấp và như vậy mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đã được thực hiện thành công

Thứ hai, với mục địch bảo toàn và phát triển nguồn vốn đầu tư ban đầu, MNCs

sẽ tiên hành đầu tư vào một quốc gia nếu họ dự đoán rằng trong tương lai đông tiềncủa quốc gia này sẽ mạnh lên nghĩa là số vốn đầu tư ban đầu của họ được bảo toàn vàphát triển, ngược lại họ sẽ rút đầu tư ra khỏi một quốc gia nếu họ dự đoán rằng trongtương lai đồng tiền của quốc gia này sẽ bị yếu đi nghĩa là vốn đầu tư ban đầu của họ

bị giảm đi Dựa trên các dự báo về tình hình tỷ giá mà các MNC có thể thực hiện cáckhoản thanh toán nội bộ sớm hơn hay muộn hơn nhằm giảm rủi ro về tỷ giá Cáckhoản công nợ có thể được thanh toán sớm hơn nếu các dự báo cho rằng đồng tiềncủa quốc gia mà các công ty đa quốc gia có công ty con sẽ bị mất giá Và ngược lạicác khoản thanh toán sẽ bị lùi lại nếu dự báo cho rằng đồng tiền của quốc gia đó

có xu hướng mạnh lên

Ba là, chi phí cơ hội cũng là một động lực để các các công ty này thực hiện hành

vi chuyển giá Các công ty nhận ra rằng các khoản lợi nhuận của họ chỉ có thểchuyển về nước sau khi kết thúc năm tài chính và sau khi được kiểm tra của cơ quanthuế và chịu sự kiểm soát ngoại tệ của cơ quan quản lý ngoại hối Vì vậy, các cơ hộiđầu tư có thể sẽ bị bỏ lỡ Do MNCs sẽ tiến hành thủ thuật chuyển giá nhằm thu hồivốn đầu tư và bắt lấy cơ hội đầu tư khác Trong các hoạt động liên doanh liên kết vớicác đối tác trong nước thì các công ty này sẽ định giá thật cao các yếu tố đầu vào mua

từ công ty mẹ nhằm tăng cường tỷ lệ góp vốn và nắm quyền quản lý

13

Trang 14

Bốn là, tình hình lạm phát của các quốc gia khác nhau, nếu quốc gia nào có tỷ

lệ lạm phát cao tức đồng tiền nước đó bị mất giá Do đó sẽ tiến hành hoạt độngchuyển giá nhằm bảo toàn lượng vốn đầu tư và lợi nhuận

Năm là, yếu tố tình hình kinh tế-chính trị của quốc gia mà MNCs có chi

nhánh hay công ty con Các chính sách kinh tế thay đổi ảnh hưởng đến quyền lợicủa các công ty con của nó thì công ty sẽ thực hiện các hành vi chuyển giá nhằmchống lại các tác động Hoặc nếu tình hình chính trị bất ổn, để giảm rủi ro và bảotồn vốn kinh doanh bằng cách chuyển giá thì các công ty này muốn thu hồi vốn đầu

tư sớm Ngoài ra hoạt động chuyển giá cũng nhằm làm giảm các khoản lãi từ đó giảm

áp lực đòi tăng lương của lực lượng lao động, cũng như giảm sự chú ý của các cơquan thuế của nước sở tại

I.2.4.2 Động cơ bên trong:

Khi các hoạt động sản xuất kinh doanh của MNCs tại chính quốc haytại các công ty thành viên trên các quốc gia khác bị thua lỗ Để tạo ra một bức tranhtài chính tươi sáng hơn cho công ty khi đứng trước các cổ đông và các bên hữu quankhác thì chuyển giá như là một cứu cánh để thực hiện ý đồ trên Chuyển giá giúpcho các công ty này san sẻ thua lỗ giữa các thành viên với nhau từ đó làm giảm cáckhoản thuế phải nộp và tạo nên kết quả kinh doanh giả tạo vi phạm pháp luật của cácquốc gia MNCs khi thâm nhập vào một thị trường mới thì điều quan trọng trong giaiđoạn này là phải chiếm lĩnh thị trường, chiếm lĩnh thị phần nhằm xây dựng nền móngban đầu cho hoạt động kinh doanh sau này Vì vậy mà MNCs trong giai đoạn này sẽtăng cường các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm làm cho giai đoạn nàychúng sẽ bị lỗ nặng và kéo dài Trong các mối liên kết kinh doanh hay hợp tác kinhdoanh thì các công ty này sẽ dựa vào tiềm lực tài chính hùng hậu của mình mà thựchiện các hành vi chuyển giá bất hợp pháp để làm cho hoạt động kinh doanh thua lỗkéo dài và chiếm lấy quyền quản lý và kiểm soát công ty Tồi tệ hơn là đẩy các đốitác ra khỏi hoạt động kinh doanh và chiếm toàn bộ quyền kiểm soát và chuyển quyền

sở hữu công ty Tình trạng này thường xảy ra phổ biến tại các quốc gia đang pháttriển như Việt Nam khi mà trình độ quản lý còn yếu kém Sau khi đánh bật cáccác đối thủ và những bên liên kết kinh doanh ra khỏi thị trường thì các công ty đa

14

Trang 15

quốc gia sẽ chiếm lĩnh thị trường và nâng giá sản phẩm để bù lại phần chi phítrước đây đã bỏ ra.

Do được hưởng các đặc quyền, đặc lợi trong quá trình kêu gọi đầu tư của nướcchủ nhà và nắm trong tay các quyền về kinh tế chính trị và xã hội mà chúng xemcông ty con đặt trên quốc gia này như là trung tâm lợi nhuận của cả tập đoàn đa quốcgia và thực hiện hành vi chuyển giá để lại hậu quả đáng kể cho nước tiếp nhận đầu tư Ngoài ra chuyển giá còn được thực hiện do việc chuyển giao các sản phẩm vàdịch vụ có tính đặc thù cao, độc quyền và tính bảo mật cao như trong các ngành côngnghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, y dược… nhằm giảm các rủi ro khi giaodịch các sản phẩm này thì chuyển giá là phương pháp được các công ty này lựa chọn

TY ĐA QUỐC GIA TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM:

II.1 Thực trạng hoạt động của Công ty ĐQG trên lãnh thổ Việt Nam

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành lần đầu tiên vào tháng 12năm 1987, trở thành khuôn khổ luật pháp cơ bản đầu tiên cụ thể hóa quan điểm củaĐảng và Nhà nước về mở cửa, hội nhập Đầu tư trực tiếp nước ngoài thời gian qua cơbản đã đáp ứng những mục tiêu đề ra về thu hút vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảiquyết việc làm, tăng năng suất lao động, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản líhiện đại Điều này khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việcphát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt kể từ năm 2000 sau khi Quốc hộiban hành Luật Doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp sửa đổi năm 2005, hoạt động củakhu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên nhanh chóng Khu vực này là một bộ phậnquan trọng của nền kinh tế, có vai trò đáng kể quyết định đến tốc độ tăng trưởng củanhiều ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành thuộc công nghiệp chế biến, chế tạo, làmchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và góp phần giải quyết có hiệu quảnhiều vấn đề xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.1 Đến nay, Việt Nam đã thu hút đượcnhiều tập đoàn đa quốc gia (MNCs) và xuyên quốc gia (TNCs) hàng đầu của thế giới

1 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011” , Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống

kê, NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

15

Trang 16

đến đầu tư và kinh doanh như Intel, Samsung, Canon, Honda, Toyota, BP, Coca-Cola,Adidas, Unilever…

II.2 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Đầu tư nước ngoài hiện đang là khu vực phát triển mạnh nhất trong các khu vựckinh tế với tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng GDP của toàn nền kinh tế Tốc độtăng GDP năm 2011 so với năm 2010 của khu vực FDI tăng 6,30% trong khi GDPtoàn nền kinh tế tăng 5,89% Khu vực FDI tăng nhanh dẫn tới tỉ trọng đóng góp củakhu vực này vào GDP không ngừng tăng lên, cụ thể, tỉ trọng của khu vực FDI đónggóp vào GDP năm 2010 và 2011 là 18,72% và 18,97% Tính đến năm 2011, sau hơn

20 năm hoạt động, các doanh nghiệp thuộc khu vực FDI đã trở thành một bộ phậnquan trọng trong toàn bộ doanh nghiệp Việt Nam, chiếm 16,1% vốn sản xuất kinhdoanh; 18,3 tài sản cố định; 19,7% tổng doanh thu; 31,5% lợi nhuận trước thuế; 32,2%đóng góp vào ngân sách Nhà nước.1

Đầu tư nước ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa Vốn đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào sản xuất công nghiệp Năm

2011 khu vực doanh nghiệp FDI có vốn chiếm trong toàn ngành công nghiệp là 46%.Tốc độ tăng trưởng của khu vực FDI ngành công nghiệp đạt bình quân gần 18%/năm,cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành Đến năm 2012, khu vực FDI đã tạo ra gần45% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, đồng thời góp phần hình thành một sốngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế

Với chủ trương khuyến khích khu vực FDI hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợicho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu, qua đó Việt nam từng bướctham gia và cả thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu Không những thế khu vực FDIgóp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỉ trọng xuất khẩusản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỉ trọng hàng xuất khẩu của côngnghiệp chế biến, chế tạo

FDI tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước châu

Âu, đặc biệt là thị trường Mỹ - nơi mà hàng hóa nhập khẩu được kiểm định rất nghiêmngặt Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn

1 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011” , Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống

kê, NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

16

Trang 17

chế nhập siêu thông qua việc cung cấp cho trụ trường nội địa các sản phẩm chất lượngcao do doanh nghiệp trong nước sản xuất.

II.2.1 Doanh nghiệp FDI tăng trưởng nhanh cả về số lượng doanh nghiệp, quy

mô và kết quả sản xuất

Khu vực FDI tăng trưởng ổn định ở hầu hết các lĩnh vực Tổng số doanh nghiệpFDI đang hoạt động trên phạm vi toàn quốc tính đến 31/12/2013 là 9093 doanhnghiệp, gấp 6 lần năm 2000, bình quân giai đoạn 2000-2013 mỗi năm tăng xấp xỉ16% Trong đó, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là 7543 doanh nghiệp (chiếm83% toàn bộ doanh nghiệp FDI) gấp 8,8 lần năm 2000, bình quân giai đoạn 2000-

2013 mỗi năm tăng xấp xỉ 20% Doanh nghiệp liên doanh là 1550 doanh nghiệp(chiếm 17% toàn bộ doanh nghiệp FDI) gấp 2,3 lần năm 2000, bình quân giai đoạnh2000-2013 mỗi năm tăng 6,7%

Lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI tại thời điểm 31/12/2013 trên3,2 triệu người, gấp gần 8 lần năm 2000, trong đó doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài chiếm 92% (năm 2000 là 70,2%), doanh nghiệp liên doanh với nước ngoàichiếm 8% (năm 2000 là 29,8%), bình quân mỗi năm thu hút thêm 216,5 nghìn laođộng, góp phần đáng kể vào giải quyết việc làm của nền kinh tế Khu vực côngnghiệp và xây dựng hiện thu hút lao động khu vực FDI đạt tỷ lệ cao nhất với 91%(riêng ngành công nghiệp 90,2%)

Tổng số vốn của khu vực doanh nghiệp FDI sử dụng vào hoạt động sản xuất kinhdoanh thời điểm 31/12/2013 là 3411 nghìn tỷ đồng, gấp 14,2 lần năm 2000, bìnhquân giai đoạn 2000-2013 tăng 22,4%/năm Trong đó vốn FDI đầu tư vào khu vựccông nghiệp và xây dựng chiếm 55,2% (riêng công nghiệp là 54,1%); tiếp đến là khuvực dịch vụ 44,5% và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 0,3%

Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp FDI thời điểm31/12/2013 là 1438 nghìn tỉ đồng Đặc biệt đối với doanh nghiệp FDI thì tài sản cốđịnh chủ yếu là đầu tư vào dây chuyền, máy móc thiết bị hiện đại với công nghệ tiêntiến

Doanh thu thuần năm 2013 của khu vực doanh nghiệp FDI là 3138 nghìn tỷđồng, gấp 19,4 lần năm 2000, bình quân giai đoạn 2000-2013 tăng 25,3%/năm Theokhu vực, công nghiệp và xây dựng có số doanh thu FDI cao nhất với 81,5%, tiếp đến

17

Trang 18

là khu vực dịch vụ 18,2% và thấp nhất là khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản0,3% Lợi nhuận trước thuế năm 2013 của khu vực FDI đạt 248 nghìn tỷ đồng, gấp11,5 lần năm 2000, bình quân giai đoạn 2000-2013 tăng 15,4%/năm Đóng góp vàongân sách Nhà nước của khu vực này năm 2013 là 214,3 nghìn tỷ đồng, gấp 9 lầnnăm 2000, bình quân giai đoạn 2000-2013 tăng 18,1%/năm. 1

Bảng 1: Tỷ trọng một số chỉ tiêu cơ bản của các khu vực doanh nghiệp

Đơn vị tính: %

Số doanh nghiệp

Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp FDI

100,0

1,0196,222,77

100,0

2,9693,673,37

Số lao động

Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp FDI

100,0

15,2861,3123,41

100,0

28,9349,0622,02

Vốn SXKD

Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp FDI

100,0

32,6851,2616,06

100,0

51,9128,6319,46

Tài sản cố định

Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp FDI

100,0

43,2238,4818,3

100,0

55,8920,4623,65

Doanh thu thuần

Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp FDI

100,0

26,4653,8619,68

100,0

36,5941,1522,25

Lợi nhuận

Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp FDI

100,0

43,3225,18

100,0

36,711,57

1 “Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoan

2000-2013”, Tổng cục Thống kê (2014)

2 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê,

NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

18

Trang 19

31,49 51,73

Nộp ngân sách

Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Doanh nghiệp FDI

100,0

34,9532,8532,2

100,0

37,8317,4844,69

II.2.2 Đến nay các doanh nghiệp FDI đã hoạt động khắp ở hầu hết các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương và ngành kinh tế

Số lượng doanh nghiệp FDI thực tế đang hoạt động ở thời điểm 31/12/2006 là

4220 doanh nghiệp, tập trung chủ yếu ở một số ngành như: điện tử, sản xuất và lắp ráp

ô tô, xe máy, may mặc, sản xuất thực phẩm và đồ uống thì đến năm 2013 số doanhnghiệp FDI thực tế đang hoạt động đã tăng lên 9093 doanh nghiệp, hoạt động ở hầuhết các ngành cấp 2 của nền kinh tế Trong đó, vốn của các doanh nghiệp FDI tậptrung chủ yếu nhất là vào ngành công nghiệp (1845,1 nghìn tỉ đồng), chiếm xấp xỉ50% vốn của toàn bộ khu vực doanh nghiệp (trong đó khai khoáng chiếm 8,4%; sảnxuất, chế biến thực phẩm 4,8%; dệt 3,5%; sản xuất các sản phẩm điện tử 5,8%; sảnxuất phương tiện vận tải khác 3,1%; ) và một số ngành khác như hoạt động tài chính,ngân hàng, bảo hiểm 25%; kinh doanh bất động sản 6,9%; hoạt động dịch vụ tài chính22,6%.1

Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép năm 2012

Số dự án

Công nghiệp chế biến, chế tạo

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và

điều hòa không khí

Cung cấp nước, hoạt động quản lí và xử lí rác thải, nước thải

Xây dựng

1287

177549

152

16348,0

99,4167,511701,9

97,20,5

1 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê,

NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

2 Nguồn: Tổng cục Thống kê

19

Trang 20

Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có

động cơ khác

Vận tải, kho bãi

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

Thông tin và truyền thông

Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

Hoạt động kinh doanh bất động sản

Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ

Giáo dục và đào tạo

Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội

Nghệ thuật, vui chơi và giải trí

Hoạt động dịch vụ khác

96

220321599113711698

346,0

772,8227,1108,2416,90,11979,95,3105,1140,260,620,5

(*) Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước

Địa bàn hoạt động của doanh nghiệp FDI được phân bố ở hầu hết các vùng, cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước, kể cả các tỉnh thuộc khu vực khókhăn như miền núi

Đơn vị tính: Doanh nghiệp

- Đồng bằng sông Hồng 2609 1987

- Trung du và miền núi phía Bắc 208 172

- Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 414 307

- Tây Nguyên 83 82

- Đông Nam Bộ 5332 4438

- Đồng bằng sông Cửu Long 363 262

Vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ là hai vùng kinh tế trọngđiểm, lớn nhất cả nước, gồm nhiều tỉnh, thành phố có quy mô lớn về sản xuất kinhdoanh nói chung và tập trung các doanh nghiệp FDI nói riêng như TP Hồ Chí Minh,

TP Hà Nội, TP Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu

Bảng 4: Tỷ trọng một số chỉ tiêu của doanh nghiệp FDI theo vùng kinh tế năm 2011

Đơn vị tính: %

1“Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011” , Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê,

NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

20

Trang 21

Số DN

Lao động

Vốn SXKD

Doanh thu thuần

Nộp ngân sách

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền

Trung

4,59 5,36 3,46 3,03 1,78

II.2.3 Khu vực FDI là khu vực sản xuất kinh doanh năng động, ổn định và hiệu quả

Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp FDI tăng rõ rệt qua các năm Tỷ suấtlợi nhuận của phần lớn các doanh nghiệp đều được cải thiện đáng kể Tỷ suất lợinhuận trên vốn của toàn khu vực FDI tăng nhanh hơn so với các khu vực khác Năm

2011, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của khu vực FDI là 4,4%, trong khi khu vực doanhnghiệp nhà nước là 3% và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 1,1% Nhữngngành có tỉ suất lợi nhuận trên vốn của khu vực FDI năm 2011 cao gồm: Khai thác dầuthô và khí tự nhiên 9,7%; sản xuất chế biến thực phẩm 11,7%; sản xuất đồ uống 13%;sản xuất thuốc lá 24,5%; sản xuất than cốc 33,6%

Bảng 5: Thu nhập bình quân của người lao động (Đơn vị tính: triệu đồng/tháng)

6,210,7Chia theo khu vực kinh tế

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

- Công nghiệp và xây dựng

- Dịch vụ

4,34,412,9

5,95,715,0

1 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011” , Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống

kê, NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

2 “Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000-2013”, Tổng cục Thống kê (2014)

21

Trang 22

Thu nhập bình quân một lao động một tháng năm 2013 của các doanh nghiệpFDI là 6,6 triệu đồng, gấp 1,34 lần năm 2011 Theo hình thức đầu tư, doanh nghiệpliên doanh có thu nhập cao hơn, đạt 10,7 triệu đồng, gấp xấp xỉ 1,5 lần năm 2011,trong khi thu nhập bình quân lao động của khu vực 100% vốn nước ngoài là 6,2 triệuđồng Theo khu vực kinh tế, khu vực dịch vụ đạt mức thu nhập bình quân cao nhất với15,0 triệu đồng, gấp 1,16 lần năm 2011 Tiếp đến là khu vực nông, lâm nghiệp và thủysản là 5,9 triệu đồng và thấp nhất là khu vực công nghiệp và xây dựng 5,7 triệu đồng.

1,21,2

46,238,8Chia theo khu vực kinh tế

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

- Công nghiệp và xây dựng

- Dịch vụ

45,155,750,8

0,81,11,2

54,143,248,0

Bảng 7: Hiệu suất sử dụng lao động và chỉ số quay vòng vốn của doanh nghiệp FDI

Hiệu suất sử dụng lao động

Chỉ số quay vòng vốn

11,419,1

0,860,91

0,90,8Chia theo khu vực kinh tế

1 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011” , Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống

kê, NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

2 “Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000-2013”, Tổng cục Thống kê (2014)

22

Trang 23

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

- Công nghiệp và xây dựng

- Dịch vụ

14,814,111,5

13,612,611,3

0,91,30,3

1,01,40,4

Hiệu suất sử dụng lao động (tính bằng doanh thu bình quân một lao động/thunhập bình quân một lao động) năm 2013 chung của các doanh nghiệp FDI đạt 12,4 lần.Theo hình thức đầu tư, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài đạt hiệu suất sử dụnglao động cao với 19,1 lần Theo khu vực kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủysản có hệ số sử dụng lao động đạt cao nhất với 13,6 lần, tiếp đến là khu vực côngnghiệp và xây dựng đạt 12,6 lần và thấp nhất là khu vực dịch vụ với 11,3 lần

Chỉ số quay vòng vốn (tính bằng tổng doanh thu/tổng vốn) năm 2013 của doanhnghiệp FDI đạt 0,9 lần Theo hình thức đầu tư, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cóchỉ số quay vòng vốn đạt cao nhất với 0,9 lần, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài

là 0,8 lần Theo khu vực kinh tế, công nghiệp và xây dựng là khu vực có chỉ số quayvòng vốn đạt cao nhất với 1,4 lần, tiếp đến là khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là1,0 lần và khu vực dịch vụ đạt thấp với 0,4 lần

II.2.4 Hạn chế của các doanh nghiệp FDI

Bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, khu vực doanh nghiệp FDI thời gianqua vẫn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, đó là:

Thứ nhất, các doanh nghiệp FDI chủ yếu tập trung vào hoạt động gia công, lắp

ráp, nguyên vật liệu chủ yếu nhập ngoại nên giá trị gia tăng chưa cao, điển hình là cáchoạt động lắp ráp ô tô, xe máy, điện – điện tử, may mặc, da giày, trong khi Việt Nam

là một nước có thế mạnh về nông nghiệp thì tỷ trọng vốn đầu từ của các doanh nghiệpFDI vào nông nghiệp rất thấp và có xu hướng giảm dần, năm 2011 chiếm 0,3% tổngvốn FDI

Thứ hai, kì vọng rất lớn của Việt Nam là các doanh nghiệp FDI sẽ góp phần tích

cực vào chuyển giao công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ, kinh nghiệm, kĩ năng quản

lí doanh nghiệp của Việt Nam, đồng thời phát triển nhanh chóng các ngành có côngnghệ cao, tạo ra nhiều giá trị gia tăng, giúp đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện

đa hóa đất nước Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn còn hạn chế, bất cập Tỉ lệ doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài thời điểm 31/12/2013 chiếm 83% (còn lại 16% là doanh

23

Trang 24

nghiệp liên doanh với nước ngoài)1, trong khi các doanh nghiệp FDI hiện nay chủ yếutập trung vào hoạt động ở các ngành, lĩnh vực cần nhiều lao động phổ thông có chi phínhân công thấp Hầu như công nghiệp Việt Nam chưa có được ngành sản xuất, chếbiến nào mang tầm công nghệ cao, sử dụng nhiều lao động có trình độ, tay nghề cao,tạo ra nhiều giá trị gia tăng, chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp hoạt động gia công, lắpráp với các trang thiết bị, dây chuyền bình thường hoặc đã lạc hậu.

Thứ ba, mặc dù tỉ lệ doanh nghiệp kinh doanh lỗ năm 2011 (45%) có giảm so với

trước nhưng vẫn còn cao, số lượng việc làm tạo ra chưa nhiều, đời sống người laođộng trong các doanh nghiệp FDI chưa tương xứng Thu nhập bình quân tháng năm

2011 của người lao động ở khu vực FDI là 4,9 triệu đồng/tháng chỉ cao hơn khu vựcdoanh nghiệp ngoài Nhà nước (3,8 triệu đồng/tháng) nhưng lại thấp hơn nhiều so vớithu nhập bình quân của người lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước (7,5 triệuđồng/tháng).1

Thứ tư, một số dự án được cấp phép nhưng chưa bảo đảm tính bền vừng, gây ô

nhiễm môi trường, tiêu tốn năng lượng, tài nguyên, chưa chú ý đầy đủ tới an ninh quốcphòng

Thứ năm, có hiện tượng chuyển giá, trốn thuế Một số doanh nghiệp đầu tư nước

ngoài có biểu hiện áp dụng các thủ thuật chuyển giá tinh vi như nâng khống giá trị gópvốn (bằng máy móc, thiết bị, bản quyền ), giá trị mua bán nguyên vật liệu đầu vào,bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ, phí quản lí, tiền bản quyền, chi phí bảo lãnh,cho vay, trả lương, đào tạo, quảng cáo, nhà thầu, chuyển nhượng vốn tạo nên tìnhtrạng lỗ giả, lãi thật, gây thất thu ngân sách, làm cho đa số bên Việt Nam phải rút khỏiliên doanh, doanh nghiệp trở thành 100% vốn nước ngoài

II.3 Thực trạng chuyển giá của các công ty ĐGQ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam

Dù không thể phủ nhận những đóng góp tích cực của các doanh nghiệp FDI đốivới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nhưng vẫn có một vấn nạn đang làm đau đầu cácquan chức ngành thuế đó là hành vi chuyển giá Trong một hội nghị do ngành Thuế tổ

1 “Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoan

2000-2013”, Tổng cục Thống kê (2014)

1 “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011” , Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống

kê, NXB Thống Kê, Hà Nội (2014)

24

Trang 25

chức vào đầu tháng 3/2012, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn thừa nhận:

“Cơ quan thuế đang phải đối mặt với tình hình kê khai lỗ của doanh nghiệp FDI ngày càng trở nên phổ biến và nghiêm trọng"

Ông Nguyễn Xuân Sơn, Phó ban Cải cách và hiện đại hoá của Tổng cục Thuế

cũng cho rằng: “Các doanh nghiệp có hành vi chuyển giá thường là các doanh nghiệp

đa quốc gia, có đội ngũ chuyên gia tư vấn giỏi và kinh nghiệm trong việc xây dựng kế hoạch tránh thuế … mà vẫn không phạm luật”.

Để ứng phó với tình trạng này, trong những năm qua, Tổng cục Thuế đã tích cựctrong việc kiểm tra các doanh nghiệp FDI bị nghi ngờ có dấu hiệu chuyển giá, và kếtquả thu được cũng khá tích cực Chẳng hạn, năm 2010, cơ quan thuế đã tiến hànhthanh tra tại 575 doanh nghiệp FDI, trong đó phát hiện 43 doanh nghiệp có dấu hiệuchuyển giá và xử lý 37 doanh nghiệp được kết luận là vi phạm, truy thu thuế và phạthành chính hơn 27 tỉ đồng Năm 2011, cơ quan thuế cũng tiếp tục thanh tra tại 921doanh nghiệp FDI kê khai lỗ và có dấu hiệu chuyển giá Kết quả đã xử lý giảm lỗ6.617 tỉ đồng, tiến hành truy thu và phạt hơn 1.669 tỉ đồng, tăng 4 lần so với năm2010

Gần đây, đầu năm 2014, Thanh tra Tổng cục Thuế cũng công bố báo cáo thanhtra chuyên đề về chuyển giá, trong đó trọng tâm là chống chuyển giá đối với các doanhnghiệp FDI có giao dịch liên kết, có kết quả tài chính thua lỗ nhưng vẫn tiếp tục có kếhoạch mở rộng đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Kết quả thanh tra tại 870 doanhnghiệp FDI thì có đến 720 doanh nghiệp vi phạm Đáng chú ý, có một số địa phương

có tỷ lệ vi phạm lên đến 100% doanh nghiệp thuộc mẫu thanh tra như Quảng Ngãi(27/27 doanh nghiệp thanh tra được kết luận là vi phạm), Hòa Bình (16/16), Bắc Giang(14/14), Gia Lai (15/15), Đắc Nông (7/7), An Giang (7/7)… Ở TP.HCM, tỷ lệ vi phạmcũng lên đến 85%, tương đương 164 vi phạm trong số 193 doanh nghiệp bị thanh tra

Ở Hà Nội thậm chí còn cao hơn khi có đến 326 doanh nghiệp vi phạm trong số 332doanh nghiệp bị thanh tra Kết quả thanh tra và xử phạt vi phạm tại hai thành phố đầutàu này đã giúp giam lỗ tương ứng 870 và 1.500 tỉ đồng; truy thu, xử phạt và truy hoàntương ứng 173 và 498 tỉ đồng cho Cục thuế TP.HCM và Hà Nội.1

1 “Hàng loạt doanh nghiệp FDI chuyển giá, trốn thuế” (15/04/2014), Báo Thanh niên Online -

thanhnien.com.vn

2 Nguồn: Tổng cục thuế

25

Trang 26

Đơn vị: tỉ đồng (số liệu được làm tròn)

do đó không có tiêu chí phù hợp hoặc cơ sở để so sánh đối chiếu nhằm điều chỉnh lạigiá trị Nếu các tài sản góp vốn được xem “bí kíp” công nghệ thực sự thì cũng đã đành,thế nhưng vẫn có trường hợp, như thanh tra đã phát hiện, nhiều doanh nghiệp FDI gópvốn vào DN trong nước bằng máy móc, thiết bị có trình độ công nghệ lạc hậu hoặc đãkhấu hao hết nhưng vẫn được đẩy giá lên cao so với giá trị thực Điều này đã giúpnâng khống giá trị góp vốn gây bất lợi cho đối tác là DN trong nước

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp FDI còn tận dụng tận dụng lợi thế có công ty mẹ ởnước ngoài, trong đó các công ty mẹ này sẽ cung cấp nguyên liệu đầu vào, đồng thờibao tiêu đầu ra của sản phẩm Do đó việc kiểm soát giá nguyên liệu cũng như giá xuấtkhẩu các sản phẩm trong mối quan hệ này sẽ trở nên khó khăn hơn, đặc biệt khi cácsản phẩm lại được xuất khẩu sang nước trung gian thứ 3

“Các tập đoàn, công ty mẹ tại nước ngoài ký hợp đồng sản xuất kinh doanh vàdịch vụ với các công ty của các nước với đơn giá gia công sản xuất dịch vụ rất cao.Sau đó, các tập đoàn này giao lại cho các công ty con lập tại VN thực hiện sản xuất giacông dịch vụ và xuất thẳng cho các đơn vị mà công ty mẹ đã ký hợp đồng Tuy nhiên,tiền không thu được trực tiếp từ các công ty đã xuất hàng mà chỉ thu được theo đơn giá

26

Trang 27

gia công, sản xuất dịch vụ do công ty mẹ quy định, đơn giá này rất thấp”, trích báo cáoThanh tra thuế

Điều đáng chú ý nữa là rất nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấpdịch vụ, hàng tiêu dùng thuộc các nhãn hàng lớn trên thế giới thường sử dụng chiêuthức định giá tiền bảng quyền thương hiệu rất cao so với giá trị thực, qua đó giúp thuđược lợi nhuận từ việc nâng khống giá trị thương hiệu, trong khi phía doanh nghiệpFDI hoạt động tại Việt Nam vẫn phải chịu chi phí quảng cáo cho thương hiệu đó Điềunày khiến cho kết quả kinh doanh của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam bị thua lỗ trongkhi khoản lỗ này đã chuyển thành lợi nhuận cho doanh nghiệp sở hữu thương hiệu lớn

ở nước ngoài Liên quan đến hiện tượng này, một Cục phó Cục Thuế TP.HCM chobiết:

“Các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực siêu thị, bán lẻ, nước giải khát đứng đầudanh sách các doanh nghiệp FDI luôn báo lỗ.” Với thực trạng này, đại diện Bộ Tàichính khẳng định, trong những năm tới ngành thuế sẽ tiếp tục ưu tiên thanh tra, kiểmtra các doanh nghiệp có mối quan hệ liên kết để kiểm soát, ngăn chặn việc chuyển giá,giả lỗ

Dù những kết quả mà thanh tra thuế đạt được trên đây là rất tích cực, song mộtlãnh đạo Bộ Tài chính cho rằng: “Chúng ta mới chỉ thực hiện thanh tra, kiểm tra một

số ít doanh nghiệp FDI mà đã có thể truy thu hàng ngàn tỉ đồng tiền thuế Nếu chúng

ta thực hiện thanh tra, kiểm tra toàn bộ số doanh nghiệp FDI thì số tiền gian lận thuếbằng biện pháp chuyển giá sẽ lên đến cả chục ngàn tỉ đồng” Kỳ vọng này của lãnhđạo Bộ Tài chính liệu có khả thi hay không khi hiện nay, trong không ít các doanhnghiệp FDI, đặc biệt là các MNCs đang hoạt động ở Việt Nam, ngay cả khi thanh travẫn rất khó chứng minh hành vi chuyển giá tại các doanh nghiệp này “Các tập đoàn,công ty mẹ tại nước ngoài ký hợp đồng sản xuất kinh doanh và dịch vụ với các công tycủa các nước với đơn giá gia công sản xuất dịch vụ rất cao Sau đó, các tập đoàn nàygiao lại cho các công ty con lập tại VN thực hiện sản xuất gia công dịch vụ và xuấtthẳng cho các đơn vị mà công ty mẹ đã ký hợp đồng.” 1

1 Nguồn: Báo cáo thanh tra Thuế

2

Nguồn: Khảo sát và tính toán của VCCI và USAID

27

Trang 28

KQHĐ DN chuẩn T P tính (%)

Ước tính thấp

Ước tính cao

Lợi nhuận >20% 39 64,1% 10,1% 6,4 0 48,9% 81,3%Lợi nhuận 10-20% 105 44,5% 6,9% 6,4 0 33,5% 55,5%Lợi nhuận 5-10% 262 12,3% 9,7% 1,3 0,23 -3,2% 27,8%Lợi nhuận 0-5% 455 9,1% 4,8% 1,9 0,08 1,4% 16,8%Hòa vốn 163 19,7% 15,2% 1,8 0,22 -4,6% 44,0%

Lỗ 5-0% 176 30,9% 17,4% -0,1 0,1 3,1% 58,7%

Lỗ 10-5% 76 -2,1% 24,6% 0 0,93 -41,5% 37,3%

Lỗ >10% 68 -0,3% 20,4% 0,99 -32,9% 32,3%

II.4 Hậu quả thực tế của tình trạng chuyển giá phổ biến hiện nay của các công

ty ĐGQ hoạt động tại Việt Nam

II.4.1 Đánh giá hậu quả của chuyển giá tại Việt Nam

Hiện nay có đến 20 - 30% trong tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động trêncác địa bàn kê khai có kết quả kinh doanh lỗ liên tiếp trong 2 - 3 năm, thậm chí 5 năm

Rõ ràng, theo các quy định hiện hành, với tình trạng kinh doanh thua lỗ, doanh nghiệp

đó sẽ tránh được việc nộp thuế 1

Nhưng nghịch lý ở chỗ, dù lỗ triền miên, nhưng các doanh nghiệp đó vẫn liêntục mở rộng sản xuất - kinh doanh đây là biểu hiện của tình trạng lợi dụng việcchuyển giá để gian lận, trốn thuế Các doanh nghiệp FDI này đã dùng những phươngthức khác nhau để trốn tránh các khoản thuế, phí thông qua việc báo lỗ trong hoạtđộng kinh doanh, sau đó chuyển lợi nhuận về công ty mẹ ở nước ngoài

Năm 2011, toàn ngành Thuế đã thanh tra, kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt 90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so năm 2010), xử lý truy thu, truy hoàn và phạt qua thanh tra, kiểm tra 7.582 tỉ đồng, bằng 138,8% (7.582 tỉ đồng/5.462 tỉ đồng)

so với năm 2010, giảm khấu trừ qua thanh tra, kiểm tra là 567 tỉ, giảm lỗ qua thanhtra, kiểm tra là 11.021 tỉ đồng Trong đó, thanh tra tại 6.167 doanh nghiệp, xử lý truythu và phạt 3.386 tỉ đồng, giảm lỗ qua thanh tra là 7.011 tỉ đồng, giảm khấu trừ thuếGTGT 209 tỉ đồng; nộp NSNN 2.093 tỉ đồng bằng 120.9% so với năm 2010 Đối vớithanh tra chống chuyển giá đã thực hiện thanh tra tại 921 doanh nghiệp lỗ, doanh

1 Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính

28

Trang 29

nghiệp có dấu hiệu chuyển giá, xử lý giảm lỗ 6.617 tỉ đồng (tăng 3,5 lần so với nămtrước), truy thu thuế và phạt 1.669 tỉ đồng (tăng hơn 4 lần so với cùng kỳ năm trước).Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, ông Trần Văn Phu cho biết, năm 2014, toànngành thuế đã tiến hành thanh tra, kiểm tra chống chuyển giá tại 2.866 doanh nghiệpkhai báo kinh doanh thua lỗ, doanh nghiệp nghi ngờ có dấu hiệu chuyển giá và doanhnghiệp có hoạt động giao dịch liên kết, tăng 80% so với năm 2013 Kết quả là, cơ quanthuế đã, giảm lỗ hơn 5.830 tỷ đồng, truy thu, truy hoàn và phạt gần 1.701 tỷ đồng, so

với năm 2013 tăng tương ứng gần 82% và 112%

Trước đó, theo kết quả khảo sát và phân tích về hoạt động chuyển giá của cácdoanh nghiệp FDI tại Việt Nam năm 2013, nhóm nghiên cứu của Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID)cũng cho thấy, khoảng 20% doanh nghiệp FDI thực hiện việc chuyển lợi nhuận nhằmgiảm gánh nặng thuế Kết quả này dựa trên cơ sở khảo sát thu thập ý kiến của 1.609doanh nghiệp FDI đến từ 49 quốc gia khác nhau, hoạt động trên địa bàn 13 tỉnh, thànhcủa Việt Nam có mật độ doanh nghiệp FDI cao nhất

Xác suất doanh nghiệp coi Việt Nam là một phần của chuỗi cung ứng toàn cầuthực hiện chuyển giá là 13-20% 37% doanh nghiệp mà nước xuất xứ có thuế suất thấphơn Việt Nam có xu hướng thực hiện chuyển giá 65,1% doanh nghiệp có lợi nhuậnlớn hơn 20% có thực hiện chuyển giá và 44,5% doanh nghiệp lợi nhuận từ 10-20%thực hiện hành vi này Trong đó, 90% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tàichính, bảo hiểm; 70% doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất dệt may; 51% doanh nghiệp lĩnhvực sản xuất linh kiện ô tô thực hiện chuyển giá.1

Năm 2013, lần đầu Việt Nam được thăng năm hạng (từ thứ 75 lên thứ 70) trongxếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới Tuy vậy, theo BộTài chính, năm 2013 cũng lần đầu Việt Nam có thể không hoàn thành dự toán thu nămngân sách nhà nước (NSNN), do hụt thu khoảng 63.630 tỷ đồng; trong đó, thu cân đốingân sách Trung ương hụt 47.200 tỷ đồng và địa phương hụt thu 16.430 tỷ đồng.2

II.4.2 Một số ví dụ điển hình và hậu quả:

Phần tiếp theo của nghiên cứu tình huống này sẽ trình bày một vài trường hợp

1 “Hầu như DN FDI nào cũng chuyển giá, trốn thuế”, Lê Hoàng, TBKTSG (17/4/2014)

2 Nguồn: Báo Nhân Dân

29

Trang 30

điển hình về nghi vấn chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI Có những trường hợp làcác công ty đa quốc gia đã hoạt động tại Việt Nam từ khá sớm và hiện đang mang nghi

án chuyển giá, song cơ quan thuế vẫn chưa có bằng chứng để làm rõ nghi án này;trong khi trường hợp còn lại đã được chứng minh là có hành vi chuyển giá và đã bị xửphạt là các doanh nghiệp FDI ở tỉnh Lâm Đồng

II.4.2.1 Tình huống Adidas Việt Nam

Adidas AG là một công ty đa quốc gia của Đức được Adolf Dassler thành lậpvào năm 1948 Đến nay, Adidas một thương hiệu lớn trong lĩnh vực thiết kế và sảnxuất dụng cụ thể thao, là công ty mẹ của tập đoàn Adidas Group gồm các công ty dụng

cụ thể thao tên tuổi khác như Reebok, công ty TaylorMade-Adidas Golf, Rockport, vànắm giữ gần 9,1% cổ phần của đội bóng FC Bayern Munich Hiện tại, Adidas là công

ty sản xuất dụng cụ thể theo lớn thứ hai thế giới sau tập đoàn Nike của Hoa Kỳ

Các sản phẩm mang thương hiệu Adidas đã xâm nhập vào thị trường dụng cụ thểthao Việt Nam từ rất sớm (1993), song chỉ đến năm 2009 thì Adidas mới chính thứcthành lập Công ty TNHH một thành viên Adidas Việt Nam Adidas Việt Nam được sởhữu 100% vốn bởi Adidas International B.V (Amsterdam, Hà Lan) Ngành nghề đăng

ký kinh doanh của Adidas tại Việt Nam là bán buôn tổng hợp, hoạt động tư vấn quản

lý, nghiên cứu thị trường và thăm dò dư luận, hoạt động thiết kế chuyên dụng, thựchiện quyền nhập khẩu Đến đầu 2012, Adidas Việt Nam đã có trên 50 cửa hàng đặt tạicác trung tâm thương mại ở các thành phố lớn Doanh thu của Adidas tại thị trườngViệt Nam lên tới 22.000 tỉ đồng, sử dụng khoảng 80.000 lao động

Trên phương diện hiệu quả tài chính và đóng góp cho ngân sách, Adidas bị nghingờ vì những dấu hiệu “né thuế” ở Việt Nam Từ cuối năm 2012, báo chí Việt Namdấy lên thông tin về nghi vấn Adidas có hoạt động chuyển giá Nhiều người lập luậnrằng Adidas đăng ký hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trong vai trò là nhà phân phốibán buôn nhưng thực tế lại phát sinh chi phí của nhà bán lẻ, và họ nghi ngờ đây chính

là cách mà Adidas dùng để chuyển giá theo phương thức liên kết giữa công ty mẹ vàcác công ty con thuộc tập đoàn Adidas nhằm né thuế thu nhập tại Việt Nam Một lãnhđạo của Cục thuế TP cho rằng, Adidas Việt Nam hoạt động theo giấy phép đăng kýkinh doanh là quyền phân phối bán buôn, nhưng danh mục chi phí của doanh nghiệpnày lại xuất hiện nhiều chi phí của một doanh nghiệp bán lẻ, như chi phí hỗ trợ vật

30

Trang 31

dụng cho nhà bán lẻ, tiền tiếp thị quốc tế, phí quản lý vùng, tiền hoa hồng mua hàng vàđặc biệt, Adidas không phải là nhà sản xuất, nhưng phát sinh khoản tiền bản quyền Theo tìm hiểu của báo Đầu tư1, Adidas Việt Nam thanh toán cho Công ty Adidas

AG phí bản quyền 6%, chi phí tiếp thị quốc tế 4% doanh thu ròng đối với các sảnphẩm được tiêu thụ và cả giá trị sản phẩm được cấp phép Bên cạnh đó, theo hợp đồngdịch vụ Đông Nam Á giữa Adidas Singapore và Adidas Việt Nam, Adidas Singapore

và các công ty con địa phương, trong đó có Adidas Việt Nam cung cấp một dịch vụ vàthỏa thuận việc thu các khoản phí liên quan

Một đại diện của Phòng thanh tra của Cục thuế TP cho rằng đây là điều vô lý: “Ởnhững DN khác, chỉ có một chi phí quản lý vùng, nhưng tại Adidas VN có nhiều tầngnấc quản lý Ngoài quản lý tại VN còn có thêm quản lý vùng tại Singapore và đồngthời Adidas VN còn chịu sự quản lý từ Adidas ở Đức Adidas VN có hẳn các hợp đồngdịch vụ ghi nhận sự quản lý này cùng các chi phí trả cho phía đối tác.”2

Theo giải thích từ Adidas Việt Nam, đây là khoản chi phí quản lý vùng và đượchạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp của Adidas Việt Nam, tức được giảm trừthu nhập chịu thuế và có kê khai nộp phí nhà thầu Ngoài ra, Adidas Việt Nam cũngphải trả chi phí hoa hồng mua hàng cho Addias International Trading B.V, với tỷ lệ8,25% giá trị mỗi giao dịch Những chi phí này phát sinh từ hợp đồng đại lý mua hànggiữa Adidas Việt Nam và Adidas International Trading B.V Theo hợp đồng này,Adidas Việt Nam chỉ định Adidas International Trading B.V thay mặt Adidas ViệtNam thực hiện các dịch vụ như tìm nhà sản xuất cho hàng hóa liên quan, tìm nguồncung ứng mẫu, đặt đơn hàng, kiểm tra vật liệu, thành phần và hàng hóa, giám sát sựtuân thủ…

Chính vì phát sinh quá nhiều chi phí trung gian đầu vào đã khiến cho giá thànhnhập khẩu các sản phẩm Adidas tại thị trường Việt Nam bị đội lên một cách vô lý Mộtcán bộ thanh tra thuế nhẩm tính: “Nếu một đôi giày Adidas bán ra tại thị trường VNvới giá 2 triệu đồng thì giá gốc khi nhập khẩu chỉ khoảng 1 triệu đồng, còn 500.000đồng là các chi phí khác mà Adidas VN phải trả cho đối tác khác mà thực chất cuốicùng đều chảy về túi của công ty mẹ Có trường hợp các chi phí “khó hiểu” khác lênđến 50% giá bán sản phẩm.”

1 Phần dưới đây chủ yếu sử dụng thông tin từ bài báo “Dấu hiệu chuyển giá tại Adidas Việt Nam” đăng trên Báo

Đầu tư (12/12/2012)

2 “Adidas VN lòng vòng chuyển giá”, Báo Tuổi trẻ Online – tuoitre.vn (09/10/2015)

31

Trang 32

Bên cạnh đó, Adidas Việt Nam chuyển tiền hỗ trợ vật dụng cho nhà bán lẻ nhưcung cấp tủ kệ, đồ nội thất, ngoại thất… cho nhà bán lẻ sử dụng, nhưng không yêu cầuthanh toán Nếu nhà bán lẻ có bất kỳ hành vi vi phạm nào đến quyền sở hữu củaAdidas Việt Nam đối với các thiết bị này thì phải bồi thường Điều đáng nói ở đây là,Adidas Việt Nam là nhà bán buôn nhưng lại hạch toán chi phí cho bán lẻ trên vào tàisản cố định, trích khấu hao và hạch toán vào chi phí bán hàng được trừ trong kỳ Đứng

về phương diện kế toán cũng như quan điểm của cơ quan thuế cách hạch toán như vậy

là không hợp lý Quan điểm của Cục thuế TP là không xem các khoản chi phí này làchi phí hợp lý để được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp của Adidas Trong quá trình thanh tra, Cục thuế TP đã phát hiện những dấu hiệu của giaodịch liên kết Theo báo Đầu tư, Adidas Việt Nam cũng đã thừa nhận rằng các DNtrong những giao dịch kể trên có mối quan hệ liên kết vì “giữa những người quản lýdoanh nghiệp này có mối quan hệ thân thiết” Theo định nghĩa tại khoản 4 điều 3 củaThông tư 66/2010/TT-BTC, hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát

về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong cácmối quan hệ như vợ và chồng; bố, mẹ và con; anh, chị, em có cùng cha, mẹ; ông nội,

bà nội và cháu nội; ông ngoại, bà ngoại và cháu ngoại; cô, chú, bác, cậu, dì ruột vàcháu ruột thì được coi là giao dịch liên kết Trong trường hợp của Adidas, nhữngngười quản lý giữ vai trò chủ đạo trong Adidas Việt Nam, Adidas InternationalTrading B.V, Adidas Singapore… có mối quan hệ thân tình Do đó, khi thực hiện cácgiao dịch, công ty có thể chuyển khoản lợi nhuận dưới dạng chi phí phải thanh toán,nhằm trốn/tránh thuế TNDN Thông thường, đối với những giao dịch dạng này, doanhnghiệp có nghĩa vụ kê khai và trình báo để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát,nhưng Adidas đã không trình báo những thông tin này với Cục Thuế TP.HCM

Để làm rõ hơn nghi vấn liệu các giao dịch giữa Adidas Việt Nam với các bên liênquan có phải là giao dịch liên kết hay không, Cục thuế TP.HCM đã gửi công văn số7247/CT-TTr1-N4 ngày 24/9/2012 cho Tổng Cục thuế để hỏi ý kiến về chính sáchthuế đối với Adidas Việt Nam Tuy nhiên, trong công văn chỉ đạo sau đó1, Tổng cụcthuế cũng chỉ đưa ra một số chỉ dẫn liên quan đến quyền ấn định thuế đã được nêutrong Luật Quản lý thuế 2006 cũng như một số quy định có liên quan.2 Đối với trường

1 Công văn số 4162/TCT-CS ngày 21/11/2012 của Tổng cục thuế

2 Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính về thuế TNDN quy định về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

32

Trang 33

hợp Adidas, Tổng Cục thuế cho rằng các giao dịch giữa Công ty TNHH Adidas Việt

Nam và các bên có thể là các giao dịch liên kết Trên cơ sở đó, Tổng Cục thuế đề nghị

Cục Thuế TP.HCM kiểm tra cụ thể mối quan hệ giữa Công ty TNHH Adidas ViệtNam và Công ty Adidas AG, Công ty Adidas Singapore, Công ty Adidas InternationalTrading B.V, các nhà bán lẻ; kiểm tra các hợp đồng thương mại mà Công ty TNHHAdidas Việt Nam đã ký với các bên nêu trên và các tài liệu khác có liên quan để xácđịnh sự phù hợp của các khoản chi phí của Công ty TNHH Adidas Việt Nam theo quyđịnh của luật pháp Việt Nam

II.4.2.2 Tình huống Coca-Cola Việt Nam

Coca-Cola (được gọi tắt là Coke) là nhãn hiệu nước ngọt được đăng ký năm 1893

và hiện có trụ sở chính tại Atlanta, bang Georgia, Hoa Kỳ Cha đẻ của Coca-Cola làdược sĩ John Pemberton - chủ một phòng thí nghiệm và hiệu thuốc tư nhân AsaGriggs Candler là người đã mua lại Coca-Cola và biến Coca-Cola trở thành mộtthương hiệu thức uống hàng đầu thế giới Coca-Cola hiện có mặt ở hơn 200 nước trênthế giới với trên 3.500 đồ uống (xấp xỉ 500 nhãn hiệu), từ đồ uống có ga, nước tănglực cho đến thức uống làm từ đậu nành, chiếm 3,1% tổng lượng thức uống của thếgiới Bình quân mỗi ngày có hơn 1,7 tỉ sản phẩm của Coca-Cola được tiêu thụ trêntoàn cầu, với doanh thu 46,7 tỉ USD trong năm 2013 Coca-Cola luôn được xem là mộttrong những thương hiệu có giá trị nhất hành tinh Năm 2013, thương hiệu này đượcInterbrand đánh giá vào khoảng 79 tỉ USD, tụt xuống vị trí thứ 3 sau Apple (98,3 tỉUSD), Google (93,3 tỉ USD) sau 13 năm liên tiếp xếp ở thứ hạng đầu.1

Ở Việt Nam, cái tên Coca-Cola lần đầu tiên được giới thiệu là vào năm 1960.Năm 1994, Coca-Cola Việt Nam trở lại Việt Nam và bắt đầu thực hiện chiến lược kinhdoanh lâu dài Lần lượt vào các năm 1995 và 1998, các công ty liên doanh ở ba miềnBắc, Nam và Trung được thành lập Đến tháng 10/1998, các công ty liên doanh này trởthành công ty 100% vốn nước ngoài So với Pepsi, Coca-Cola có mặt ở thị trường ViệtNam muộn hơn 4 năm Nhiều người cho rằng đây là một trong những nguyên nhânkhiến cho Coca-Cola không áp đảo được Pepsi như ở các thị trường toàn cầu khác

Về hoạt động tài chính và thực hiện chính sách thuế, tương tự như Adidas, tập

đoàn nước giải khát hàng đầu thế giới Coca-Cola cũng bị rơi vào nghi án chuyển giá ở

Việt Nam Theo thông tin tài chính của Coca-Cola, lỗ lũy kế tính đến hết quý 3 năm

1 Theo Business Insider

33

Trang 34

2011 của công ty này ở Việt Nam đã lên đến hơn 3.768 tỉ đồng, vượt cả số vốn điều lệ2.950 tỉ đồng mà Coca-Cola đã đăng ký ở Việt Nam Điều ngạc nhiên là, mặc dù lỗnhưng Công ty vẫn tiếp tục lên kế hoạch mở rộng đầu tư ở Việt Nam Vào trung tuầntháng 10/2012, người đứng đầu tập đoàn Coca-Cola, ông Muhtar Kent, đã với tuyên bốViệt Nam là thị trường tăng trưởng quan trọng và Coca-Cola Việt Nam đặt mục tiêutăng gấp đôi doanh thu vào năm 2020, đồng thời kèm theo lời hứa Coca Cola sẽ rótthêm 300 triệu USD vào thị trường Việt Nam trong 3 năm tới Chính điều này đã làmcho nhiều người, kể cả các chuyên gia trong lĩnh vực thuế đặt nghi vấn chuyển giá đốivới Coca-Cola Việt Nam

Theo thống kê của Cục thuế TP.HCM, trong vòng 4 năm (từ 2007-2010), tổngdoanh thu của Coca-Cola Việt Nam tăng gấp 2,5 lần, một con số ấn tượng từ khoảng1.000 tỉ đồng lên 2.500 tỉ đồng; thế nhưng chi phí còn tăng ấn tượng hơn, gấp 3 lần.Việc thua lỗ kéo dài trong hơn chục năm qua khiến cho Coca-Cola trên thực tế gầnnhư chưa phải đóng bất kỳ đồng thuế TNDN nào cho ngân sách Việt Nam Năm 2009,Coca-Cola Việt Nam lần đầu có lãi 3,5 tỉ đồng, song do được phép chuyển lỗ theo quyđịnh của Luật thuế TNDN nên cũng không có đồng thuế nào phải nộp Hơn nữa, sovới doanh thu lên đến hàng nghìn tỉ đồng thì khoản lãi này cũng rất thấp Ngay cả bảnthân Công ty nước giải khát Chương Dương, dù chỉ còn thị phần ở hai sản phẩm làsoda chai và nước xá xị, doanh thu năm 2011 của Công ty này chỉ 422 tỉ đồng song lợinhuận cũng lên đến 30 tỉ đồng, nộp ngân sách hơn 7,5 tỉ đồng Cho đến này, các khoảnthuế mà Coca-Cola nộp chỉ liên quan đến thuế môn bài, thuế VAT, thuế thu nhập cánhân

1 Nguồn: Cục thuế TP.HCM

34

Ngày đăng: 25/09/2019, 22:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê (2014), “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2011”, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài giai đoạn 2006-2011”
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2014
2. Tổng cục Thống kê (2014) “Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoan 2000-2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Thống kê (2014)" “Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoan 2000-2013
3. Tổng cục Thống kê (2014), “Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000-2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000-2013
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2014
4. Tổng cục Thống kê (2014), “Một số chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000-2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2000-2013
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2014
6. TS. Phạm Hùng Tiến (2012), Bàn về chống chuyển giá trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 28 (2012) 36-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chống chuyển giá trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: TS. Phạm Hùng Tiến
Năm: 2012
7. Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên) (2013), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế
Tác giả: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên)
Năm: 2013
8. Đỗ Thiên Anh Tuấn (2014), Chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thiên Anh Tuấn
Năm: 2014
9. Wikipedia (2015), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” (22/05/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tác giả: Wikipedia
Năm: 2015
10. Lê Xuân Trường (2011), Chống chuyển giá ở Việt Nam: Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và các điều kiện thực hiện, Tạp chí Tài chính, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống chuyển giá ở Việt Nam: Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và các điều kiện thực hiện
Tác giả: Lê Xuân Trường
Năm: 2011
13. Tạp chí Tài chính (2015),“Metro, chuyển giá và bài học quản lí” (25/04/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Metro, chuyển giá và bài học quản lí”
Tác giả: Tạp chí Tài chính
Năm: 2015
5. Lý Hoàng Phủ, Luận án tiến sĩ kinh tế: Các yếu tố tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và khuyến nghị cho Việt Khác
11. Tạp chí Tài chính (2015), Chọn lọc trong thu hút FDI (04/09/2015) 12. Tạp chí Tài chính (2015), Để hút dòng vốn FDI (23/09/2015) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w