25 Chương 3: MỘT SỐ CHÍNH SÁCH THUẾ CỔ TỨC TRÊN THẾ GIỚI – THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ CỔ TỨC Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC Ở CÁC C
Trang 1- -
BÙI TH Ị KIM CHI
TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ SUẤT THUẾ THU
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2012
Trang 2- -
BÙI TH Ị KIM CHI
TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ SUẤT THUẾ THU
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 3hướng dẫn và các thầy cô trong khoa tài chính doanh nghiệp; số liệu thống kê là trung thực; nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào cho tới thời điểm này
TP Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 12 năm 2012
Học viên
Bùi Th ị Kim Chi
Trang 4hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học kinh tế TP.HCM nói chung và quý thầy cô khoa Tài chính doanh nghiệp nói riêng, các bạn
bè cùng lớp TCDN-Đêm 3, gia đình và đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy hướng dẫn Phan Hiển Minh, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Sau đó, tôi xin cảm ơn các bạn trong lớp TCDN đã hết lòng hỗ trợ, trao đổi; xin
cảm ơn gia đình và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
TP Hồ Chí Minh, tháng 12/2012 Học viên
Bùi Th ị Kim Chi
Trang 5Dẫn nhập 1
Chương 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH THUẾ THU CỔ TỨC LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 5
1.1 Tổng quan về chính sách cổ tức: 5
1.1.1 Khái niệm: 5
1.1.2 Một số học thuyết trên thế giới: 6
1.2 Tổng quan về chính sách thuế cổ tức: 7
1.2.1 Khái niệm: 7
1.2.2 Các tác động của thuế: 7
1.3 Mối quan hệ giữa chính sách thuế cổ tức và chính sách chi trả cổ tức: 8
1.4 Tìm hiểu chính sách thuế thu nhập đánh trên cổ tức ở một số quốc gia trên thế giới hiện nay: 9
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 16
Chuơng 2: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 17
2.1 Phương pháp nghiên cứu: 17
2.2 Mô hình nghiên cứu: 18
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 25
Chương 3: MỘT SỐ CHÍNH SÁCH THUẾ CỔ TỨC TRÊN THẾ GIỚI – THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ CỔ TỨC Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC Ở CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 26
3.1 Các vấn đề về chính sách thuế cổ tức ở Việt Nam: 26
3.1.1 Các chính sách thuế cổ tức: 26
3.1.2 Các quan điểm về thuế thu nhập cổ tức và các bất cập hiện có ở Việt Nam: 27
Trang 63.2.1 Thống kê tình hình chi trả cổ tức bằng tiền mặt của các công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2006-2011: 30
3.2.2 Các tác động của chính sách thuế thu nhập cổ tức tiền mặt: 33
3.3 Ứng dụng mô hình George M.Jabbour và Yikang Liu vào thực tiễn TTCK Việt Nam: 40
3.3.1 Dữ liệu chạy mô hình: 40
3.3.2 Kết quả chạy hồi quy từng nhóm: 41
3.3.3 Kiểm định Durbin-Watson: 75
3.4 Kết quả chạy mô hình hồi quy: 76
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 78
Phụlục 81
Tài liệu tham khảo 149
Trang 7- Bi ểu đồ 2: Khối lượng niêm yết trên TTCK 31
- Bi ểu đồ 3: Cổ tức tiền mặt/CP 32
- Ph ụ lục 1, Phụ lục 2, Phụ lục 3, Phụ lục 4: dữ liệu về dòng tiền cổ tức hàng năm, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của công ty, cơ hội đầu tư của công ty và quy mô công ty 81
- Ph ụ lục 5: Dữ liệu chạy mô hình theo tiêu chí tăng trưởng lợi nhuận: thấp nhất, thấp, cao, cao nhất 89
- Ph ụ lục 6: Dữ liệu chạy mô hình theo tiêu chí triển vọng tăng trưởng: thấp nhất, thấp, cao, cao nhất 101
- Ph ụ lục 7: Dữ liệu chạy mô hình theo tiêu chí quy mô của công ty: thấp nhất, thấp, cao, cao nhất 113
- Ph ụ lục 8: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm lợi nhuận thấp nhất 125
- Ph ụ lục 9: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm lợi nhuận thấp 127
- Ph ụ lục 10: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm lợi nhuận cao 129
- Ph ụ lục 11: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm lợi nhuận cao 131
- Ph ụ lục 12: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm cơ hội đầu tư thấp nhất 133
- Ph ụ lục 13: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm cơ hội đầu tư thấp 135
- Ph ụ lục 14: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm cơ hội đầu tư cao 137
- Ph ụ lục 15: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm cơ hội đầu tư cao nhất 139
- Ph ụ lục 16: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm quy mô công ty thấp nhất 141
- Ph ụ lục 17: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm quy mô công ty thấp 143
- Ph ụ lục 18: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm quy mô công ty cao 145
- Ph ụ lục 19: Dữ liệu chạy hồi quy mô hình (2) nhóm quy mô công ty nhất 147
Trang 8- TNCN: Thu nhập cá nhân
- Thuế thu nhập cổ tức: Thuế thu nhập cá nhân đối với cổ tức
- TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
- HOSE: Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
- NĐT: nhà đầu tư
- DN: doanh nghiệp
Trang 9định miễn thuế thu nhập từ cổ tức được chia từ ngày 01/08/2011 đến 31/12/2012 (tr ừ cổ tức của các ngân hàng cổ phần, quỹ đầu tư tài chính, tổ chức tín dụng) Chính sách c ổ tức của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhân tố lợi nhuận, cơ hội đầu tư và quy mô công ty Ngoài những yếu tố trên, thuế thu nhập cổ tức cũng là
m ột yếu tố quyết định đến chính sách chi trả cổ tức tiền mặt của doanh nghiệp Tuy nhiên, qua vi ệc ứng dụng mô hình nghiên cứu của George M.Jabbour và Yikang Liu
(2006) đăng trên tạp chí Journal of Business & Economics Research, tác giả kết
luận chỉ có những doanh nghiệp làm ăn có lợi nhuận cao thì mới có xu hướng chi trả cổ tức cao, những công ty có cơ hội đầu tư thì có xu hướng giữ lại để tái đầu tư
Trang 10PH ẦN DẪN NHẬP
Tính c ấp thiết của đề tài:
Theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân mới ở Việt Nam ban hành năm 2007 (04/2007/QH12) có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009, thu nhập từ đầu tư
vốn được áp dụng biểu thuế toàn phần với tỷ lệ thuế suất là 5% Tuy nhiên, đến ngày 11/11/2011, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư 154/2011/TT-BTC quy định
miễn thuế thu nhập từ cổ tức được chia từ ngày 01/08/2011 đến 31/12/2012 (trừ cổ tức của các ngân hàng cổ phần, quỹ đầu tư tài chính, tổ chức tín dụng) Thông tư này ra đời với mong muốn tác động đến chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Từ đó thu hút vốn đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn hiện nay Liệu chính sách cắt giảm thuế mới này có thực sự hiệu quả và đạt được mục tiêu mong muốn như ban đầu và vì sao?
Trên thế giới, vẫn có 2 trường phái về đánh thuế lên thu nhập từ cổ tức:
- Đánh thuế cổ tức như Hồng Kông, Singapore, Malaysia,
- Không đánh thuế cổ tức (vì quan niệm “thuế chồng thuế”) như ở nhiều nước trên thế giới
Hai quan điểm này mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào vẫn là vấn đề bàn cãi và gặp nhiều phản ứng từ phía những nhà đầu tư vì nó ảnh hưởng đến chính sách
cổ tức của công ty
Chính quyền Bush đã từng nhen nhóm ý định là bãi bỏ thuế thu nhập cổ tức, nhưng đến tận năm 2003 mới chỉ thực sự ban hành được đạo luật cắt giảm thuế thu
nhập cổ tức nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ (từ 38.1% xuống còn 15%) và đã có tác động làm tăng giá cổ phiếu trên TTCK Mỹ sau đó
Trang 11Trong lịch sử tài chính kinh tế thế giới, đã có rất nhiều những nghiên cứu khoa học nổi tiếng về sự ảnh hưởng của thuế thu nhập cổ tức đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp Mới đây nhất là những nghiên cứu của George M.Jabbour và Yikang Liu (2006), Raj Chetty và Emmanuel Saez (2004) về chính sách cắt giảm thuế cổ tức của đạo luật thuế 2003 của chính quyền Bush
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều giai đoạn Nhà nước thực hiện các chính sách
giảm thuế, hoãn thuế và miễn giảm thuế thu nhập cổ tức nhằm tác động kích thích thị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên, thực tế cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian gần đây vẫn chưa khởi sắc, các Công ty cổ phần ít chi trả
cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông Vì sao lại có tình trạng như thế? Các nhà làm luật
dự định có những thay đổi về luật thuế TNCN trong năm 2012 Chính sách mới này
có mang lại hiệu quả như mong đợi hay không?
Chính vì những vấn đề cấp thiết nêu trên mà tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này nhằm giải thích một số vấn đề và các biện pháp cần thiết để cải thiện chính sách thuế, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng như thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam
Kết cấu bài luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Lý luận tổng quan về chính sách cổ tức và tác động của thay đổi chính sách thuế thu nhập đối với chính sách cổ tức
- Chương 2: Mô hình nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng chính sách thuế cổ tức ở Việt Nam và tác động của thay đổi chính sách thuế đối với chính sách chi trả cổ tức ở các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Chương 4: Đánh giá và khuyến nghị về chính sách thuế thu nhập đánh trên
cổ tức ở Việt Nam
Trang 12M ục tiêu của đề tài:
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề chỉnh sửa các chính sách thuế đang là mối
bận tâm của các nhà làm luật thuế ở Việt Nam Trong đó, chính sách về thuế thu
nhập cá nhân cũng đang là vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất Tác giả chỉ đi nghiên
cứu một phần về thuế thu nhập cổ tức vì đó cũng là vấn đề mà Nhà nước đang quan tâm để hỗ trợ, kích thích cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Mục tiêu của đề tài đó là nghiên cứu tác động của việc thay đổi tỷ suất thuế thu nhập cổ tức đến việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt của công ty cổ phần như thế nào Khi tỷ suất thuế thu nhập cổ tức tăng/giảm thì các công ty cổ phần có tăng/giảm chi trả cổ tức hay không? Những loại công ty nào sẽ chi trả thêm cổ tức? Tác động của việc chi trả thêm cổ tức bằng tiền mặt này đến nhà đầu tư như thế nào? Ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay, mối liên hệ này có còn đúng nữa hay không và vì sao?
Thông qua bài nghiên cứu, tác giả bàn thêm về một số vấn đề về chính sách
cổ tức của những nước trên thế giới Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và những kiến nghị cho Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp sử dụng nghiên cứu trong bài là phương pháp thống kê, so sánh
nhằm giải thích sự tác động của chính sách thuế đến chính sách cổ tức của các công
ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
Đồng thời sử dụng số liệu thu thập từ các báo cáo tài chính được các Công ty niêm yết công bố hàng năm trên các phương tiện đại chúng từ năm 2007 đến năm
2011, các thống kê của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (SSC)
để tiến hành phân tích định lượng các yếu tố trong mô hình hồi quy
Trang 13Vì thời gian cũng như khả năng có hạn nên tác giả chỉ đi nghiên cứu trong
giới hạn 72 công ty đã niêm yết trên sàn giao dịch HOSE từ năm 2006 trở về trước (loại trừ các ngân hàng cổ phần, quỹ đầu tư tài chính và tổ chức tín dụng là những
tổ chức không được miễn thuế thu nhập cổ tức trong giai đoạn 01/08/2011~31/12/2012) Rất mong bài nghiên cứu của tác giả góp phần làm sáng
tỏ một số vấn đề về sự tác động của chính sách thuế hiện nay ở Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1:
ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
lợi nhuận giữ lại) và chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp
Lợi nhuận giữ lại có thể dùng để kích thích tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai và do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần trong tương lai Mặt khác,
cổ tức cung cấp cho các cổ đông lợi nhuận hữu hình thường xuyên Vì thế mà chính sách cổ tức của một công ty phản ánh thông tin về tình hình “sức khỏe” tài chính, chiến lược kinh doanh và một số thông tin khác của công ty (Miler and Rock 1985)
Các cổ đông cũng rất quan tâm đến tình hình “sức khỏe” tốt của công ty mình đầu tư vốn vào Một trong những tín hiệu tốt đó là dòng cổ tức tăng trưởng ổn định hàng năm (Jonh Lintner 1950)
Bất cứ những thay đổi nào trong chính sách cổ tức cũng đều có thể phát đi những tín hiệu có lợi hoặc bất lợi cho công ty Chính vì những điều như thế mà các giám đốc tài chính phải quan tâm nhiều đến các quyết định chi trả cổ tức của công
ty Họ sẽ quyết định xem bao nhiêu phần trăm thu nhập được chia cho các cổ đông
Trang 15và bao nhiêu phần trăm thu nhập được giữ lại Cổ tức cố định hay thay đổi qua các năm? Phương thức chi trả cổ tức và thời kỳ cho trả cổ tức như thế nào?
1.1.2 M ột số học thuyết trên thế giới:
Tất cả các yếu tố nêu trên đã được các nhà kinh tế học trên thế giới nghiên
cứu và đúc kết thành những kết luận khác nhau Chúng ta có thể tham khảo sơ lược
những kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế học trên thế giới sau đây
John Lintner (1950) cho rằng cổ tức phụ thuộc một phần vào lợi nhuận hiện
tại của doanh nghiệp và một phần cổ tức của năm trước nên khả năng tăng lên trong
tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ lớn nhất khi lợi nhuận hiện tại tăng lên
DIV 1 = c ổ tức mục tiêu = tỷ lệ mục tiêu x EPS 1
Thay đổi cổ tức sẽ bằng
DIV 1 – DIV 0 = thay đổi mục tiêu = tỷ lệ mục tiêu x EPS 1 – DIV 0
Fama and French (2001) cũng cho rằng có 3 nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức: lợi nhuận, triển vọng tăng trưởng, và quy mô của công ty Những công ty càng lớn và càng có nhiều lợi nhuận thì có xu hướng chi trả cổ tức càng nhiều
Những công ty có nhu cầu đầu tư nhiều thì có xu hướng chi trả cổ tức càng thấp
Brennan (1970) cho rằng lợi nhuận trước thuế phải tương quan thuận với tỷ
suất lợi tức Lợi nhuận trước thuế phải cao thì mới bù đắp được những bất lợi về thuế đối với cổ tức Có nghĩa khi lợi nhuận trước thuế không thay đổi mà tỷ suất thuế cổ tức tăng lên thì cổ tức nhận được sẽ giảm đi Như vậy, Brennan cho rằng thuế có ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của công ty Litzenberger và Ramaswamy (1979,1980,1982) cũng đồng quan điểm với Brennan là lợi nhuận trước thuế và tỷ
suất cổ tức tỷ lệ thuận với nhau Cụ thể là nếu tăng 1% tỷ suất cổ tức thì lợi nhuận trước thuế mong đợi phải tăng lên 23%
Tuy nhiên, Black và Scholes (1978), Miller và Scholes thì cho rằng những cổ đông chịu thuế thậm chí không phân biệt cổ tức và lãi vốn Họ có thể chuyển đổi
Trang 16hình thức nhận cổ tức có lợi cho mình Nếu cổ tức bị đánh thuế cao hơn so với lãi
vốn thì doanh nghiệp sẽ chi trả tiền mặt thấp nhất Từ đó kết luận không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ suất cổ tức với chính sách cổ tức hay giá trị thị trường của cổ phiếu Điều này nhất quán với học thuyết nổi tiếng của Miller và Modigliani (1961)
về chính sách cổ tức của doanh nghiệp không tác động đến giá trị doanh nghiệp trong thị trường hoàn hảo không có thuế
George M.Jabbour và Yikang Liu (2006) đã chứng minh rằng với chính sách cắt giảm thuế cổ tức của chính quyền Bush năm 2003 đã có tác động đến chính sách
của các công ty Mỹ Đặc biệt là những công ty có lợi nhuận càng cao thì càng chi
trả cổ tức nhiều khi thuế cổ tức giảm George M.Jabbour và Yikang Liu cho rằng lợi nhuận là nhân tố duy nhất giải thích mối liên hệ giữa cổ tức và thuế suất
1.2 Tổng quan về chính sách thuế cổ tức:
1.2.1 Khái niệm:
Thuế cổ tức là một loại hình của thuế thu nhập cá nhân mà một quốc gia đánh vào thu nhập cổ tức Thuế suất của loại thuế này thay đổi theo từng quốc gia tùy thuộc vào tình hình kinh tế và chính trị ở quốc gia đó
1.2.2 Các tác động của thuế:
Trong bối cảnh các quyết định cổ tức, các ảnh hưởng của thuế thường là lý
do chính tại sao các doanh nghiệp quyết định mua lại cổ phần của mình thay vì chi trả cổ tức bằng tiền mặt Ở một số quốc gia như Mỹ chẳng hạn, trước khi thông qua luật điều chỉnh thuế 1986, thu nhập lãi vốn dài hạn chịu mức thuế suất thấp hơn thu nhập cổ tức Tuy nhiên, luật 1986 đã bãi bỏ chênh lệch thuế suất giữa thu nhập lãi vốn và cổ tức Dù có thay đổi trong luật thuế, vẫn có một lợi điểm thuế (dù nhỏ
Trang 17hơn) cho việc mua lại cổ phần so với cổ tức tiền mặt vì thuế đánh trên thu nhập lãi vốn có thể được hoãn đến thời điểm tương lai khi bán cổ phần, trong khi thuế đánh trên một lượng tương đương thu nhập cổ tức phải được trả ngay trong năm hiện hành
Dù chương trình mua lại cổ phần có vẻ như là cách được ưa thích để phân phối lợi nhuận của một doanh nghiệp, việc mua lại này thường bị cả cơ quan thuế ở các nước ngăn cản Cụ thể, cơ quan thuế sẽ không cho phép một doanh nghiệp theo đuổi một chính sách mua lại cổ phần thường xuyên như một thay thế cho cổ tức tiền mặt, vì các kế hoạch mua lại chuyển cổ tức tiền mặt thành lãi vốn Cơ quan thuế xem các mua lại cổ phần thường xuyên chủ yếu như tương đương với cổ tức tiền mặt và đòi hỏi các mua lại này phải bị đánh thuế tương ứng Ở một số quốc gia như
Úc và NaUy ngăn cấm hoàn toàn các công ty mua lại cổ phần Các nước Châu Âu đánh thuế rất cao mua lại cổ phần và xem chúng tương đương như cổ tức tiền mặt
1.3 Mối quan hệ giữa chính sách thuế cổ tức và chính sách chi trả cổ tức:
Như đã nêu ở phần 1.1.3 “Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ
tức”, ta đã thấy có rất nhiều quan điểm trái ngược nhau Có ý kiến cho rằng không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ suất thuế thu nhập cổ tức với chính sách cổ tức, nhưng cũng có những ý kiến cho rằng giữa chính sách cổ tức và tỷ suất thuế thu nhập cổ
tức có mối tương quan với nhau Mối quan hệ đó còn bị chi phối bởi lợi nhuận trước thuế
Như vậy, có rất nhiều nhân tố quyết định chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp Thuế cổ tức là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả
cổ tức của doanh nghiệp Tuy nhiên, không chỉ có thuế mà còn có rất nhiều những nhân tố khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách chi trả cổ tức Vì thế, khi đi nghiên cứu sự tác động của thuế đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp,
Trang 18chúng ta phải xem xét những nhân tố khác cũng đồng thời tác động đến chính sách chi trả cổ tức hàng năm
Theo Fama và French (2001), chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp
chịu tác động bởi 3 nhân tố: lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng và quy mô của công ty
Gorge M.Jabbour và Yikang Liu (2006) sau khi kiểm tra sự ảnh hưởng của 3 nhân tố này đến chính sách chi trả cổ tức rồi mới tiến hành nghiên cứu tác động của thuế suất cổ tức tác động đến chính sách chi trả cổ tức Từ đó, Gorge M.Jabbour và Yikang Liu (2006) rút ra kết luận, những công ty có tỷ suất lợi nhuận càng cao thì càng tăng chi trả cổ tức khi thuế suất giảm
1.4 Tìm hi ểu chính sách thuế thu nhập đánh trên cổ tức ở một số các quốc gia trên th ế giới hiện nay:
Hiện nay, trên thế giới có 2 quan điểm trái ngược nhau về áp dụng chính
sách thuế lên thu nhập cổ tức mà các cổ đông nhận được Hầu hết các quốc gia trên
thế giới đều đánh thuế thu nhập cổ tức, chỉ trong những trường hợp kinh tế khó khăn thì các nước này mới đưa ra những chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế nhằm
hỗ trợ các nhà đầu tư trên TTCK Ngược lại, một số quốc gia trên thế giới như Singapore, Malaysia, Hong Kong là không đánh thuế thu nhập cổ tức
Nguyên nhân về sự khác biệt này là do quan điểm cho rằng đánh thuế cổ
t ức là sự chồng chéo trong chính sách thuế, đánh thuế hai lần và đây là sự tận thu
chưa công bằng Khi nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu của một doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc họ là cổ đông hay chủ sở hữu của một doanh nghiệp Vì vậy, khi doanh nghiệp chịu thuế TNDN cũng có nghĩa là nhà đầu tư đã phải chịu một lần thuế TNDN Doanh nghiệp trả cổ tức nghĩa là doanh nghiệp trích một phần trong tổng thu nhập sau thuế của mình để trả cho những người có tên trong danh sách cổ đông, như vậy thì cổ tức đã phải chịu một lần thuế TNDN Vậy thì khi cổ đông nhận
Trang 19cổ tức và phải chịu thêm mức thuế cổ tức sẽ bị thuế chồng lên thuế và không đúng
với thuế TNCN Việc phải chịu thuế tính trên cổ tức gây tâm lý bất bình cho các NĐT hơn là chi phí thuế mà họ phải gánh chịu Ngược lại, nếu đánh thuế TNDN chính là đã đánh thuế vào chủ sở hữu của DN hay chính là cổ đông của công ty – các NĐT
Chính vì thế, việc đánh thuế thu nhập lên cổ tức tiền mặt khiến các công ty có thể không chi trả cổ tức trong một số trường hợp vì một số lý do sau:
Hội đồng Quản trị công ty cũng như đại hội cổ đông tin rằng công ty sẽ có
ưu thế trong việc nắm bắt cơ hội nhờ có nhiều vốn hơn và việc tái đầu tư cuối cùng sẽ đem lại lợi nhuận cho các cổ đông hơn là việc thanh toán cổ tức tại thời điểm hiện tại Trong trường hợp Hội đồng quản trị quyết định không chi trả cổ tức tiền mặt mà chuyển qua hình thức khác thì lúc đó đồng nghĩa với việc Hội đồng Quản trị hiện hành của công ty đã buộc các chủ sở hữu trong việc đầu tư tiền của họ (lợi nhuận từ kinh doanh) là tiếp tục dùng vốn
đó để đem đi tái đầu tư
Khi cổ tức được chi trả, các cổ đông tại nhiều quốc gia phải thanh toán thuế kép từ các cổ tức này: công ty đã phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà nước khi công ty có lợi nhuận, và sau khi cổ tức được thanh toán thì các
cổ đông lại phải chi trả thuế thu nhập cá nhân cho nhà nước một lần nữa trên
số tiền cổ tức mà họ nhận được Điều này thường được tránh bằng cách điều chỉnh phần lợi nhuận giữ lại hay bằng việc mua lại cổ phiếu của công ty, bằng cách này các cổ đông không phải nộp thuế do Nhà nước không đánh thuế những giao dịch như vậy
Trên thế giới, Microsoft là một ví dụ điển hình của các công ty trong lịch sử đóng vai trò của người đề xuất ra thu nhập giữ lại; công ty này đã làm điều đó bằng việc đem bán cổ phần của mình ra phạm vi công cộng từ năm 1986 Cho đến tận năm
2003, công ty thông báo là có thể chi trả cổ tức Trong những năm đó Microsoft đã
Trang 20tích lũy được trên 43 tỷ đô la Mỹ bằng tiền mặt, và vì thế đã làm dấy lên sự bực dọc của các cổ đông khi họ cho rằng lượng tiền lớn như vậy lẽ ra phải nằm trong tay họ chứ không phải thuộc về công ty Tuy nhiên công bằng mà nói thì các cổ đông của Microsoft trong những năm qua đã kiếm lời cực lớn từ lãi vốn (tức là giá cổ phiếu của họ tăng rất cao trên thị trường chứng khoán)
Vì những lý do trên mà sự phân biệt rạch ròi giữa hai chủ thể là doanh nghiệp - cổ đông trong trường hợp này và hệ quả của việc phân biệt như thế này đã gây ra những tranh cãi
Hiện nay, trên thế giới có một số nước như Singapore, Malaysia, Hong Kong
đang theo đuổi chính sách không áp dụng thuế thu nhập cổ tức Họ tin rằng việc
đánh thuế như thế là “thuế chồng thuế” và việc không áp dụng thuế cổ tức sẽ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển TTCK
Ở các nước Úc và New Zealand vẫn đánh thuế thu nhập cổ tức Tuy nhiên,
các quốc gia này đang theo đuổi chính sách tránh đánh thuế hai lần (thuế chồng
thuế) bằng cách sử dụng một hệ thống khấu trừ thuế nhằm làm nhẹ bớt trách nhiệm thuế lên các cổ đông Hệ thống khấu trừ thuế (imputation tax system) là người bị đánh thuế vào cổ tức thì có quyền được khấu trừ với số thuế thu nhập mà doanh nghiệp đã nộp Hệ thống khấu trừ thuế này được áp dụng từ 01/07/2002 Theo đó, các công ty chuyển các khoản thu nhập miễn thuế cho các cổ đông cùng với cổ tức Các khoản thu nhập miễn thuế này tương ứng với khoản thuế đã trả bởi công ty theo lợi nhuận trước thuế của mình Một đô la thuế đã nộp tạo ra một khoản thu nhập miễn thuế Các công ty có thể chuyển bất kỳ tỷ lệ nào của khoản thu nhập miễn thuế (tới giá trị cực đại) đã được tính từ thuế suất thuế thu nhập hiện hành của công ty: với mỗi đô la cổ tức được thanh toán, mức cực đại của khoản thu nhập được khấu trừ là:
Trang 21C ổ tức
(1 – thuế suất của công ty)
Ở mức thuế suất hiện hành là 30%, điều này tạo ra ở mức 42.857 xu trên mỗi đô la
cổ tức Các cổ đông có thể sử dụng nó để khấu trừ trong các biên lai thuế thu nhập quy đổi của họ ở tỷ lệ một đô la trên một khoản thu nhập miễn thuế, vì thế nó đã loại trừ một cách có hiệu quả việc đánh thuế kép trong lợi nhuận của công ty Chúng ta có thể hiểu rõ thêm qua ví dụ sau đây:
Ví dụ:
Một người ở Úc có cổ tức được chia sau khi công ty mà họ góp cổ phần
đã nộp đủ thuế thu nhập công ty (hiện nay là 30%) bằng 2.100 đô la Cổ tức quy đổi của họ sẽ là 2.100/ (1 - 0,30) = 3.000 đô la trong đó 3.000 - 2.100 =
900 đô la được hoàn lại là phần thuế đã nộp
Ở thuế suất thuế thu nhập cá nhân là 33% (New Zealand) thì họ phải nộp 3.000 x 33% = 990 đô la Tuy nhiên 900 đô la trong số đó đã được công ty nộp Do vậy, họ chỉ phải nộp 990 - 900 = 90 đô la và còn lại 2.100 - 90 = 2.010 đô la Điều này tương tự như khi họ nhận được 3.000 đô la cổ tức và phải nộp 3.000 x 33% = 990 đô la và còn lại 3.000 - 990 = 2.010 đô la
Đối với những người có thu nhập thấp Giả sử họ phải chịu thuế suất thuế thu nhập 17% Trong trường hợp nếu cổ tức họ nhận được cũng là 2.100
đô la (cổ tức quy đổi cũng bằng 3.000 đô la) thì họ chỉ phải nộp 3.000 x 17%
= 510 đô la, nhưng công ty đã nộp thay họ 3.000 – 2.100 = 900 đô la và họ
có quyền yêu cầu hoàn lại 900 - 510 = 390 đô la bằng tiền mà Nhà nước đã thu của họ từ thuế thu nhập công ty trước đó
Trên đây là những ví dụ điển hình của các quốc gia trên thế giới đang theo đuổi chính sách tránh đánh thuế hai lần (thuế chồng thuế) Việc đề ra hệ thống thuế
Trang 22khấu trừ như thế nhằm giảm áp lực đóng thuế của những nhà đầu tư chứng khoán và
họ cho rằng điều đó sẽ khuyến khích các nhà đầu tư và phát triển TTCK
Mặt khác, để đạt được sự thống nhất của đối tượng chịu thuế với cơ quan
quản lý cũng như các chuyên gia về vấn đề này là không đơn giản Nhiều nhà kinh
tế học quan điểm rằng việc không đánh thuế thu nhập cổ tức chỉ góp phần làm tăng
thêm khoảng cách thu nhập của người giàu và người nghèo Bản chất của việc
cắt giảm thuế hay không đánh thuế thu nhập cổ tức không có tác dụng thúc đẩy TTCK mà các giải pháp thực tiễn là phải hướng trực tiếp vào tăng tổng cầu và đầu
tư Điển hình là năm 2003, Chính phủ Mỹ - đứng đầu là Tổng thống George W Bush cam kết sẽ loại bỏ thuế đánh vào thu nhập của các nhà đầu tư cổ phiếu với quan điểm đó là sự đánh trùng hai loại thuế trên cùng một cơ sở thu nhập chịu thuế:
" Thuế kép là một điều tệ hại đối với nền kinh tế của chúng ta Thuế kép
là một sai lầm Thuế kép đặc biệt là nặng đối với những người hưu trí Khoảng một nửa của tổng số thuế cổ tức đến từ những người Mỹ cao tuổi, và thông thường họ dựa vào những khoản tiền này như một nguồn thu nhập đều đặn khi nghỉ hưu
Nó là hợp lý khi đánh thuế lợi tức công ty Nó là không hợp lý khi đánh thuế kép bằng cách đánh thuế cổ đông trên cùng một lợi nhuận Vì thế hôm nay, để làm tốt hơn đối với các công dân cao tuổi của chúng ta, và cũng để
hỗ trợ việc tạo dựng vốn trên cả nước, tôi đề nghị Quốc hội Hoa Kỳ hủy bỏ việc đánh thuế kép trên cổ tức."
Những người chỉ trích cho rằng việc bãi bỏ thuế cổ tức có rất ít tác dụng đối với
60% những người làm công ăn lương thuộc tầng lớp dưới và chủ yếu là nó làm giảm thuế đối với 20% tầng lớp trên; còn nói chung thì các tầng lớp trung gian và trên sẽ có tiền dư thừa để đầu tư dài hạn, bao gồm cả đầu tư chứng khoán Từ đó sẽ dẫn đến chênh lệch lớn trong phân phối thu nhập xã hội, đây là một vấn đề lớn mà các quốc gia đau đầu
Trang 23Những người ủng hộ thì cho rằng 60% người làm công ăn lương tầng lớp dưới
thực ra đã nộp rất ít thuế nhưng lại là tầng lớp dễ bị tổn thương bởi thuế kép Khi các công ty quyết định sẽ tăng vốn như thế nào, họ thấy rằng việc thanh toán lãi suất trên các khoản nợ chỉ bị đánh thuế một lần trong khi việc thanh toán cổ tức thông qua việc bán cổ phiếu thì lại bị đánh thuế hai lần, vì thế hệ thống thuế như thế sẽ khuyến khích các công ty vay nợ và nó trở thành lực đòn bẩy cao Mức vay nợ cao của các công ty sẽ dẫn đến việc cho nghỉ hay sa thải công nhân nhanh và nhiều hơn khi có những dấu hiệu đầu tiên của sút giảm kinh tế Thuế kép trên cổ tức vì thế làm tăng mức độ trầm trọng của suy thoái trong các chu kỳ kinh tế Từ đó, 60% người làm công ăn lương tầng lớp thấp cũng sẽ thiệt thòi nhiều hơn so với "người giàu" từ việc sa thải và suy thoái nặng Căn cứ vào ảnh hưởng tiêu cực của lực đòn bẩy đối với chu kỳ kinh tế, từ viễn cảnh của kinh tế vĩ mô, nó sẽ là đúng đắn hơn khi đánh thuế kép vào lãi suất thay vì vào cổ tức bằng cách giảm mức độ khấu trừ của lãi suất
Sau nhiều tháng tranh cãi, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua sắc lệnh năm 2003
về điều hòa giảm nhẹ thuế đối với công ăn việc làm và tăng trưởng (Jobs and
Growth Tax Relief Reconciliation Act of 2003 viết tắt JGTRRA) bao gồm một số
mục cần cắt giảm theo đề nghị của Tổng thống Bush Mục tiêu của sắc lệnh thuế này là nhằm tăng nhu cầu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và hướng tới các mục tiêu tăng trưởng kinh tế Ông đã ký sắc lệnh ngày 28 tháng 5 năm 2003 Theo JGTRRA, cổ tức bị đánh thuế với thuế suất 15% cho phần lớn các cá nhân phải nộp thuế Những người có thu nhập thấp chịu thuế suất trên cổ tức 5% cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2007 và không phải nộp thuế này trong năm 2008 Từ ngày 1 tháng 1 năm 2009, thuế suất thuế thu nhập tiêu chuẩn sẽ được áp dụng đối với thu nhập từ
cổ tức của mọi cá nhân
Tóm l ại, trên thế giới vẫn còn tồn tại song song 2 quan điểm đánh thuế và
không đánh thuế thu nhập cổ tức Tùy theo quan điểm và tình hình kinh tế chính trị
ở mỗi quốc gia mà chính phủ sẽ ban hành những chính sách về thuế thu nhập cho
Trang 24phù hợp với quốc gia của mình Và tất nhiên vẫn còn rất nhiều những bàn cãi xung quanh vấn đề này chưa ngã ngũ
Bảng tỷ suất thuế cổ tức một số quốc gia
Đài Loan 0% với NĐT trong nước
Trang 25TÓM T ẮT CHƯƠNG 1:
Trên thế giới, có rất nhiều học thuyết trái ngược nhau về sự ảnh hưởng của thuế cổ tức lên chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp Có trường phái cho rằng, thuế và cổ tức có mối quan hệ nghịch biến nhau; nhưng cũng có những trường phái cho rằng giữa chúng chẳng có mối quan hệ gì cả vì cho rằng các doanh nghiệp có
thể thay đổi các hình thức chi trả cổ tức tiền mặt hay lãi vốn Đây là vấn đề không
chỉ các nhà quản trị doanh nghiệp phải quan tâm suy nghĩ mà còn là vấn đề mà các chính phủ mỗi quốc gia cân nhắc
Vậy, chính sách thuế thu nhập cổ tức có ảnh hưởng như thế nào? Chúng ta hãy cùng
đi vào chương 2 & 3 để tìm hiểu mô hình kiểm nghiệm và áp dụng vào thực tiễn Việt Nam để đưa ra kết luận
Trang 26CHƯƠNG 2:
Tác giả đã tìm hiểu bài nghiên cứu “Tác động của thay đổi thuế suất lên thu nhập cổ tức” của hai ông George M.Jabbour và Yikang Liu (George Washington University) đăng trên trên tạp chí Business & Economics Research (2006) George M.Jabbour và Yikang Liu đã nghiên cứu sự tác động của chính sách cắt giảm thuế
suất thu nhập cổ tức 2003 của chính quyền Bush (Mỹ) lên chính sách chi trả cổ tức
của các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Mỹ như thế nào Hơn nữa, nghiên cứu
của Fama và French (2001) được nhiều nước ứng dụng cũng đã được vận dụng trong bài nghiên cứu này Từ đó, tác giả mạnh dạn ứng dụng mô hình trong bài nghiên cứu này để áp dụng vào tình hình Việt Nam hiện nay
2.1 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích được sử dụng trong mô hình nghiên cứu là phương pháp hồi quy tuyến tính dữ liệu bảng
Mô hình hồi quy tuyến tính (mô hình hồi quy đường thẳng): là mô hình hồi quy nói lên mức phụ thuộc tuyến tính của một biến phụ với một hay nhiều biến độc lập mà phương trình của mô hình hồi quy có dạng tuyến tính đối với các hệ số
Mô hình hồi quy tuyến tính gồm k biến có dạng như sau:
Y i,t = β 1 + β 2 X 2i,t + β 3 X 3i,t + ….+ β k X ik,t + U i
Trong đó: Yi là biến phụ thuộc
X là biến độc lập
Ui là sai số ngẫu nhiên
Trang 27Dựa vào các quan sát được thu thập theo thời gian trong các kỳ trước đó, ta
sẽ xây dựng được mô hình hồi quy Thay số liệu của các biến đã cho trong kỳ dự báo vào mô hình hồi quy ta sẽ cho ta kết quả cần dự báo
2.2 Mô hình nghiên c ứu:
Mục đích của chúng ta là tìm ra mối liên hệ giữa cổ tức và thuế suất thu nhập
cổ tức Tuy nhiên, chính sách cổ tức của công ty chịu tác động của nhiều nhân tố, nên 1 mô hình hồi quy đơn giản giữa 2 biến này để nói lên mối liên hệ giữa chúng thì không đủ sức thuyết phục
Như đã nói ở Phần 1, các công ty có xu hướng tăng cổ tức hàng năm cùng với tốc độ tăng lợi nhuận hay sự lớn mạnh của công ty đó Vì thế, để tìm ra sự tác động đích thực của thuế, trước hết chúng ta phải loại trừ những tác động của các nhân tố khác rồi mới đi tìm hiểu mối liên hệ giữa thuế suất với chính sách cổ tức
Theo Fama và French (2001), chính sách cổ tức bị tác động bởi lợi nhuận, triển vọng tăng trưởng và quy mô của công ty đó Cùng với Lintner, Fama và French cũng đồng tình cho rằng cổ tức bị chi phối bởi các yếu tố hoạt động của công ty những năm trước Từ đó, Geoge M.Jabbour và Yikang Liu dự đoán được cổ
tức của công ty trong tương lai nhờ việc tính toán các dữ liệu đã biết từ những năm trước Vì thế, hai ông đã xây dựng một hàm hồi quy dữ liệu bảng, trong đó dòng cổ
tức hiện tại của công ty là một biến phụ thuộc vào các biến độc lập là lợi nhuận, cơ
hội đầu tư và quy mô của các công ty năm trước Hàm hồi quy thể hiện mối liên hệ giữa cổ tức và các yếu tố tác động lên chính sách cổ tức tiền mặt của công ty như là
lợi nhuận, cơ hội đầu tư, quy mô công ty như sau:
Dòng c ổ tức hiện tại (Current dividend):
Current dividend = CD i,t = β 1 + β 2 * PR i, t-1 + β 3 * A i, t-1 + β 4 * BV i, t-1 + ε i,t (1)
Trong đó:
Trang 28CDi,t : dòng tiền cổ tức của công ty i vào năm t
PR i, t-1: tỷ suất lợi nhuận của công ty i vào năm t-1 (đại diện cho lợi nhuận công ty)
Ai, t-1: tỷ lệ tăng trưởng tài sản công ty i vào năm t-1 (đại diện cho cơ hội đầu
tư vào công ty)
BVi, t-1: Tổng giá trị tài sản trên sổ sách của công ty i vào thời điểm t-1 (thể
hiện quy mô lớn hay nhỏ của công ty)
εi,t: sai số ngẫu nhiên
V ới:
Tỷ suất lợi nhuận của mỗi công ty (PR) bằng lợi nhuận trước lãi vay, thuế,
khấu hao và hao mòn hữu hình (EBITDA) chia cho giá trị sổ sách tổng tài sản (BV)
EBITDA L ợi nhuận trước lãi vay, thuế, khấu hao và hao mòn
Tỷ lệ tăng trưởng tài sản (A) bằng giá trị sổ sách tổng tài sản năm nay trừ giá
trị sổ sách tổng tài sản năm ngoái chia cho giá trị sổ sách tổng tài sản năm ngoái
Trang 29BV t - BV t-1
A = -
BV t-1
Quy mô của công ty (BV) chính là giá trị sổ sách tổng tài sản của công ty
Cơ sở dữ liệu là 467 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán S&P
500 (ngoại trừ các công ty dịch vụ) từ giai đoạn năm 1984-2002 là những công ty hoàn toàn độc lập trong việc ra quyết định chi trả cổ tức, trong khi các công ty dịch
vụ thì bị bắt phải chi trả cổ tức theo luật định
Để xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố của công ty lên cổ tức, chúng
ta phải chia nhỏ tổng mẫu là các công ty đã chọn ra thành 4 nhóm Đầu tiên chúng
ta sắp xếp các công ty theo thứ tự giảm dần về lợi nhuận Tiếp theo, chúng ta chia
tổng mẫu này thành 4 nhóm nhỏ có 4 mức độ cao thấp với yếu tố lợi nhuận của các công ty đó theo tỷ lệ: 25% cao nhất , 25% cao vừa, 25% thấp vừa, 25% thấp nhất Tương tự, chúng ta cũng làm từng bước với chính tổng mẫu đó theo 2 yếu tố còn lại
là tỷ lệ tăng trưởng tài sản của công ty và quy mô của công ty Sau khi thực hiện xong thủ tục phân nhóm như trên, chúng ta sẽ có 12 nhóm các công ty
Tiếp theo phần xử lý dữ liệu là thực hiện chạy mô hình hồi quy (1) và tiến hành phân tích dữ liệu
Sau khi chạy hồi quy công thức (1), chúng ta sẽ tính ra hệ số tương quan β cho cả 12 nhóm các công ty Khi biết được hệ số tương quan, chúng ta đã có thể ước tính được dòng cổ tức dự đoán của công ty i vào thời điểm t+1 bằng cách sử dụng công thức sau:
Forecast dividend i, t+1 = DF = β 1 + β 2 * PR i, t + β 3 * A i, t + β 4 * BV i, t
Trang 30Sau khi ước tính được hết dòng cổ tức dự đoán của các công ty trong mỗi nhóm, chúng ta đi tính trung bình dòng cổ tức dự đoán cho mỗi nhóm Tiếp đến, chúng ta xác định sai số trung bình cổ tức dự đoán bằng cách lấy trung bình cổ tức
thực tế trừ đi trung bình cổ tức dự đoán Sai số này thể hiện đã loại trừ tác động lớn
của 3 yếu tố tác động lên chính sách cổ tức của công ty (lợi nhuận, cơ hội đầu tư, quy mô công ty) lên dòng tiền cổ tức Lúc này chỉ còn những yếu tố khác tác động lên dòng tiền cổ tức của công ty trong đó nổi cộm là vấn đề thuế cổ tức Từ bây giờ, chúng ta đã có thể tìm mối quan hệ giữa cổ tức và thuế suất cổ tức thông qua hàm hồi quy tuyến tính đơn bội như sau:
Averaged dividend forecast error t+1 = α 1 + α 2 * dividend tax rate t+1 + ε t+1 (3)
hay: DF = α 1 + α 2 * DTR t+1 + ε t+1
Trong đó, thuế suất cổ tức là biến độc lập và sai số trung bình cổ tức dự đoán
là biến phụ thuộc Nếu hệ số tương quan α2 là số âm thì chúng ta có thể khẳng định được mối quan hệ nghịch giữa thu nhập cổ tức với mức thuế suất thu nhập cổ tức áp
dụng đó là cổ tức có khuynh hướng tăng lên khi mức thuế suất đánh lên nó giảm
xuống
Để chắc chắn không mắc các lỗi có thể dẫn đến sai lệch kết quả dự báo khi dùng mô hình dự báo OLS này như bỏ sót biến quan trọng, lỗi sai dạng hàm hay lỗi sai sót hệ thống trong việc đo lường, tác giả đã sử dụng kiểm định Durbin-Watson
để kiểm tra có hiện tượng tự tương quan trong mô hình hay không Kết quả là không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của George M.Jabbour và Yikang Liu sau khi kiểm định Durbin-Watson:
Trang 31Hệ số ước tính*
Nhiều lợi nhuận nhất 61,89007 3.57470*** -202,10208 -3.33834*** Nhiều lợi nhuận 29,45818 2,11108 -101,82991 -2.37633**
Ít lợi nhuận nhất 41,40176 0,76889 -112,97439 -0,72844 Nhiều cơ hội đầu tư nhất 3,66946 0,04843 0,15114 0,00071 Nhiều cơ hội đầu tư -21,10529 -0,46005 61,17003 0,41954
Ít cơ hội đầu tư nhất 5,43178 0,05097 -22,16127 -0,07571
Đối với yếu tố cơ hội đầu tư, hệ số tương quan của thuế suất chỉ âm đối với nhóm có cơ hội đầu tư thấp nhất (25%) Điều này cũng dễ hiểu bởi vì những công ty
có cơ hội đầu tư lớn sẽ ưu tiên hơn cho việc đầu tư hơn là việc chi trả cổ tức cho cổ đông
Trang 32Cuối cùng là yếu tố về quy mô công ty, hệ số tương quan của thuế suất chỉ
âm đối với nhóm có quy mô thấp nhất (25%) Điều này có thể lý giải đơn giản là vì các công ty có quy mô nhỏ tranh thủ tăng chi trả cổ tức khi thuế giảm để thu hút
những nhà đầu tư nhạy cảm với thuế Trong khi đó, đối với các công ty lớn đã có các chính sách cổ tức không nhạy cảm lắm với sự thay đổi của thuế suất bởi vì nhiều nguyên nhân như đã có chính sách chi trả cổ tức truyền thống, đặc thù chủ sở
hữu của công ty hoặc đã tính toán các giai đoạn thanh toán cổ tức
Kết luận của hai ông cũng nhất quán với Fama và French (2011) đó là chính sách cổ tức của doanh nghiệp bị chi phối bởi các đặc điểm của công ty như lợi nhuận, cơ hội đầu tư và quy mô lớn nhỏ của công ty Sau khi kiểm soát được tác động của các yếu tố này, hai ông kết luận rằng chỉ những công ty có làm ăn có lợi nhuận mới giải thích được mối quan hệ nghịch biến giữa thuế suất cổ tức với chính sách chi trả cổ tức của công ty Những công ty càng có nhiều lợi nhuận thì càng quan tâm đến việc chi trả cổ tức cao khi thuế suất cổ tức giảm và ngược lại Như
vậy, đối với chính sách của chính quyền Tổng thống Bush 2003 chỉ có tác dụng đối
với những công ty có lợi nhuận thật sự cao mà thôi Chính sách này đã thực sự mang lại hiệu quả cho nền kinh tế Mỹ nói chung và TTCK Mỹ nói riêng Nhờ chính sách thuế ưu đãi thu nhập cổ tức mà các nhà đầu tư đã mạnh dạn đầu tư hơn vào các công ty có triển vọng làm ăn có lời và có cơ hội đầu tư lớn Điều đó giúp cho nguồn
vốn được sử dụng có hiệu quả, các công ty càng làm ăn phát đạt, nền kinh tế phát triển Kết quả là những nhà đầu tư cũng nhận được khoản cổ tức mong muốn và tiếp tục đầu tư vào các công ty
Tuy nhiên, từ chứng minh này, chúng ta nhận ra rằng, để phát triển TTCK không chỉ có dựa vào chính sách thuế của Chính phủ mà thôi Chính sách thuế chỉ
là công cụ hỗ trợ và định hướng cho TTCK phát triển Muốn TTCK thực sự phát triển và nền kinh tế thực sự lớn mạnh thì mỗi quốc gia cần ban hành không chỉ riêng chính sách thuế phù hợp mà còn phải ban hành các chính sách kinh tế vĩ mô khác để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển
Trang 33Từ việc tham khảo mô hình của 2 tác giả George M.Jabour và Yikang Liu, tác giả nhận thấy tính khả thi của việc áp dụng mô hình này vào Thị trường chứng khoán Việt Nam bởi những lý do sau đây:
+ Chính sách cổ tức của các công ty ở Việt Nam cũng bị chi phối bởi các nhân tố lợi nhuận, cơ hội đầu tư và quy mô của công ty
+ Chính sách thuế TNCN đánh lên cổ tức cũng vừa bắt đầu có hiệu
lực từ ngày 01/01/2009 (trước đó không đánh thuế lên thu nhập từ cổ tức) Sau đó, trước tình hình kinh tế khó khan, Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách miễn giảm thuế TNCN đánh lên cổ tức Những thay đổi trong chính sách thuế này có tác động đến chính sách chi trả cổ tức của các Công
ty niêm yết và từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của các nhà đầu tư trên TTCK
Từ đó, tác giả mạnh dạn áp dụng mô hình này vào bài nghiên cứu của mình với mong muốn làm sáng tỏ những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
Trang 34TÓM T ẮT CHƯƠNG 2:
Như vậy, để xác định mối quan hệ giữa thuế suất thuế thu nhập cổ tức với chính sách cổ tức của doanh nghiệp, chúng ta cần phải tiến hành 2 bước:
+ Loại bỏ tác động của các yếu tố về lợi nhuận, cơ hội đầu tư, quy mô
lớn/nhỏ của công ty
+ Xác định tác động của thuế thu nhập cổ tức lên chính sách cổ tức của công
ty
Kết luận nghiên cứu của George M.Jabbour và Yaking Liu về chính sách cắt
giảm thuế cổ tức của chính quyền Tổng thống Bush chỉ có tác động ngược chiều lên chính sách cổ tức ở các doanh nghiệp làm ăn có lãi Như vậy, chính sách thuế cũng
là một nhân tố tác động đến thị trường chứng khoán và chỉ khích thích một bộ phận các công ty chia cổ tức để tăng sự thu hút với các nhà đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, để kích thích sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng cần những biện pháp khác kích cung cầu của thị trường Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả chỉ đi nghiên cứu tác động của chính sách thuế cổ tức lên chính sách chi trả
cổ tức của các công ty niêm yết
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, chính phủ cũng đã quyết định giảm thuế thu nhập cổ tức nhiều lần tùy theo tình hình kinh tế từng thời điềm để khuyến khích thị trường chứng khoán phát triển Quyết định này có tác động như thế nào đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp và rộng hơn là TTCK Việt Nam như thế nào, chúng ta cùng áp dụng phương pháp của George M.Jabbour và Yaking Liu để tìm
hiểu ở chương sau
Trang 35CHƯƠNG 3:
ĐỔI CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CHI TRẢ
3.1) Các vấn đề về chính sách thuế cổ tức ở Việt Nam:
phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao thì “Tạm thời chưa thu thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu
nh ập về lãi tiền gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi tiền cho vay vốn, lãi mua tín phi ếu, trái phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu, thu nhập từ hoạt động đầu tư
ch ứng khoán, chênh lệch mua bán chứng khoán.”
Cho đến đầu năm 2009, tại Việt Nam, thu nhập cổ tức được coi là một loại trong thuế thu nhập Theo Luật Quản lý thuế của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ
10, số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2007 thì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Nếu phân loại theo
Trang 36hình thức thu thì thuế được chia thành hai loại là thuế gián thu và thuế trực thu Thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một, ví
dụ thuế VAT, nhà nước đánh thuế vào công ty – công ty nộp thuế và công ty lại chuyển số thuế đó vào chi phí của hàng hóa, dịch vụ - người tiêu dùng phải chịu
và như vậy người tiêu dùng mới là người chịu thuế cuối cùng Thuế trực thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế là một, ví dụ như thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hay thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) Thuế thu nhập là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân và pháp nhân Cơ sở để tính thuế là thu nhập và
hiện nay có nhiều cách để xác định thu nhập chịu thuế Có thể đó là mọi khoản thu
nhập; hoặc những khoản thu nhập được xác định là thu nhập để tiêu dùng; hoặc là những khoản thu nhập thường xuyên (thu nhập nhất thời, thu nhập ngoài kế hoạch không bị đánh thuế)… Thời gian để xác định thu nhập chịu thuế thường là một năm tài chính Thuế thu nhập được tính bằng cách lấy thu nhập chịu thuế nhân với thuế suất thuế thu nhập Ở Việt Nam hiện nay, thuế TNCN được xác định theo
Luật thuế Thu nhập cá nhân của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2, số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Theo
đó, thu nhập chịu thuế bao gồm 14 loại thu nhập và có quy định rõ biểu thuế đối
với các trường hợp Thu nhập từ đầu tư vốn (là một trong 14 loại thu nhập chịu thuế TNCN) áp dụng biểu thuế toàn phần với tỷ lệ thuế suất là 5%
Mặt khác, lợi nhuận của công ty được xác định bởi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 Như vậy, nếu xét từ nguồn gốc ban đầu thì thu nhập cổ
tức đã bị tác động bởi hai lần thuế TNDN và TNCN trước khi đến tay NĐT
3.1.2) Các quan điểm về thuế thu nhập cổ tức và các bất cập hiện có ở Việt Nam:
Hầu hết các nhà đầu tư đều cho rằng việc đánh thuế trên cổ tức là “thuế
chồng thuế” Chưa nói tới mức thuế suất 5%, nhiều ý kiến đã cho rằng đánh thuế cổ
Trang 37tức là có sự chồng chéo trong chính sách thuế, đánh thuế hai lần và đây là sự tận thu chưa công bằng
Khi NĐT nắm giữ cổ phiếu của một doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc họ là
cổ đông hay là một chủ sở hữu của doanh nghiệp đó Vì vậy, khi doanh nghiệp chịu thuế TNDN cũng có nghĩa là NĐT phải chịu Doanh nghiệp trả cổ tức nghĩa là doanh nghiệp trích một phần trong tổng thu nhập sau thuế của mình để trả cho
những người có tên trong danh sách cổ đông Như vậy, cổ tức đã phải chịu một lần thuế TNDN Vậy thì khi cổ đông nhận cổ tức và phải chịu thêm mức thuế thu nhập
cổ tức 5% sẽ bị thêm một lần thuế nữa và không đúng với thuế TNCN Việc phải
chịu thuế tính trên cổ tức gây tâm lý bất bình cho các NĐT hơn là chi phí thuế mà
họ phải gánh chịu Vì vậy không nên phân biệt rạch ròi giữa hai chủ thể là DN và cổ đông trong trường hợp này Tuy nhiên, để đạt được sự thống nhất của đối tượng
chịu thuế với cơ quan quản lý cũng như các chuyên gia về vấn đề này là không đơn
giản
Một bất cập nữa trong việc đánh thuế cổ tức là việc thu thuế TNCN của các NĐT chủ yếu ở các doanh nghiệp niêm yết, trong khi giao dịch tự do, mua bán trao tay và chủ yếu bằng tiền mặt thì không ai kiểm soát và cũng không phải đóng thuế nên nếu đánh thuế rất dễ dẫn đến việc NĐT sẽ không tham gia thị trường giao dịch chính thức, làm chậm tiến độ cổ phần hóa, hạn chế các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Ngoài ra, việc tính thuế không công bằng, không hợp lý
sẽ làm cho thị trường không phát triển mà còn có khả năng bị suy thoái như một số nước trước đây đã vấp phải
Một điểm nữa cũng được đem ra bàn luận nhiều, đó là sự chưa công bằng khi đánh thuế đối với cổ tức Nếu so sánh với tiền gửi tiết kiệm, tính bảo toàn vốn cao, lãi suất cũng tương đối cao (tính từ thời điểm đưa ra Dự thảo Luật thuế TNCN, lãi
suất trên dưới 10%/năm tới nay, lãi suất có những lúc đã tăng lên 18,19%/năm) mà chưa bị đánh thuế trên lãi tiền gửi tiết kiệm Trong khi cổ tức có tỷ lệ rủi ro cao hơn,
phụ thuộc nhiều vào tình hình sản xuất kinh doanh của DN, NĐT phải bỏ nhiều thời gian và chi phí nhất định để tìm những địa chỉ đầu tư với tỷ lệ cổ tức sinh lợi cao,
Trang 38nhưng phần lớn các công ty cổ phần vẫn đưa ra mức cổ tức hàng năm dưới 15% Bên cạnh đó, cổ đông còn phải đối mặt với tình hình lạm phát liên tục tăng cao Xét tổng quan thì như vậy là không công bằng giữa hai ngành ngân hàng và chứng khoán
Phản hồi lại các ý kiến trái chiều là các ý kiến của những người trong ngành,
và có kinh nghiệm lâu năm Các ý kiến được đưa ra nêu rõ, đây là việc đóng thuế
của hai chủ thể khác nhau, doanh nghiệp thì đóng thuế TNDN còn cá nhân thì đóng thuế TNCN Điều này cũng giống như người mua hàng vẫn phải chịu thuế VAT
hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt Các sắc thuế này khác nhau nên không thể coi là đánh thuế trùng thuế Nếu xét trên khía cạnh kinh tế với cách nhìn nhận đơn giản, tách bạch, cắt khúc quá trình kinh tế hay các chu kỳ sản xuất, kinh doanh của DN, thì
quả thật là phần cổ tức được chia cho các cổ đông chính là một phần thu nhập của công ty và đã được xác định trong tổng thu nhập chịu thuế của công ty khi tính thuế
và nộp thuế thu nhập DN Tức là phần thu nhập này thực tế đã bị đánh thuế Tuy nhiên, quá trình kinh tế của doanh nghiệp là sự liên tục của những chu kỳ sản xuất kinh doanh, và nếu quan niệm như theo kiểu cắt khúc nói trên thì còn có thể suy ra nhiều khoản thu nhập hay nguồn vốn khác cũng bị đánh thuế hai lần, thậm chí là rất nhiều lần
Trên thực tế áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân đối với đầu tư chứng khoán
đã bộc lộc một số điểm bất hợp lý, nên Bộ Tài chính đang nghiên cứu để tìm biện pháp khắc phục Việc đưa ra mức thuế hợp lý hơn so với hiện tại, việc bổ sung các quy định về công nhận hóa đơn điện tử, hay áp dụng mức thuế khoán theo thông lệ
của nhiều nước nhưng có tính đến đặc thù của NĐT trên TTCK Việt Nam đều sẽ được cân nhắc để sao cho Luật thuế sửa đổi sẽ thể hiện được tư duy quan trọng của người làm chính sách thuế, đó là không vì nguồn thu trước mắt mà cần phát triển nguồn thu ổn định và bền vững về dài hạn Bộ Tài chính đã chính thức kiến nghị Chính phủ đưa nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN vào Chương trình xây dựng luật của Quốc hội năm 2012, nhưng Bộ Tư pháp muốn trình
Quốc hội xem xét sửa đổi ngay trong năm nay Đến thời điểm hiện tại, chưa có sửa
Trang 39đổi gì mới trong chính sách thuế thu nhập cổ tức Các NĐT vẫn chịu mức thuế suất 5% trong năm nay và không có chính sách miễn giảm
3.2) T ác động của thay đổi chính sách thuế thu nhập cổ tức lên chính sách chi tr ả cổ tức của các Công ty niêm yết trên sàn HOSE:
3.2.1 Th ống kê tình hình chi trả cổ tức bằng tiền mặt của các công ty niêm
y ết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2006-2011:
Khi thị trường chứng khoán sôi động, mức cổ tức dường như ít được cổ đông chú ý tới, nhưng trong thời gian gần đây, chính sách cổ tức đã được các nhà quản trị cân nhắc và cổ đông quan tâm đến nhiều hơn nhất là cổ tức tiền mặt
Trang 40Bi ểu đồ 1:
Bi ểu đồ 2: