1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LA02 076 an toàn tài chính của các công ty chứng khoán việt nam

237 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 4,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận về an toàn tài chính của công ty chứng khoán, nghiên cứu thực tiễn an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam từ đó đề x

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS,TS NGUYỄN VĂN DẦN

2 TS LÊ ANH TUẤN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận án là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của riêng tôi Các số liệu trong Luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả của Luận án chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Tác giả luận án

Hoàng Thị Bích Hà

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I MỤC LỤC II DANH MỤC CÁC BẢNG VII DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ VIII

MỞ ĐẦU 1

1.TÍNHCẤPTHIẾTCỦAĐỀTÀINGHIÊNCỨU 1

2.MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 2

3.ĐỐITƯỢNGVÀPHẠMVINGHIÊNCỨU 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu: 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 3

4.PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 3

5.ÝNGHĨAKHOAHỌCVÀTHỰCTIỄNCỦALUẬNÁN 4

6.ĐÓNGGÓPMỚICỦALUẬNÁN 5

6.1 Về mặt lý luận 5

6.2 Về mặt thực tiễn 6

7.KẾTCẤULUẬNÁN 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 8

1.1.TỔNGQUANTÌNHHÌNHNGHIÊNCỨU 8

1.1.1 Nghiên cứu về an toàn tài chính của các định chế tài chính 8

1.1.2 Nghiên cứu về công ty chứng khoán 8

1.1.3 Nghiên cứu về an toàn tài chính của công ty chứng khoán 13

1.2 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ KHOẢNG TRỐNG Ở CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN 15

1.3.NHỮNGVẤNĐỀĐẶTRA CHOVIỆCNGHIÊNCỨUCỦALUẬNÁN 15

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 17

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ TÀI CHÍNH CỦA CÔNGTYCHỨNGKHOÁN 17

2.1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán 17

2.1.2 Tài chính của công ty chứng khoán 28

Trang 5

2.2.ANTOÀNTÀICHÍNHCỦACÔNGTYCHỨNGKHOÁN 30

2.2.1 Khái niệm an toàn tài chính của công ty chứng khoán 30

2.2.2 Tiêu chí phản ánh an toàn tài chính của công ty chứng khoán 33

2.2.3 Đặc trưng an toàn tài chính của các công ty chứng khoán 37

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá an toàn tài chính của công ty chứng khoán 40

2.2.5 Đánh giá an toàn tài chính của công ty chứng khoán 51

2.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến an toàn tài chính của công ty chứng khoán 55

2.2.7 Sự cần thiết phải đảm bảo an toàn tài chính của công ty chứng khoán 60

2.3 KINH NGHIỆM ĐẢM BẢO AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC THAMKHẢOCHOVIỆTNAM 63

2.3.1 Kinh nghiệm về quy định đảm bảo an toàn tài chính đối với công ty chứng khoán của một số nước 63

2.3.2 Ngân hàng đầu tư trong khủng hoảng tài chính và bài học đối với các công ty chứng khoán Việt Nam 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 77

3.1.KHÁIQUÁTVỀCÁCCÔNGTYCHỨNGKHOÁNVIỆTNAM 77

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các công ty chứng khoán Việt Nam 77

3.1.2 Nghiệp vụ kinh doanh của các công ty chứng khoán Việt Nam 79

3.1.3 Tình hình tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam 80

3.2 THỰC TRẠNG AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁNVIỆTNAMTHỜIGIANQUA 89

3.2.1 Khung pháp lý về hoạt động và an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam 89

3.2.2 Tình hình an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam 99

3.2.3 Xếp loại, đánh giá an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam theo mô hình CAMEL và theo Thông tư 226 119

3.3 NHẬN XÉT VỀ AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁNVIỆTNAMTHỜIGIANQUA 127

3.3.1 Những kết quả đạt được 127

Trang 6

3.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 130

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 139

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 140

4.1.QUANĐIỂM,MỤCTIÊUPHÁTTRIỂNTHỊTRƯỜNGCHỨNGKHOÁN VIỆTNAM 140

4.1.1 Quan điểm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 140

4.1.2 Mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 142

4.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ QUAN ĐIỂM ĐẢM BẢO AN TOÀN TÀICHÍNHĐỐIVỚICÁCCÔNGTYCHỨNGKHOÁNVIỆTNAM 145

4.2.1 Định hướng phát triển các công ty chứng khoán Việt Nam 145

4.2.2 Quan điểm đảm bảo an toàn tài chính đối với các công ty chứng khoán Việt Nam 147

4.3 GIẢI PHÁP ĐẢM BẢM AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNGKHOÁNVIỆTNAM 148

4.3.1 Nhóm giải pháp đối với các công ty chứng khoán 148

4.3.2 Nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước 164

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 179

KẾT LUẬN 180 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG

BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN X TÀI LIỆU THAM KHẢO XI PHỤ LỤC XVII

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

4 A3 Tỷ lệ các khoản phải thu/Tổng tài sản

21 QLDMĐT Quản lý danh mục đầu tƣ

Trang 8

29 TTS Tổng tài sản

32 TLATTC Tỷ lệ an toàn tài chính

33 TSSĐCRR Tài sản sau điều chỉnh rủi ro

34 TVTĐT Tiền và tương đương tiền

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Số lƣợng CTCK thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh tháng 12/2016 80

Bảng 3.2 VĐL và VCSH của các CTCK Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 81

Bảng 3.3 Top 22 CTCK có VĐL cao nhất tính đến tháng 12 năm 2016 82

Bảng 3.4 Quy mô và cơ cấu tài sản của các CTCK Việt Nam 84

Bảng 3.5 Một số kết quả kinh doanh chính của các CTCK Việt Nam 84

Bảng 3.6 Quy mô và cơ cấu doanh thu của các CTCK Việt Nam 86

Bảng 3.7 Bảng các chỉ tiêu, thang điểm và trọng số trong xếp hạng 94

Bảng 3.8 Điểm xếp loại CTCK theo quy chế CAMEL 96

Bảng 3.9 Những CTCK có C1 ≤ 51% 102

Bảng 3.10 Những CTCK có C2 chƣa đảm bảo (< 100%) 104

Bảng 3.11 Những CTCK có tỷ lệ VKD chƣa đảm bảo (C3 < 180%) 106

Bảng 3.12 Những CTCK có tỷ lệ A1 chƣa đảm bảo (A1 ≤ 65%) 109

Bảng 3.13 Những CTCK có tỷ lệ A3 chƣa đảm bảo (A3 > 75%) 112

Bảng 3.14 Top 10 CTCK có ROS cao nhất giai đoạn 2012-2016 114

Bảng 3.15: Những CTCK có ROE > 15% 116

Bảng 3.16 Một số CTCK chƣa đạt yêu cầu về hệ số TT tức thời L2 119

Bảng 3.17 Tổng hợp chỉ tiêu ATTC của 4 CTCK VSG, VICS, ORS, SHBS 122

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

Biểu đồ 3.1 Số lƣợng CTCK Việt Nam qua các năm 78

Biểu đồ 3.2 Doanh thu, lợi nhuận của các CTCK Việt Nam 85

Biểu đồ 3.3 Cơ cấu doanh thu các nghiệp vụ của các CTCK Việt Nam 87

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ C1 trung bình của các CTCK Việt Nam 101

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ C2 của các CTCK Việt Nam 103

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ vốn khả dụng của hệ thống các CTCK Việt Nam 106

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ A1 của hệ thống các CTCK Việt Nam 108

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ A2 trung bình của các CTCK Việt Nam 110

Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ A3 trung bình của các CTCK Việt Nam 111

Biểu đồ 3.10 ROS của các CTCK Việt Nam giai đoạn 2012 - 2016 113

Biểu đồ 3.11 Số các CTCK Việt Nam có ROS < 0 giai đoạn 2012 - 2016 114

Biểu đồ 3.12 ROA, ROE của hệ thống các CTCK Việt Nam 115

Biểu đồ 3.13 Hệ số L1 trung bình của các CTCK Việt Nam 117

Biểu đồ 3.14 Hệ số L2 trung bình của các CTCK Việt Nam 118

Biểu đồ 3.15 Xếp loại các CTCK Việt Nam theo khung an toàn CAMEL 120

Biểu đồ 3.16 Phân loại các CTCK theo tỷ lệ an toàn vốn khả dụng 126

Biểu đồ 3.17 Top 10 CTCK có tỷ lệ vốn khả dụng cao nhất cuối năm 2016 127

Hình 4.1 Mô hình tổ chức bộ phận kinh doanh của Ngân hàng đầu tƣ 162

Hình 4.2 Mô hình tổ chức bộ phận điều hành 163

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Thị trường chứng khoán là kênh dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế và thị trường chứng khoán chỉ hoạt động có hiệu quả khi các chủ thể tham gia trên thị trường có đầy đủ những điều kiện, năng lực nhất định và đảm bảo an toàn trong hoạt động, trong đó công ty chứng khoán là một trong những chủ thể đóng vai trò nòng cốt An toàn trong hoạt động đặc biệt là an toàn tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các công ty chứng khoán, qua đó tác động đến sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán Việc đảm bảo an toàn tài chính của công ty chứng khoán là điều kiện nền tảng và là yêu cầu cho sự phát triển của các công ty chứng khoán nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung

Ở Việt Nam, trải qua hơn 17 năm hình thành và phát triển, các công ty chứng khoán Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng kể cả về số lượng và chất lượng Từ chỗ chỉ có 7 công ty chứng khoán với quy mô vốn điều lệ thấp nhất là

6 tỷ đồng và cao nhất là 43 tỷ đồng vào cuối năm 2000 khi thị trường chứng khoán Việt Nam mới đi vào hoạt động, có những thời điểm số lượng các công ty chứng khoán Việt Nam đã đạt đỉnh điểm là 105 công ty (giai đoạn năm 2009 - 2011), trong đó có công ty chứng khoán có vốn điều lệ trên 4.200 tỷ đồng (tăng gần 100 lần so với CTCK có mức vốn cao nhất tại thời điểm năm 2000) Tuy nhiên, tính đến nay, chỉ còn lại 76 công ty chứng khoán đang hoạt động trên thị trường Thực tế này đã chứng minh cho sự khắc nghiệt trong hoạt động của các định chế tài chính này Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng này là do năng lực tài chính của nhiều công ty chứng khoán còn hạn chế Quy mô vốn nhỏ đã cản trở việc các công ty chứng khoán triển khai dịch vụ và hạn chế khả năng mở rộng mạng lưới chi nhánh, mở rộng phân khúc khách hàng

và nâng cao năng lực cũng như phạm vi cung cấp dịch vụ, đe dọa đến an toàn tài chính của công ty chứng khoán Cùng với đó, chất lượng tài sản chưa đảm bảo, khả năng sinh lời thấp, công tác quản trị chưa hiệu quả, khiến nhiều công ty

Trang 12

chứng khoán rơi vào tình trạng thua lỗ và thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh toán

Với mục tiêu hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận về an toàn tài chính của công ty chứng khoán, nghiên cứu thực tiễn an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đảm bảo

an toàn tài chính cho các công ty chứng khoán Việt Nam, góp phần ổn định và

phát triển thị trường chứng khoán, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “An toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho

luận án tiến sỹ kinh tế của mình

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về an toàn tài chinh của công ty

chứng khoán, làm rõ khái niệm an toàn tài chính của công ty chứng khoán, những đặc trưng cơ bản về an toàn tài chính của công ty chứng khoán, xây dựng

hệ thống chỉ tiêu đánh giá an toàn tài chính của công ty chứng khoán trong bối cảnh quá trình hội nhập quốc tế thị trường chứng khoán ngày một sâu rộng Tìm hiểu kinh nghiệm về quy định đảm bảo an toàn tài chính đối với các công ty chứng khoán ở một số nước trên thế giới, từ đó rút ra những bài học tham khảo cho việc đảm bảo an toàn tài chính đối với các công ty chứng khoán ở Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu nguyên nhân sự sụp đổ của các ngân hàng đầu tư trong khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, rút ra kinh nghiệm cho các công ty chứng khoán trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh và quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an toàn tài chính

Thứ hai, phân tích thực trạng an toàn tài chính của các công ty chứng

khoán Việt Nam qua hệ thống chỉ tiêu được xây dựng Từ kết quả tính toán, đánh giá mức độ an toàn tài chính dựa trên Quyết định 617/2013/QĐ-UBCK, Thông tư 226/2010/TT-BTC ngày 30/12/2010 và so sánh với một số chuẩn mực quốc tế; Phân loại các công ty chứng khoán theo mức độ an toàn tài chính, đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế về an toàn tài chính của các công ty chứng khoán

Trang 13

Thứ ba, trên cơ sở định hướng phát triển của thị trường chứng khoán Việt

Nam cũng như của các công ty chứng khoán Việt Nam, kết hợp với những đánh giá thực trạng về an toàn tài chính của các công ty chứng khoán, Luận án sẽ đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn tài chính của công ty chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là an toàn tài chính của công ty chứng khoán

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu:

+ Nghiên cứu lý luận cơ bản về an toàn tài chính của công ty chứng khoán + Nghiên cứu thực trạng an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam

+ Đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo an toàn tài chính cho các công

ty chứng khoán Việt Nam

- Phạm vi về không gian nghiên cứu:

Luận án tập trung nghiên cứu về an toàn tài chính của các công ty chứng khoán hiện đang là thành viên của các Sở giao dịch chứng khoán ở Việt Nam

- Phạm vi về thời gian nghiên cứu:

Thời gian Luận án nghiên cứu là giai đoạn 5 năm từ năm 2012 đến năm

2016, với mục đích đánh giá mức độ an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam, từ đó đưa ra giải pháp đảm bảo an toàn tài chính cho các công

ty chứng khoán Việt Nam, những giải pháp này có thể áp dụng cho giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Luận

án xem xét sự vật, hiện tượng trong trạng thái động, mở rộng ứng với các điều kiện và môi trường liên quan Trên cơ sở đó, để đưa ra được những phân tích, đánh giá, luận giải có căn cứ khoa học, Luận án sử dụng các phương pháp sau:

Trang 14

- Phương pháp tổng hợp: Sử dụng phương pháp tổng hợp để tổng hợp lại

những nghiên cứu về an toàn tài chính của công ty chứng khoán nhằm thừa kế những lý luận liên quan đến an toàn tài chính, đến công ty chứng khoán từ đó hình thành cơ sở lý luận cho đề tài Luận án

- Phương pháp thống kê, so sánh: Thông qua thu thập thông tin, số liệu

thứ cấp, tiến hành xử lý, lập bảng, vẽ đồ thị, biểu đồ để so sánh và đánh giá nội dung tập trung nghiên cứu

- Phương pháp phân tích: Từ thông tin, số liệu thu thập được của các

CTCK Việt Nam, Luận án tiến hành phân tích tình hình an toàn tài chính của các CTCK Việt Nam, đánh giá mức độ an toàn tài chính của các công ty chứng khoán theo khung an toàn CAMEL và theo Thông tư số 226/2010/TT-BTC

Ngoài ra, Luận án cũng kế thừa, vận dụng một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung nghiên cứu, từ đó làm sâu sắc thêm các luận điểm trong Luận án

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

5.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về an toàn tài chính của công ty chứng khoán, trong đó Luận án đã chỉ rõ sự cần thiết phải đảm bảo an toàn tài chính của công ty chứng khoán; Tiêu chí đánh giá an toàn tài chính của công ty chứng khoán; Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá an toàn tài chính của công ty chứng khoán và phân tích rõ các nhân tố ảnh hưởng đến an toàn tài chính của công ty chứng khoán Kết quả nghiên cứu của Luận án bổ sung cơ sở

lý luận về an toàn tài chính của công ty chứng khoán, giúp các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý có cái nhìn hệ thống về an toàn tài chính của công ty chứng khoán Bên cạnh đó, Luận án đã rút ra được một số bài học tham khảo cho các cơ quan quản lý và cho các công ty chứng khoán Việt Nam từ việc nghiên cứu kinh nghiệm quy định về an toàn tài chính đối với công ty chứng khoán của một số nước ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và từ việc nghiên cứu

sự sụp đổ của một số ngân hàng đầu tư trong khủng hoảng tài chính toàn cầu

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 15

Luận án đã phân tích một cách có hệ thống về thực trạng an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 theo từng nhóm chỉ tiêu đánh giá, so sánh với chuẩn mực đánh giá của Việt Nam

và thông lệ chuẩn mực quốc tế Trên cơ sở đó, Luận án chia nhóm các công ty chứng khoán theo mức độ an toàn, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế về an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam Trên cơ sở định hướng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam và định hướng phát triển các công ty chứng khoán Việt Nam, từ việc nghiên cứu thực trạng an toàn tài chính của các công ty chứng khoán kết hợp với bài học kinh nghiệm, Luận án đã đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới

6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

6.1 Về mặt lý luận

Luận án đã hệ thống, bổ sung và luận giải một cách có hệ thống các vấn

đề cơ bản về tài chính và an toàn tài chính của công ty chứng khoán:

+ Đưa ra quan điểm riêng về tài chính và an toàn tài chính của công ty chứng khoán, nêu bật những đặc trưng cơ bản về an toàn tài chính của công ty chứng khoán và nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo an toàn tài chính của công

ty chứng khoán Đảm bảo an toàn tài chính của công ty chứng khoán không chỉ cần thiết đối với bản thân công ty chứng khoán, đối với thị trường tài chính và nền kinh kế, mà còn cần thiết đối với các khách hàng và đối tác của các công ty chứng khoán

+ Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh an toàn tài chính của công ty chứng khoán, hệ thống chỉ tiêu bao gồm 11 chỉ tiêu được chia thành bốn nhóm: nhóm chỉ tiêu về mức độ đủ vốn (3 chỉ tiêu), nhóm chỉ tiêu về chất lượng tài sản (3 chỉ tiêu), nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời (3 chỉ tiêu) và nhóm chỉ tiêu về thanh toán (2 chỉ tiêu) Đây là các chỉ tiêu hàm chứa nội dung khoa học kinh tế sát với

đề tài nghiên cứu của Luận án

Trang 16

+ Xác định những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến an toàn tài chính của công ty chứng khoán, bao gồm những nhân tố từ phía các công ty chứng khoán như chiến lược kinh doanh, năng lực tài chính, năng lực quản trị rủi ro, chất lượng nguồn nhân lực, và nhân tố vĩ mô như sự ổn định của nền kinh tế, sự phát triển của thị trường chứng khoán, sự hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật, đặc biệt

là sự phát triển của hệ thống giám sát an toàn tài chính và sự biến động mang tính chu kỳ của nền kinh tế

+ Rút ra một số bài học từ việc nghiên cứu kinh nghiệm quy định đảm bảo

an toàn tài chính đối với các công ty chứng khoán của một số quốc gia và chính

từ sự mất an toàn tài chính của các ngân hàng đầu tư trong khủng hoảng tài chính thế giới 2008-2009

6.2 Về mặt thực tiễn

+ Đánh giá thực trạng: Nghiên cứu sinh đã vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, toán học Mỗi phương pháp được vận dụng phù hợp với từng nội dung nghiên cứu của Luận án Đặc biệt, Luận án đã sử dụng phương pháp phân tích đánh giá mức độ an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam qua việc đối chiếu với Thông

tư 226/2010/TT-BTC và mô hình CAMEL theo Quyết định UBCK Qua nội dung này, Luận án đã phân nhóm được các CTCK đảm bảo an toàn tài chính và những công ty chứng khoán chưa đảm bảo an toàn tài chính trong giai đoạn 2012-2016, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng này Đây cũng là nội dung mà chưa có luận án, đề tài khoa học nào làm được

617/2013/QĐ-+ Đề xuất giải pháp mới: Dựa trên định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam và định hướng phát triển các công ty chứng khoán Việt Nam, Luận án đã đưa ra quan điểm đảm bảo an toàn tài chính đối với các công ty chứng khoán Việt Nam Từ đó, Luận án đã đề xuất được hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo an toàn tài chính của công ty chứng khoán Việt Nam

Theo tác giả Luận án, để đảm bảo an toàn tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam thì không chỉ có sự nỗ lực từ phía bản thân các công ty chứng khoán mà cần có sự quan tâm sát sao từ phía các cơ quan quản lý nhà nước về

Trang 17

thị trường chứng khoán Do vậy, điểm mới trong giải pháp mà Luận án đưa ra bao gồm hai nhóm giải pháp, nhóm giải pháp đối với các công ty chứng khoán Việt Nam và nhóm giải pháp đối với các cơ quan quản lý Các giải pháp được đưa ra thể hiện chính kiến của tác giả trên cơ sở nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn tại các công ty chứng khoán Việt Nam và được nhận định là có tính khả thi cao

Chương 4: Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính của các công ty chứng

khoán Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

An toàn tài chính của các định chế tài chính nói chung và ATTC của các CTCK nói riêng là vấn đề đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới và trong nước quan tâm Mặc dù, ATTC được coi là một vấn đề nóng và là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý kinh tế ở các quốc gia từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009, nhưng vấn đề liên quan đến CTCK, ATTC của các định chế tài chính và ATTC của CTCK đã được nghiên cứu ở rất nhiều công trình khoa học từ trước đó rất lâu Có thể kể tới những công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ATTC của các định chế tài chính, liên quan đến các CTCK Việt Nam và ATTC của CTCK như sau:

1.1.1 Nghiên cứu liên quan đến an toàn tài chính của các định chế tài chính

- Nghiên cứu của tác giả Philip L.Brock (1999), “Financial Safety Nets

and Incentive Structures in Latin America” [74] Nghiên cứu này chỉ ra mạng

lưới ATTC của một quốc gia đó là an toàn hệ thống của các ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm và CTCK Nghiên cứu cũng xây dựng được cấu trúc về mạng lưới ATTC phù hợp với điều kiện của các nước Mỹ La Tinh

- Nghiên cứu của tác giả Haseeb Zaman Babar và Gul Zeb (2011),

“Camels Rating System for Banking industry in Pakistan” [58] Trong nghiên

cứu này, các tác giả đã thu thập dữ liệu của 17 ngân hàng ở Pakistan tính đến tháng 12 năm 2010 Trên cơ sở mô hình Camel, nghiên cứu đã xếp hạng các ngân hàng này từ đó đánh giá mức độ ATTC của từng ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu

- Nghiên cứu của tác giả Misha Aswini Kumar, G.SriHasha, Shivi Anand

và Neil Rajesh Dhuva (2012), “Analyzing Soundness in Indian Banking: A

Camel Approad” [73] Nghiên cứu này đã đánh giá mức độ ATTC và lành mạnh

của hệ thống ngân hàng Ấn Độ theo mô hình Camel theo hai nhóm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân Số liệu nghiên cứu được sử dụng là số liệu

Trang 19

thống kê của các ngân hàng trong vòng 11 năm (giai đoạn nghiên cứu từ năm

2000 đến năm 2011) Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các ngân hàng quốc doanh của Ấn Độ luôn có mức xếp hạng Camel tốt hơn các ngân hàng tư nhân, điều đó có nghĩa là mức độ ATTC và lành mạnh của các ngân hàng quốc doanh luôn cao hơn các ngân hàng tư nhân Các ngân hàng quốc doanh hàng đầu Ấn

Độ có mức độ ATTC cao nhất và ngân hàng tư nhân như Union Bank và SBI có mức độ ATTC thấp nhất theo xếp hạng Camel

- Nghiên cứu của tác giả Wirnkar và Tanko (2008), “Camels and Banks

Performance Evaluation: The way Forward” [75] Đề tài này nghiên cứu tầm

quan trọng của các yếu tố cấu thành nên hệ thống Camels, từ đó xây dựng bộ chỉ tiêu tối ưu để đánh giá mức độ ATTC của các định chế tài chính Số liệu dùng để nghiên cứu trong đề tài này được lấy từ BCTN của các ngân hàng Nigeria giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2005 Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng không có yếu tố riêng lẻ nào trong hệ thống Camels có đủ khả năng đánh giá toàn diện một định chế tài chính cụ thể là một ngân hàng Vì vậy cần kết hợp các yếu tố theo những tỷ trọng nhất định hay nói cách khác là xây dựng một cấu trúc tỷ trọng tối ưu cho từng yếu tố trong hệ thống Camels

- Ở Việt Nam, có Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính của

PGS,TS Nguyễn Thị Hoài Lê (2014), “An toàn tài chính của các định chế tài

chính trung gian sau khủng hoảng” [30] Trong đề tài này, tập thể tác giả đã

tổng kết lý luận về các định chế tài chính trung gian và ATTC của các định chế tài chính này Phân tích thực trạng ATTC của các định chế tài chính trung gian ở Việt Nam sau khủng hoảng Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài đã kiến nghị các biện pháp nhằm đảm bảo ATTC của các định chế tài chính trung gian nhằm vượt qua hậu khủng hoảng Đây là những giải pháp rất có ý nghĩa đặc biệt với các định chế tài chính trung gian là các NHTM trong giai đoạn sau khủng hoảng Tuy nhiên, đề tài lại chưa đề cập đến vấn đề ATTC mang tính hệ thống của các CTCK Việt Nam giai đoạn sau năm 2012

1.1.2 Nghiên cứu liên quan đến các công ty chứng khoán ở Việt Nam

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp UBCKNN của Thạc sỹ Phương Hoàng

Lan Hương (2004), “Các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ

chức cung ứng dịch vụ chứng khoán trong điều kiện hội nhập” [25] Đề tài đã

Trang 20

nghiên cứu về tính đặc thù và khuynh hướng cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính nói chung và dịch vụ chứng khoán nói riêng, đồng thời đánh giá năng lực cạnh tranh của các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán ở Việt Nam, trên

cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán trong điều kiện hội nhập Tuy nhiên, đề tài chưa

đề cập đến khía cạnh nội dung về ATTC của các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán

- Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Lê Thị Hương Lan (2008), ĐH Kinh

tế Quốc dân.“Phát triển hoạt động của công ty chứng khoán ở Việt Nam” [26]

Trong luận án, tác giả đã hệ thống các nội dung có liên quan đến tổ chức và hoạt động của CTCK, kinh nghiệm hình thành và phát triển CTCK ở một số nước trên thế giới, từ đó đề xuất giải pháp phát triển hoạt động nghiệp vụ của các công

ty chứng khoán Việt Nam Phạm vi của đề tài này nghiên cứu hoạt động của các CTCK ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2007, tuy nhiên vấn đề ATTC đối với CTCK chưa được đặt ra

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp UBCKNN của Nguyễn Thị Lệ Thúy

(2009), “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các công

ty chứng khoán” [46] Đề tài đã làm rõ vai trò của hệ thống các chỉ tiêu đánh giá

hiệu quả hoạt động CTCK, kinh nghiệm quốc tế về nội dung này, thực trạng đánh giá hiệu quả hoạt động của các CTCK Việt Nam, từ đó đề xuất các chỉ tiêu

và giải pháp thực hiện đối với đánh giá hiệu quả hoạt động của CTCK Đây là hệ thống các chỉ tiêu có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của CTCK nhưng chưa đề cập đến chỉ tiêu phản ánh ATTC của CTCK

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp UBCKNN của tác giả Ths Phạm Hồng

Sơn (2010), “Nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp trong các công ty chứng

khoán Việt Nam” [41] Đề tài đã hệ thống các quan điểm cơ bản về quản trị

doanh nghiệp, bao gồm việc tổ chức, kiểm soát nội bộ và QTRR đối với các CTCK Việt Nam, tiếp cận lý luận hiện đại về quản trị doanh nghiệp tại các CTCK Đồng thời, đề tài cũng đánh giá thực trạng quản trị doanh nghiệp của các CTCK Việt Nam, bao gồm việc tổ chức kế toán quản trị, QTRR và kiểm soát nội

bộ Từ đó, tác giả đã đề xuất định hướng để hoàn thiện cơ chế quản trị doanh

Trang 21

nghiệp tại các CTCK Việt Nam Tuy nhiên, trong đề này cũng chưa nghiên cứu

về ATTC của các CTCK Việt Nam

- Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Bùi Thị Thùy Nhi (2012), Học viện

Khoa học Xã hội,“Quản lý nhà nước đối với TTCK ở một số nước châu Á và bài

học kinh nghiệm cho Việt Nam” [35] Trong luận án, tác giả đã nghiên cứu một

số vấn đề chung về quản lý nhà nước đối với TTCK, một số nhân tố và các mô hình quản lý TTCK Thực trạng quản lý nhà nước đối với TTCK ở một số nước châu Á hiện nay và rút ra bài học cho Việt Nam

- Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Trần Quang Phú (2012), Học viện

Khoa học Xã hội, “Hội nhập thị trường chứng khoán Việt Nam vào thị trường

chứng khoán khu vực ASEAN” [36] Luận án đã chứng minh bằng lý luận và

thực tiễn hội nhập TTCK Việt Nam vào TTCK ASEAN là một khách quan kinh

tế Luận án khẳng định, để thúc đẩy tiến trình hội nhập vào TTCK khu vực ASEAN, trước hết Việt Nam cần tạo lập các tiền đề cần thiết để nâng cao năng lực của các chủ thể trên thị trường bao gồm: các chủ thể phát hành, cơ quản quản

lý, giám sát thị trường và các trung gian tài chính trong đó có các CTCK Đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý cũng như các điều kiện kỹ thuật công nghệ cần thiết cho tiến trình này

- Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Lê Cường (2012), Học viện Tài chính, “Phát triển bền vững công ty chứng khoán ở Việt Nam” [17] Luận

án đã xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về phát triển bền vững CTCK, xác lập và hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững của CTCK trong bối cảnh quá trình hội nhập quốc tế của TTCK Việt Nam ngày một mở rộng Đồng thời, tác giả đã đánh giá sát thực thực trạng phát triển của các CTCK Việt Nam, từ đó đề xuất định hướng và hệ thống các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của các CTCK ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo Tuy nhiên, luận án chưa đi sâu vào nghiên cứu về các giải pháp đảm bảo ATTC cho các CTCK Việt Nam

- Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2013), Đại

học Kinh tế Quốc dân, “Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính của các công ty

chứng khoán Việt Nam” [47] Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề

lý luận cơ bản về tình hình tài chính và phân tích tình hình tài chính tại các

Trang 22

CTCK Phân tích và đánh giá một cách khách quan những tồn tại của các CTCK Việt Nam trong phân tích tình hình tài chính và chất lượng thông tin tài chính do CTCK công bố Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan tác động tới tổ chức, nội dung và phương pháp phân tích tài chính trong các CTCK Việt Nam Đồng thời, đề tài đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích tình hình tài chính trong các CTCK Việt Nam

- Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Trần Thị Xuân Anh (2014), Học viện

Ngân hàng, “Tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các

công ty cổ phần chứng khoán ở Việt Nam” [2] Luận án đã làm rõ về mặt lý luận

các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCK, hệ thống quy trình quản lý rủi ro và các tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCK và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện này Nhận diện và phân tích mức độ rủi ro của từng loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các CTCP chứng khoán ở Việt Nam, đồng thời đánh giá mức độ thực hiện quản lý rủi ro tại các CTCP chứng khoán ở Việt Nam Trên cơ sở định hướng hoạt động của TTCK cũng như của các CTCK, đề tài đã đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các CTCK, từ

đó giúp CTCK gia tăng giá trị, vị thế trên thị trường Tuy nhiên, luận án không

đi sâu nghiên cứu khía cạnh quản trị doanh nghiệp, cụ thể hơn là vấn đề ATTC

mà tập trung vào khía cạnh kỹ thuật của quản lý rủi ro, bao gồm nghiên cứu các loại rủi ro, quy trình quản lý rủi ro và mức độ thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các CTCP chứng khoán ở Việt Nam

- Đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả thuộc Học viện Ngân hàng,

chủ nhiệm Ths Trần Thị Xuân Anh (2014), “Ứng dụng hệ thống CAMEL đánh

giá hoạt động các Công ty chứng khoán Việt Nam” [3] Nhóm tác giả đã giới

thiệu khái quát nội dung hệ thống đánh giá các định chế tài chính Camels, vận dụng các chỉ tiêu của hệ thống Camel để đánh giá các CTCK Việt Nam giai đoạn

2011 – 2013 và đưa ra một số khuyến nghị về sửa đổi, bổ sung các chỉ tiêu tính toán, đánh giá hoạt động của các CTCK theo hệ thống Camel Tuy nhiên, đề tài mới chỉ chủ yếu nghiên cứu sâu về mô hình Camels nhằm chỉnh sửa và bổ sung một số nội dung trong Quy chế xếp loại CTCK theo Camel ở Việt Nam, chưa có

Trang 23

nghiên cứu lý luận về ATTC của CTCK và chưa có những đánh giá cụ thể về ATTC của các CTCK Việt Nam

- Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Duy Hùng (2016), Đại học

Kinh tế Quốc dân, “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán

Việt Nam” [21] Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng hoàn chỉnh bộ cơ sở

lý luận liên quan đến năng lực cạnh tranh của CTCK, nhận định các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của CTCK bao gồm cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Luận án đã khẳng định, yếu tố chủ yếu mang tính quyết định đến năng lực cạnh tranh của các CTCK Việt Nam là các yếu tố bên trong Các yếu tố này xuất phát từ chính bản thân các CTCK bao gồm tiềm lực tài chính, vốn trí tuệ, chất lượng sản phẩm, trình độ công nghệ, chất lượng dịch vụ, thương hiệu,

uy tín, xúc tiến và mạng lưới hoạt động Như vậy, nghiên cứu cũng đã đề cập đến yếu tố tài chính tác động đến năng lực cạnh tranh của CTCK nhưng chưa phân tích được ngưỡng về mức độ để đảm bảo ATTC cho CTCK

1.1.3 Nghiên cứu về an toàn tài chính của công ty chứng khoán

- Nghiên cứu của Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (International

Organization of Securities Commissions - IOSCO) (1989), “Capital Adequacy

Standards for securities firms” [59] Trong nghiên cứu này, sau khi đánh giá sự

ảnh hưởng của vốn đến khả năng thanh khoản của CTCK cũng như ảnh hưởng của vốn đến rủi ro hoạt động, nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng, các CTCK cần phải đảm bảo một mức độ đủ vốn nhất định Mức độ đủ vốn của CTCK phụ thuộc vào từng thị trường hoạt động và số nghiệp vụ mà các CTCK tham gia

- Nghiên cứu của Tổ chức quốc tế các ủy ban chứng khoán - IOSCO

(1990), “Comparison Of Equity Position Risk Requirements And Scope For

Harmonization” [60] Nghiên cứu về quy định tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh

khoản, mức độ hài hòa về nguồn vốn và tài sản của các các CTCK phi ngân hàng tại một số nước có TTCK phát triển như Mỹ, Anh, Pháp và Nhật Bản

- Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu một cách công phu, có hệ thống về ATTC của các CTCK cho đến nay rất ít Liên quan trực tiếp đến chủ đề này, có thể kể tới Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện Ngân hàng của

PGS,TS Nguyễn Thanh Phương (2016), “An toàn tài chính của các CTCK Việt

Nam” [37] Trong đề tài này, nhóm tác giả đưa ra quan điểm riêng về an toàn

Trang 24

của hệ thống tài chính và ATTC của CTCK Đề tài cũng khái quát một số mô hình hiện nay đang được sử dụng để đánh giá ATTC của các trung gian tài chính Chương 2 của đề tài đã sử dụng bốn trong 5 yếu tố của mô hình CAMEL

để đánh giá mức độ ATTC của các CTCK Việt Nam giai đoạn 2012-2014 đó là yếu tố về vốn, về tài sản,về thanh khoản và khả năng sinh lời Đây cũng là nhóm yếu tố về tài chính của các CTCK Trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá ATTC của các CTCK Việt Nam, nhóm tác giả đã xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao ATTC của các CTCK ở Việt Nam

Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, nhóm tác giả cũng chưa nghiên cứu về kinh nghiệm đảm bảo ATTC đối với CTCK để có được những bài học tham khảo cho Việt Nam Kết quả của nghiên cứu cũng chưa chỉ ra được những đặc trưng cơ bản về ATTC của CTCK và chưa xây dựng được hệ thống chỉ tiêu đánh giá ATTC của CTCK Bên cạnh đó, do các tác giả chỉ nghiên cứu vấn đề ATTC dưới góc độ tiếp cận của các CTCK nên các giải pháp đưa ra mới chỉ có ý nghĩa đối với các CTCK, chưa có giải pháp đối với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát ATTC đối với hệ thống các CTCK Hơn nữa, nghiên cứu này mới nghiên cứu tình hình ATTC của các CTCK Việt Nam giai đoạn 2012-2014, chưa

có những đánh giá về ATTC của các CTCK Việt Nam giai đoạn 2015–2016, do vậy trong bối cảnh TTCK có nhiều biến động thì việc cập nhật những thay đổi

để đưa ra những giải pháp có thể ứng dụng trong thời gian tới và định hướng đến năm 2025 thì kết quả của nghiên cứu trên chưa đạt được

Tham khảo Đề tài của PGS,TS Nguyễn Thanh Phương và cũng đồng quan điểm với Đề tài trên, NCS cũng đã sử dụng bốn trong năm yếu tố tài chính của mô hình CAMEL để đánh giá mức độ ATTC của các CTCK Việt Nam, NCS không đánh giá yếu tố quản trị bởi đó là một trong những yếu tố để đánh giá hoạt động chung của CTCK chứ không thuộc nhóm đánh giá về tài chính Luận án của NCS lựa chọn đi sâu phân tích thực trạng ATTC của những CTCK hiện tại còn đang hoạt động để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế về ATTC, từ đó tìm giải pháp khắc phục mà không nghiên cứu toàn bộ các CTCK trong giai đoạn 2012-2016, điều này hoàn toàn không trùng lắp với đề tài của PGS,TS.Nguyễn Thanh Phương đã nghiên cứu

Trang 25

1.2 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ KHOẢNG TRỐNG Ở CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN

Một là, nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới về ATTC của các định

chế tài chính của các quốc gia rất đa dạng Các nghiên cứu này đã chỉ ra phương pháp phổ biến sử dụng để đánh giá ATTC của các định chế tài chính đó là đánh giá theo mô hình CAMEL Phương pháp này đã được sử dụng để nghiên cứu mức độ an toàn và lành mạnh tài chính của các ngân hàng ở nhiều quốc gia trên thế giới với những khoảng thời gian nghiên cứu khác nhau và kết quả đánh giá cũng phản ánh rất sát với thực tế

Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này đa số tập trung nghiên cứu về mức

độ ATTC của hệ thống ngân hàng, chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu về mức độ ATTC của CTCK Hơn nữa, các nghiên cứu mới chủ yếu đưa ra các khuyến nghị để đảm bảo an toàn tài chính trong hoạt động của các ngân hàng, chưa có những khuyến nghị cụ thể về ATTC của các CTCK trong các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam

Hai là, trong các công trình nghiên cứu trong nước, các tác giả đã đề cập

đến một số khía cạnh về CTCK như xây dựng mô hình hoạt động, phát triển bền vững, hiệu quả hoạt động, quản lý rủi ro, năng lực cạnh tranh, giám sát CTCK… Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống

cả về lý luận và thực tiễn về ATTC của các CTCK Việt Nam giai đoạn

2012-2016, đây chính là khoảng trống tri thức mà Luận án sẽ tập trung giải quyết

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆC NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN

ÁN

Qua việc tìm hiểu, đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình trong

và ngoài nước, có thể thấy rằng đã rất có nhiều đề tài nghiên cứu về ATTC của các định chế tài chính, đặc biệt là ATTC của các NHTM trên thế giới, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của CTCK ở Việt Nam, Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả liên quan đến đề tài Luận án mà các nghiên cứu đã đạt được, vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu:

* Về lý luận: Cần nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về lý luận ATTC

của CTCK, bổ sung và luận giải rõ hơn những vấn đề sau:

- Tài chính của CTCK và những đặc trưng cơ bản về tài chính của CTCK

Trang 26

- Làm rõ khái niệm về ATTC của CTCK, phân tích tiêu chí phản ánh cũng như sự cần thiết phải đảm bảo ATTC của CTCK

- Xây dựng được hệ thống chỉ tiêu đánh giá ATTC của CTCK; Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến ATTC của CTCK

* Về thực tiễn:

- Thu thập số liệu, sử dung các phương pháp nghiên cứu để phân tích rõ thực trạng ATTC của các CTCK Việt Nam theo bốn nhóm chỉ tiêu chủ yếu So sánh kết quả tính toán với các chuẩn mực ATTC ở Việt Nam và quốc tế để đánh giá chính xác mức độ ATTC của các CTCK Việt Nam

- Cần nghiên cứu về ATTC của các CTCK Việt Nam dưới góc độ tiếp cận

cả từ phía các CTCK và cả từ phía chính các cơ quan quản lý nhà nước về TTCK

* Về giải pháp:

Trên cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, định hướng hoạt động của các CTCK Việt Nam, đưa ra quan điểm về đảm bảo ATTC của CTCK, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đảm bảo ATTC của các CTCK Việt Nam

Do vậy, việc nghiên cứu về ATTC của các CTCK Việt Nam của nghiên cứu sinh có thể coi là một hướng nghiên cứu mới và không trùng lắp với các đề tài đã nghiên cứu trước đây

************************

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Sau khi tìm hiểu các công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu

về công ty chứng khoán, an toàn tài chính của các định chế tài chính và an toàn tài chính của công ty chứng khoán, Luận án đã chỉ rõ những kết quả đạt được của các nghiên cứu trên, đồng thời Luận án cũng tìm ra khoảng trống tri thức cần tiếp tục nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn

Trên cơ sở đó, Luận án đã đặt ra ba vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, những vấn đề này sẽ được tác giả luận giải ở các chương tiếp theo của Luận án

Trang 27

2.1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán

2.1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán

Hoạt động như một một định chế trung gian trên TTCK, CTCK thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán như ngành nghề kinh doanh chính Khái niệm về CTCK ở mỗi nước cũng được đưa ra khác nhau dựa trên các nghiệp vụ kinh doanh mà các CTCK được thực hiện như:

Tại Pháp, khi mới hình thành TTCK, CTCK được hiểu là công ty thực hiện môi giới chứng khoán trong khuôn khổ độc quyền chi phối của pháp luật Hiện nay, theo Bộ luật Tài chính Tiền tệ, CTCK được gọi là các công ty dịch vụ đầu tư, đó là những pháp nhân cung cấp dịch vụ đầu tư chứng khoán nhưng không có tư cách là tổ chức tín dụng [1] Theo Bộ luật này, ngoài việc được thực hiện các nghiệp vụ cơ bản đó là môi giới chứng khoán và tự doanh chứng khoán, CTCK còn được thực hiện các dịch vụ như quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, quản lý các công ty đầu tư, đại lý thị trường liên ngân hàng và cung cấp các dịch vụ tài chính khác

Tại Trung Quốc, CTCK là công ty TNHH hoặc CTCP, có tư cách pháp nhân độc lập, được thành lập theo Luật Công ty và Luật Chứng khoán, chuyên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán CTCK bao gồm công ty kinh doanh chứng khoán và công ty đăng ký chứng khoán Người đầu tư chứng khoán khi muốn thực hiện giao dịch đều phải thông qua các CTCK Các CTCK được thực hiện các nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán và bảo lãnh phát hành chứng khoán [57]

Tại Mỹ, không tồn tại khái niệm về CTCK mà chỉ có hai loại hình doanh nghiệp đó là công ty môi giới và NHĐT hoạt động trên TTCK như các CTCK ở các nước khác Công ty môi giới là công ty góp vốn hoặc CTCP có chức năng cung cấp dịch vụ mua bán chứng khoán trên thị trường cho khách hàng [33], và

Trang 28

NHĐT là công ty hoạt động với tư cách người trung gian giữa nhà phát hành và người đầu tư, làm nhiệm vụ giúp các doanh nghiệp, chính phủ phát hành các loại chứng khoán ra thị trường nhằm huy động các nguồn vốn cần thiết phục vụ nhu cầu đầu tư [33]

Theo các quan niệm trên, có thể hiểu công ty môi giới chỉ chuyên thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán còn NHĐT sẽ thực hiện các nghiệp vụ như bảo lãnh phát hành, tự doanh chứng khoán và tư vấn tài chính

Cùng với sự phát triển của TTTC, hiện nay NHĐT đã mở rộng các loại hình nghiệp vụ sang các lĩnh vực khác và trở thành một chủ thể kinh doanh đa dạng NHĐT hiện đại ngày nay ngoài nghiệp vụ phát hành chứng khoán, tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp còn có hoạt động đầu tư, nghiên cứu, quản lý đầu tư, ngân hàng bán buôn và nghiệp vụ nhà môi giới chính Như vậy, NHĐT thực chất là CTCK nhưng ở mức độ phát triển cao hơn với các loại nghiệp vụ đa dạng, chuyên sâu và phức tạp hơn

Ở Việt Nam, “CTCK là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ như: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán” [6, Điều 2, Chương 1]

Ngoài ra, CTCK được nhận ủy thác quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân, cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác theo quy định của Bộ Tài chính [13]

Bên cạnh các văn bản pháp luật, nhiều khái niệm về CTCK cũng được trình bày trong nhiều tài liệu như:

“CTCK là một loại hình định chế trung gian đặc biệt trên TTCK, thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán như ngành nghề kinh doanh chính” [29,tr.140]

“CTCK là tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán thông qua việc thực hiện một hoặc một số dịch vụ chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận” [32,tr.11]

Như vậy, từ những quan niệm nêu trên, có thể hiểu: CTCK là một loại

hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên TTCK với các hoạt động chính đó

là cung cấp các dịch vụ cho khách hàng và thực kinh doanh cho chính mình

Trang 29

thông qua các nghiệp vụ như môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý tài khoản của khách hàng và các dịch vụ tài chính khác

2.1.1.2 Mô hình hoạt động của công ty chứng khoán

Các CTCK trên thế giới hiện nay được tổ chức hoạt động theo ba mô hình

cơ bản như sau:

- Thứ nhất, mô hình ngân hàng đa năng toàn phần: Trong mô hình này,

không có sự tách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán Các NHTM cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán

và bảo hiểm trong một pháp nhân duy nhất Đây là phương thức hoạt động ngân hàng đa năng cổ truyền mà điển hình được áp dụng ở các nước như Cộng hòa Liên bang Đức, Hà Lan, Thụy Sỹ và các nước Bắc Âu

- Thứ hai, mô hình đa năng một phần: Với mô hình này, ngân hàng khi

tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập một công ty con, có tư cách pháp nhân độc lập Các công ty con ít khi nắm giữ cổ phần của ngân hàng và thường không có sự kết hợp giữa các công ty bảo hiểm và ngân hàng Mô hình này được áp dụng ở Anh và một số nước có quan hệ gần gũi với Anh như Canada, Australia và một số nước Châu Á như Trung Quốc, Malaysia

- Thứ ba, mô hình chuyên doanh: Theo mô hình này các CTCK là các

công ty chuyên doanh độc lập Các ngân hàng không được phép tham gia vào kinh doanh chứng khoán Mô hình này được áp dụng phổ biến ở nhiều nước như

Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc

2.1.1.3 Nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán

Mặc dù khái niệm về CTCK ở các nước trên thế giới có thể khác nhau, tuy nhiên các CTCK đều thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản như sau:

(1) Nghiệp vụ môi giới chứng khoán

Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian mua bán, trong đó CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch chứng khoán Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK đó là nguyên tắc trung gian mua bán và chủ thể thực hiện nguyên tắc này chính là các CTCK thông qua nghiệp vụ môi giới chứng khoán Nghiệp vụ môi giới bao gồm mở tài khoản cho khách hàng, nhận các lệnh mua hoặc bán chứng khoán, thực hiện giao dịch và thanh toán, quyết

Trang 30

toán các giao dịch cho khách hàng

CTCK với vai trò là người đại diện cho khách hàng trong giao dịch chứng khoán, do đó CTCK phải tuân thủ theo yêu cầu của khách hàng về loại chứng khoán giao dịch, giá thực hiện và thời gian giao dịch Để thu hút được khách hàng sử dụng dịch vụ môi giới, CTCK phải tạo được sự tin cậy với khách hàng dựa trên năng lực hoạt động, kinh nghiệm nghề nghiệp và khả năng phân tích để có thể tư vấn cho khách hàng Môi giới chứng khoán là một trong những hoạt động truyền thống của CTCK và đây cũng là hoạt động nghiệp vụ tạo cơ sở để CTCK cung cấp một số dịch vụ tài chính có liên quan cho nhà đầu

tư như dịch vụ tín dụng chứng khoán, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư…

Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, CTCK có thể gặp rủi ro

về pháp luật, rủi ro đối tác kinh doanh, rủi ro thị trường và rủi ro tự hoạt động

Rủi ro pháp luật phát sinh khi các tài liệu, văn bản sử dụng không đúng hoặc không đầy đủ, không phù hợp với những quy định của luật pháp và quy định của sở giao dịch

Rủi ro đối tác kinh doanh phát sinh giữa người môi giới và người môi giới, người môi giới với khách hàng, xảy ra trong trường hợp khách hàng không

có đủ tiền hoặc chứng khoán khi đến hạn thanh toán Rủi ro này sẽ chấm dứt khi giao dịch đã hoàn tất, chứng khoán đã được chuyển giao theo các điều kiện và thời hạn mà các bên tham gia đã thỏa thuận

Rủi ro thị trường là loại rủi ro thường phát sinh trong giao dịch khi có biến động giá và tính thanh khoản Với mỗi loại chứng khoán, nếu giá cả biến động càng lớn và tính thanh khoản thấp thì nguy cơ xảy ra rủi ro thị trường càng cao

Rủi ro tự hoạt động là rủi ro thường xảy ra trong quá trình tác nghiệp do lỗi vận hành của hệ thống hoặc do lỗi của người môi giới

Để có thể quản lý các rủi ro trên, các CTCK cần phải quy định rõ chính sách và phương pháp giải quyết từng loại rủi ro Đồng thời, cần quy định cho những người có quyền xét duyệt đến từng loại rủi ro, theo dõi, giám sát các rủi

ro, xây dựng và chuẩn hóa các quy định về quản lý rủi ro

(2) Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành

Trang 31

Bảo lãnh phát hành là việc CTCK tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình phát hành chứng khoán nhằm tư vấn tài chính cho tổ chức phát hành, giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành Trong nghiệp vụ này, CTCK đóng vai trò

là tổ chức bảo lãnh phát hành Quá trình bảo lãnh phát hành bao gồm nhiều hoạt động như tư vấn tài chính, định giá chứng khoán, chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành, phân phối chứng khoán và điều hòa giá cả chứng khoán trên thị trường… CTCK có thể tham gia vào đợt bảo lãnh phát hành với tư cách là nhà bảo lãnh chính, thành viên tổ hợp nhà bảo lãnh phát hành hay đại lý phát hành

Bảo lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong các phương thức bảo lãnh sau:

+ Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: Là phương thức bảo lãnh mà theo đó

CTCK cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng (POP) và bán lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP

+ Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: Là việc CTCK cam kết sẽ mua

nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của đợt phát hành và bán lại

ra công chúng Đây là phương thức thường được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu phổ thông Trong trường hợp này, để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, công ty phát hành sẽ chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng Tuy nhiên,

có thể có một số cổ đông không muốn mua thêm hoặc không có tiền để mua thêm cổ phiếu của công ty phát hành Do vậy, tổ chức phát hành cần có một tổ chức bảo lãnh sẵn sàng mua số cổ phiếu của những quyền mua không được thực hiện và phân phối lại ra công chúng đầu tư

+ Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: Là phương thức bảo lãnh mà theo đó

CTCK thoả thuận làm đại lý phân phối chứng khoán cho tổ chức phát hành CTCK không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà chỉ cam kết sẽ cố gắng tối

đa để bán chứng khoán ra thị trường, trong trường hợp không bán được hết số chứng khoán thì CTCK sẽ trả lại cho tổ chức phát hành số chứng khoán không bán được đó

Trang 32

+ Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không: Trong phương thức này,

tổ chức phát hành yêu cầu CTCK bán một số lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân phối hết sẽ huỷ bỏ toàn bộ đợt phát hành Như vậy, để được nhận phí bảo lãnh, CTCK phải bán được số chứng khoán nhất định đã cam kết

+ Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: Theo phương thức này, tổ

chức phát hành ký với CTCK một hợp đồng, theo đó tổ chức phát hành yêu cầu CTCK bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn) Nếu bán được mức ấy, CTCK được tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần) Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn mức tối thiểu yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ

Hoạt động bảo lãnh phát hành được thực hiện dựa trên mối quan hệ giữa CTCK với các tổ chức phát hành, dựa trên mối liên hệ chặt chẽ của CTCK với thị trường nhất là với các nhà đầu tư trên thị trường Hoạt động bảo lãnh phát hành cũng là cơ sở để CTCK mở rộng các hoạt động khác như hoạt động tự doanh, dịch vụ quản lý sổ cổ đông, hoạt động lưu ký chứng khoán,…

Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, CTCK có thể gặp rủi ro về giá đối với hình thức bảo lãnh cam kết chắc chắn khi giá chứng khoán bảo lãnh

có chiều hướng đi xuống ngay sau khi chứng khoán được phát hành ra Ngoài ra, CTCK cũng có thể gặp rủi ro marketing và rủi ro pháp lý liên quan đến quá trình thương thảo, ký kết hợp đồng bảo lãnh với tổ chức phát hành

(3) Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán

Tự doanh chứng khoán là nghiệp vụ kinh doanh trong đó CTCK thực hiện mua bán chứng khoán cho chính mình nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận có được từ nghiệp vụ tự doanh phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa giá mua

và giá bán chứng khoán và lợi tức mà CTCK nhận được Khi thực hiện nghiệp

vụ này, CTCK đóng vai trò là nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường

Hoạt động tự doanh chứng khoán là một trong những hoạt động mang lại doanh thu lớn cho CTCK, nhất là đối với các công ty hoạt động trên những thị trường đang phát triển Tuy nhiên, hoạt động này cũng có thể mang đến cho CTCK nhiều rủi ro Những rủi ro mà CTCK có thể gặp phải khi thực hiện nghiệp

vụ tự doanh đó là rủi ro thị trường xảy ra do những biến động của TTCK nói chung và thị trường của những chứng khoán trong danh mục đầu tư của công ty

Trang 33

nói riêng, rủi ro pháp luật xảy ra do những thay đổi về khuôn khổ pháp lý có liên quan đến quản lý hoạt động tự doanh của CTCK,… nếu CTCK không thực hiện được công tác quản trị rủi ro tốt thì có thể gặp phải những tổn thất nặng nề nhất

là trong điều kiện TTCK có nhiều biến động

(4) Nghiệp vụ tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính

Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán là dịch vụ mà CTCK cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, tái cơ cấu tài chính, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp phát hành và niêm yết chứng khoán Dịch vụ tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính được thực hiện thông qua các phương thức chủ yếu như: Khuyến cáo; Lập báo cáo; Tư vấn trực tiếp; Tư vấn qua ấn phẩm về chứng khoán và TTCK để thu phí

Tư vấn đầu tư là việc cung cấp các thông tin, cách thức, đối tượng chứng khoán, thời hạn, khu vực và các vấn đề có tính quy luật của hoạt động đầu tư chứng khoán Nghiệp vụ này đòi hỏi nhiều kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà không yêu cầu nhiều vốn Tính trung thực của công ty tư vấn có tầm quan trọng đặc biệt Ngoài dịch vụ tư vấn đầu tư, các CTCK có thể sử dụng kỹ năng để tư vấn cho các doanh nghiệp về việc sáp nhập, thâu tóm, tái cơ cấu vốn để đạt hiệu quả hoạt động cao

Các nội dung của nghiệp vụ tư vấn bao gồm: Tư vấn cho Chính phủ trong việc phát hành trái phiếu Chính phủ; Tư vấn doanh nghiệp khi phát hành và niêm yết chứng khoán; Tư vấn cổ phần hoá; Tư vấn cho các nhà đầu tư tham gia đầu

tư trên TTCK

(5) Các hoạt động phụ trợ khác

- Hoạt động lưu ký chứng khoán

Lưu ký chứng khoán là việc CTCK thực hiện hoạt động lưu giữ, bảo quản chứng khoán cho khách hàng dựa trên các tài khoản lưu ký chứng khoán CTCK thực hiện các dịch vụ liên quan đến mở tài khoản lưu ký, gửi, rút, chuyển khoản, thực hiện các giao dịch bảo đảm như cầm cố, giải tỏa cầm cố chứng khoán,… Khi thực hiện hoạt động này, CTCK thu được phí lưu ký từ phía khách hàng và hoạt động này có mức độ rủi ro rất thấp, gần như bằng không

- Quản lý danh mục đầu tư

QLDMĐT là hoạt động quản lý vốn và tài sản của khách hàng thông qua

Trang 34

việc mua, bán và nắm giữ các chứng khoán theo yêu cầu của khách hàng và vì quyền lợi của khách hàng Đây là một dạng nghiệp vụ tư vấn của CTCK nhưng ở mức độ cao hơn vì trong hoạt động này, khách hàng uỷ thác cho CTCK thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận

Hoạt động QLDMĐT có thể được CTCK cung cấp cả cho nhà đầu tư cá nhân cũng như các tổ chức đầu tư Dịch vụ này có thể được CTCK cung cấp cho khách hàng một cách độc lập hoặc được kết hợp cùng với một hoạt động chính của công ty như hoạt động môi giới, hoạt động tư vấn,…

Tuy nhiên, do hoạt động QLDMĐT có thể làm phát sinh nhiều xung đột lợi ích như lợi ích giữa CTCK với khách hàng, giữa nhà đầu tư thông thường và nhà đầu tư sử dụng dịch vụ QLDMĐT nên CTCK có được cung cấp dịch vụ QLDMĐT hay không, mức độ cũng như tính chất của hoạt động này như thế nào còn phụ thuộc vào pháp luật từng nước và các quy định pháp lý có liên quan

- Quản lý thu nhập chứng khoán

Đây là hoạt động xuất phát từ hoạt động quản lý hộ chứng khoán cho khách hàng của CTCK Khi thực hiện quản lý hộ chứng khoán, CTCK phải tổ chức theo dõi tình hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn để thu hộ hoặc nhận hộ

cổ tức cho khách hàng với cổ phiếu lưu ký tại CTCK rồi gửi báo cáo cho khách hàng

- Hoạt động tín dụng chứng khoán

Tín dụng chứng khoán là một dịch vụ theo đó CTCK sẽ cho khách hàng vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bán khống hoặc cho vay tiền để khách hàng thực hiện hoạt động mua ký quỹ Ở các TTCK phát triển, hoạt động tín dụng chứng khoán cũng rất sôi động và tạo ra khoản doanh thu đáng kể cho các CTCK Tuy nhiên, ở các TTCK chưa phát triển, hoạt động này mới triển khai một phần hoặc chưa được áp dụng do tính rủi ro khá cao và nếu quản lý không tốt có thể dẫn tới sự tác động tiêu cực đến hoạt động của TTCK

Ở Việt Nam hiện nay, các CTCK được thực hiện một phần hoạt động tín dụng chứng khoán đó là dịch vụ cho vay ký quỹ Cho vay ký quỹ là hình thức CTCK cho khách hàng của mình vay tiền để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thế chấp cho khoản vay Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần

Trang 35

giá trị lượng chứng khoán đặt mua, phần còn lại sẽ do CTCK ứng trước tiền thanh toán Đến kỳ hạn thỏa thuận, khách hàng phải hoàn trả đủ số vốn gốc và lãi vay cho CTCK Trường hợp khách hàng không trả được nợ, CTCK sẽ phát mãi số chứng khoán khách hàng đã mua để thu hồi nợ

- Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán

Ở một số TTCK, pháp luật còn cho phép CTCK được thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Theo đó, CTCK cung cấp dịch vụ quản lý quỹ

và sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng khoán và các tài sản khác trên thị trường theo mục tiêu đã được xác định Khi thực hiện hoạt động này, CTCK được thu phí quản lý quỹ đầu tư

2.1.1.4 Vai trò của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán

Với tư cách là một chủ thể không thể thiếu trên TTCK, các CTCK giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển TTCK nói riêng và TTTC của một quốc gia nói chung Vai trò của CTCK được thể hiện như sau:

+ Thứ nhất, là cầu nối huy động vốn

CTCK là một trong những định chế tài chính thực hiện vai trò cầu nối huy động vốn trong nền kinh tế Nói cách khác, CTCK có vai trò là kênh dẫn cho vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó có dư thừa vốn đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn

Thông qua các hoạt động nghiệp vụ như bảo lãnh phát hành, hoạt động tư vấn tài chính, các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế như Chính phủ, doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận dễ dàng, thuận lợi với các nhà đầu tư - các chủ thể

có thể cung ứng vốn - để tạo lập được những lượng vốn có quy mô lớn, có thời gian sử dụng vốn dài, đáp ứng ngày một tốt hơn cho nhu cầu đầu tư phát triển của các chủ thể trong nền kinh tế

+ Thứ hai, hình thành giá cả chứng khoán

Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các tổ chức phát hành, CTCK thực hiện vai trò hình thành giá cả chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành Trên thị trường thứ cấp, CTCK luôn có vai trò giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng tình hình thị

Trang 36

trường và giá trị các khoản đầu tư của mình Đồng thời CTCK còn có khả năng quan trọng là khả năng can thiệp giá trên thị trường thông qua hoạt động của nhà tạo lập thị trường, góp phần điều tiết, ổn định giá cả chứng khoán

+ Thứ ba, tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Các nhà đầu tư khi tham gia TTCK luôn mong muốn có được khả năng chuyển chứng khoán thành tiền và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định Các CTCK đảm nhận được chức năng chuyển đổi này, giúp cho nhà đầu tư

ít phải chịu thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư thông qua hoạt động môi giới chứng khoán, làm trung gian giữa các nhà đầu tư để các chứng khoán được giao dịch an toàn, nhanh chóng, đúng pháp luật

+ Thứ tư, tư vấn, hỗ trợ cho các tổ chức phát hành và các nhà đầu tư

Các CTCK không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua việc nghiên cứu thị trường, cung cấp các thông tin đó cho các công ty và các cá nhân đầu tư Dịch vụ tư vấn của CTCK bao gồm:

+ Thu thập thông tin phục vụ cho mục đích của khách hàng;

+ Cung cấp thông tin về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển vọng ngắn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai;

+ Cung cấp thông tin về chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ có liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng đang cân nhắc

Để TTCK ngày một phát triển vững chắc, ổn định, CTCK phải ngày một được củng cố và phát triển Quá trình phát triển của CTCK cần phải hướng đến mục tiêu đảm bảo ATTC trong điều kiện TTCK hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng, quá trình quốc tế hóa TTCK ngày một rõ nét

2.1.1.5 Nguyên tắc kinh doanh của công ty chứng khoán

Hoạt động kinh doanh chứng khoán là loại hình kinh doanh ảnh hưởng nhiều đến lợi ích công chúng và dễ phát sinh những hành động lợi dụng kiếm lời riêng, do vậy luật pháp các nước đều quy định rất chặt chẽ về nguyên tắc kinh doanh của các CTCK Nhìn chung, các nguyên tắc cơ bản đó là:

- Các CTCK có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng và chỉ được tiết lộ thông tin của khách hàng trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu Nguyên tắc này nhằm đảm bảo bí mật tài sản cá nhân cho khách hàng

Trang 37

- Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, CTCK thay mặt khách hàng để mua bán chứng khoán Vì vậy, CTCK phải đảm bảo nguyên tắc giao dịch công bằng, không được sử dụng bất kỳ hành động lừa đảo, phi pháp nào Nếu trong giao dịch, CTCK là một bên đối tác thì công ty có trách nhiệm thông báo cho khách hàng biết điều đó

- Các CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính

để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng CTCK phải quản lý tách biệt tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của mình và tài sản của các khách hàng với nhau CTCK cũng không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản

- CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể gánh chịu Đồng thời, CTCK không được khẳng định về lợi nhuận của các khoản đầu

- Cấm các CTCK thao túng thị trường như hạn chế sự hợp tác giữa các CTCK trong giao dịch, cấm các giao dịch mua bán giả tạo và khớp lệnh với mục đích tạo ra một trạng thái giao dịch tích cực hoặc tiêu cực bề ngoài Bên cạnh đó, các quy định về thao túng thị trường, giao dịch nội gián cũng là vấn đề được quản lý rất chặt chẽ

- Các CTCK không được đưa ra những lời đồn đại, gian lận, xúi giục hoặc dùng các hành vi lừa đảo khác trong giao dịch chứng khoán

- Các CTCK không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình hoặc khách hàng làm phương hại đến lợi ích của khách hàng khác

- Các CTCK phải tách biệt hoạt động tự doanh với hoạt động môi giới,

Trang 38

hoạt động quản lý danh mục đầu tư và hoạt động bảo lãnh phát hành

- CTCK phải đảm bảo một NLTC nhất định để thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh Trong quá trình hoạt động, vận hành và phát triển, CTCK phải thường xuyên đảm bảo những chỉ tiêu ATTC theo quy định

- Hoạt động nghiệp vụ của CTCK phải được thực hiện bởi đội ngũ nhân viên đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định mà cụ thể là phải có giấy phép hành nghề phù hợp với hoạt động thực hiện

- Các CTCK khi thiết lập, vận hành và phát triển phải xây dựng và thực thi chính sách quản trị rủi ro phù hợp và hiệu lực, hiệu quả

Mục đích chính của các nguyên tắc nêu trên là nhằm duy trì tình trạng tài chính lành mạnh cho các CTCK, đảm bảo khả năng thanh toán và ngăn ngừa sự cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Vì vậy, ngoài việc duy trì chế độ cấp phép, các CTCK còn phải chịu chế độ quản lý, giám sát chặt chẽ đối với các hoạt động kinh doanh

2.1.2 Tài chính của công ty chứng khoán

Tài chính là một phạm trù kinh tế, có tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế Có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về tài chính Trong nền kinh tế thị trường phát triển, tài chính thường được xem xét gắn liền với các hoạt động thực tiễn Qua các hoạt động tài chính

cụ thể, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, vấn đề cơ bản và cốt yếu thuộc

về bản chất của tài chính đó là: Sự phân bổ các nguồn lực tài chính (các khoản tiền hay vốn) Sự phân bổ các nguồn lực tài chính có thể diễn ra trong nội tại mỗi tác nhân, hay diễn ra giữa các tác nhân, được thể hiện qua sự vận động các dòng tiền trong nội bộ chủ thể hoặc từ chủ thể này sang chủ thể khác [20] Quá trình này luôn gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định nhằm đáp ứng những mục đích khác nhau của mỗi chủ thể Qua đó, tài chính phản ánh các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong quá trình tham gia phân phối các nguồn tài chính nhằm đạt được mục đích của mình

Có thể hiểu một cách tổng quát: Tài chính là sự vận động của vốn tiền tệ, phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội

Trang 39

CTCK là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, nghiệp vụ chủ yếu của CTCK là thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận Trong quá trình hoạt động và thực hiện vai trò của mình, đã xuất hiện các dòng tiền tệ đi vào và đi ra khỏi CTCK, tạo thành

sự vận động của các dòng tiền tệ trong CTCK

Như vậy, có thể hiểu: Tài chính của CTCK là sự vận động của các dòng

tiền tệ gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động, nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh của CTCK

Chính sự vận động của các dòng tiền tệ trong CTCK đã làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế trong kinh doanh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của CTCK Các quan hệ kinh tế đó là: Quan hệ giữa CTCK với Nhà nước, thể hiện thông qua việc Nhà nước cấp vốn cho các CTCK thuộc

sở hữu nhà nước để hoạt động và việc CTCK thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp thuế, phí, lệ phí…; Quan hệ giữa CTCK với NHTM, thể hiện qua các nghiệp thanh toán,vay vốn, gửi tiền ; Quan hệ giữa CTCK với CTCK, thể hiện qua các nghiệp vụ trên TTCK như môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành…; Quan hệ giữa CTCK với các doanh nghiệp và cá nhân như: quan hệ góp vốn, quan hệ về tín dụng trong việc cho vay đầu tư chứng khoán, quan hệ thu phí môi giới, phí tư vấn, phí bảo lãnh…; Quan hệ trong nội bộ CTCK như thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng, tiền phạt đối với nhân viên trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế và hình thành các quỹ của CTCK Các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị, nảy sinh trong quá trình phân phối nhằm tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của CTCK để phục vụ cho kinh doanh chính là các quan hệ tài chính của CTCK

Do lĩnh vực hoạt động, sản phẩm kinh doanh của CTCK là tiền tệ và chứng khoán mà những hàng hóa này có tính nhạy cảm rất cao với những biến động của thị trường Vì vậy, sự ổn định hay biến động của tài chính CTCK phụ thuộc rất nhiều vào tình hình của nền kinh tế và phụ thuộc lớn vào chính sách điều tiết của Nhà nước Bất cứ một sự điều chỉnh nào của chính sách đều tác động đến tình hình hoạt động và tài chính của các CTCK Nói cách khác, tài

Trang 40

chính của CTCK có tính nhạy cảm cao và chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường kinh doanh

2.2 AN TOÀN TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

2.2.1 Khái niệm an toàn tài chính của công ty chứng khoán

Theo Từ điển từ và ngữ Hán - Việt của Giáo sư Nguyễn Lân - NXB Văn

học, Hà Nội 2003, “an là yên, toàn là trọn vẹn, an toàn là yên ổn trọn vẹn” Như

vậy, theo khái niệm này, an toàn sẽ gắn liền với yên ổn, không xáo trộn nhưng không có sự phát triển, đi lên

Theo Từ điển Tiếng Việt của NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2010, “an

toàn là có điều kiện hay khả năng tránh hoặc ngăn ngừa nguy hiểm” Theo khái

niệm này thì an toàn được hiểu là có khả năng tránh được nguy hiểm, như vậy khái niệm an toàn sẽ gắn liền với tình huống nguy hiểm có thể xảy ra

Một cách hiểu khác, “an toàn là trạng thái mà khả năng gây hại cho

người hoặc hủy hoại tài sản được giảm thiểu và duy trì tại hoặc dưới mức độ chấp nhận được thông qua quá trình liên tục nhận dạng mối nguy hiểm và quản

lý rủi ro” [4, Điều 3] Với cách hiểu này, trạng thái an toàn được nhận diện khi

tài sản hoặc con người không bị nguy hiểm, tránh được rủi ro

Các khái niệm về an toàn nêu trên tuy có sự khác biệt nhưng cơ bản đều giống nhau: là trạng thái hay tình trạng ổn định, không bị nguy hiểm hay rủi ro của một người, một tổ chức, một sự vật hoặc một sự việc

An toàn của một doanh nghiệp là một phạm trù để diễn tả tình trạng ổn định, có quy tắc, có trật tự, có kỷ cương của doanh nghiệp đó Trật tự, kỷ cương phải được xác lập trên cơ sở các quy định chung do nhà nước ban hành Trên thực tế, khi một doanh nghiệp hoạt động, rất nhiều vấn đề cần được đảm bảo an toàn như an toàn lao động, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn tài chính, an toàn công trình, Với mỗi đối tượng cụ thể, khái niệm và nội hàm của an toàn cũng khác nhau An toàn lao động khác với an toàn vệ sinh thực phẩm, khác với an toàn tài chính, khác với an toàn công trình, khác với an toàn lao động, trong phạm vi của Luận án, chúng tôi chỉ nghiên cứu vấn đề ATTC

Trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, ATTC doanh nghiệp nói chung và ATTC của CTCK nói riêng là vấn đề quan tâm của tất cả các quốc gia, các doanh nghiệp và các CTCK Hiện nay, khái niệm về ATTC của CTCK

Ngày đăng: 04/08/2019, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm