Suy đoán vô tội là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng của nền tư pháp dân chủ, nhân đạo, là tiêu chí “phẩm giá của một nền tư pháp văn minh”, “nguyên tắc nền tảng của tố tụng hình sự ”. Đây là công cụ pháp lý hữu hiệu trong việc bảo vệ quyền con người. Với nội dung cơ bản, xuyên suốt là việc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nguyên tắc suy đoán vô tội đặt ra các yêu cầu chi phối toàn bộ hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong đó, quan trọng nhất là Tòa án – cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, chủ thể duy nhất có quyền xác định một cá nhân là có tội hay không có tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Để làm rõ hơn về nguyên tắc này, sau đây em xin lựa chọn đề 5: Nguyên tắc “Suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sự Việt Nam và điều kiện bảo đảm thực” hiện cho phần nghiên cứu làm bài tập học kỳ của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU
Suy đoán vô tội là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng của nền tư pháp dân chủ, nhân đạo, là tiêu chí “phẩm giá của một nền tư pháp văn minh”, “nguyên tắc nền tảng của tố tụng hình sự ” Đây là công cụ pháp lý hữu hiệu trong việc bảo vệ quyền con người Với nội dung cơ bản, xuyên suốt là việc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nguyên tắc suy đoán
vô tội đặt ra các yêu cầu chi phối toàn bộ hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật
tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong đó, quan trọng nhất là Tòa án – cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, chủ thể duy nhất có quyền xác định một cá nhân là có tội hay không có tội bằng bản án
có hiệu lực pháp luật Để làm rõ hơn về nguyên tắc này, sau đây em xin lựa chọn
đề 5: Nguyên tắc “Suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sự Việt Nam và điều kiện bảo đảm thực” hiện cho phần nghiên cứu làm bài tập học kỳ của mình.
NỘI DUNG
1 Lịch sử hình thành của nguyên tắc suy đoán vô tội
Thực chất suy đoán vô tội xuất từ thế kỷ thứ 6, thời Lã Mã cổ đại hoàng đế
La Mã Justinian đã ban hành một bản tóm lược luật La Mã được gọi là “Digest of Justinian”, trong đó một quy định về nguyên tắc chung liên quan đến chứng minh mà nội dung của nó là: Trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo, bên khẳng định chứ không phải bên phủ định Sau đó, trong các triều đại La Mã, nguyên tắc này được áp dụng trong quá trình xét xử hình sự và bắt đầu khẳng định nghiã vụ chứng minh thuộc về bên buộc tội và một hệ quả tất yếu là bị cáo luôn được coi là vô tội
Tuy nhiên, suy đoán vô tội chỉ chính thức được xem như một nguyên tắc mang tính công cụ của pháp luật bởi luật gia người Pháp Jean Lemoine nhằm ủng
Trang 2hộ cho một cách suy luận mang tính pháp lý rằng hầu hết mọi người không phải
là tội phạm và được quy định tại Điều 9 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp ngày 26/8/1789 trong thời gian cách mạng tư sản Pháp như sau:
“Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội; nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt mức cần thiết cho việc bắt giữ đều
bị luật pháp xử phạt nghiêm khắc” Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp được coi là mốc son trong lịch sử hình thành và phát triển nguyên tắc suy đoán vô tội Nguyên tắc này đã được công nhận và quy định trong Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc là: “Một người bị buộc tội có hành vi phạm tội được coi là vô tội cho đến khi sự phạm tội của người
đó được xác định một cách hợp pháp trong một vụ xét xử công khai, trong đó có những sự bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa của người đó” và trong khoản 2 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật…” Sau này, tư tưởng về suy đoán vô tội ngày càng có tính quốc tế khi được thừa nhận trong nhiều điều ước quốc tế mà nhiều quốc gia ký kết hoặc gia nhập
Suy đoán vô tội trong lịch sử pháp luật của nước ta lần đầu tiên được ghi nhận là nguyên tắc tố tụng hình sự và quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm
1988 như sau: “Không ai có thể bị coi là có tội và chịu hình phạt, khi chưa có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 10) Và nguyên tắc này đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận và thể hiện như sau: “Không ai bị coi là có tội
và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 72); Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về cơ bản vẫn giữ nguyên nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và chỉ bỏ cụm từ “có thể”, cụ thể như sau: “Không ai bị coi là có tội và chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9) Cách diễn đạt
Trang 3như vậy chưa lột tả hết bản chất của suy đoán vô tội khi chưa chỉ ra được chủ thể của quyền và hướng suy đoán hay nói cách khác là chưa thể hiện rõ địa chỉ của nguyên tắc này Ai là người được suy đoán vô tội và ai là người có trách nhiệm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội Trong điều luật sử dụng cụm từ “Không ai” thường được hiểu là “mọi người”, trong khi đó địa chỉ của quyền này chỉ áp dụng đối với “người bị buộc tội” Sự suy đoán ở đây là “suy đoán vô tội” chứ không phải là “suy đoán có tội”, cho nên cụm từ “bị coi là có tội” chưa thực sự chính xác
và dễ gây hiểu lầm Ngoài ra, cụm từ “chịu hình phạt” không liên quan đến nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội
Hiến pháp năm 2013 (Điều 31) đã thể hiện rõ hơn về chủ thể của nguyên tắc suy đoán vô tội là người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Quy định “cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định” bảo đảm cho việc quyền suy đoán vô tội được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật Việc đưa một nguyên tắc tố tụng hình sự thành nguyên tắc quan trọng của Hiến pháp là một trong những bước đi quan trọng của lịch sử lập hiến nước ta trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, khẳng định những giá trị nhân loại mà nhân dân hết sức tôn trọng
Cụ thể hóa quan điểm tiến bộ này, Điều 13 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình
tự thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.
2 Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội
Trang 4Suy đoán vô tội manh nha từ thời cổ đại trong Bộ luật cổ Manu của Ấn Độ, xuất hiện lần đầu tiên ở thời La Mã cổ đại thế kỷ thứ VI khi hoàng đế La Mã ban hành bản tóm lược luật La Mã với nội dung: “Chứng minh là công việc thuộc về anh ta – người khẳng định chứ không phải là người phủ định” Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc đã quy định: “Bất kỳ người bị buộc tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó được xác định theo một trình
tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sự đảm bảo đủ khả năng bào chữa của người đó” Pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận nguyên tắc trên và coi nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự
Ở Việt Nam, nguyên tắc suy đoán vô tội được cam kết thực hiện thông qua
sự kiện Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 24/9/1982 Được quy định chính thức tại khoản 1 Điều 13 Hiến pháp năm 2013:
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Điều 13
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không
đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”
Suy đoán được hiểu là sự công nhận một vấn đề nào đó là đúng cho đến khi chứng minh được điều ngược lại Trong pháp luật, là suy đoán pháp lý nên suy đoán vô tội là một quan điểm pháp lý coi một người không phải là người phạm tội khi người đó chưa bị Tòa án kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật Suy đoán vô
Trang 5tội thể hiện quan điểm của Nhà nước tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người, tôn trọng tính “bản thiện”, loại trừ định kiến, kết tội một chiều trong quá trình tố tụng
Theo nghĩa chung nhất, nguyên tắc suy đoán vô tội gồm bốn nội dung sau đây:
Thứ nhất: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được suy đoán vô tội cho đến khi
có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, quyền suy đoán vô tội được áp dụng trong toàn bộ quá trình tố tụng, ngay cả trước khi khởi tố vụ án cho đến khi có bản án kết tội, do đó, chủ thể của quyền suy đoán vô tội bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền này bao gồm các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Thứ hai: trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh sự
vô tội của mình
Chủ thể buộc tội phải chứng minh rõ việc phạm tội, nếu còn bất cứ sự nghi ngờ nào, phải được suy đoán có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Nếu không chứng minh được tội phạm mặc dù có niềm tin nội tâm về việc phạm tội và
có những căn cứ để nghi ngờ việc phạm tội thì Tòa án có thể không kết tội và tuyên bố bị cáo không phạm tội
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình, có nghĩa: 1) họ không bị buộc phải đưa ra lời khai hoặc phải nêu về những chứng cứ mà họ có; 2) việc họ nhận tội không được coi là “nữ hoàng của chứng cứ” và có thể được sử dụng làm căn cứ để buộc tội, chỉ khi được khẳng định bằng
Trang 6hệ thống những chứng cứ trong vụ án; 3) việc từ chối không tham gia vào việc chứng minh không dẫn đến những hậu quả tiêu cực đối với việc thừa nhận một phần lỗi của mình, cũng như đối với việc xác định biện pháp trách nhiệm hình sự Theo đó, sẽ không có sự can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp hay áp lực tâm lý từ các
cơ quan tiến hành tố tụng đối với người bị tạm giữ, bị can hay bị cáo nhằm ép họ nhận tội; nghiêm cấm việc tra tấn và các hình thức đối xử tồi tệ khác để buộc bị cáo phải thú tội; và những lời khai hoặc lời nhận tội thu được từ những hành động này không được sử dụng làm chứng cứ, trừ khi chúng được sử dụng làm bằng chứng của việc tra tấn hoặc những đối xử khác trái với quy định Đồng thời, đây cũng là một nội dung của quyền im lặng, theo đó, người bị cáo buộc phạm tội có quyền nói hoặc giữ im lặng trong giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử tại Tòa án,
và sự im lặng này không được coi là một lý do để xác định có tội hay vô tội
Thứ ba: mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho họ
Hay, “Trong trường hợp tội phạm được hiểu theo hai nghĩa thì phải giải thích
có lợi cho người bị điều tra, truy tố, xét xử.”
Nghi ngờ là trạng thái hoài nghi, lưỡng lự, do nhận thức chưa đầy đủ nên không khẳng định được chắc chắn về sự đúng đắn hay không đúng đắn của vấn đề nào đó Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên những chứng
cứ xác thực không còn nghi ngờ Mọi nghi ngờ phải được kiểm tra, làm rõ, nếu không thì phải giải thích theo hướng có lợi cho họ Trong thực tế nếu xảy ra tình huống các chứng cứ buộc tội yếu, có khả năng làm oan và có khả năng bỏ lọt mặc
dù cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết mà pháp luật quy định, thì trong trường hợp này, nguyên tắc suy đoán vô tội được thực hiện theo
Trang 7hướng “thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội”.Tính nhân đạo của nguyên tắc ở nội dung này còn thể hiện ở việc trách nhiệm chứng minh thuộc về bên buộc tội, cho nên nếu không chứng minh được thì người bị buộc tội luôn được hưởng lợi từ những sự nghi ngờ Do đó, nguyên tắc suy đoán vô tội vừa có vai trò bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đồng thời là một động lực buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định sự thật khách quan của vụ án
Thứ tư: Bản án kết tội của Tòa án không được dựa trên các giả định.
Bản án của Tòa án là văn bản pháp lý thể hiện kết quả của hoạt động xét xử Bản án kết tội của Tòa án xác định một người là tội phạm và phải chịu hậu quả pháp lý hình sự, do đó, bản án phải chính xác, có căn cứ, hợp lý, không thể dựa trên các giả định Bởi vì giả định chỉ là khả năng, không phải là sự thật khách quan Tòa án không thể bác bỏ “suy đoán” vô tội bằng các “giả định” phạm tội
Bên cạnh bốn nội dung cơ bản nêu trên của nguyên tắc suy đoán vô tội, một
số nhà khoa học luật hình sự còn cho rằng, nguyên tắc suy đoán vô tội còn hai khía cạnh nội dung là: bảo vệ sự suy đoán vô tội trong thực tế: mọi cơ quan công quyền không được có định kiến về kết quả xét xử; sau khi tuyên bố trắng án: nếu một người đã được tha bổng bởi phán quyết cuối cùng của Tòa án thì phán quyết này có giá trị ràng buộc đối với tất cả các cơ quan nhà nước[5] Chúng tôi cho rằng, hai khía cạnh nội dung này cũng nằm trong bốn nội dung cơ bản của nguyên tắc suy đoán vô tội, thể hiện giá trị pháp lý của bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với
bị cáo
3 Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội.
Trang 8Nguyên tắc suy đoán vô tội với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình sự, có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:
Việc ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội trong Hiến pháp và Bộ luật tố tụng hình sự là một bảo đảm quan trọng, lá chắn vững chắc để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực đặc thù này, loại trừ định kiến, kết tội một chiều trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Dù chứng cứ thu thập trong vụ án đến đâu,
dù niềm tin nội tâm của những người tiến hành tố tụng về tội phạm của người bị buộc tội thế nào thì họ vẫn có nghĩa vụ làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Nguyên tắc này thể hiện thái độ trân trọng tới số phận con người, hạn chế sai lầm tư pháp làm oan người vô tội
Nguyên tắc suy đoán vô tội là nền tảng, thể hiện cô đọng nhất những bảo đảm pháp lý cho quyền bào chữa của bị can Bởi lẽ người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình Họ có thể từ chối khai báo hoặc tham gia vào các hoạt động điều tra nào đó Lập luận theo kiểu “nếu không chứng minh được sự vô tội của mình có nghĩa là có tội” là trái với suy đoán vô tội vì đã chuyển nghĩa vụ chứng minh từ bên buộc tội sang bên người bị buộc tội Ngay cả khi nghi can nhận tội thì nguyên tắc này vẫn có hiệu lực đến khi bản án của tòa có hiệu lực
Việc thực thi nguyên tắc này còn nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những vi phạm từ phía cơ quan tố tụng, giúp hạn chế chuyện mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình Bởi lẽ thực tế cho thấy có hành vi trên là do điều tra viên nôn nóng phá án hoặc cứ cố tìm chứng cứ chứng minh bị can phạm tội cho bằng được Nguyên tắc suy đoán vô tội đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm, giúp nâng cao nghiệp vụ của cán bộ tố tụng
BLTTHS rất tiến bộ khi quy định cơ quan buộc tội không chứng minh được tội phạm của bị cáo thì đồng nghĩa với sự vô tội của bị cáo đã được chứng minh và tòa phải tuyên bị cáo không có tội Suy đoán vô tội được thừa nhận cho đến khi
Trang 9bản án kết tội của tòa có hiệu lực Nguyên tắc suy đoán về tính hợp pháp của hành
vi có nghĩa là: Hành vi của cá nhân phải luôn luôn được coi là hợp pháp khi chưa chứng minh được điều ngược lại Nói một cách khác, chỉ có tòa là cơ quan duy nhất có quyền tuyên bị cáo là người có tội trong bản án kết tội của mình
Suy đoán vô tội liên quan chặt chẽ đến nguyên tắc tranh tụng Theo đó, bên buộc tội và bên bào chữa bình đẳng trong hoạt động chứng minh Tòa không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm mà chỉ chứng minh cho quyết định của mình Cũng chính vì thế mà theo quy định mới, tại tòa, không có vành móng ngựa, VKS và luật
sư ngồi ngang hàng nhau, VKS buộc tội, luật sư sẽ đi gỡ tội
Nguyên tắc suy đoán vô tội có tác dụng tránh kéo dài vụ án, trả hồ sơ nhiều lần Khi không chứng minh được lỗi của bị cáo phải xem là đồng nghĩa với sự vô tội của bị cáo đã được chứng minh và tòa phải tuyên bị cáo không có tội Tòa không thể tuyên bản án mập mờ Nguyên tắc suy đoán vô tội mở ra lối thoát cho những vụ án đi vào ngõ cụt, khi mà cơ quan có thẩm quyền đã áp dụng mọi phương pháp nhưng không thể xác định được ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội Nếu không đủ chứng cứ chứng minh bị cáo có tội thì HĐXX sẽ tuyên bị cáo vô tội và trả tự do ngay chứ không chỉ trả hồ sơ điều tra bổ sung (sơ thẩm) hoặc hủy án để điều tra, xét xử lại (phúc thẩm) Chỉ luật sư của bị can mới có nghĩa
vụ chứng minh sự vô tội của thân chủ
4.Thực tiễn việc thực hiện nguyên tắc
Trong thực tế hoạt động tố tụng hình sự có nhiều người bị buộc tội, bị truy
tố trước Tòa án nhưng Tòa án không kết tội, bản án của Tòa án đã tuyên bố người
bị buộc tội không phạm tội như cáo trạng đã truy tố Có người bị buộc tội đã có bản án có hiệu lực pháp luật nhưng người bị kết án đó vẫn được quyền suy đoán là mình vô tội, đó là khi họ bị kết án oan Ví dụ như: Án oan Nguyễn Thanh Chấn, án oan Huỳnh Văn Nén,…
Vụ án Nguyễn Thanh Chấn
Trang 10Đây là một vụ án oan, theo đó ông Nguyễn Thanh Chấn (sinh năm 1961 tại Bắc Giang) vướng lao lý từ tháng 8/2003 khi Công an huyện Việt Yên, Bắc Giang cho rằng ông là thủ phạm giết hàng xóm Nguyễn Thị Hoan Qua các cấp xét xử, tòa án xác định ông phạm tội giết người, cướp tài sản và tuyên án tù chung thân Trong 10 năm ngồi tù, ông liên tục kêu oan và có lúc tìm cách quyên sinh nhưng được các phạm nhân khác phát hiện kịp thời
Ngày 4/11/2013, ông Chấn được tạm tha về nhà sau 10 năm bị bắt Hai hôm sau, TAND Tối cao trong phiên tái thẩm đã hủy hai bản án kết tội ông Chấn giết người Vụ án được điều tra lại Sau đó, Lý Nguyễn Chung – hung thủ thực sự của
vụ án ra đầu thú, nhận đã giết chị Hoan để cướp 2 chiếc nhẫn cùng 59.000 đồng
Cuối tháng 5, sau 10 tháng thương lượng, TAND Tối cao đạt được thoả thuận bồi thường 7,2 tỷ đồng trong khoảng 9,3 tỷ đồng ông yêu cầu
Đây là một trong những vụ án oan gây nhiều dư luận trong xã hội bởi nhiều người cho rằng cơ quan điều tra đã dùng nhục hình, bức cung để buộc nghi phạm nhận tội Từ vụ án oan của ông Chấn, Ủy ban tư pháp Quốc hội đã yêu cầu phải rà soát kỹ những đơn thư kêu oan, nhất là các trường hợp có mức phạt tù 20 năm, chung thân, tử hình…
Theo Báo cáo tổng kết công tác Tòa án hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao thì năm 2013, Tòa án trong cả nước tuyên án 21 người không phạm tội và năm
2015 đã tuyên án 22 người không phạm tội Kết quả này cho thấy, không phải người buộc tội nào cũng là người bị kết tội và việc đưa nguyên tắc suy đoán vô tội chính thức trở thành một quy định trong BLTTHS 2015 đã đang góp phần làm cho quá trình tố tụng ngày càng tiến bộ, dân chủ, phù hợp với cải cách tư pháp
5 Một số giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong thực tiễn
Pháp luật không thể tự đi vào cuộc sống và chỉ có thể đi vào cuộc sống thông qua hoạt động của các chủ thể, trong đó công tác tuyên truyền, phổ biến,